Skkn Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm Nhạc Thcs

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Hát Cho Học Sinh Khối 6
  • Đổi Mới Đào Tạo Nghề, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực
  • Đánh Giá Hiệu Quả Công Tác Đào Tạo Nghề Tại Tỉnh An Giang
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ Tuyên Giáo Ở Cơ Sở Hiện Nay
  • Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật sử dụng âm thanh để thể hiện tâm tư

    tình cảm của con người. Ngay từ xa xưa Âm nhạc đã gắn bó hoà quyện với đời

    sống con người từ lúc cất tiếng khóc chào đời tới khi lìa xa cuộc sống.

    Trong những năm qua, môn Âm nhạc đã tạo nên những bước thành công

    trong cải cách giáo dục và trong quá trình đổi mới giáo dục cho phù hợp với xu

    thế phát triển của xã hội. Âm nhạc được coi là môn học cần thiết để giáo dục con

    người phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách. Môn Âm nhạc trong thường

    THCS không nhằm đào tạo những người làm nghề âm nhạc, diễn viên, những

    nhạc sĩ, ca sĩ… Mà chính là thông qua môn học để tác động vào đời sống tinh

    thần của các em, góp phần cùng với các môn khác thực hiện mục tiêu của bậc

    Trung học cơ sở.

    Giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường phổ thông là một trong bốn mặt giáo

    dục quan trọng nhất: ” Đức – Trí – Thể – Mỹ “. Cái đẹp trong nghệ thuật âm nhạc

    xuất phát từ tác phẩm, từ nghệ thuật trình diễn tạo nên những hình tượng âm

    nhạc có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ làm rung động lòng người, hướng con

    người tới ” Chân – Thiện – Trí “.

    Cần phải giáo dục thị hiếu âm nhạc tốt cho học sinh để các em biết yêu

    thích âm nhạc lành mạnh, giàu tính nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc. Giáo dục

    thị hiếu âm nhạc tốt sẽ góp phần làm trong sáng tình cảm đạo đức, và làm phong

    phú đời sống tinh thần của các em trong hiện tại và tương lai.

    Ở nước ta ngày nay, giáo dục đã trở thành một hệ thống được tổ chức rộng

    khắp. Chúng ta đã đưa giáo dục nên hàng đầu, vì giáo dục đào tạo nguồn nhân

    lực cho xã hội. Mở đường cho sự phát triển của kinh tế, trường học công nghệ,

    văn hoá, chính trị của đất nước. Đại học Đảng lần thứ XIII của Đảng Cộng sản

    Việt Nam đã khẳng định :

    ” Phát triển giáo dục và trường học – công nghệ là quốc sách hàng đầu và

    xây dựng chiến lược con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá

    đất nước, xây dựng xã hội công bằng văn minh “.

    II. LỊCH SỬ ĐỀ TÀI :

    H¹nh

    Trang 1

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    PHẦN NỘI DUNG

    I. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA GIÁO DỤC ÂM NHẠC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG

    CON NGƯỜI VÀ ĐỐI VỚI HỌC SINH THCS.

    1.1. Vai trò của giáo dục Âm nhạc đối với đời sống con người.

    Âm nhạc là một môn nghệ thuật có sức mạnh vô cùng to lớn và phong phú

    trong việc thể hiện một cách tinh tế thế giới nội tâm của con người và đời sống

    xã hội. Nó phản ánh hiện thực khách quan bằng những hiện tượng có sự biểu

    cảm của âm thanh, âm nhạc vui hay buồn, hùng tráng hay sâu lắng … sẽ dấy lên

    những cảm xúc tương ứng ở con người.

    Âm nhạc có những nét đặc trưng riêng, không giống với các loại hình nghệ

    thuật khác. Hình tượng âm thanh của âm nhạc không mang ý nghĩa cụ thể rõ

    ràng như từ ngữ trong nghệ thuật văn chương, cũng không tái hiện tại thế giới

    khách quan bằng những bức tranh có đường nét bố cục chặt chẽ, có mảng màu

    phong phú trong hội hoạ. Âm nhạc có thế mạnh ở khả năng thể hiện rõ nội tâm

    của con người, những suy cảm hết sức tế nhị của nỗi đau, niềm vui, day dứt, suy

    tư, nghi ngờ, thất vọng, tin tưởng… đối với các sự vật hiện tượng và các mối

    quan hệ trong đời sống một cách đầy đủ và đa dạng, ý nghĩa tình cảm của Âm

    nhạc thực chất cũng chứa đựng cả ý nghĩa tư tưởng.

    Khi tác động trực tiếp vào lĩnh vực tình cảm của con người, âm nhạc có

    khả năng thống nhất con người cùng nỗi xúc động và trở thành phương tiện giao

    tiếp hết sức nhạy cảm giữa con người mà không cần tới ngôn ngữ. Nhờ ngôn

    ngữ biểu cảm đặc biệt của Âm nhạc mà những con người từ khắp các phương

    trời, không cùng ngôn ngữ có thể có những hiểu biết về nhau.

    Âm nhạc tác động tới con người ngay từ khi mới sinh ra trong tiếng hát ầu

    ơ của mẹ tới khi giã từ cuộc đời. Tuy không trực tiếp nuôi dưỡng con người

    như : cơm ăn, nước uống, khí trời, cũng không làm ra của cải vật chất, nhưng

    Âm nhạc có sức mạnh làm cho con người nhận thức cuộc sống, giáo dục tâm

    hồn tình cảm và đem lại cho con người những rung cảm về cái đẹp. Sau mỗi

    ngày lao động mệt mỏi căng thẳng, Âm nhạc có tác động giải trí lành mạnh làm

    cho con người vui tươi thoải mái, phục hồi sức khoẻ nhanh chóng… Chính vì vậy

    mà Phu Xích người lãnh tụ của nhân dân lao động đã nói : ” Cuộc sống thiếu âm

    nhạc thì khác nào trái đất thiếu ánh nắng mặt trời “.

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 2

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    1.2. Vai trò của Âm nhạc đối với học sinh THCS.

    Âm nhạc giáo dục thẩm mĩ cho các em, giúp các em cảm nhận được cái

    hay, cái đẹp của sự vật hiện tượng xung quanh. Giáo dục thẩm mĩ Âm nhạc với

    nhiều thể loại nội dung khác nhau. Âm nhạc gợi cho các em tình yêu quê hương

    đất nước, tình yêu thương gắn bó quan tâm tới người thân, thầy cô và bạn bè,

    lòng biết ơn cho những người cống hiến cho Tổ quốc, cho dân tộc đem lại cho

    các em cảm xúc trữ tình và niềm tự hào dân tộc. Các em được hiểu biết về các

    dân tộc khác nhau nhen nhóm trong lòng trẻ tình hữu nghị quốc tế cộng đồng

    qua những giai điệu của một số bài hát hoặc trích đoạn tác phẩm Âm nhạc nước

    ngoài. Khi hoạt động Âm nhạc các em cùng nhau chia sẻ hình tượng Âm nhạc

    tính đồng cảm, tinh thần kỷ luật, ý thức tập thể hình thành rõ rệt. Sự phấn khởi

    tươi vui khi biểu diễn bài hát, sự tự tin trong các hoạt động hoà nhập cộng đồng.

    Khi tập hát học sinh tiếp thu đường nét giai điệu, tiết tấu, lời ca giản dị dễ

    hiểu gần gũi với cuộc sống. Qua đó giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, phát âm

    chính xác tiếng mẹ đẻ, nói biểu cảm và mở rộng vốn từ.

    Tóm lại : Giáo dục Âm nhạc tạo điều kiện phát triển chung cho nhân cách

    của học sinh, tạo điều kiện cho hoạt động tri thức cùng phát triển và hoàn thiện

    nhân cách và thể chất của học sinh.

    1.3. Đặc điểm khả năng Âm nhạc của học sinh trường THCS.

    Âm nhạc trong xã hội chúng ta được nuôi dưỡng bằng cội nguồn vĩ đại của

    văn hoá Âm nhạc dân gian các dân tộc Việt Nam.

    Âm nhạc là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm

    vụ giáo dục – thẩm mĩ cho học sinh, tạo cơ sở hình thành nhân cách con người

    mới Việt Nam. Tuy nhiên Âm nhạc trong nhà trường THCS với tư cách một

    môn học, có mức độ nhất định về mục đích và nội dung.

    Mục đích của việc dạy học Âm nhạc trong nhà trường THCS là nhằm giáo

    dục ” Văn hoá Âm nhạc ” cho các em, cung cấp những kiến thức cơ bản, các kỹ

    năng, tạo điều kiện cho khả năng cảm thụ, hiểu và thể hiện nghệ thuật Âm nhạc,

    khơi dậy trong các em khả năng sáng tạo tình cảm đạo đức và niềm tin, thị hiếu

    nghệ thuật trong hoạt động Âm nhạc.

    Giáo dục thẩm mĩ thông qua dạy học Âm nhạc nhằm phát triển thẩm mĩ

    toàn vẹn của nhân cách học sinh, làm giàu nhân cách bằng trình độ thẩm mỹ

    nghệ thuật nói chung trong đó có Âm nhạc. Với sự hỗ trợ của dạy học Âm nhạc

    giúp học sinh phát triển những đặc trưng tâm lý của nhân cách : Tai nghe Âm

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 3

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 4

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY ÂM

    NHẠC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ.

    Âm nhạc ngày nay đã đi vào nhà trường phổ thông với tư cách một môn

    học độc lập. Nó là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện

    nhiệm vụ giáo dục đạo đức thẩm mỹ cho học sinh. Tạo cơ sở hình thành nhân

    cách cho các em.

    Mục đích của việc dạy học Âm nhạc trong nhà trường phổ thông là nhằm

    giáo dục văn hoá âm nhạc cho các em. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học Âm

    nhạc trong nhà trường là một vấn đề quan trọng để truyền tải tốt những nội dung

    văn hoá âm nhạc đến với học sinh. Đó là :

    + Những kiến thức cơ bản, các kỹ năng kỹ sảo, tạo điều kiện cho khả năng

    cảm thụ, hiểu và thể hiện nghệ thuật Âm nhạc.

    + Khơi dậy các em khả năng sáng tạo trong hoạt động Âm nhạc.

    + Tình cảm đạo đức và niềm tin thị hiếu nghệ thuật và nhu cầu Âm nhạc

    của học sinh.

    Tinh thần cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học là lấy học sinh làm

    nhân vật trung tâm, người thầy đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn bằng những câu

    hỏi có tính dẫn dắt, gợi mở học sinh chủ động, tích cực tham gia xây dựng bài

    sao cho nhiều học sinh được làm việc tốt nhất trong tiết học.

    Trong thực tế giảng dạy ở trường tôi nhận thấy có một số vấn đề cần quan

    tâm để thực hiện tốt phương pháp đổi mới dạy học là :

    1. Nội dung bài soạn, kỹ năng truyền thụ kiến thức.

    * Chuẩn bị giáo án cần làm rõ :

    – Mục đích chuẩn bị giáo cần làm được của bài.

    – Những công việc cần chuẩn bị của giáo viên, của học sinh trước bài giảng

    – Những hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp.

    – Hệ thống câu hỏi kiểm tra kiến thức.

    – Hệ thống câu hỏi gợi mở phát huy trí lực.

    – Sắp xếp đồ dùng dạy học hợp lý.

    – Hệ thống câu hỏi luyện tập và củng cố kiến thức.

    – Hướng dẫn học sinh học bài ở nhà, chuẩn bị bài sau.

    Đề thực hiện tốt phương pháp dạy học, giáo viên cần chú trọng hơn về :

    – Hệ thống câu hỏi dẫn dắt, kiểm tra kiến thức.

    – Câu hỏi gợi mở, phát huy trí lực.

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 5

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    – Lấy kiến thức đã học, đã biết để dạy cái chưa biết. Không nên dùng

    phương pháp diễn giải mà chủ yếu dùng phương pháp quy nạp để dạy lý thuyết

    âm nhạc.

    Thực tế của việc đổi mới phương pháp dạy học Âm nhạc là gây sự hứng

    thú say mê học tập của học sinh.

    Muốn lôi cuốn nhiều em tham gia vào bài học thì hệ thống câu hỏi trong

    bài giảng phải được coi trọng, dẫn dắt gợi mở, có sự sáng tạo giúp các em hiểu

    bài, nhạy cảm với Âm nhạc hơn.

    VD : Khi giới thiệu bài ” Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng” của Phạm

    Tuyên có thể có hệ thống câu hỏi như sau :

    + Bài hát này ra đời trong hoàn cảnh nào ?

    + Nó gắn bó với sự kiện lịch sử nào ?

    + Nội dung của bài hát nói lên điều gì ?

    + Em có nhận xét gì về tiết tấu của bài hát ?

    + Nhạc sĩ Phạm Tuyên viết những bài hát nào cho thiếu nhi mà em biết ?

    Hãy kể tên và hát một bài mà em thuộc.

    Khi các em trả lời tốt giáo viên cho điểm, khen ngợi … làm cho các em hào

    hứng hơn trong giờ học.

    Cần chú ý rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh với phương châm từ

    dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Không đọc chép nhiều. Đa dạng hoá

    không gian, hình thức các hoạt động dạy học như : xem biểu diễn nghệ thuật,

    học hát tập thể ngoài trời, thi văn nghệ trong trường, dạy học sinh sử dụng nhạc

    cụ và giới thiệu tranh ảnh Âm nhạc.

    Khi dạy không nhất thiết theo trình tự đề mục ở SGK, cần nhấn mạnh nội

    dung trọng tâm.

    Người thầy cần hiểu rõ đối tượng học sinh : học sinh ở thành phố thường

    nhạy cảm âm nhạc nhiều hơn. Để tránh nhàm chán người thầy cần lựa chọn nội

    dung, khối lượng và phương pháp truyền thụ thích hợp. Trong bài giảng cần có

    những ví dụ minh hoạ thật chọn lọc, mới lạ gây hứng phấn học tập cho các em.

    * Các bước của quy trình dạy giờ học hát.

    – Giáo viên chép nhạc và lời bài hát (hoặc treo bảng phụ có ghi sẵn), học

    sinh ghi vào vở.

    – Giáo viên giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung lời ca, đặc điểm âm nhạc,

    giá trị nghệ thuật của tác phẩm một cách ngắn gọn, dí dỏm và dùng tranh

    ảnh để minh hoạ.

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 6

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    – Giáo viên đàn cho học sinh nghe hoặc mở băng 1 đến 2 lần toàn bộ bài để

    học sinh làm quen với tiết tấu, giai điệu cao độ, … của bài hát.

    – Giáo viên đàn hát mẫu.

    – Giáo viên phân đoạn, phân câu, đánh dấu lấy hơi, nhả lời rõ ràng.

    – Giáo viên lấy giọng theo tầm giọng của học sinh và cho học sinh luyện

    giọng, khởi động. Sau khi luyện giọng, khởi động đọc gam giáo viên bắt

    đầu dạy học sinh học hát.

    – Cho học sinh tập từng câu ngắn theo lối móc xích, hết câu này đến câu

    khác.

    Trong khi tập từng câu, giáo viên chú ý đến nhịp hoặc hát mẫu cho học

    sinh nghe giai điệu giáo viên chú ý vào chỗ khó trong bài để cho học sinh luyện

    tập nhiều. Chú ý sửa sai cho học sinh về cao độ, tiết tấu, về phát âm ngọng,

    luyến láy sai để đạt được yêu cầu chính xác về tiết tấu, giai điệu, lời ca.

    – Giáo viên tập cho học sinh nghe nhạc để bắt vào đúng nhịp, ngân nghỉ

    đúng chỗ.

    Giáo viên cho ghép từng câu thành từng đoạn, rồi cả bài yêu cầu vừa ghép,

    vừa gõ nhịp. Tiếp đó nâng yêu cầu phải thể hiện đúng sắc thái, tình cảm của bài

    hát. Tập cho học sinh các động tác minh hoạ và tập biểu diễn bài hát trước lớp.

    Sau khi học sinh đã chép thành bài, giáo viên tổ chức hát theo nhóm, tổ

    hoặc cá nhân. Xây dựng các bè hát đuổi, tạo nên một không khí thi đua sôi nổi

    trong giờ dạy học nói chung, giáo viên phải hát nói riêng và dạy học nói chung,

    giáo viên phải luôn động viên khích lệ học sinh bằng những lời khen, bằng điểm

    số.

    Tóm lại : Khi dạy phân môn này các giáo viên như trên, song có nên có

    chút thay đổi về giờ dạy học hiệu quả hơn và tích cực hơn.

    Thay vì giáo viên phân tích các ký hiệu Âm nhạc có trong bài, phân tích

    nhịp phách, … nên gợi ý để học sinh tự suy nghĩ và phát biểu. Thay việc giáo

    viên hát mẫu trước, hoặc cho nghe đài trước thì nên để học sinh tự phá bài. Việc

    hát mẫu của giáo viên hoặc cho nghe đài cuối giờ khi học sinh đã phá được bài.

    Lúc này nghe mẫu để sửa giọng hát, thể hiện sắc thái bài một cách trau chuốt và

    chính xác hơn.

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 7

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    THIẾT KẾ BÀI DẠY CỤ THỂ

    TRONG CHƯƠNG TRÌNH ÂM NHẠC LỚP 9

    BÀI 2 – TIẾT 4

    HỌC HÁT : BÀI NỤ CƯỜI

    I. MỤC TIÊU.

    + Về kiến thức : Học sinh biết một bài hát của thiếu nhi nước Nga.

    + Về kỹ năng : Thể hiện được giai điệu rộn ràng trong sáng, tươi vui của

    bài hát ” Nụ Cười “.

    + Thái độ : Giáo dục tình cảm lạc quan, sự tin yêu cuộc sống và tình thân ái

    hữu nghị giữa thiếu nhi hai nước Việt – Nga.

    II. CHUẨN BỊ.

    * Giáo viên :

    – Bản đồ thế giới, vị trí nước Nga trên bản đồ.

    – Một vài hình ảnh nước Nga (thủ đô Mát-xcơ-va, cung điện Krem-li,

    Quảng trường đỏ…)

    – Hát và đàn bài hát thành thạo.

    – Băng nhạc bài hát ” Nụ Cười “.

    * Học sinh :

    – Nghiên cứu nội dung bài hát trước.

    III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC.

    Nội dung

    Hoạt động của giáo viên

    1. Ổn định lớp.

    Nội dung 1 : Bài 2. Kiểm tra bài cũ (5 phút)

    ” Nụ Cười ”

    H : Hãy cho biết 1 vài bài hát phổ thơ

    Nhạc : Nga

    viết cho người lớn mà em biết ?

    Lời: Phạm Tuyên 3. Bài mới.

    * Hoạt động 1 : Giáo viên hướng dẫn

    Giới thiệu bài (10 Giáo viên thuyết trình : Chỉ bản đồ nước

    phút)

    Nga là một đất nước rộng lớn, có vị trí

    quan trọng trên thế giới. Thủ đô là Mátxcơ-va. Nước Nga là quê hương của

    cuộc cách mạng tháng mười vĩ đại với vị

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Hoạt động

    của học sinh

    – Học sinh lên

    bảng trình bày.

    – Học sinh khởi

    động giọng bằng

    một bài hát

    Trang 8

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    lãnh tụ thiên tài Lê-Nin.

    Đây cũng là đất nước có một nền văn

    hoá cao với những tên tuổi lẫy lừng thế

    giới : Về văn học có Pus-Kin, Sê-Khốp,

    Lép Tôn – Xtôi, Goóc-Ki ; Về mĩ thuật

    có Lê-vi-tan ; Về âm nhạc có Trai-cốpxki, Prô-cô-phi-ep và nhiều danh nhân

    văn hoá nổi tiếng Việt Nam và Nga đã

    có quan hệ hữu nghị từ nhiều năm nay

    và ngày càng phát triển tốt đẹp.

    – Bài hát được viết ở nhịp 2/2

    – Giáo viên giải thích rõ nhịp 2/2

    H : Bài hát chia làm mấy đoạn ?

    – Giáo viên chia câu :

    Đ1 gồm 4 câu hát viết ở giọng đô

    trưởng.

    Đ2 gồm 4 câu hát chuyển sang giọng đô

    thứ.

    Đ1 giai điệu như một sự khẳng định, tin

    tưởng vào cuộc sống tốt đẹp, tính chất

    âm nhạc rộn ràng, lạc quan.

    Đ2 âm nhạc đi vào chiều sâu tình cảm,

    êm nhẹ hơn nhưng rõ ràng, dứt khoát

    song không kém phần tha thiết, như

    muốn nói lên lòng tin yêu cuộc sống,

    luôn hướng tới tương lai tươi đẹp, hạnh

    phúc.

    * Hoạt động 2: – Giáo viên đàn câu 1 (2 lần)

    Học hát từng câu

    (17 phút)

    – Giáo viên hát mẫu câu 1

    – Giáo viên nhận xét, sửa sai

    – GV chú ý phần ngân nghỉ của kết từng

    câu hát.

    – Hướng dẫn học hát tương tự như câu 1

    sau đó hát lối các câu theo lối móc xích.

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    – Học sinh nhắc

    lại nhịp 2/2

    – Chia làm 2 đoạn

    Đ1 : Từ đầu đến

    “cùng cất tiếng

    cười”

    Đ2 : Từ “để làn

    mây” đến “xoá

    nhoà”.

    – Học sinh nghe

    và nhẩm theo.

    – HS cả lớp hát

    câu 1

    Trang 9

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    * Hoạt động 3: – GV bắt nhịp.

    Ôn luyện bài hát

    (10 phút)

    – GV nhận xét, sửa sai.

    – GV chỉ định.

    – Cá nhân hát.

    – Học sinh nhận

    xét.

    – HS thực hiện

    – Giáo viên đàn giai điệu bài hát

    – HS hát hoàn

    chỉnh bài hát (lời

    1)

    – HS sửa sai

    – HS tổ nhóm hát

    bài hát (lời 1)

    – HS nhận xét,

    sửa sai

    4. Củng cố – dặn dò (3 phút)

    GV cho học sinh cả lớp hát hoàn chỉnh

    bài hát kết hợp vỗ tay theo phách.

    – H : Em rút ra điều gì cho mình qua bài

    hát này ?

    – Bài tập về nhà :

    + Chép bài hát vào vở.

    + Làm bài tập số 1 và 2 trong SGK

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    – HS nhẩm lời 2

    – HS hát lời 2

    – Hát hoàn chỉnh

    bài hát.

    – Sống vui tươi

    chan hoà với mọi

    người, đoàn kết

    hữu nghị với các

    nước.

    Trang 10

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình dạy học thì nội dung dạy học đã được quy định trong

    chương trình sách giáo khoa, còn phương pháp dạy học lại phụ thuộc nhiều vào

    khả năng, điều kiện cụ thể. Hoạt động sáng tạo của người giáo viên chủ yếu tìm

    tòi những phương pháp dạy học thích cho mỗi nội dung, phù hợp với từng lứa

    tuổi học sinh.

    Theo quan điểm trên, chúng tôi đã đưa ra một số giải pháp thích hợp để có

    thể giải quyết được những vấn đề bất cập mà đề tài đề cập đến. Những giải pháp

    và một số ý kiến trên còn mang tính cá nhân, giải pháp được tôi thực hiện tại

    trường đã đạt kết quả tốt, nhưng cũng có ý kiến chỉ là ý tưởng, mong muốn sự đề

    xuất đó sẽ góp phần đạt được mục tiêu của đề tài đề ra.

    Cổ Am, ngày 17 tháng 11 năm 2008

    Người thực hiện

    §ç ThÞ H¹nh

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 11

    Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    BẢN CAM KẾT

    I – TÁC GIẢ :

    Họ và tên

    :

    §ç ThÞ H¹nh

    Ngày 10 tháng 11 năm 1979.

    Đơn vị công tác : Trường THCS Cổ Am.

    Điện thoại

    : 0904.811017.

    II – SẢN PHẨM :

    Tên sản phẩm :

    ” Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c ”

    III – CAM KẾT :

    Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân tôi.

    Nếu có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ sản

    phẩm sáng kiến kinh nghiệm, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo đơn

    vị, lãnh đạo Sở GD & ĐT về tính trung thực của bản cam kết này.

    Ngày 17 tháng 11 năm 2008

    Người cam kết

    §ç ThÞ H¹nh

    Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

    H¹nh

    Trang 12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Phân Môn Học Hát Tại Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Âm Nhạc Ở Trường Thcs Hòa Hiệp
  • Chuyên Gia “bật Mí” Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Qua Kỹ Năng Dạy Nghe Đối Với Học Sinh Trung Học Cơ Sở
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Âm Nhạc Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Âm Nhạc Ở Trường Thcs Mot So Bien Phap Nang Cao Chat Luong Giang Day Mon Am Nhac O Truong Thcs Doc
  • “một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 4
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỷ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Giúp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    – Hiện nay nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển. Dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế. Song song với nó là kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ của văn hóa, trong đó lĩnh vực âm nhạc nói riêng:

    – Thứ nhất vấn đề âm nhạc, tôi thấy âm nhạc hiện nay rất đa dạng, muôn hình, muôn vẻ về: số lượng tác phẩm âm nhạc, ca sĩ, băng đĩa, nhạc sĩ trẻ; về phong cách biẻu diễn…tất cả đều mang đậm “ý thích thời thượng của giới trẻ hiện đại”. Nó ra đời như một cơn sóng, nó cuốn theo lớp thanh thiếu niên và có cả các em thiếu nhi. Trong đó, dẫn đến sự xuất hiện của một số “ca sĩ nhí” hát những ca khúc của “giới trẻ thời thượng” không phù hợp với lứa tuổi và tâm hồn trẻ thơ.

    – Thứ hai, âm nhạc là một phần thiết yếu không thể thiếu với cuộc sống của mỗi người chúng ta. Và làm thế nào để con người Việt Nam có được tâm hồn “thật Việt Nam”. Điều đó phải được dung dưỡng khi còn nằm trên nôi đến khi trưởng thành. Nhưng thực tế hiện nay đa số các bà mẹ trẻ chỉ biết hát nhạc trẻ chứ không biết hát ru, bằng những giai điệu mượt mà, truyền cảm với tình yêu quê hương truyền thống của dân tộc từ lâu đời sẽ dễ nuôi dạy trẻ thơ hơn.

    – Chính những điều cảnh báo trên đặt cho giáo dục một trọng trách quan trọng, mà hiện nay giáo dục được Đảng và Nhà nước coi là mục tiêu hàng đầu trong con đường phát triển đất nước, trong đó giáo dục THCS giữ trọng trách của cấp học thứ 3: Mẫu giáo, Tiểu học và THCS. Vì thế, môn Giáo dục Âm nhạc trong THCS giữ vị trí đặc biệt quan trọng – là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn học sinh ở nấc thang cuối cùng của cuộc đời học sinh khi còn ngồi ở ghế nhà trường.

    Chính những lý do trên mà tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn Âm nhạc ở trường THCS Hòa Hiệp”.

    II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    – Căn cứ vào cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giảng dạy bộ môn âm nhạc có đầu tư vào chất lượng giàng dạy trong nhà trường phổ thông.

    – Đề ra một số biện pháp về áp dụng tình cảm khi thể hiện bài hát, bài TĐN của bộ môn âm nhạc.

    III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

    – Đối tượng học sinh lớp 6, 7, 8

    – Theo dõi và kiểm tra việc tiếp thu bài của học sinh trên lớp.

    – Dự giờ các bạn đồng nghiệp ở một số trường phổ thông khác.

    – Đối chiếu với các tiết học chưa có đầu tư về chuyên môn.

    IV. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

    – Giáo dục âm nhạc ở trường THCS là thông qua âm nhạc để giáo dục học sinh về đạo đức, thẩm mĩ, tâm hồn học sinh trong sáng, yêu quê hương, đất nước, con người, thiên nhiên, phát triển trí tuệ và thể chất; để có được “tâm hồn Việt Nam” của con người Việt Nam. Giáo viên là người dạy học sinh hát, hiểu nội dung tác phẩm âm nhạc, cảm nhận được giai điệu của tác phẩm, vận động phù hợp với nội dung của tác phẩm, học sinh hiểu đúng hoặc sai được phản ánh trong tác phẩm và tỏ thái độ đúng hoặc sai phù hợp với cuộc sống.

    – Với những yêu cầu đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có kiến thức, kĩ năng Giáo dục âm nhạc vững vàng, có tâm hồn, đạo đức trong sáng, lành mạnh, gương mẫu hay nói cách khác hơn là phải có “tâm hồn Việt Nam”.

    – Giờ học âm nhạc ở THCS là phải thoải mái, sôi động, thu hút học sinh chú ý hào hứng thích hát, thích vận động, thích nghe hát và thích chơi trò chơi âm nhạc. Điều đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có nhiều thủ thuật hấp dẫn lôi cuốn chú ý của học sinh, sử dụng đồ dùng một cách hợp lý, đúng cách, phòng nhạc sạch sẽ, đầy đủ trang thiết bị dạy học như: Đàn Ghitar, Organ, Máy Casset,… thoáng mát, xung quanh yên tĩnh, giọng nói ấm áp, trầm bổng thu hút học sinh, kĩ năng hát và vận động phù hợp với nội dung bài hát và đúng với nội dung – phương pháp của chương trình GD – ĐT của Bộ giáo dục.

    – Âm nhạc còn là một bộ phận không thể thiếu trong các môn học khác đặc biệt là các môn học khô cứng như thể dục, toán, tạo hình, môi trường xung quanh…Nó giúp cho các môn học này thêm hấp dẫn, sinh động và kiến thức được truyền thụ cho học sinh một cách nhẹ nhàng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Dạy Môn Âm Nhạc Tại Trường Thcs Trần Bình Trọng, Hay
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Thời Kỳ Mới
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Âm Nhạc Ở Trường Thcs Hòa Hiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Phân Môn Học Hát Tại Trường Thcs
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm Nhạc Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Hát Cho Học Sinh Khối 6
  • Đổi Mới Đào Tạo Nghề, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực
  • Đánh Giá Hiệu Quả Công Tác Đào Tạo Nghề Tại Tỉnh An Giang
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Âm Nhạc THCS Năm học: 2010 – 2011

    PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO HUYỆN XUYÊN MỘC

    TRƯỜNG THCS HÒA HIỆP

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY

    MÔN “GIÁO DỤC ÂM NHẠC” Ở TRƯỜNG THCS HÒA HIỆP

    Người viết: Dương Hoàng Trung

    Người thực hiện: Dương Hoàng Trung 1

    Năm học : 2010 – 2011

    Sáng Kiến Kinh Nghiệm Âm Nhạc THCS Năm học: 2010 – 2011

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    – Hiện nay nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát

    triển. Dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế. Song song với nó là kéo

    theo sự thay đổi mạnh mẽ của văn hóa, trong đó lĩnh vực âm nhạc nói riêng:

    – Thứ nhất vấn đề âm nhạc, tôi thấy âm nhạc hiện nay rất đa dạng,

    muôn hình, muôn vẻ về: số lượng tác phẩm âm nhạc, ca sĩ, băng đĩa, nhạc sĩ

    trẻ; về phong cách biẻu diễn…tất cả đều mang đậm “ý thích thời thượng của

    giới trẻ hiện đại”. Nó ra đời như một cơn sóng, nó cuốn theo lớp thanh thiếu

    niên và có cả các em thiếu nhi. Trong đó, dẫn đến sự xuất hiện của một số

    “ca sĩ nhí” hát những ca khúc của “giới trẻ thời thượng” không phù hợp với

    lứa tuổi và tâm hồn trẻ thơ.

    – Thứ hai, âm nhạc là một phần thiết yếu không thể thiếu với cuộc sống

    của mỗi người chúng ta. Và làm thế nào để con người Việt Nam có được

    tâm hồn “thật Việt Nam”. Điều đó phải được dung dưỡng khi còn nằm trên

    nôi đến khi trưởng thành. Nhưng thực tế hiện nay đa số các bà mẹ trẻ chỉ

    biết hát nhạc trẻ chứ không biết hát ru, bằng những giai điệu mượt mà,

    truyền cảm với tình yêu quê hương truyền thống của dân tộc từ lâu đời sẽ dễ

    nuôi dạy trẻ thơ hơn.

    – Chính những điều cảnh báo trên đặt cho giáo dục một trọng trách quan

    trọng, mà hiện nay giáo dục được Đảng và Nhà nước coi là mục tiêu hàng

    đầu trong con đường phát triển đất nước, trong đó giáo dục THCS giữ trọng

    trách của cấp học thứ 3: Mẫu giáo, Tiểu học và THCS. Vì thế, môn Giáo dục

    Âm nhạc trong THCS giữ vị trí đặc biệt quan trọng – là môi trường nuôi

    Người thực hiện: Dương Hoàng Trung 2

    Sáng Kiến Kinh Nghiệm Âm Nhạc THCS Năm học: 2010 – 2011

    dưỡng tâm hồn học sinh ở nấc thang cuối cùng của cuộc đời học sinh khi

    còn ngồi ở ghế nhà trường.

    Chính những lý do trên mà tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp nâng cao

    chất lượng giảng dạy môn Âm nhạc ở trường THCS Hòa Hiệp”.

    II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    – Căn cứ vào cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giảng dạy bộ môn âm

    nhạc có đầu tư vào chất lượng giàng dạy trong nhà trường phổ thông.

    – Đề ra một số biện pháp về áp dụng tình cảm khi thể hiện bài hát, bài TĐN

    của bộ môn âm nhạc.

    III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

    – Đối tượng học sinh lớp 6, 7, 8

    – Theo dõi và kiểm tra việc tiếp thu bài của học sinh trên lớp.

    – Dự giờ các bạn đồng nghiệp ở một số trường phổ thông khác.

    – Đối chiếu với các tiết học chưa có đầu tư về chuyên môn.

    IV. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

    – Giáo dục âm nhạc ở trường THCS là thông qua âm nhạc để giáo dục

    học sinh về đạo đức, thẩm mĩ, tâm hồn học sinh trong sáng, yêu quê hương,

    đất nước, con người, thiên nhiên, phát triển trí tuệ và thể chất; để có được

    “tâm hồn Việt Nam” của con người Việt Nam. Giáo viên là người dạy học

    sinh hát, hiểu nội dung tác phẩm âm nhạc, cảm nhận được giai điệu của tác

    phẩm, vận động phù hợp với nội dung của tác phẩm, học sinh hiểu đúng

    hoặc sai được phản ánh trong tác phẩm và tỏ thái độ đúng hoặc sai phù hợp

    với cuộc sống.

    – Với những yêu cầu đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có kiến thức, kĩ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Gia “bật Mí” Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Qua Kỹ Năng Dạy Nghe Đối Với Học Sinh Trung Học Cơ Sở
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Không Thể Chậm Trễ Hơn !
  • Điểm Tiếng Anh Thấp: Nguyên Nhân Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Âm Nhạc Ở Trường Thcs Mot So Bien Phap Nang Cao Chat Luong Giang Day Mon Am Nhac O Truong Thcs Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • “một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 4
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỷ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Giúp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Âm Nhạc THCS

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    – Thứ nhất vấn đề âm nhạc, tôi thấy âm nhạc hiện nay rất đa dạng, muôn hình, muôn vẻ về: số lượng tác phẩm âm nhạc, ca sĩ, băng đĩa , nhạc sĩ trẻ; về phong cách biẻu diễn…tất cả đều mang đậm “ý thích thời thượng của giới trẻ hiện đại”. Nó ra đời như một cơn sóng , nó cuốn theo lớp thanh thiếu niên và có cả các em thiếu nhi. Trong đó, dẫn đến sự xuất hiện của một số “ca sĩ nhí” hát những ca khúc củ a “giới trẻ thời thượng” không p hù hợp với lứa tuổi và tâm hồn trẻ thơ.

    – Thứ hai, âm nhạc là một phần thiết yếu không thể thiếu với cuộc sống của mỗi người chúng ta. Và làm thế nào để con người Việt Nam có được tâm hồn “thật Việt Nam “. Điều đó phải được dung dưỡng khi còn nằm trên nôi đến khi trưởng thành. Nhưng thực tế hiện nay đa số các bà mẹ trẻ chỉ biết hát nhạc trẻ chứ không biết hát ru, bằng những giai điệu mượt mà, truyền cảm với tình yêu quê hương truyền thống của dân tộc từ lâu đời sẽ dễ nuôi dạy trẻ thơ hơn.

    III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

    – Đối tượng họ c sinh lớp 6, 7, 8

    – Với những yêu cầu đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có kiến thức, kĩ năng Giáo dục âm nhạc vững vàng, có tâm hồn, đạo đức trong sáng, lành mạnh, gương mẫu hay nói cách khác hơn là phải có “tâm hồn Việt Nam”.

    – Âm nhạc còn là một bộ phận không thể thiếu trong các môn học khác đặc biệt là các môn học khô cứng như thể dục, toán, tạo hình, môi trường xung quanh…Nó giúp cho các môn học này thêm hấp dẫn, sinh động và kiến thức được truyền thụ cho học sinh một cách nhẹ nhàng, hứng thú. Nó như một chất nhựa kết dính các bước chuyển trong các tiết học khác linh hoạt hơn, nhẹ nhàng hơn. Và nó thực sự quan trọng như đã nói thì còn phụ thuộc vào thủ thuật của giáo viên.

    Do vậy, giáo viên THCS cần tạo cho học sinh cảm giác thoải mái, nhẹ nhàng khi vào tiết học, tạo sự than thiện giữa giáo viên và học sinh , kích thích học sinh tích cực tham gia vào tiết học.

    B. PHẦN NỘI DUNG

    II. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT

    – Chính những việc làm trên của giáo viên THCS giúp cho việc dạy và học môn giáo dục âm nhạc trở n ên chặt chẽ, hòa quyện với nhau như câu “Chơi mà học, học mà chơi”.

    – Thường xuyên trao đổi, tiếp xúc gần gũi với học sinh để hiểu học sinh hơn , từ đó có biện pháp giáo dục về âm nhạc có hiệu quả hơn. Tránh lối giáo dục âm nhạc đại trà.

    – Là một giáo viên THCS trước hết phải có nhận thức đúng đắn sự quan trọng của giáo dục âm nhạc với sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh . Phải thường xuyên học hỏi, năng động, sáng tạo, nắm vững chuyên môn giảng dạy ở các lứa tuổi THCS.

    – Giáo viên phải nắm vững kiến thức về môn âm nhạc và linh hoạt, sáng tạo vận dụng các nội dung thích hợp vào tiết học thật hợp lý để cung cấp kiến thức cho học sinh đạt hiệu quả cao nhất.

    – Phải đổi mới cách nhìn về vị trí, mụ c tiêu, nhiệm vụ của giáo dục âm nhạc trong sự phát triển toàn diện nhân cách của học sinh .

    – Lấy hiệu quả học tập của c ác học sinh là chính các hứng thú, chủ động phát huy tính sáng tạo, năng động của học sinh .

    – Nên thường xuyên dự giờ, học hỏi những giáo viên có giọng hát hay, hát đúng giai điệu bài hát, có kinh nghiệm trong giảng dạy.

    – Cần tạo điều kiện đầy đủ về đồ dùng dạy học cho Giáo Viên THCS : đàn, sách báo, tivi,, đầu đĩa…

    – Cần cho giáo viên tham gia các lớp học nâng cao kiến thức âm nhạc.

    ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    II/ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    II I/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

    IV/ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

    B. PHẦN NỘI DUNG

    I/ THỰC TRẠNG NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC GIẢI QUYẾT

    II/ CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT

    III/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    1. Kết luận về nội dung nghiên cứu

    2. Bài học kinh nghiệm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Âm Nhạc Ở Trường Thcs
  • Đề Tài: Dạy Môn Âm Nhạc Tại Trường Thcs Trần Bình Trọng, Hay
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Thời Kỳ Mới
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tin Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Thể Dục Ở Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non
  • 7 Biện Pháp Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Với xu thế phát triển của xã hội hiện nay, môn Tin học ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với học sinh mọi cấp học. Tuy nhiên, việc giảng dạy môn học này hiện nay chưa đạt hiệu quả cao. Vì thế, cần có những giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tin học. Nâng cao đổi mới phương pháp giảng dạy

    Với xu hướng giáo dục 4.0 như hiện nay thì việc nâng cao nhận thức đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, cần có cái nhìn cũng như cách hiểu đúng đắn về đổi mới phương thức dạy học. Theo những chuyên gia giáo dục của Bộ Giáo dục và đào tạo : Việc đổi mới phương pháp dạy học không đồng nghĩa với việc đào tạo hoàn toàn theo phương pháp mới. Đổi mới ở đây được hiểu là vận dụng sáng tạo phương pháp và những kỹ năng giảng dạy truyền thống, kết hợp với phương pháp và phương tiện công nghệ hiện đại. Sự kết hợp này cần sự thống nhất và hài hòa, phù hợp với đối tượng cũng như nội dung chương trình.

    Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học là việc đổi mới quan niệm dạy học, từ thụ động tiếp nhận sang chủ động nắm bắt kiến thức, từ dạy học bằng thuyết trình sang tự khám phá và chủ động, từ dạy học tập trung vào việc dạy sang dạy học tập trung vào việc học.. Phương pháp này cũng thể hiện sự tôn trọng học sinh cũng như vốn hiểu biết và kinh nghiệm của các em.

    Với phương pháp mới, học sinh có cơ hội để tự phát hiện vấn đề, tự thực hành những thao tác trên máy tính. Từ đó giúp học sinh dễ nắm bắt và nhớ lâu hơn. Đồng thời, nó cũng khiến học sinh mạnh dạn và tự tin hơn khi tham gia thực hành.

    Phát huy tính tích cực của học sinh

    Trong phương thức dạy học mới, học sinh là chủ thể của hoạt động dạy học, có tính tực giác tích cực để chủ động tiếp nhận kiến thức. Về vấn đề này, những chuyên gia giáo dục cho rằng, người học là chủ thể chiếm lĩnh kiến thức cũng như rèn luyện kỹ năng. Điều này giúp học sinh phát huy tính tích cực chứ không phải người bị đông trong tiếp nhận những kiến thức mà thầy giáo truyền đạt.

    Với phương pháp mới này, thầy giáo chỉ giữ vai trò trong viêc điều khiển và định hướng hoạt động học của học sinh. Qua việc định hướng này, giáo viên cũng hình thành động cơ cũng như bồi dưỡng thêm kiến thức mới cho mình.

    Cụ thể, với việc giảng dạy môn Tin học, giáo viên nên đưa ra một hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó. Lúc đầu sẽ đưa ra những câu hỏi dễ để tạo hứng thú học tập. Tiếp đó là hệ thống câu hỏi khó để phát huy tư duy tích cực, để học sinh tham gia ý kiến cũng như chủ động tìm hiểu kiến thức.

    Kết hợp dạy lý tuyết với thực hành

    Theo những tư vấn của chuyên gia giáo dục, việc kết hợp lý thuyết và thực hành là xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục để có thể đáp ứng nhu cầu chất lượng nguồn lao động hiện nay. Đây cũng được xem là phương pháp dạy học Tin học hiệu quả. Thực tế, do học sinh phải học quá nhiều môn, nên Tin học được xem là môn học phụ, lượng kiến thức của chương trình vì thế cũng bị dồn nén. Nếu chỉ học lý thuyết chung chung thì học sinh sẽ không thể nắm bắt và sẽ nhanh quên. Bên cạnh đó thì Tin học cũng là môn học đòi hỏi kỹ năng sử dụng máy tính thành thạo. Chính vì thế, cần kết hợp đào tạo lý thuyết và thực hành . Đây được xem là yếu tố cần thiết đối với giảng dạy môn Tin học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm, Vần ( Lớp 1 )

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non
  • Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Giáo Dục Trẻ Tại Trường Mầm Non Khai Quang
  • Bản Tham Luận Về Năng Cao Chất Lượng Đại Trà : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • Tham Luận Về Việc Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕ VĂN TẦN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. CHUYÊN ĐỀ THÁNG 9 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN HỌC ÂM,VẦN ( LỚP 1 ) A/- ĐẶT VẤN ĐỀ:

    1. Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học âm,vần:

    Học vần là môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần quan học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: Chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên.

    2. Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học Âm,Vần:

    Xác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, Phòng Giáo dục Tiểu học đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phần môn này. Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung, đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra. Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của Tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng) đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn vần ngắn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi; các em cũng viết khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa, rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng.

    Kết quả nêu trên có thể nói là tiền đề khá vững chắc để các cấp quản lý và đội ngũ giáo viên từng địa phương trên địa bàn phát huy. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học, hàng năm vẫn còn nhiều đơn vị có tỷ lệ học sinh yếu khá cao, nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo, việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn, … còn nhiều hạn chế.

    Làm thế nào để khắc phục vấn đề này? Theo đề nghị của một số đơn vị trường học, được sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Phòng Giáo dục Tiểu học tổ chức chuyên đề: “Nâng cao chất lượng giảng dạy Học Âm ,Vần lớp 1” với mong muốn thúc đẩy chất lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2022 – 2022 và những năm tiếp theo.

    B/- NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC ÂM,VẦN:

    – Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là Phòng GD&ĐT quận 12, Sở GD&ĐT Tp Hồ Chí Minh cụ thể:

    + Phối hợp tổ mạng lưới chuyên môn, thường xuyên tổ chức các hội nghị chuyên đề, các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học.

    + Thường xuyên tổ chức các phong trào dạy và học (Hội thi giáo viên dạy giỏi, viết chữ đẹp, đồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học, …) trong năm giúp đội ngũ giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.

    + Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn, …

    – Đa số giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.

    – Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng khối 1, hỗ trợ cho khối nhiều lĩnh vực đáp ứng nhu cầu giảng dạy.

    – Cơ sở vật chất từng phòng lớp, bàn ghế, phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện.

    – Phụ huynh học sinh đa số đề rất quan tâm đến viêc học tập của con em mình.

    – Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ.

    – Ở những vùng có điều kiện, đa số trẻ đều qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kỹ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1.

    -Một số giáo viên còn trẻ,chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy

    – Trong mỗi tiết dạy, giáo viên chưa biết cách phát huy khả năng tự phát hiện của học sinh, chưa phát huy hết tính ưu việt của hoạt động nhóm, đặc biệt là vai trò của nhóm trưởng.

    – Học sinh mới chuyển từ mầm non lên tiểu học nên việc ổn định nề nếp lớp gặp nhiều khó khăn.

    – Học sinh nói chưa trọn câu,chưa đủ ý.Học sinh còn nhỏ chưa mạnh dạn trong giao tiếp.

    -Một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em mình

    C/- MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN HỌC ÂM,VẦN:

    Đổi mới phương pháp dạy học được coi là yếu tố vô cùng quan trọng mà đội ngũ giáo viên dạy lớp 1 phải hết sức quan tâm khi dạy phân môn, cụ thể khi dạy phần này, giáo viên cần chú ý:

    1. Vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh là một trong những đặc điểm lớn nhất của phương pháp dạy học nói chung. Đổi mới phương pháp dạy phân môn này là ở chỗ biết kết hợp sử dụng tích cực hóa các hoạt động của học sinh.

    2. Những phương pháp đặc biệt chú ý khi giảng dạy học vần là: Phương pháp dùng lời nói, hỏi – đáp, quan sát, miêu tả, sử dụng đồ dùng trực quan, bộ chữ rời, bảng cái, luyện tập theo mẫu, thực hành giao tiếp, trò chơi,tổ chức lớp học tự quản theo mô hình VNEN.

    3. Khi vận dụng từng phương pháp, phải chú ý nhiều hơn đến cách thức hoạt động của học sinh để tiếp nhận các tri thức Tiếng Việt, cũng như việc hình thành và phát triển các kỹ năng (đọc, viết, nghe, nói).

    4. Việc tổ chức hoạt động có thể dưới nhiều hình thức linh hoạt: cá nhân, từng đôi một, nhóm nhỏ, nhóm lớn, cả lớp, đặc biệt chú ý đến hình thức tổ chức dạy học theo nhóm.

    5. Vận dụng phương pháp dạy học lớp ghép vào việc sửa lỗi phát âm của học sinh ngay trong tiết học.

    6. Xác định các cơ sở quan trọng khi lựa chọn phương pháp, biện pháp và hình thức tổ chức dạy học một bài học vần:

    – Đối tượng học sinh để có các biện pháp cá thể hóa trong dạy học.

    – Mục tiêu bài dạy theo yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng, nhằm đảm bảo yêu cầu cần đạt đối với mọi đối tượng học sinh.

    – Khả năng của mình giáo viên, để cân nhắc các phương pháp, biện pháp, các hình thức tổ chức dạy học mà mình sẽ chọn nhằm vận dụng, kết hợp có hiệu quả.

    – Điều kiện về cơ sở vật chất (phòng học, bàn ghế, các phương tiện hỗ trợ, …) để lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp.

    7. Gợi ý một số biện pháp tổ chức từng hoạt động trọng tâm của một bài dạy Học âm,vần,tiết 1 như sau:

    *Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ.

    – Giáo viên kiểm tra đọc âm,vần,từ,câu thông qua các trò chơi như:Trò chơi đi chợ,Trò chơi chọn món ăn,Đi tìm kho báu,Chọn ô số.

    – Giáo viên kiểm tra viết âm,vần,tiếng từ đã học ở bài trước(học sinh viết vào bảng con).

    * Hoạt động 2: Bài mới.

    – Giáo viên đưa tranh,khai thác tranh,rút từ khóa,rút âm,vần mới.

    – Giáo viên hướng dẫn học sinh cách phát âm đúng âm,vần

    – Học sinh dùng bộ chữ cài âm,vần,tiếng mới.

    -Giáo viên chỉnh sữa cho học sinh còn gặp khó khăn trong phát âm, tuyên dương những học sinh có tiến bộ.

    * Hoạt động 3: Viết âm,vần mới.

    – Giáo viên cho học sinh quan sát chữ mẫu,giáo viên viết chữ mẫu,hướng dẫn học sinh viết đúng độ cao,độ rộng của chữ vào bảng con.Giáo viên sử dụng đúng thuật ngữ lia bút,dừng bút,rê bút để học sinh nắm.Sau đó nhận xét học sinh viết.

    * Hoạt động 4: Đọc từ ứng dụng.

    – Gắn các thanh chữ mẫu (có thể cho học sinh sử dụng SGK), yêu cầu học sinh đọc thầm, sau đó phát huy những học sinh khá giỏi đọc to những từ này.

    – Tổ chức cho học sinh thi đua phát hiện, phân tích nhanh những tiếng chứa vần mới (Học sinh dùng bút chì gạch chân các tiếng này trong SGK).

    – HDHS luyện đọc trơn (đọc đồng thanh, đọc cá nhân theo nhóm để tất cả học sinh đều được đọc và đọc được) các từ ứng dụng, chú ý chỉnh sửa phát âm cho học sinh.

    – Kết hợp giải nghĩa một số từ khó thông qua tranh, ảnh, mô hình, vật thật.

    * Hoạt động 5: Củng cố.

    – Giáo viên chia lớp thành hai đội rồi tổ chức trò chơi tiếp sức giữa hai đội.Mỗi đội gồm 4-5 học sinh.

    -Thông qua trò chơi,giúp học sinh củng cố lại âm,vần vừa học

    D/- KIẾN NGHỊ – ĐỀ XUẤT:

    – Nhận thức sâu sắc việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay được hiện thực theo hướng lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm.Vì vậy, muốn để tất cả học sinh đều được học và học được, trong giờ dạy giáo viên chỉ giữ vai trò là người điều hành, tổ chức và hướng dẫn các hoạt động để học sinh đều tích cực, chủ động, sáng tạo, tự lực khám phá chiếm lĩnh tri thức.

    – Có thái độ gần gũi, yêu thương, tôn trọng ý kiến học sinh, nhẹ nhàng trong việc uốn nắng, sửa sai cho các em từ cách đọc, cách viết, cách cầm bút, tư thế ngồi, …

    – Luôn luôn tự học, tự rèn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thường xuyên dự giờ, thăm lớp, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp.

    – Tận dụng tối đa thiết bị dạy học sẵn có ở trường, tự sưu tầm các vật thật xung quanh, làm thêm đồ dùng dạy học.

    – Tạo mối quan hệ thường xuyên giữa phụ huynh học sinh và nhà trường để nắm chặc được chuyển biến tâm lý và tình hình học tập của học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Giáo Dục Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Trung Học Ở Hải Phòng
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Giáo Dục Hướng Nghiệp Và Dạy Nghề Cho Học Sinh Phổ Thông
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tư Vấn Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Trong Trường Thcs
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Nghề Cho Lao Động Nông Thôn Ở Kon Tum
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4.
  • Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn
  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Văn Bậc Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán
  • Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập
  • Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : “Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh.”

    Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm:

    1) Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học)

    2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học

    3) Kết thúc bài học (củng cố bài)

    Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học.

    Phßng gi¸o dôc&®µo t¹o mü ®øc Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn ®Ò tµi S¸ng kiÕn kinh nghiÖm Tªn ®Ò tµi: Mét sè biÖn ph¸p NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP 4 Ng­êi thùc hiÖn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga §¬n vÞ: Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn- Mü §øc- Hµ Néi §Ò tµi thuéc lÜnh vùc: M"n To¸n N¨m häc: 2010- 2011 Phòng GD& ĐT Mỹ Đức CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM Trường TH §èc TÝn Độc lập -Tự do- Hạnh phúc **************** ĐỀ TÀI s¸ng kiÕn kinh nghiÖm I- SƠ YẾU LÝ LỊCH Hä vµ tªn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga Ngµy, th¸ng, n¨m sinh: 1966 N¨m vµo ngµnh : 1989 Chøc vô: Gi¸o viªn §¬n vÞ c"ng t¸c: Trường Tiểu học §èc TÝn - Mü §øc - Hµ Néi Tr×nh ®é chuyªn m"n: Đại học HÖ ®µo t¹o: Từ xa Bé m"n gi¶ng d¹y: Chủ nhiệm lớp 4A Tr×nh ®é chÝnh trÞ : Khen thưởng: Gi¸o viªn giái cÊp tr­êng II- TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP4 NĂM HỌC: 2010-2011 A. LÝ DO CHỌN ĐÊ TÀI Lời Bác dạy: " Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : "Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh." Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm: Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học) 2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học 3) Kết thúc bài học (củng cố bài) Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học. B. NỘI DUNG I. KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM: 1/Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 4A Trường tiểu học §èc TÝn. 2/ Thời gian khảo sát: Ngày 16 tháng 9 năm 2010. 3/ Cách tiến hành: Ra đề kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm. 4/ Kết quả: Lớp Sĩ số G K TB Y SL % SL % SL % SL % 4A 20 3 15 6 30 10 50,0 1 5 5/ Nguyên nhân: Từ kết quả trên so với môn Toán mà bản thân các em đạt được ở lớp 1,2,3. Quả thật, đây là điều đáng lo ngại. Sau một thời gian tìm hiểu, tôi phát hiện ra những nguyên nhân cơ bản sau: -Việc tiếp thu nội dung, kiến thức bài học của học sinh còn hạn chế, nhanh quên. -Việc lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học của giáo viên chưa được hợp lý. -Đồ dùng dạy học để phục vụ minh họa còn ít, chưa phong phú. Giáo viên lựa chọn và sử dụng còn lúng túng, khai thác chưa khoa học. - Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh còn dài dòng. -Những bài mà nội dung, kiến thức cần ghi nhớ không có trong sách giáo khoa nên giáo viên tự soạn còn chưa chuẩn, sát, chưa tập trung vào mục tiêu chính. II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: Từ tình hình thực tế ở khối lớp 4 nói chung, lớp 4A nói riêng, với những nguyên nhân nêu trên. Nhiệm vụ đặt ra cho bản thân tôi là: Làm thế nào để học sinh học tập có hiệu quả hơn? Từ đó tôi áp dụng 3 biện pháp để thực hiện như sau: BIỆN PHÁP 1:GIỚI THIỆU BÀI Giới thiệu bài là khâu quan trọng trong tiến trình dạy học. Việc giới thiêu bài một cách hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của học sinh, tạo hứng thú học tập và khêu gợi sự nỗ lực ở các em trong việc suy nghĩ, tìm tòi khái niệm. Như các môn học khác, môn Toán cũng có nhiều cách để giới thiệu bài học. Giáo viên lựa chọn biện pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài học mới sao cho nhẹ nhàng, hấp dẫn nhưng không cầu kì, kéo dài thời gian: gợi mở bằng tranh ảnh, bằng vật thật; cho học sinhthực hiện một ví dụ; diễn giải bằng lời hoặc bằng cách nêu tình huống có vấn đề sẽ lôi cuốn các em vào bài giảng một cách thoải mái. Ví dụ 1: Ví dụ về giới thiệu bằng cách cho học sinh làm ví dụ: Khi dạy bài " Thương có chữ số 0"- Toán 4 -Giáo viên nêu: 9450: 35=? -Học sinh thực hiện phép chia vào bảng con (chia như chia cho số có 2 chữ số) sau đó nhận xét về lượt chia cuối cùng của số bị chia (là 0) và thương( có 0 ở tận cùng: 270). -Giáo viên nhấn mạnh về thương của phép chia này và giới thiệu bài. Cách giới thiệu này phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh học tập tự giác mà có hiệu quả. Ví dụ 2: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu tình huống có vấn đề: Khi dạy bài "Phân số và phép chia số tự nhiên"-Toán 4. - Giáo viên nêu tình huống: Có 3 cái bánh, chia đều cho 4 bạn. Vậy em có những cách chia nào? Ví dụ 3: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu yêu cầu. Khi dạy bài "So sánh các số có nhiều chữ số"- Toán 4. - Giáo viên ghi bảng: 99578100000 rồi yêu cầu học sinh điền dấu thích hợp váo chỗ trống và giải thích. Ví dụ 4: Ví dụ về giới thiệu bằng cách bắt đầu bài học một cách trực tiếp bằng một câu hỏi. Khi dạy bài: "Viết số tự nhiên trong hệ thập phân"- Toán 4. - Giáo viên nêu câu hỏi: Khi viết số, tự nhiên ở mỗi hàng có thể viết được mấy chữ số? Cứ mười đơn vị ở một hàng hợp thành mấy đơn vị ở hàng trên tiếp liền nó? -Học sinh trả lời rồi giáo viên dẫn dắt vào bài học. Ví dụ 5: Ví dụ về giới thiệu bằng tranh ảnh hoặc vật thật. Khi dạy bài "Yến, tạ, tấn"- Toán 4. - Giáo viên chuẩn bị cân đồng hồ cân được 100 kg. - Học sinh lần lượt cân xem mình nặng bao nhiêu( một số học sinh đại diện cân) Từ đơn vị ki-lô- gam giáo viên giới thiệu sang đơn vị yến Như vậy, việc giới thiệu bài học tốt rất có ý nghĩa trong tiến trình tổ chức và kết quả giờ dạy Toán 4. BIỆN PHÁP 2:TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI DẠY Để tìm hiểu nội dung bài học đạt kết quả cao. Trong tiết học Toán người giáo viên phải đảm bảo được các nội dung sau: - Biết lựa chọn phương pháp dạy học. - Biết cách đặt câu hỏi, cách nhận xét câu trả lời của học sinh. - Thông báo nội dung dạy học. - Tổ chức dạy học theo nhóm. - Lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học. - Tổ chức trò chơi trong tiết dạy học Toán. - Đánh giá, ghi điểm. 1)Việc lựa chọn phương pháp dạy học. Khi tiến hành dạy học, người giáo viên có năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh là người biết lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học một cách hợp lý. Trước sự thay đổi về nội dung dạy học, bám sát mức độ cần đạt được về nội dung, kiến thức chứa đựng bài học. Ví dụ: Khi dạy bài "Giây, thế kỷ"- Toán 4. Giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập, thực hành là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp khác (đàm thoại, quan sát, hướng dẫn, giảng giải) để hiểu được mối quan hệ giữa giờ và phút, phút và giây, giữa thế kỷ và năm. Từ đó rút ra kết luận: Dựa vào các đơn vị đo thời gian con người tính được khoảng thời gian từ trước cho đến nay. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp cần phải căn cứ vào lứa tuổi của học sinh, đặc thù của môn học, tính chất của từng bài và điều kiện về cơ sở vật chất và khả năng hướng dẫn của giáo viên. Đối với Toán 4, tôi sử dụng phương pháp dạy học chủ yếu là: a) Phương pháp dạy học bài mới: Khi dạy bài mới tôi hướng dẫn học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học rồi giúp học sinh sử dụng kinh nghiệm của bản thân hoặc của bạn cùng nhóm để tìm mối quan hệ của vấn đề đó với các kiến thức đã biết. Từ đó tự tìm cách giải quyết. Ví dụ: Khi dạy bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. - Giáo viên nêu: Trong hai phân số và phân số nào lớn hơn? - Học sinh nhận xét đặc điểm của và để nhận ra đó là hai phân số khác mẫu số cần phải so sánh - Vấn đề cần giải quyết. Để giải quyết tôi cho học sinh trao đổi theo nhóm, có thể theo hai phương án: Phương án 1: Lấy hai băng giấy như nhau. Chia băng giấy thứ nhất thành 3 phần bằng nhau, lấy hai phần( tức băng giấy). Chai băng giấy thứ hai thành 4 phần bằng nhau, lấy 3 phần ( tức băng giấy). So sánh độ dài của hai phần lấy đi của hai băng giấy. Phương án 2: Quy đồng mẫu số hai phân số2/3 và 3/4(học sinh đã học quy đồng) = = ; = = . Ví dụ : Sau khi học bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. Học sinh đã thực hành làm các bài tập. Tôi cho các em làm bài toán đố vui: Lan và Hoa cùng quét lớp. Lan quét được lớp học, Hoa quét được lớp học. Vậy bạn nào quét được nhiều hơn? Để tìm kết quả, học sinh phải phát hiện rồi tự giải quyết vấn đề của bài học là: " so sánh hai phân số và " vấn đề này nêu gián tiếp dưới dạng xem ai quét nhiều hơn? b) Phương pháp dạy học các bài luyện tập, luyện tập chung, ôn tập thực hành. - Với các dạng bài này tôi giúp học sinh nhận ra các kiến thức đã học hoặc một số kiến thức mới trong nội dung các bài tập đa dạng và phong phú. Ví dụ: Khi học sinh thực hành tính 2457 x 306. Nếu học sinh quên cách thực hiện, tôi nêu câu hỏi để học sinh nhớ lại đặc điểm của phép nhân dạng: nhân với số có ba chữ số, thừa số thứ hai có hàng chục là 0. Khi đặt tính không viết tích riêng thứ hai, tích riêng thứ ba viết lùi sang trái hai chữ số so với tích riêng thứ nhất. - Giúp học sinh tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng học sinh. Ở phương pháp này tôi quan tâm giúp học sinh làm bài đúng, trình bày gọn, rõ ràng và cố gắng tìm được cách giải hợp lí. - Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh. Thông qua việc giúp đỡ bạn, bản thân các em càng nắm chắc, hiểu sâu kiến thức của bài học, càng có điều kiện hoàn thiện các năng lực của bản thân. - Tập cho học sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập, thực hành; có thói quen tìm nhiều phương án và lựa chọn phương án hợp lí nhất để giải quyết vấn đề của bài tập, không nên thỏa mãn với các kết quả đã đạt được. Ví dụ: Khi giải bài toán: Thương của phép chia 67200: 80 là số có mấy chữ số? A. 5chữ số B. 4chữ số C. 3chữ số D. 2chữ số Đối với dạy số học trong Toán 4 phương pháp chủ yếu đối với các bài bổ sung, hoàn thiện, tổng kết về số tự nhiên. Tôi sử dụng phương pháp tổ chức hướng dẫn học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài: "Phép cộng phân số" (tiếp theo)- Toán 4. Cho học sinh nêu ví dụ rồi tôi ghi bảng + sau đó yêu cầu học sinh thực hiện. Học sinh sẽ lúng túng. Lúc này tôi hướng dẫn cho học sinh nhận ra mẫu số của hai phân số này khác nhau, để cộng thì cần phải quy đồng. Đến đây học sinh có thể thực hiện dễ dàng theo trình tự: Quy đồng mẫu số rồi cộng hai phân số. Đối với các bài toán có lời văn tôi để học sinh cố gắng tự tìm ra phương pháp giải bài toán với các bước: Bước 1: Phân tích đề toán, tóm tắt đề. Bước 2: Phân tích các mối quan hệ giữa các " dữ kiện" đã cho với "kết luận" để tìm ra cách giải bài toán. Bước 3: Trình bày bài giải bài toán đầy đủ, rõ ràng. Để tránh nhàm chán khi giải bài toán có lời văn tôi thay đổi phương pháp cho học sinh đóng vai người bán hàng để giải toán. Ví dụ: Cô cần may 5 cái áo, mỗi cái áo may hết 1m 2dm. Hãy bán số vải cô cần để may số áo đó. Cô đưa 3 tờ giấy bạc mỗi tờ là 50000 đồng. Tính và trả lại số tiền dư (biết rằng1m vải giá 20000đồng) - Dành cho học sinh khá, giỏi Hoặc cho học sinh đóng vai bác nông dân. Ví dụ: Ba bác nông dân cấy lúa trên một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài 54m, chiều rộng kém chiều dài 18m. Hỏi trung bình một bác nông dân cấy được bao nhiêu mét vuông ruộng? - Dành cho học sinh trung bình, khá. Vậy: Để tổ chức cho học sinh học tập trong một tiết Toán thật tốt, giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng dạy học để từ đó lựa chọn phượng pháp dạy học phù hợp nhằm đạt mục tiêu đó. 2)Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh. a/ Trong quá trình dạy học, giáo viên thường đặt nhiều câu hỏi cho học sinh. Đó là những câu hỏi mà giáo viên không phải để biết mà là để thực hiện việc dạy học của mình. Mục đích của việc đặt câu hỏi này là gây hứng thú, gợi trí tò mò khoa học của học sinh để tóm tắt những điểm chính hoặc để đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Vì vậy, mặc dù hằng ngày giáo viên đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi nhưng không phải ai cũng nắm được kĩ thuật và có nghệ thuật đặt câu hỏi. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán: Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi bằng 240m, chiều rộng bằng chiều dài. Tính diện tích mảnh vườn đó? Tôi dùng hệ thống câu hỏi như sau: Câu hỏi tìm dữ kiện: -Bài toán cho ta biết gì? -Bài toán yêu cầu ta phải làm gì ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta làm như thế nào ? Câu hỏi đòi hỏi suy luận : -Muốn tính chiều rộng hoặc chiều dài của mảnh vườn ta làm cách nào ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Nêu những đặc điểm giống nhau của hình chữ nhật và hình bình hành ? Câu hỏi yêu cầu so sánh : -Viết các phân số; ;; ; theo thứ tự từ bé đến lớn? Câu hỏi yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân: -Viết một phân số lớn hơn 1, một phân số bằng 1, giải thích vì sao? Câu hỏi yêu cầu học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức: -Tìm 3 số tự nhiên khác nhau, biết số trung bình cộng của ba số là 2. Câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức đã học: -Để tính nhanh bài toán sau: 24 x 46 + 38 x 41+ 46 x 48 + 5 x 38. Em đã sử dụng tính chất gì của phép tính? b/ Khi nhận xét câu trả lời của học sinh tôi không nhận xét những câu trả lời của học sinh phát biểu mà không được chỉ định mà xác định một cách rõ ràng những câu trả lời đúng để tất cả học sinh đều biết. Có thể xác nhận bằng điệu bộ, cử chỉ mà không cần dùng ngôn ngữ nói. Khi học sinh trả lời chưa đúng, cần uốn nắn chỗ sai một cách cặn kẽ hoặc hướng dẫn học sinh tìm ra chỗ chưa đúng. Khi học sinh trả lời đúng không nên gọi nhiều học sinh khác nhận xét câu trả lời của bạn. 3)Thông báo nội dung học tập. Trong khi tổ chức và hướng dẫn học sinh học tâp, giáo viên sử dụng nhiều dạng ngôn ngữ khác nhau: ngôn ngữ nói; ngôn ngữ viết; ngôn ngữ "ẩn"Ngôn ngữ tự nhiên được dùng để phát biểu vấn đề, diễn đạt suy luận ( khi cần thiết), bằng lời nói hay chữ viết. Đặc biệt ở tiểu học, khái niệm toán học có thể diễn đạt bằng nhiều cách. Ví dụ: Khái niệm mét vuông có thể diễn đạt: - Bằng kí hiệu: "m2". - Bằng chữ viết: " mét vuông". - Bằng kí hiệu âm thanh: "đọc: mét vuông" Tuy nhiên ngôn ngữ nói có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc dạy học của giáo viên. Cách dùng từ chính xác, cách phát âm rõ ràng, chuẩn xác tiếng phổ thông có tác dụng lớn trong việc thông báo nội dung học tập cho học sinh. Ngôn từ dễ nghe, dễ hiểu của giáo viên sẽ giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu nhiều điều mà giáo viên truyền đạt. Việc thông báo nội dung học tập cho học sinh của giáo viên được tiến hành bằng nhiều hình thức: - Ghi lên bảng những nội dung học tập chính. - Giảng giải một vấn đề phức tạp. - Nhấn mạnh những điểm quan trọng. - Đưa ra những ví dụ để nhận xét. - Giải thích, hướng dẫn học sinh từng bước lĩnh hội nội dung cần thông báo. - Bổ sung, sửa đổi những câu trả lời của học sinh Trong các hình thức thông báo trên, ghi bảng là hình thức thể hiện rõ trình độ hiểu biết và việc làm khoa học của giáo viên. Những gì mà giáo viên ghi lên bảng thì đó là nội dung học tập chính mà học sinh cần lĩnh hội và cần được khắc sâu. Ví dụ: Khi dạy bài: "Thương có chữ số 0" tôi ghi bảng như: Thứngày.tháng . năm Toán: Thương có chữ số 0 a) Thương có chữ số 0 ở tận cùng. 9450 : 35 = ? 9450 35 245 270 000 9450 : 35 = 270 b)Thương có chữ số 0 xen giữa. 2448 : 24 = ? 2448 24 0048 102 00 2448 : 24 = 102 * L ưu ý: VD(b ) Mỗi lần hạ một chữ số ở số bị chia xuống để chia mà nhỏ hơn số chia thì ghi 0 vào thương rồi hạ chữ số tiếp theo xuống để chia. 4)Tổ chức dạy học theo nhóm - Trong tiết học Toán việc tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm là rất cần thiết.Hoạt động nhóm trong tiết Toán giúp các em tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới, có tác dụng gợi mở học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ năng về môn Toán mà các em đã được lĩnh hội và rèn luyện để diễn đạt những ý kiến của mình, tham gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được khuyến khích để trao đổi các kinh nghiệm và được tạo cơ hội làm việc hợp tác với nhau. Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là ham hiểu biết, ưa hoạt động, giàu trí tưởng tượng cho nên khi dạy học tôi luôn gợi trí tò mò, tránh đơn điệu về hình thức hoạt động. Còn đặc điểm nhận thức của học sinh là đi từ tư duy cụ thể đến tư duy trừu tượng, cho nên khi tổ chức dạy học theo nhóm trong môn Toán tôi chia thành các nhóm từ 2 đến 6 học sinh: theo tổ, dãy, bàn, cặpTùy theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập. Ví dụ: -Tiết dạy về kiến thức mới tôi chia theo nhóm : Bàn. -Tiết dạy luyện tập tôi chia theo nhóm: 4 học sinh. -Tiết dạy thực hành tôi chia theo nhóm: Tổ. -Tiết dạy ôn tập tôi chia theo nhóm:2; 4 học sinh. Chia nhóm cũng có nhiều cách khác nhau. Trong tiết Toán tôi thường chia theo các cách: Cách 1: Các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định( nhóm cùng trình độ, nhóm theo sở trường) Ví dụ: - Nhóm chia ngẫu nhiên, nhiều trình độ: Cho học sinh đếm từ 1 đến 6 vòng quanh lớp. Các nhóm được thành lập bởi các em có cùng số hoặc lập một bộ từ 1 đến 6. Hoặc phát cho mỗi học sinh một tấm bìa có vẽ biểu tượng, học sinh tìm bạn có cùng biểu tượng hợp thành một nhóm. - Nhóm hình thành có chủ định: Giáo viên lần lượt đọc tên học sinh vào từng nhóm. Giáo viên chia nhóm cố định và đặt tên cho mỗi nhóm. Khi có lệnh của giáo viên, các em tự giác thành lập nhóm như nhóm tổ, dãy. - Chia nhóm tình bạn: Học sinh được phép chọn bạn lập thành một nhóm với số người do giáo viên định trước. Cách 2: Các nhóm hoạt động trong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Hóa Học Lớp 8
  • Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Hóa Ở Thcs Skkn 2014 Hoa Nhung Doc
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Hóa Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Hóa Học Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học!
  • Biện Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Ngoại Khóa Môn Gdcd Ở Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • 2 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Anh Vùng Khó
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Anh Ở Trường Thcs Đan Trường Hội
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Theo Mô Hình Trường Học Mới Vnen
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp Ghép Trong Trường Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số, Miền Núi
  • Tọa Đàm Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp Ghép
  • Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài:

    – Hiện nay trong các nhà trường THCS việc giảng dạy các tiết học

    ngoại khóa với môn GDCD gặp rất nhiều khó khăn vì sách giáo khoa

    không có hướng dẫn cho việc dạy ngoại khóa thống nhất cho các lớp ở bậc

    THCS mà chỉ dừng lại có chương trình chỉ đạo. Vì vậy việc dạy ngoại

    khóa thống nhất cho các bậc học là cần thiết và dạy như thế nào để đạt hiệu

    quả cao lại càng khó cần thiết hơn bao giờ hết.

    Trước thực trạng việc giáo viên dạy GDCD ở THCS gặp nhiều khó

    khăn cho tiết dạy ngoại khóa ở môn GDCD lớp 6, 7 ,8, 9. Vì vậy tôi lựa

    chọn đề tài này: “Nâng cao chất lượng dạy ngoại khóa ở môn GDCD ở

    bậc THCS ” làm đề tài để viết, cũng mong được phần nào tháo gỡ bớt khó

    khăn, băn khoăn, thắc mắc cho đội ngũ giáo viên không chuyên trách dạy

    GDCD mà chỉ là kiêm nhiệm.

    2. Mục đích của đề tài:

    Việc bản thân chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng dạy ngoại khóa

    môn GDCD ở THCS” nhằm mục đích trao đổi với đồng nghiệp về các

    băn khoăn mà đồng nghiệp gặp khó khăn trong việc dạy các tiết học ngoại

    khóa cho cả bậc học.

    Bước đầu tìm ra các giải pháp của cá nhân để cùng được đồng nghiệp

    chia sẻ, áp dụng vào việc dạy các tiết học ngoại khóa ở các lớp đạt hiệu

    quả cao hơn học sinh thích học hơn và các em không cmả thấy miễn cưỡng

    phải học vì áp lực môn học. Giúp các em có hứng thú học tập, tìm hiểu các

    vấn đề về môi trường sống, về trật tự an toàn giao thông và phòng chống tệ

    nạn xã hội.

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    1

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    Từ việc cung cấp cho các em tri thức về các lĩnh vực đó để các em có

    việc làm đúng, góp phần hình thành nhân cách tốt hơn, xây dựng xã hội

    văn minh hơn.

    3. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và đối tượng khảo sát:

    Bất kỳ môn khoa học nào cũng có đối tượng nghiên cứu riêng với tư

    cách là môn khoa học xã hội, môn giáo dục công dân cũng có đối tượng

    nghiên cứu:

    Môn giáo dục công dân ở trường THCS là khoa học nghiên cứu quá

    trình xử lý chuyển giao thông tin khoa học của học sinh về quan hệ của con

    người đối với tự nhiên, xã hội và với con người trong cộng đồng trên tất cả

    các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đạo đức pháp luật về sự nghiệp xây dựng đất

    nước Việt Nam. Nhằm tạo ra con người phát triển toàn diện phục vụ cho sự

    nghiệp phát triển đó. Đồng thời là sự tác động qua lại giữa thầy – trò trong

    quá trình dạy học.

    Dạy GDCD là quá trình chuyển giao thông tin khoa học của bộ môn

    GDCD giữa thầy – trò. Nó bao gồm các quá trình: xử lý và chuyển giao

    thông tin khoa học của bộ môn của thầy và quá trình tiếp nhận của trò, xử

    lý thông tin của học sinh. Hai quá trình này có tác động qua lại với nhau,

    bổ sung cho nhau. Trong sự tác động đó sẽ bộc lộ những quy luật của quá

    trình dạy học môn GDCD. Nhiệm vụ của phương pháp giảng dạy bộ môn

    là phát hiện các quy luật đó. Xây dựng hệ thống các nguyên lý, hình thức

    và phương pháp giảng dạy cụ thể nhằm tổ chức thành công hoạt động dạy

    của thày, học của trò.

    Những quy luật của họat động dạy học bộ môn không thể thống nhất

    với quy luật của giáo dục học, tâm lý học, nghệ thuật. Những quy luật đó

    vừa phải phù hợp với quy luật của nhận thức khoa học của học sinh vừa

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    2

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    tiếp thu tri thức, vừa tiếp nhận tích cực, chủ động, sáng tạo vừa phải phản

    án đúng sự phát triển của đất nước, con người Việt Nam.

    Giáo viên cần nắm vững phương pháp dạy GDCD với ranh giới dạy

    môn khác. Kết hợp các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn

    GDCD.

    Giáo viên tự tìm hiểu thông qua việc giảng dạy bộ môn và tìm hiểu

    tâm tư của đồng nghiệp qua việc giảng dạy GDCD đặc biệt là các tiết dạy

    “thực hành ngoại khoá”, gặp nhiều khó khăn. Vì tài liệu hướng dẫn dạy

    ngoại khoá chưa có mà mới chỉ dừng lại là một bài soạn để dạy ngoại khoá

    còn là đại cương.

    Từ thực trạng xã hội hiện nay nói chung và thực trạng học sinh

    THCS ở các nhà trường nói riêng vẫn còn bộ phận học sinh chưa thật sự

    biết các điều học được trong các nhà trường thành bài học pháp luật vào

    cuộc sống. Vẫn còn số ít các em chưa gắn liền kiến thức pháp luật vào

    cuộc sống hàng ngày.

    4. Nhiệm vụ, phạm vi và thời gian thực hiện đề tài:

    Từ thực trạng đạo đức của học sinh hiện nay thì môn GDCD trong

    nhà trường có nhiệm vụ như các bộ môn khoa học khác là cung cấp kiến

    thức về đạo đức và pháp luật thì môn GDCD còn hình thành phẩm chất

    chính trị, tư tưởng, đạo đức, nó gắn liền với con đường xây dựng và bảo vệ

    Tổ quốc. Môn GDCD còn góp phần đào tạo học sinh thành những người

    lao động mới, hình thành những phẩm chất tốt đẹp, tích cực của công dân

    tương lai, có thế giới hạn quan khoa học, nhân sinh quan tiên tiến, có đạo

    đức trong sáng, ra sức thực hiện đường lối và nhiệm vụ cách mạng đúng

    đắn của Đảng và Nhà nước. Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật,

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    3

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    có ý thức trách nhiệm cao đối với Tổ quốc, với nhân dân, với gia đình và

    đối với chính bản thân mình.

    Đề tài này đã được trải qua năm năm dạy thay sách giáo khoa của

    bậc THCS trong những năm qua. Những khó khăn của giáo viên dạy, của

    học sinh đã dần dần từng bước được ứng dụng, tháo gỡ dần bằng cách đưa

    vào các bài giảng thống nhất vào các tiết dạy ngoại khoá cho tất cả các

    khối lớp ở THCS với môn GDCD.

    5. Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài:

    Thống nhất được chương trình, nội dung, kiến thức của bài giảng cho

    từng khối lớp của bộ môn GDCD:

    Ví dụ:

    Bài 1: Phòng chống tệ nạn xã hội: Phòng chống bệnh HIV/AIDS

    Dạy tiết 15 – Lớp 9

    Dạy tiết 18 – Lớp 6,7

    Bài 2: Trật tự an toàn giao thông

    Dạy tiết 18 – Lớp 9

    Dạy tiết 32 – Lớp 8

    Dạy tiết 33 – Lớp 7

    Bài 3: Bảo vệ môi trường

    Dạy tiết 35 – Lớp 9,6

    Dạy tiết 18 – Lớp 8

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    4

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    Cung cấp thêm cho giáo viên hệ thống kiến thức tham khảo hỗ trợ

    cho các tiết dạy ngoại khoá.

    Nguồn cung cấp thêm tài liệu để tham khảo hỗ trợ cho việc giảng dạy

    ngoại khoá.

    Từ bài học các em bám sát vào các vấn đề cần thiết hiện nay đang

    được cả xã hội quan tâm: Trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội

    và bảo vệ môi trường là vấn đề của toàn cầu hiện nay.

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    5

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    II. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC, CƠ SỞ THỰC TIỄN

    1. Cơ sở khoa học:

    Bản chất của dạy học là quá trình giảng dạy của thày và học tập của

    học sinh là quá trình xử lý thông tin chuyển giao thông tin của thầy giáo và

    thu nhận thông tin, xử lý thông tin của học sinh. Sự tác động qua lại giữa

    quá trình dạy của thày và quá trình học tập của học sinh làm bộc lộ nhiều

    đặc điểm sư phạm, buộc các nhà sư phạm phải nghiên cứu. Quá trình sư

    phạm đó mang tính xã hội phong phú, phức tạp với nhiều mối quan hệ tác

    động qua lại lẫn nhau, hình thành phát triển tri thức khoa học cho học sinh.

    Bản chất của dạy học môn GDCD cũng thuộc về lý luận chung đó.

    Song mỗi môn khoa học có những đặc trưng riêng biệt, vấn đề đặt ra

    ở đây là chúng ta phải nghiên cứu đặc trưng của qúa trình giảng dạy môn

    GDCD.

    Căn cứ vào mục đích và nội dung của môn học, kết cấu các loại tri

    thức của nó, thầy giáo cần có những phương pháp giáo dục và giáo dưỡng

    thích hợp. Những nguyên tắc, phương pháp dạy học không phải là điểm

    xuất phát mà là kết quả của sự nghiên cứu nội dung tri thức, đặc điểm tâm

    sinh lý và trình độ nhận thức của học sinh. Xây dựng và phát triển phương

    pháp dạy học cho một môn phải cần xem xét vào những yếu tố đó. Nhưng

    trong những yếu tố đó mục đích và nội dung của môn họ giữ vai trò quan

    trọng nhất. Không thể dùng phương pháp dạy học môn này thay thế cho

    phương pháp giảng dạy của môn học khác, tuy các phương pháp giảng dạy

    của các môn học có những đặc điểm chung. Đồng thời ngay trong một môn

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    6

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    học, việc giảng dạy cho từng đối tượng người học cũng phải khác nhau tuỳ

    theo độ tuổi. Nói cách khác quá trình tác động qua lại giữa thày và trò là

    một quá trình mang tính sư phạm, vận dụng theo quy luật của tư duy.

    Quá trình nhận thức, tiếp nhận và xử lý thông tin khoa học của học

    sinh không thể tuân theo các quy luật của tư duy biện chứng do triết học

    nghiên cứu. Nếu sự chuyển giao thông tin của thày phù hợp với quy luật tư

    duy của trò thì việc tiếp nhận và xử lý thông tin của trò sẽ có hiệu quả và

    ngược lại. Mặt khác, việc chuyển giao thông tin của thày phù hợp với quy

    luật, tâm sinh lý của trò thì sẽ làm cho trò xử lý thông tin tốt hơn, đầy đủ

    hơn, chính xác hơn.

    Những cơ sở khoa học trên phải dựa trên các phương pháp nhận thức

    khoa học. Tri thức khoa học là yếu tố tinh thần của khoa học được biểu thị

    dưới dạng lý luận có hệ thống, theo một kết cấu logic chặt chẽ. Trong đó

    phản ánh những quy luật khách quan, mối liên hệ có tính quy luật của tự

    nhiên, xã hội và tư duy.Việc nhận thức các tri thức khoa học nhất thiết phải

    có phương pháp. Phương pháp nhận thức khoa học trước hết giúp cho thầy

    xử lý thông tin chính xác về tri thức khoa học của bộ môn. Mặt khác, tìm

    ra cách thức truyền giao thông tin đó một cách hiệu quả nhất. Không

    những thế, khi tiếp nhận các thông tin khoa học mà còn tiếp nhận cả cách

    xử lý thông tin khoa học của thày. Như vây song song vào tiếp thu tri thức

    khoa học bộ môn mà học sinh từng bước thu nhận cả phương pháp nhận

    thức và hành động.

    Tri thức của môn GDCD có liên qua rất nhiều chặt chẽ với tri thức

    của bộ môn khoa học khác. Đặc biệt là khoa học xã hội. Trong giảng dạy

    giáo viên có thể vận dụng phương pháp giảng dạy của các bộ môn khoa

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    7

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    học khác như văn học, lịch sử, toán học. Nhưng không thể thay thế phương

    pháp dạy GDCD bằng các phương pháp dạy các bộ môn đó.

    Như vậy việc hiểu biết về bản chất của quá trình dạy môn học, quy

    luật tư duy của lứa tuổi, đặc trưng của kiến thức khoa học của từng bộ

    môn. Những phương pháp nhận thức khoa học là cơ sở quan trọng để vận

    dụng phương pháp giảng dạy môn GDCD với tư cách là một môn khoa

    học.

    2. Cơ sở thực tiễn:

    Môn GDCD trong các nhà trường hiện nay do nhiều nguyên nhân,

    chưa được quan tâm một cách đầy đủ và nghiêm túc. Tất cả các bậc học

    việc giáo viên dạy chính trị ở các trường đại học, cao đẳng, các trường phổ

    thông nhiều năm trước đây đều mang tính tự phát. Trong những năm gần

    đây, đội ngũ giáo viên dạy môn GDCD được đào tạo chính quy. Họ được

    trang bị tri thức khoa học một cách hệ thống, hiện đại, cơ bản và chuyên

    sâu, có lý luận về phương pháp và nghiệp vụ sư phạm. Song đội ngũ đó

    chưa trở thành lực lượng chủ sở dĩ có tình trạng đó là do nhiều nguyên

    nhân.

    Nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về tri thức và nhiệm vụ của môn

    học. Trước đây môn chính trị nhằm tuyên truyền giáo dục tư tưởng chính

    trị là chủ yếu. Hiện nay nó chuyển thành môn GDCD với tư cách là môn

    khoa học xã hội, nhưng với thời gian chưa nhiều, nên chưa làm chuyển

    biến nhận thức của mọi người. Do đó môn học chưa được quan tâm đúng

    mức và phương pháp giảng dạy bộ môn đang được nghiên cứu và dần hoàn

    thiện từng bước.

    Đội ngũ dạy bộ môn nói chung, chưa được tiêu chuẩn hoá, cụ thể

    chưa được bồi dưỡng thường xuyên và sử dụng đúng. Đội ngũ này rất đa

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    8

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    9

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ MÀ NỘI DUNG

    CỦA ĐỀ TÀI ĐỀ CẬP ĐẾN

    Ở nước ta trong những năm gần đây, tình trạng nghiện hút tiêm chích

    và buôn bán, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma tuý diễn ra với chiều

    hướng ngày một gia tăng.

    Tệ nạn ma tuý đã gây ra nhiều tác hại cho bản thân, gia đình, xã hội,

    nòi giống, dân tộc, ảnh hưởng xấu đến việc học tập, đạo đức sức khỏe của

    thanh thiếu niên nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng, làm khánh kiệt

    kinh tế gia đình.

    Tình trạng nghiện hút, tiêm chích ma tuý đã lên tới mức báo động.

    Để thực hiện có hiệu quả chỉ thị 06/CT- TW – Bộ chính trị về: “Tăng

    cường chỉ đạo công tác phòng chống ma tuý”. Nhằm giúp học sinh, sinh

    viên, thanh thiếu niên và các bậc phụ huynh đọ, hiểu một cách đơn giản

    những nội dung cơ bản về tệ nạn ma tuý, tác hại của ma tuý, các triệu

    chứng lâm sàng về nghiện ma tuý, đồng thời có biện pháp phòng ngừa và

    cai nghiện cho những người đã nghiện.

    Tệ nạn ma tuý đang là một hiểm hoạ của nhiều nước trên thế giới.

    Bởi vậy, Liên hiệp quốc lấy ngày 26/6 hàng năm là ngày thế giới phòng

    chống ma tuý.

    Ở nước ta tình trạng nghiện hút, tiêm chích, buôn bán, sử dụng trái

    phép chất ma tuý đang diễn ra phức tạp với nhiều thủ đoạn xảo quyệt. Vụ

    án Xuân Trường là điển hình.

    Nạn sử dụng ma tuý để rồi nhanh chóng bị nghiện đã lan ra trong

    thanh thiếu niên, đặc biệt là học sinh trong các trường.

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    10

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    Ma tuý gây ra nhiều tác hại xấu đến việc học tập, đạo đức. Nhiều học

    sinh, sinh viên sử dụng một lần đến quen, rồi nghiện phải bỏ học và nhanh

    chóng trở thành tội phạm.

    Tình trạng trên cần được chặn đứng, đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn

    ma tuý ở các địa phương, nhất là trong các nhà trường hiện nay.

    Bên cạnh tệ nạn ma tuý, thì trật tự an toàn giao thông cũng là vấn đề

    mà cả xã hội quan tâm vì số vụ tai nạn, số người chết ngày càng gia tăng,

    thiệt hại về người và của là rất lớn. Giao thông đường bộ: Người tham gia

    giao thông không chấp hành đúng các quy định đi đường đối với người đi

    bộ, người đi xe thô sơ, người điều khiển xe máy. Tai nạn giao thông đường

    thuỷ, tai nạn giao thông đường sắt…

    Tai nạn giao thông đã trở thành nguyên nhân chính trong việc gia

    tăng người tàn tật ở Việt Nam trong thời gian qua. Các bệnh viện hàng

    ngày phải tiếp nhận hàng trăm ca cấp cứu do tai nạn giao thông. Ngoài số

    ca tử vong, không ít trường hợp đã để lại thương tật vĩnh viễn, nhiều

    trường hợp chỉ còn sống đời sống thực vật do chấn thương quá nặng. Tại

    bệnh viện Việt Đức – Hà Nội, mỗi ngày phải tiếp nhận khoảng 60 trường

    hợp tai nạn giáo thông. Riêng tại Hà Nội trong vòng 2 năm đã tiếp nhạn

    43.381 trường hợp. Độ tuổi bị tai nạn giao thông tập trung vào từ: 16 – 45

    tuổi. Nhiều trường hợp đưa vào bệnh viện trong tình trạng cơ thể có nhiều

    bộ phận bị gẫy, dập nát phải cắt bỏ, trở thành người tàn tật vĩnh viễn. Tai

    nạn giao thông thật sự là thảm họa ở nước ta. Đó là chưa kể tới sự thiệt hại

    to lớn về vật chất và để lại hậu quả lâu dài cho xã hội , ảnh hưởng đến

    chiến lược phát triển con người.

    Vì vậy giáo dục trật tự an toàn giao thông là nhiệm vụ thường xuyên

    và quan trọng của các trường học nói chung và THCS, THPT nói riêng.

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    11

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    Trên thế giới hiện nay con người chết do tệ nạn xã hội rất nhiều ở

    Châu Phi nói riêng, thế giới nói chung đều nằm trong thảm hoạ của

    HIV/AIDS. Con người chết do tai nạn gia thông hàng ngày vẫn bị gia tăng.

    Con người chết do thiên tai gây ra cũng không ít trên thế giới như ở “Thái

    Lan, In Đô nê xi a làm cho chúng ta không khỏi bàng hoàng. Thiên tai lũ

    lụt xảy ra ở khắp các nước trên thế giới do ô nhiễm môi trường, mất cân

    bằng sinh thái vì vậy con người hiện nay luôn phải đối mặt với cơn giận dữ

    của thiên nhiên mà sự huỷ diệt của nó là không thể tưởng tượng nổi.”

    Ở việt nam chúng ta cũng đang lằm trong tình trạng đó. Do diện tích

    rừng rộng lớn ở nước ta đã bị tàn phá, huỷ diệt bởi kỹ thuật và phương

    thức chiến tranh do giặc ngoại xâm gây ra trong năm chiến tranh ( 19451975).

    Do nạn khai thác rừng bừa bãi, không theo quy luật, không tuan thủ

    các biện pháp lâm sinh, không đảm bảo tái sinh rừng liên tục làm cạn kiệt

    nguồn tài nguyên.

    Trong những năm gần đây nạn lâm tặc hoành hành, khai thác gỗ rất

    lớn mà lực lượng kiểm lâm không thể kiểm soát nổi.

    Do một số bộ phận nhân dân các dân tộc họ sống du canh du cư, phá

    rừng lấy đất canh tác, dẫn đến gây ra nhiều vụ cháy rừng. Khai thác mở

    rộng các công truờng không quy hoạch bền vững cũng xâm phạm đến tài

    nguyên rừng.

    Như chúng ta đã biết, việc sử dụng bao bì li non có thể gây nguy hại

    đến môi trường bởi đặc tính không phân huỷ của plastic. Hiện nay ở Việt

    Nam mỗi ngày thải ra hàng triệu bao bì ni lông, một phần được thu gom,

    phần lớn bị vứt bừa bãi khắp nơi công cộng, ao hồ, sông ngòi.

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    12

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    Mà bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của

    các loài thực vật bao quanh nó, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến sự sói

    mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các

    đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt ở các đô thị về mùa mưa.

    Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát triển , lây truyền dịch

    bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải.

    Đặc biệt là các bao bì ni lông đựng màu thực phẩm làm ô nhiễm thực phẩm

    do chứa các kim loại như chì, ca- đi – mi gây tác hại cho não, là nguyên

    nhân gây ra ung thư phổi . Nguy hiểm nhất là khi các bao bì ni lông thải

    bỏ đi đốt, các khí độc thải ra chất đi ô sin có thể gây ngộ độc, gây ngất, khó

    thở, nôn ra máu, ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết , giảm khả năng miễn

    dịch, gây rối loạn các chức năng gây ung thư , dị tật, bẩm sinh cho trẻ sơ

    sinh . Vì vậy chúng ta phải thay đổi các thói quen đó tránh ô nhiễm môi

    trường.

    Đứng trước thực trạng trên cần đưa giáo dục môi trường vào các nhà

    trường là cần thiết. Đẻ mọi tăng cường công tác bảo vệ môi truờng trong

    thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nứơc. Đưa các nội quy bảo vệ

    môi truờng vào hệ thống giáo dục quốc dân.

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    13

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    CHƯƠNG III:

    NHỮNG BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP ĐẶT RA CỦA ĐỀ TÀI

    1. Tệ nạn xã hội

    Hiện nay việc sử dụng ma tuý của học sinh, sinh viên là do nhà

    trường quản lý không chặt chẽ, do bố mẹ thiếu quan tâm, buông lỏng quản

    lý, chiều chuộng dẫn đến bị lôi kéo, rủ rê, đua đòi ăn chơi, lúc đầu thử rồi

    đến nghiện. Chúng ta cần phải chặn đứng, đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn

    ma tuý ở địa phương và trường học.

    Để đẩy lùi được tệ nạn trên các nhà trường cần làm tốt các việc sau:

    Tiến hành giáo dục về phòng chống ma tuý cho học sinh, sinh viên

    thông qua các đợt sinh hoạt tập thể đầu năm do Bộ ban hành. Làm cho

    từng học sinh, sinh viên thấy rõ được tác hại của tệ nạn ma tuý đối với bản

    thân, gia đình, nhà trường và xã hội, có những hành động tích cực như

    không thử, không dùng, không nghiện, không tiêm chích ma tuý, không

    tham gia buôn bán, vận chuyển, tổ chức hút hít. Vận động bạn bè, gia đình

    cảnh giác với ma tuý vì ma tuý không trừ một ai.

    Tổ chức cho học sinh, sinh viên học tập, sau đó ký cam kết không vi

    phạm tệ nạn ma tuý. Nừu học sinh, sinh viên cố tình vi phạm tệ nạn ma tuý

    phải xử lý nghiêm khắc theo quy định của Bộ – xử lý học sinh, sinh viên.

    Kết hợp chặt chẽ và đồng bôn với các lực lượng ở trong trường và

    chính quyền, công an địa phương sở tại để kiểm soát số học sinh, sinh viên

    vi phạm tệ nạn ma tuý. Từ đó có biện pháp giáo dục, làm trong sạch môi

    trường giáo dục đào tạo.

    Quản lý chặt chẽ học sinh, quan tâm đến các hoạt động của các em,

    tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa, văn nghệ, thi tìm hiểu, vẽ

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    14

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    tranh cổ động tuyên truyền, mit ting ngoại khoá, nói chuyện về các hoạt

    động khác theo chuyên đề phòng chống tệ nạn xã hội, tệ nạn ma tuý.

    Tệ nạn ma tuý rất nguy hiểm, mọi học sinh, sinh viên, mọi gia đình

    đều phải cảnh giác và phòng ngừa cho mình, cho gia đình, cho cả cộng

    đồng.

    Phòng chống ma tuý là quyền lợi và nghĩa vụ củahọc sinh, công dân,

    không phải của riêng ai, và thực hiện khẩu hiệu “Nhà trường không có ma

    tuý”.

    2. An toàn giao thông: Hiện nay ở Việt Nam, trung bình mỗi ngày có

    khoảng ba mươi người chết, tám mươi người bị thương do tai nạn giao

    thông. Vậy việc giáo dục trật tự an toàn giao thông là mhiệm vụ thường

    xuyên và quan trọng của các trường học nói chung và trường THCS nói

    riêng.

    Trong các nhà trường tổ chức cho học sinh các hoạt động ngoại khoá

    ngoài giờ lên lớp ở nhà trường: Tuyên truyền bằng các cuộc thi tìm hiểu về

    an toàn giao thông, thi thực hành trên đường qua các cuộc thi của Đội: Thi

    đi xe đạp chậm trong ngày 26/3. Thi lý thuyết giúp học sinh củng cố các

    kiến thức về giao thông bằng hình thức trắc nghiệm qua các hệ thống biển

    báo giao thông. Thi vẽ tranh, tổ chức chơi trò chơi làm người điều khiển tại

    các nút giao thông, thông qua các cuộc thi giữa các khối lớp nhằm giúp học

    sinh củng cố được kiến thức, khắc sâu kiến thức đã học về an toàn giao

    thông. Từ đó giáo dục các em có ý thức trách nhiệm, tự giác chấp hành

    đúng các quy định của pháp luật về trật tự an toàn gioa thông.

    Ngoài việc giáo dục trật tự an toàn giao thông ở các nhà trường thì

    gia đình cũng phải có trách nhiệm nhắc nhở con em minh có ý thức chấp

    hành các quy định về an toàn giao thông ở mọi nơi, mọi lúc. Đặc biệt khi

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    15

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    các em tham gia giao thông. Nghiêm khắc với các em chưa đủ tuổi tham

    gia giao thông bằng xe máy phân phối lớn khi chưa đủ tuổi hoặc chưa có

    bằng lái xe.

    Đối với Đoàn thanh niên ở địa phương cũng có trách nhiệm kiểm tra,

    giám sát hoạt động của học sinh khi các em tham gia giao thông ở địa

    phương, kịp thời phản ánh với nhà trường với Đoàn đôi của nhà trường về

    các hành vi vi phạm của các em trên đường giao thông tại địa phương.

    Tổ chức Đoàn cần có các hoạt động tình nguỵên để đoàn viên là học

    sinh tham gia vào việc giữ gìn trật tự giao thông đường phố. Khuyến khích

    các em tích cực hoạt động góp phần làm giảm tai nạn giao thông đáng tiếc

    xẩy ra.

    Đối với lực lượng công an tại địa phương, cũng cần nghiêm khắc xử

    lý, nhắc nhở về các lỗi vi phạm giao thông ở ngay trên địa bàn dân cư nơi

    các em cư trú.

    Ngoài việc trên hàng năm vào các buổi ngoại khoá cần có sự tuyên

    truyền của lực lượng công an giao thông về trật tự giao thông xảy ra

    trên địa bàn thành phố, toàn tỉnh để học sinh nắm rõ các số liệu đó và các

    em thấy được mức độ nguy hiểm để các em tránh xa.

    3. Bảo vệ môi trường

    Cùng với việc giáo dục trật tự an toàn giao thông thì việc giáo dục

    bảo vệ môi trường là việc làm không thể thiếu trong các nhà trường hiện

    nay. Thông qua bộ môn: Sinh học, địa lý, GDCD. Qua việc cung cấp kiến

    thức bộ môn còn giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường. Qua bài

    học giáo dục cho các em tình yêu quê hương, đất nước, yêu thiên nhiên

    tươi đẹp. Thông qua các bài học được tiến hành với các hình thức tổ chức

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    16

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    đa dạng tại các địa điểm khác nhau: Trong lớp, ngoài trường, đem lại cho

    các em thông điệp phong phú về bảo vệ môi trường, các nguyên nhân làm

    ô nhiễm môi trường, giúp các em lĩnh hội tri thức về bảo vệ môi trường

    một cách tự nhiên, sinh động và có hiệu quả.

    Ngoài ra bằng các giờ hoạt động ngoài giờ, các giờ hoạt động tập thể.

    Thông qua các giờ học này nhằm xây dựng môi trường sư phạm lành

    mạnh, trong một không gian “xanh, sạch, đẹp”. Thúc đẩy phong trào thi

    đua trồng cây, vệ sinh làm sạch, đẹp trường lớp. Xây dựng nhà trường

    xanh, sạch đẹp, lành mạnh an toàn giảm hiệu ứng không gian bê tông hoá

    đã và đang phát triển mạnh. Thông qua các buổi sinh hoạt, giờ chào cờ đầu

    tuần, các buổi sinh hoạt Đội, các cuộc cắm trại các tổ chức hình thức đa

    dạng phù hợp với lứa tuổi của học sinh.

    Ngoài việc giảng dạy tại lớp trong các giờ học, thông qua các bộ môn

    thì kết hợp với Đoàn Đội, tổ chức trồng cây vào dịp đầu năm, làm vườn

    sinh vật, vườn địa lý ở các khối lớp tạo ra cảnh quan môi trường đẹp.

    Kết hợp với giáo viên dạy mỹ thuật mở cuộc thi vẽ tranh về đề tài

    môi trường. Để các em đều có ý thức tham gia vào công việc chung của xã

    hội. Nâng cao ý thức trách nhiệm với cả cộng đồng.

    Kết hợp với Đoàn Đội ở địa phương để các em có ý thức chăm lo,

    giữ vệ sinh ở cộng đồng dân cư. Các em biết nhắc nhở gia đình và người

    thân cũng cần có ý thức bảo vệ môi trường và ăn ở có vệ sinh, sạch sẻ.

    Tuyên truyền để mọi người hạn chế sử dụng bao bì ni long để hạn

    chế ô nhiễm môi trường, phòng tránh đựơc bệnh tật khi mà mùa hè đã đến

    gần.

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    17

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    4. Kết quả khảo sát thông qua bài học ngoại khoá và các hình thức

    tuyên truyền ban đầu có hiệu quả và chuyển biến:

    Phòng chống tệ nạn xã hội. Trong nhà trường đã dẩy lùi tệ nạn ma

    tuý, tiêm chích trong nhà trường không có. Thông qua các hoạt động Đội

    thì học sinh còn phát hiện các gia đình buôn bán ma tuý giúp lực lượng

    công an dễ theo dõi và điều tra. Các tệ nạn trộm cắp, cờ bạc không có trong

    nhà trường.

    Qua việc học tập đó các em không phải xa lánh người có HIV. Biết

    tự chăm sóc bản thân và phòng tránh tệ nạn ma tuý. Tuyên truyền để người

    thân của các em biết phòng, tránh xa tệ nạn ma tuý.

    Tệ nạn xã hội bị đẩy lùi thì trật tự an toàn giao thông cũng được chấp

    hành tốt. Trong những năm qua nhà trường không có học sinh vi phạm trật

    tự an toàn giao thông. Không có học sinh đá bóng trên đường quốc lộ,

    không có học sinh phóng nhanh, vượt ẩu trên đường, không có học sinh

    gây rối nơi công cộng.

    Các em đã cùng với chi đoàn địa phương tham gia giữ trật tự an toàn

    giao thông đường phố, chợ, bến bãi vào dịp hè đến.

    Kết hợp với chi đoàn ở địa phương chăm sóc và bảo vệ cây xanh trên

    hè phố ở các khu dân cư. Trồng cây vào dịp Tết ở nhà trường, chăm sóc

    cây quanh nghĩa trang liệt sỹ. Giữ cho môi trường dân cư sạch đẹp, hợp vệ

    sinh, khu phố đựơc công nhận là khu phố văn hoá.

    Các đoàn thể ở địa phương cũng phải vào cuộc cùng nhà trường triển

    khai và làm tốt ba vấn đề trên, nó có chuyển biến tích cực. Nó đem lại hạnh

    phúc cho mọi nhà.

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    18

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    19

    Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

    Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Giúp Học Sinh Hứng Thú Với Môn Giáo Dục Công Dân
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Nội Dung Pháp Luật Trong Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 9 Ở Trường
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học Cac Giai Phap Nang Cao Chat Luong Day Hoc Doc
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Cấp Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Ôn Thi Thptqg Môn Lịch Sử
  • Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Giáo Dục Thể Chất Báo Cáo Seminar Khoa Học: “các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Thể Chất”
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên Thông Qua Hoạt Động Dự Giờ Thăm Lớp Của Cán Bộ Quản Lý Ở Trường Thcs Văn Nho
  • Tiểu Luận Cuối Khóa Cán Bộ Quản Lý Thcs”biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Thcs Tân Công Sính”
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh Trong Giờ Dạy Lịch Sử
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Tiểu Học Bình An
  • Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy, Phiếu Đánh Giá Chất Lượng Giảng Viên, Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Chất Lượng Tuyên Truyền Miệng Của Đội Ngũ Báo Cáo Viên ở Hà Giang Hi8eenj Nay, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Báo Cáo Sơ Kết Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Chỉ Thị Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ , Đề án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nâng Cao Chất Lượng Chương Trình Cho Vay, Nâng Cao Chât Lượng Quản Lý Cấp Phòng, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn, Chỉ Thị Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bao Cao Ve Nang Cao Chat Luong Sinh Hjoat Chi Bo, Báo Cáo Sơ Kết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Báo Cao Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Đổi Mới Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tư Tưởng, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Phương Pháp Quản Trị Chất Lượng, Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức, Chỉ Thị Mới Nhất Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tiếp Tục Đổi Mới Và Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục, Luận Văn Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Hướng Dẫn 12 Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Báo Cáo Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Doi Moi Va Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo Thon, Hướng Dẫn Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dcj, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoạt Chi Doan, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Mạng Lõi, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Thpt, Phương Pháp 5s Trong Quản Lý Chất Lượng, Biên Bản Xác Định Tỷ Lệ Chất Lượng Còn Lại, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Nông Thôn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Mua ô Tô Dành Cho Khách Hàng Cá Nhân, Bài Tham Luận Tại Đại Hội Chi Bộ Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ,

    Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy, Phiếu Đánh Giá Chất Lượng Giảng Viên, Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Chất Lượng Tuyên Truyền Miệng Của Đội Ngũ Báo Cáo Viên ở Hà Giang Hi8eenj Nay, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Tóm Tắt Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1
  • Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả
  • Giải Pháp Marketing Hiệu Quả
  • Biện Pháp Marketing Hiệu Quả
  • 10 Cách Marketing Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Với Chi Phí Thấp
  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Và Học Môn Tiếng Anh: Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng?
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Phân Môn Hát Ở Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn Cho Giáo Viên Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Trong Trường Mầm Non
  • Thật khó tin khi mà trong thời đại hội nhập toàn cầu, vẫn còn những học sinh coi môn tiếng Anh là “môn phụ” và học theo kiểu uể oải, đối phó. Chỉ đến khi lên đến đại học, ra làm việc, họ mới biết nhìn ra vấn đề, nhưng nhiều khi đã muộn.

    Đã đến lúc cần gióng lên một hồi chuông cảnh báo về chất lượng dạy và học môn tiếng Anh trong trường phổ thông .Hiện nay, môn tiếng Anh đã được đưa vào dạy ở bậc phổ thông, từ THCS đến THPT, một số nơi đã đưa vào chương trình bậc Tiểu học. Môn Ngoại ngữ là một môn thi tốt nghiệp bắt buộc hàng năm. Một số trường đại học sau khi tuyển sinh đã tiến hành khảo sát chất lượng môn Ngoại ngữ, nếu học sinh nào không đạt yêu cầu sẽ không được tiếp nhận vào học. Tuy nhiên, một thực tế là chất lượng dạy học môn Ngoại ngữ trong trường phổ thông trong t æ nh noùi chung vaø ôû tröôøng THPT Nguyeãn Thoâng noùi rieâng coøn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ hội nhập.

    V aäy ñaâu laø nguyeân nhaân cuûa thöïc traïng treân ?

    – CT-SGK môn TA được xây dựng theo quan điểm giao tiếp với các định hướng cơ bản là hình thành kĩ năng giao tiếp là mục tiêu cuối cùng quá trình dạy học và thể hiện tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong rèn luyện và vận dụng kĩ năng giao tiếp bằng TA.

    – Nội dung chủ điểm gần gủi với cuộc sống, hoạt động thường ngàycủa HS, giúp cho HS có sự hiểu biết tương đối khái quát về đất nước, con người và nến văn hoá của một số nước sử dụng TA.

    – Tuy nhiên, nội dung CT mới, lượng kiến thức nhiều, dàn trãi và nặng đối với đối tượng HS trung bình yếu, và HS vùng nông thôn nhö tröôøng chuùng ta . Nội dung kiến thức trong 1 tiết ( 45 phút ) tương đối nhiều, GV thường phải chạy đua với thời gian để hoàn thành các phần trong tiết dạy và do đó không có thời gian để rèn luyện, củng cố và khắc sâu kiến thức cho HS; Thậm chí có tiết GV phại chạy theo CT, tạo áp lực cho HS, không gây được hứng thú học tập bộ môn cho HS.

    – Bài tập rèn luyện trong SGK phần nhiều được thiết kế theo hình thức tự luận ( TL ) nhưng phần lớn kiểm tra 1 tiết và học kỳ theo hình thức trắc nghiệm khách quan; Điều này thể hiện sự không đồng bộ và bất cập trong giảng dạy và kiểm tra.

    – Một số nội dung chủ điểm còn xa lạ đối với HS vùng nông thôn ( các bài nói về nội dung chiến lược kinh tế trừu tượng trong SGK lớp 12-Economic Reforms sa mạc( Unit 9 – 12 các môn thể thao dưới nước – unit 12- 12 các tổ chức quốc tế, . . . . ) , ñoâi khi đó còn là vấn đề mới mẽ đối với GV, tạo ra một thử thách lớn đối với GV khi thực hiện CT-SGK mới.

    * Đa số giáo viên còn trẻ , tận tâm với nghề , với học sinh .

    * Có 100% giáo viên đạt chuẩn đào tạo và có 2 GV trên chuẩn .

    * Đoàn kết nội bộ cao , nhất trí cao trong mọi công tác .

    * Vận dụng và kết hợp đổi mới PPGD bộ môn , nhiệt tình trao đổi chuyên môn cùng đồng nghiệp để tìm phương hướng giảng dạy coù hiệu quả .

    * Đa số GV nhiệt tình trong giảng dạy , song do chương trình mới nên còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng trong soạn giảng . Chưa truyền thụ hết kiến thức cho học sinh do chưa có kinh nghiệm dạy SGK mới

    * 100 % Gv trong tổ là nữ , hầu hết đều có con nhỏ nên bận bịu với công việc gia đình , không có đủ thời gian học hỏi từ đồng nghiệp trong và ngoài trường dù có thiện chí.

    *Dạy ngôn ngữ nhưng GV Anh văn chuùng toâi gần như bị tách rời giao tiếp, môi trường văn hóa tiếng Anh, chỉ loay hoay với công việc do áp lực thành tích, chỉ tiêu thi đua.

    * Theo thạc sĩ Phạm Tấn, Phó Trưởng khoa Anh văn Trường Đại học Sư phạm chúng tôi trong giảng dạy tiếng Anh cần đảm bảo nguyên tắc 4 L: Học – Sống – Yêu – Cười (Learn – Live – Love – Laugh) thì việc học tiếng Anh mới đạt hiệu quả. Để làm được điều này, GV phải gia công rất nhiều cho bài học nhưng trước những áp lực với GV hiện nay, nguyên tắc 4 L bao giờ mới được áp dụng?.

    * Một số GV chưa đầu tư thoả đáng cho chuyên môn , chưa thật sự chịu khó tự rèn , chưa tạo được sự say mê học tập bộ môn cho học sinh cũng như chưa có biện pháp hữu hiệu trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh . Chưa chú trọng phân hoá đối tượng .

    * Một số Gv còn quá dễ dãi trong việc quản lý , nhắc nhở kiểm tra học sinh , tạo cơ hội chểnh mảng trong học tập cho các em .

    * Tổ trưởng chưa có kinh nghiệm quản lý CM , xử lý vấn đề đôi khi chưa khoa học . Chưa có kinh nghiệm trong công tác ôn thi TN .

    * Trường nằm ở vùng ven thành phố Vl , học sinh đa phần xuất thân từ tầng lớp nông dân , chưa có môi trường và cơ hội thực hành tiếng , chưa vận dụng được nội dung đã học vào thực tế cuộc sông .

    * Chất lượng đầu vào hàng năm của trường thường quá thấp .

    * Nội dung đề kiểm tra một tiết và học kỳ THCS thừờng quá dễ , học sinh đầu cấp chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm tra ở đầu năm học khi chuyển từ THCS sang THPT , từ đó tạo ra sự bất mãn , chán và sợ học tiêng Anh , thụ động học tập để đối phó với GV qua những lần KT .

    + Cấu trúc đề KT THCS ( KT 45 phút và thi học kỳ 60 phút , cấu trúc đề , số lượng câu hỏi như nhau .)

    * Chưa thấy được tầm quan trọng của tiếng Anh trong phát triển nghề nghiệp sau này .

    * Đa phần mất kiến thức căn bản từ cấp dưới , ý thức học tập chưa cao , thiếu động cơ , mục đích học tập, chưa tự giaùc học tập , còn trông chờ vào gv và lệ thuộc vào sách học tốt quá nhiều .

    * Học sinh ban KHXH & NV không có , đa số học sinh chọn các môn Toán , lý hoá để thi ĐH nên còn xem nhẹ môn tiếng Anh , chủ trương học sao cho không bị điểm quá thấp khi thi TN là đủ .

    * Kỹ năng làm bài kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách quan còn yếu . Kỹ năng phân tích đề và nhận dạng cấu trúc chưa cao . Thái độ làm bài kiểm tra chưa nghiem túc , thể hiện qua việc chọn ngẫu nhiên , không đọc kỹ đề để lựa chọn phương án đúng .

    II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2009- 2010

    1. Giáo dục học sinh nhận thức vị trí và tầm quan trong của việc học tập bộ môn tiếng Anh trên lớp và trong tương lai.

    2. Giáo dục học sinh về ý thức và thái độ học tập bộ môn đúng đắn, nhất là thái độ làm bài thi nghiêm túc và cố gắng hết mình để đạt kết quả khả quan hơn. Thường xuyên rèn luyện kỹ năng làm bài trắc nghiệm,kỹ năng phân tích đề thông qua các bài kiểm tra.

    3. Phân hoá đối tượng học sinh để tổ chức nâng kém hiệu quả hơn, thường xuyên kiểm tra bài các học sinh yếu và lười bằng những biện pháp hữu hiệu, tạo hứng thứ học tập bằng những hình thức khen thưởng, khích lệ các em học chăm hơn. Động viên các em yếu, kém học chăm chỉ và tích cực hơn trong các hoạt động trên lớp.

    4 .Cho các dạng bài tập trắc nghiệm vừa sức học sinh, rèn luyện các dạng bài tập cơ bản lặp đi lặp lại để khắc sâu kiến thức và đảm bảo cho học sinh đạt điểm 5 trở lên. Tranh thủ quỹ thời gian ở nhà của các em giao bài tập về nhà cho các em tự luyện tập thêm.

    5. Tăng cường củng cố kiến thức cho học sinh yếu kém, trao đổi cùng đồng nghiệp những nội dung cô đñong , dễ hiểu và tìm ra PP giúp các em khắc sâu bài học hơn.

    6. Khuyến khích và tổ chức nhóm học tập trên lớp và ở nhà. Rèn luyện nề nếp tự học và tự đánh giá mức độ tiếp thu bài học của mình. Xây dựng môi trường học tập bộ môn tự nhiên và không gây áp lực cho các em.

    7. Kết hợp cả hai chương trình chuẩn và nâng cao để rút ra kiến thức chuẩn truyền đạt cho học sinh ngay từ lớp 10. Giáo viên giảng dạy lớp 12 cần cung cấp và rền luyện cho học sinh kiến thức toàn cấp học để có thể đáp ứng đề kiểm tra trên lớp và học kỳ.

    9. Giáo viên luôn tự rèn luyện, học hỏi thêm về chuyên môn, đầu tư nhiều trong soạn giảng, vận dụng PPDH hiệu quả, tạo sự hứng thú học tập và tích cực hoạt động của học sinh. Học hỏi kinh nghiệm từ các trường có chất lượng cao để từng bước đưa chất lượng của trường đi lên. Giao lưu trao đổi tài liệu, sách tham khảo về bộ môn giữa các trường.

    1. Duy trì việc thông bài nhóm , chú ý đến những tiết khó trong CT .
    2. Tiếp tục thao giảng , dự giờ , chân tình góp ý , rút kinh nghiệm lẫn nhau để cùng nhau nâng cao chất lượng BM .
    3. Hướng dẫn một số GV trong tổ sử dung Internet có hiệu quả để truy cập thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy .Giới thiệu những trang WEB học tiếng Anh trực tuyến các kỹ năng , giúp Gv trao dồi trình độ chuyên môn , và có thể tải các bài tập có chất lương phục vụ cho tiết dạy trên lớp – Thực hiện trong những lần họp nhóm CM .
    4. Tổ chức ngoại khoá nâng cao chất lượng cho học sinh 10, 11 vào tuần thứ 2 tháng 12( chuẩn bị kiến thức , rèn kỹ năng làm bài trắc nhghiệm – kế hoạch đính kèm ) – Nhóm trưởng phụ trách
    5. Tổ chức ngoại khóa nâng cao chất lượng cho học sinh khối 12 trong tuần thứ 3 của tháng 2 , và tuần thứ 2 trong tháng 5 . ?( hệ thống hoá chuẩn kiến thức thi TN , rèn kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm ) TT và các GV 12 .
    6. Tổ chức CLB Tiếng Anh , sinh hoạt lần 1 trong tháng 12 – sau khi thi HKI – và 2 lần trong học kỳ II .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Internet…
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy ⋆ Nam Phát Construction
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Đạt Chuẩn
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Hiệu Quả Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100