Top 13 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Sinh Học 8 / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Sinh Học Cấp Thcs / 2023

Chất lượng ở các lớp học thường thấp và không ổn định. Thực tế là đầu năm học chất lượng rất thấp, cuối năm học chất lượng được nâng lên rõ rệt nhưng sau 2 tháng nghỉ hè tất cả lại quay về điểm xuất phát. Hiện tượng này vẫn lặp đi lặp lại nhiều năm nay nhưng chưa có cách giải quyết hiệu quả. Qua quá trình giảng dạy , học tập và đúc rút kinh nghiệm, tôi mạnh dạn chỉ ra những nguyên nhân và đề ra một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng trên như sau:

* Về phía giáo viên:

– Có thể phương pháp dạy học chưa phù hợp với các đối tượng học sinh có trình độ khác nhau( lớp có nhiều đối tượng học sinh), chưa thực sự quan tâm đến tất cả học sinh trong cả lớp mà chỉ chú trọng một số em học khá, giỏi; giáo viên chưa thật tâm lý, chưa động viên khéo léo kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ.

– Xem nhẹ dẫn đến không khắc sâu kiến thức cơ bản , các kĩ năng cần thiết như: Kỹ năng phân tích, liên kết các các dữ liệu kiến thức, kĩ năng vẽ hình, viết giả thiết, kết luận, liên hệ thực tế….

– Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề cao quá mức đối với học sinh, dẫn tới hiện tượng: Dạy lướt (nghĩ học sinh nắm được rồi), thích chữa bài tập khó bỏ qua bài tập dễ, trung bình, mà không chú ý tới khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh.

– Chưa tạo được không khí học tập thân thiện vì yêu cầu cao của giáo viên . Giáo viên chưa phối kết hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh.

* Về phía học sinh:

– Chất lượng đầu vào thấp. Chẳng hạn một số em vào lớp 6 khả năng đọc ,viết, tính toán chưa thành thạo.

– Có quá nhiều lỗ hổng kiến thức vì vậy HS dễ chán nản và không ham thích học tập.

– Một số em lười học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo dụng cụ học tập dẫn tới không nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc học và vận dụng vào việc giải quyết các vấn đề ở các môn học.

– Một số em thiếu tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu vươn lên, có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bè hoặc xem lời giải sẵn trong sách giải một cách thụ động.

* Về phía phụ huynh:

– Sự quan tâm của một số phụ huynh đối với việc học của con em mình còn hạn chế. Đặc biệt, có những phụ huynh của những em học sịnh yếu không bao giờ kiểm tra sách vở của các em, phó thác việc học tập của các em cho nhà trường.

– Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet với các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em.

– Thông thường, phần kiểm tra bài cũ được giáo viên tiến hành ở đầu giờ. Đây là việc làm theo đúng tiến trình dạy học.

– Tuy nhiên, sự lặp đi lặp lại cách làm đó sẽ khiến học sinh nhàm chán, đôi khi gây áp lực, tạo sự căng thẳng cho học sinh trong suốt tiết học hôm đó.

– Theo tôi giáo viên có thể lồng ghép các câu hỏi kiểm tra kiến thức đã học trong quá trình dạy bài mới để làm giảm bớt đi sự căng thẳng không đáng có.

– Ví dụ : Khi dạy mục I bài 29. Hấp thụ chất dinh dưỡng và thải phân (Sinh 8) , giáo viên có thể treo tranh phóng to về Cấu tạo trong của ruột non. Sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại cấu tạo của ruột non phù hợp với chức năng tiêu hóa; kiểm tra kiến thức của học sinh về cấu tạo của ruột non, sau đó nhận xét và cho điểm.

– Trong một giờ học, nếu ngay từ phần vào bài giáo viên đã tạo ra sự hứng thú cho học sinh, chắc chắn trong những phút tiếp theo, các em sẽ hào hứng hơn với những hoạt động do giáo viên tổ chức.

– Do đó phần vào bài có vai trò quan trọng đến hoạt động dạy cũng như kích thích quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh trong một tiết dạy.

– Kinh nghiệm của tôi để có cách dẫn dắt vào bài mới hấp dẫn hơn là: Mở đầu bằng một câu chuyện vui; mở đầu bằng một đoạn phim hay hình ảnh; hay mở đầu bằng một câu chuyện li kì, hấp dẫn…

– Một điều cần lưu ý là: đặt vấn đề hay góp phần làm tăng tính hấp dẫn cho bài học, tạo hứng thú cũng như làm cho không khí học tập trở nên thoải mái hơn. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần chú ý đến thời gian cho phần vào bài để tránh ảnh hưởng đến thời lượng dành cho bài mới.

– Trong hoạt động dạy học luôn đòi hỏi sự tương tác qua lại thường xuyên giữa thầy và trò. Một trong những điều kiện để học sinh có thể học sâu là các em phải có cảm giác thoải mái.

– Trong quá trình giao tiếp với học sinh, giáo viên cần có thái độ nhẹ nhàng, vui vẻ, tạo cho học sinh cảm giác được yêu thương, nhưng khi cần vẫn phải nghiêm khắc để học sinh hiểu được giới hạn của sự thoải mái. Vì nếu quá dễ dãi, học sinh không kính nể sẽ rất khó dạy; quá nghiêm khắc, học sinh sẽ bị ức chế khó tiếp thu bài học.

– Hơn ai hết, giáo viên phải nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên đối với công tác giáo dục. Khi cảm thấy mình được tôn trọng có nghĩa là các em sẽ thêm phần tự tin vào bản thân mình, sẽ đáp lại bằng thái độ tôn trọng, yêu quý đối với thầy cô, nhờ đó mà cũng sẽ yêu thích hơn bộ môn những thầy cô giáo đó đang giảng dạy.

– Bên cạnh đó, người giáo viên cũng cần quan tâm đến những học sinh chậm tiến của lớp, quan tâm nhắc nhở các em học bài và chỉ cách học bài cho học sinh; kịp thời khen ngợi khi học sinh tiến bộ.

– Ví dụ, có em học sinh chậm tiến lần thứ nhất kiểm tra bài cũ chỉ được 3 điểm, nhưng lần thứ hai được 5 điểm, giáo viên cần khen ngợi để học sinh cảm thấy mình có tiến bộ, từ đó sẽ cố gắng nhiều hơn.

– Trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung của bài học trong sách giáo khoa, kết hợp nghiên cứu những tài liệu tham khảo khác như sách giáo viên, sách giải bài tập sinh học, chuẩn kiến thức kĩ năng,… để chỉ ra được mục tiêu chính là những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ cần hướng học sinh tìm hiểu và đạt được.

– Tiếp theo, giáo viên xác định số lượng hoạt động, hình thức tổ chức và nội dung các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu ở trên.

– Tuy nhiên, để hướng đến sự thích thú, say mê của học sinh với mỗi hoạt động đó thì giáo viên cần lựa chọn cách tổ chức phù hợp nhất, làm sao để học sinh phát huy tối đa khả năng và hiểu biết của bản thân, đồng thời có sự liên kết chặt chẽ với tập thể.

– Trong quá trình thiết kế, giáo viên nên có sẵn những dự kiến và phương án giải quyết cho những tình huống không theo ý muốn có thể xảy ra để có thể chủ động điều chỉnh nhằm tránh sự lúng túng, kéo dài thời gian, thậm chí là không đạt được các mục tiêu đã đề ra.

– Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên không thể bỏ qua vai trò của các đồ dùng, phương tiện dạy học. Việc lựa chọn được những đồ dùng phù hợp và có chất lượng không chỉ làm tăng hiệu quả của việc khai thác, phát hiện kiến thức mà còn tạo ra sự thích thú cho học sinh.

– Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị những đồ dùng nhất định. Khi được tự chuẩn bị, học sinh sẽ phải nghiên cứu tài liệu để hiểu về vấn đề được giao tức là các em đã được học tập thêm một lần nữa.

– Ví dụ: Khi sử dụng tranh vẽ “Thí nghiệm về hoạt động của enzim trong nước bọt” (hình 26- SGK, trang 85, sinh 8) để khai thác phát hiện kiến thức mới, giáo viên phải hướng học sinh chỉ ra được: Vì sao ống A lại có độ trong không đổi? Vì sao ống B lại có độ trong tăng lên và vì sao ống C và D lại có độ trong không đổi! Từ đó, hướng học sinh đến kết luận về hoạt động của enzim trong tuyến nước bọt.

– Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Khăn phủ bàn”: Để tiến hành kĩ thuật này, giáo viên chia học sinh thành nhóm (4 người/nhóm), mỗi người ngồi vào một vị trí đã được sắp xếp. Mỗi nhóm được nhận một tờ giấy có chia các ô dành cho hoạt động của từng cá nhân, ở giữa là ô trống dành cho kết quả chung của nhóm sau khi đã thống nhất ý kiến.

– Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép”: Để thiết kế, giáo viên cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp, xác định một nhiệm vụ phức hợp cần giải quyết ở vòng 2 dựa trên các nhiệm vụ khác nhau đã thực hiện ở vòng 1. Học sinh được chia thành các nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên trong nhóm.

– Trong quá trình tiến hành, ở vòng 1 giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ, đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao, mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm.

– Ở vòng 2, giáo viên hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới là sự kết hợp giữa mỗi thành viên trong mỗi nhóm trên, các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Sau khi chia sẻ xong thông tin ở vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa lập để giải quyết. Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2.

– Tuy nhiên, điều quan trọng là thiết kế và tổ chức như thế nào để mọi thành viên đều phát huy được năng lực cá nhân cũng như biết cách phối hợp với tập thể nhằm tăng cường sự liên kết và khả năng thu nhận, tích lũy kiến thức.

– Khi được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin thì khả năng truyền tải ý tưởng của giáo viên cũng dễ dàng và phong phú hơn.

– Để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học, giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian để học tập, nghiên cứu cho thành thạo cách thiết kế bài giảng, cách khai thác các ứng dụng khác.

– Đồng thời, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để thiết kế những hoạt động dạy học phù hợp, có kế hoạch sắp xếp và khai thác hợp lí các tranh, ảnh, mô hình, băng hình,… sưu tầm được theo trật tự nhất định phù hợp với nội dung kiến thức từng phần.

– Sự gần gũi của kiến thức lí thuyết với thực tế giúp học sinh dễ dàng kiểm chứng, liên hệ đã trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh.

– Ví dụ: Khi dạy bài 25. Tiêu hóa ở khoang miệng, giáo viên yêu cầu học sinh liên hệ với thực tế giải thích vì sao:

+ Tại sao khi nhai cơm lâu trong miệng ta thấy có vị ngọt?

+ Tại sao khi ăn uống ta không nên cười đùa thái quá?

+ Khi ăn uống ta có thực hiện đồng thời phản xạ nuốt không?….

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần / 2023

TRƯỜNG THCS THỔ CHÂU – KHỐI TIỂU HỌC

CHUYÊN ĐỀNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY HỌC VẦN LỚP 1

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:1) Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học vầnHọc vần là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên.2) Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học vầnXác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, bộ phận chuyên môn của trường đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phân môn này. Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra. Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng); đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi. Các em cũng viết đúng khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng. Tỷ lệ chất lượng của môn tiếng Việt hàng năm đều tăng.Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo; việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn,…còn hạn chế.Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả này, song yếu tố bất cập trong giảng dạy của giáo viên là vấn đề đáng quan tâm. Một trong những hạn chế nổi bật là kỹ năng vận dụng, phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trên lớp. Nhiều giáo viên còn rất lúng túng trong khâu lựa chọn, vận dụng phương pháp, biện pháp dạy học trong từng hoạt động. Do đặc thù của đơn vị trường khối 1chỉ có 1 lớp nên hạn chế trong việc học hỏi lẫn nhau. Các giáo viên dạy lớp khác còn lúng túng khi được phân công dạy thay lớp 1.Xuất phát từ những bất cập nêu trên, bộ phận chuyên môn khối tiểu học tổ chức chuyên đề : “Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Học vần lớp 1” nhằm thúc đẩy chất lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2011-2012 và những năm tiếp theo. II. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN:1) Thuận lợi: a) Đối với giáo viên:+ Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là bộ phận chuyên môn khối Tiểu học, cụ thể:– Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng lớp 1. Thường xuyên tổ chức các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học.– Hàng năm tổ chức các phong trào dạy và học (hội thi giáo viên dạy giỏi) giúp giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.– Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn,…+ Giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.+ Cơ sở vật chất từ phòng lớp, bàn ghế, các phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện.+ Phụ huynh học sinh đa số đều rất quan tâm đến việc học tập của con em mình.b) Đối với học sinh:+ Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ.+ Đa số trẻ đều được qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kĩ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1.2) Khó khăn:a) Đối với giáo viên:+ Đôi lúc chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa có tính sáng tạo trong việc đầu tư cho kế hoạch bài học. Đôi khi giáo viên có phần chủ quan trong dạy học vì kiến thức lớp 1 thường đơn giản

Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học / 2023

– Công nghệ thông tin và truyền thông là ngành ứng dụng công nghệ quản lý thông tin và xử lý thông tin. Tốc độ phát triển của CNTT làm cho quá trình trao đổi thông tin ngày càng trở nên nhanh chóng, thuận tiện. Bên cạnh đó công nghệ thông tin và truyền thông làm cho kho tri thức của nhân loại giàu lên nhanh chóng, giúp chúng ta tiếp cận tri thức đó nhanh hơn, dễ dàng, tiện lợi hơn. Từ đó sẽ thúc đẩy các nghành khoa học, công nghiệp, y học….. hay những lĩnh vực khác trong đời sống xã hội hiện đại phát triển mạnh mẽ.

Nhờ có công nghệ thông tin và truyền thông mà những phát minh, phát hiện mới về công nghệ sản xuất, nghiên cứu khoa học, y học….. được phổ biến và ứng dụng nhanh hơn, cũng như làm cho năng suất lao động tăng lên, do có điều kiện kế thừa và phát huy được các công nghệ sẵn có.

Có thể nói công nghệ thông tin và truyền thông đã có tác động to lớn, mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội loài người, và không ngoại lệ, nó cũng tác động mạnh mẽ trực tiếp đến nền giáo dục và đào tạo.

Nhận biết được vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của công nghệ thông tin và truyền thông trong xã hội hiện nay nên Đảng và Nhà nước ta đã đưa môn tin học vào giảng dạy ngay từ bậc học tiểu học.

– Tác dụng của CNTT trong dạy học ở bậc tiểu học:

Khi học môn Tin học bậc học tiểu học, các em sẽ được làm quen và tìm hiểu về vai trò của bốn bộ phận cơ bản quan trọng để cấu thành máy tính để bàn: Màn hình, bàn phím, thân máy và con chuột. Và kiến thức gói gọn trong môn Tin học ở bậc tiểu học là giúp các em học sinh làm quen và rèn luyện một số kỹ năng sử dụng chuột,bàn phím máy tính, …

Khi học Tin học ở bậc học tiểu học sẽ giúp các em học sinh hình thành ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, cũng như trong các hoạt động lao động khác. Thông qua những bài học được tiếp xúc, được làm việc trên máy tính, sẽ giúp các em học sinh hiểu được tầm quan trọng, vai trò to lớn của máy tính cũng như CNTT đối với học tập cũng như lao động.

Điều thú vị gây hứng thú nhất cho các em khi học tin học bậc tiểu học là các phần mềm học tập trong chương trình tin học tiểu học như : Phần mềm học toán giúp các em vừa học tốt môn toán, vừa giúp em rèn luyện kỹ năng sử dụng chuột, bàn phím, các phần mềm tập vẽ, các trò chơi giúp các em rèn luyện trí nhớ, tinh mắt, rèn luyện cho các em các kỹ năng thao tác trên con chuột, bàn phím một cách thuần thục hơn, giúp các em vừa học, vừa chơi, khơi dậy tính tò mò, sáng tạo, ham học hỏi của các em.

Các phần mềm trò chơi, Logo, học nhạc…. giúp cho các em vừa được chơi game mà cũng là học, rèn luyện các kỹ năng sử dụng chuột, bàn phím cho các em. Khiến các em càng thêm thích thú khi được học môn Tin học.

Các chương học, nội dung học tập của các em được phân bố xen kẽ vừa học vẽ, vừa tập soạn thảo, vừa chơi những trò chơi lý thú và bổ ích. Điều đó sẽ giúp các em vừa có thể học hỏi, tiếp thu được những nội dung kiến thức mới ở môn Tin học một cách nhẹ nhàng, dễ hiểu, tạo được hứng thú học cho học sinh, vừa rèn luyện kỹ năng thao tác sử dụng chuột, bàn phím cho học sinh.

II.3.b Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp:

Để có 1 tiết dạy hiệu quả, giáo viên phải có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy phù hợp, tận dụng những nguồn tài nguyên Tin học sẵn có để phục vụ tốt nhất cho tiết dạy của mình như đem các tiết dạy lý thuyết lên máy chiếu bằng bài giảng Power Point nhằm tạo hứng thú học cho học sinh. Khi được học trên máy chiếu, học sinh sẽ rất thích thú, hăng say học hơn, nắm bắt được điều này, tôi luôn trình bày bài dạy của mình trên phần mềm trình chiếu Power Point. Ở đó tôi sẽ chèn những hình ảnh sinh động để minh họa cho bài dạy của mình, giúp đạt hiệu quả cao nhất cho bài dạy, không những vậy, việc đưa bài giảng và sử dụng những hình ảnh sinh động này rất cuốn hút học sinh, giúp các em có hứng thú hơn với tiết học.

Khi giáo viên giới thiệu bộ phận bàn phím, ngoài việc giáo viên phải mô tả phím, có mấy hàng phím ở khu vực chính của bàn phím?… Thì giáo viên còn phải cho học sinh quan sát qua hình ảnh trên máy chiếu, sau đó sẽ đưa bàn phím thật cho học sinh quan sát kỹ rồi lại giới thiệu lại một lần nữa cho học sinh rõ về các hàng phím, chức năng của bàn phím… Tiếp theo giáo viên cho học sinh quan sát thao tác của thầy giáo khi sử dụng bàn phím, giáo viên thực hiện gõ phím và cho học sinh quan sát, nhận xét có sự thay đổi trên màn hình máy chiếu khi thầy thực hiện các thao tác với bàn phím.

– Đối với môn Tin học bậc tiểu học, cứ sau mỗi tiết lý thuyết, lại có 1 tiết thực hành để giúp học sinh vừa được học lý thuyết, vừa được thao tác trên máy. Như vậy quá trình thực hành sau tiết học lý thuyết sẽ giúp học sinh khắc sâu được kiến thức lý thuyết vừa học, vừa giúp các em vận dụng vào thực hành ngay để rèn luyện kỹ năng sử dụng chuột – phím, giúp các em thao tác thuần thục hơn. Vì vậy, giáo viên phải kết hợp giữa giờ học lý thuyết và thực hành sao cho phù hợp. Khi dạy lý thuyết, giáo viên hướng dẫn, truyền thụ kiến thức chậm, kỹ để học sinh dễ nắm được kiến thức ngay tại lớp. Quá trình hình thành kiến thức trên lớp, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát kỹ các bước thực hiện của giáo viên, sau đó gọi học sinh lên thực hiện lại các thao tác của thầy. Từ chỗ quan sát thầy làm mẫu, các bạn thực hiện lại, lúc này giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại bằng lời các bước thực hiện trong bài. Khi học sinh đã hình thành kiến thức, giáo viên cho học sinh cả lớp đọc đồng thanh lại kiến thức lý thuyết 3-5 lần. Thời gian còn lại, giáo viên cho học sinh lên máy chiếu thực hiện lại. Các bạn ở dưới quan sát và nhận xét. Phần kiến thức mới hình thành, giáo viên cho học sinh về nhà chép lại vào vở và học thuộc lòng.

Trước mỗi giờ học, giáo viên cần phải kiểm tra bài cũ, việc này cần tiến hành thường xuyên, liên tục xuyên suốt cả năm học. Để học sinh nào cũng về nhà học bài cũ, học lý thuyết. Đến tiết thực hành, giáo viên cho học sinh vừa thực hành, vừa học lại kiến thức bài cũ trong khi thực hành, như vậy học sinh sẽ nắm chắc, khắc sâu kiến thức bài học của mình hơn.

Khi dạy thực hành, giáo viên giao bài tập cho học sinh một cách cụ thể, rõ ràng và kết hợp cả những kiến thức của bài học trước. Trước mỗi tiết thực hành giáo viên yêu cầu học sinh về nhà học thuộc phần lý thuyết. Để khi vào thực hành, giáo viên làm mẫu bài thực hành trên máy chiếu và hướng dẫn cho học sinh quan sát thực hành và làm bài tập, quá trình hướng dẫn tới đâu giáo viên yêu cầu học sinh đọc các bước thực hiện mà ở tiết lý thuyết đã được học tới đó. Như vậy sẽ giúp cho học sinh vừa nắm kỹ kiến thức lý thuyết và vận dụng hiệu quả vào tiết thực hành của mình, giúp các em khắc sâu kiến thức bài học, sau đó giáo viên chia nhóm để các em thực hành.

Để đạt được kết quả cao nhất trong giờ thực hành giáo viên chia học sinh ra các nhóm, khi chia nhóm chính là để học sinh hoạt động tích cực, và để nhóm hoạt động có hiệu quả, tất cả các thành viên đều phải hoạt động tích cực. Sau khi ra bài tập cho các nhóm thực hành trong một khoảng thời gian nhất định, giáo viên sẽ cho các nhóm nhận xét bài làm của nhau, điều này sẽ tạo sự ganh đua giữa các nhóm, giúp cho học sinh có hứng thú khi thực hành. Đối với những nhóm, những học sinh thực hành tốt, giáo viên cho các bạn trong lớp vỗ tay tuyên dương, giáo viên khen ngợi. Đối với những nhóm, những học sinh thực hành chưa được tốt, giáo viên cần nhẹ nhàng tìm hiểu nguyên nhân để tìm ra giải pháp, không được chê bai các em, luôn dành sự quan tâm, khích lệ và động viên để tiết sau các em có thể thực hành tốt hơn.

Việc nhà trường đã nối mạng tới hệ thống máy tính là 1 lợi thế, giáo viên cần biết tận dụng những nguồn tài nguyên sẵn có của mạng máy tính, truy cập mạng để tìm kiếm thông tin, tìm kiếm tài nguyên trên Internet phục vụ cho quá trình dạy và học. Và qua đây giáo viên cũng có thể giới thiệu cho học sinh biết được tầm quan trọng của CNTT-TT đối với chúng ta như thế nào.

Ngoài các biện pháp nêu trên, để nâng cao chất lượng giờ dạy, giờ học môn Tin học bậc học Tiểu học , giáo viên cũng cần để ý tới những biện pháp về tâm lý. Là một người giáo viên, mình phải luôn chuẩn mực trong mọi hành động, lời nói, để luôn là tấm gương sáng cho các em học sinh noi theo. Khi đứng lớp phải nghiêm túc, mẫu mực và luôn tạo ra không khi vui tươi, thoải mái giúp cho tiết dạy đạt hiệu quả cao nhất.

Nắm bắt được tâm lý lứa tuổi của các em giai đoạn này, giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, hãy luôn dành cho học sinh những lời khen, tuyên dương mỗi khi em tiến bộ, thao tác tốt. Nếu các em chưa thực hiện tốt, người giáo viên cần tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra những lời động viên, khuyến khích các em kịp thời. Tuyệt đối không chê bai, phê bình các em. Có như thế học sinh mới có thể tự tin hơn, mạnh dạn học tập và tiến bộ được.

Nói như thế không có nghĩa giáo viên lạm dụng lời khen, mà chúng ta phải khen cho khéo, cho phù hợp với hoàn cảnh, con người, không để lời khen được sử dụng tràn lan, dễ gây sự nhàm chán, phản tác dụng của lời khen.

Qua quá trình áp dụng vào giảng dạy tin học cho thấy các biện pháp áp dụng vào việc dạy học Tin học lớp 3,4,5 đã trình bày ở trên các em không những nắm chắc kiến thức lý thuyết, thao tác thuần thục khi thực hành mà còn thấy các em học tập phấn khởi hơn, tiếp thu bài nhanh hơn, có chất lượng thực sự, giúp cho các em có 1 tâm lý tự tin, thoải mái khi được tiếp xúc, làm việc trên máy tính. Từ đó chất lượng giờ dạy – học môn Tin học được nâng lên rõ rệt.

Bấm vào đây để tải về

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Trong Trường Tiểu Học / 2023

Ngày nay, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã có những tác động to lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội trong mỗi Quốc gia và trên Thế giới. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của tin học và công nghệ thông tin, truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hoá – hiện đại hoá, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng – thế giới nói chung.

Nghị quyết Trung ương số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã chỉ rõ mục tiêu giáo dục: “… đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

( Luật giáo dục 2005 – trang 1)

Trong đó, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

Hiện nay ngoài việc học 9 môn bắt buộc, học sinh tiểu học còn được học các môn tự chọn (như Tiếng Anh, Tin học).

Ta thấy rằng, mục tiêu dạy môn tự chọn ở tiểu học là nhằm hoàn thiện các kiến thức, kỹ năng cơ bản, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực cá nhân, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Học sinh được học theo sở thích, năng lực của mình nên em nào cũng hồ hởi khi được học môn tin học.

Xác định rõ tầm quan trọng của CNTT đối với yêu cầu phát triển đất nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa môn tin học vào trong nhà trường ngay từ bậc học tiểu học.

Ở tiểu học, học sinh được tiếp xúc với môn tin học để làm quen dần với lĩnh vực công nghệ thông tin, tạo nền móng cơ sở ban đầu để học những phần nâng cao trong các cấp học tiếp theo.

Có hiểu biết ban đầu về tin học và ứng dụng tin học trong học tập và trong đời sống.

Có khả năng sử dụng máy tính trong việc học những môn học khác, trong hoạt động vui chơi giải trí nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và thích ứng với đời sống xã hội hiện đại.

Bước đầu học sinh được làm quen với cách giải quyết vấn đề có sử dụng công cụ tin học.

Là giáo viên dạy môn Tin học ở tiểu học tôi thấy: Chương trình tin học của học sinh tiểu học gồm các nội dung chủ yếu như làm quen với việc sử dụng máy vi tính, sử dụng những thiết bị thông dụng, sử dụng phần mềm trò chơi mang tính giáo dục, sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản, sử dụng phần mềm đồ họa, bước đầu làm quen với Internet… Các em rất yêu thích môn học này nên tiếp thu bài rất nhanh. Do vậy, việc đưa tin học vào tiểu học ở môn tự chọn là đúng đắn. Đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện nay, ngành Giáo dục – Đào tạo đã có khả năng tự trang bị phòng máy vi tính cho các trường.

Việc đưa tin học vào giảng dạy ở cấp tiểu học dù tự chọn hay chính khóa rất cần có sự đầu tư cơ sở vật chất nhất định, nhằm vào mục tiêu hỗ trợ giáo viên giảng dạy, hỗ trợ học sinh học tập.

Môn tin học ở bậc tiểu học bước đầu giúp học sinh làm quen với một số kiến thức ban đầu về công nghệ thông tin như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữ thường dùng, rèn luyện một số kỹ năng sử dụng máy tính, … đồng thời hình thành cho học sinh một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho người lao động hiện đại như:

+ Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải.

+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin.

+ Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động xã hội hiện đại.

+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính và các sản phẩm tin học.

+ Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập.

+ Có ý thức tìm hiểu công nghệ thông tin trong các hoạt động xã hội.

Đặc biệt khi học sinh học các phần mềm sẽ được tích hợp nhiều nội dung kiến thức, phát triển nhiều kỹ năng cho bản thân như:

+ Phần mềm soạn thảo văn bản: học sinh ứng dụng từ các môn học Tiếng Việt để trình bày đoạn văn bản sao cho phù hợp, đúng cách. Ứng dụng soạn thảo văn bản để soạn thảo giải những bài toán đã học ở cấp tiểu học.

+ Phần mềm đồ họa (Paint): học sinh ứng dụng trong môn Mĩ thuật, học được từ môn Mĩ thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà và có thẩm mĩ.

+ Phần mềm cùng học toán 3, cùng học toán 4, cùng học toán 5: Đã giúp các em luyện tập giải toán và các kĩ năng làm toán…

+ Ngoài ra còn một số phần mềm trò chơi rất bổ ích: Giúp các em luyện sử dụng chuột và giải trí.

+ Chương trình tin học ở bậc tiểu học được phân bố xen kẽ giữa các bài vừa học, vừa chơi. Điều đó sẽ rèn luyện cho học sinh óc tư duy sáng tạo trong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp cho học sinh thư giãn sau những giờ học căng thẳng ở lớp.

Từ các lí do trên tôi chọn viết và trao đổi với các đồng chí chuyên đề “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học trong các trường Tiểu học”. Qua các biện pháp trong chuyên đề sẽ giúp các em học tốt hơn, đồng thời giúp các em có một kĩ năng sử dụng tốt máy tính để hỗ trợ cho việc học tập của bản thân. Chuyên đề cũng nhằm cung cấp cho các đồng chí GV Tin một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Tin học ở trường mình khi áp dụng phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi trường.

II. THỰC TRẠNG 1. Thuận lợi

– Hàng năm phòng GD&ĐT đều có kế hoạch mua sắm trang thiết bị trong đó có bổ sung, trang bị máy tính cho các trường.

– Về chương trình môn học: Năm học 2017-2018, Bộ GD&ĐT đã triển khai chương trình sách Hướng dẫn học tin học lớp 3-4-5 ngay từ đầu năm học. Sách hướng dẫn học Tin học mới có sự cải tiến nhiều hướng tới học sinh, giúp học sinh đến gần hơn với CNTT, tiếp xúc với các phần mềm mới và phù hợp với các em hơn.

– Sách mới giúp việc tương tác và truyền tải nội dung giữa thầy và trò được thuận lợi hơn.

– Giáo viên được đào tạo trình độ chuẩn, đáp ứng về kiến thức và phương pháp, đảm bảo yêu cầu dạy học môn Tin học ở bậc Tiểu học. Thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn cấp huyện, cấp cụm đồng thời tự học tập trau dồi kiến thức chuyên môn, phương pháp dạy học mới để tiếp cận kịp thời với sự phát triển nhảy vọt của CNTT.

– Về học sinh: Nội dung sách Hướng dẫn học Tin học mới được trình bày nhẹ nhàng, đẹp, chú trọng nhiều về phần thực hành rất phù hợp với lứa tuổi HS tiểu học.

– HS từ khối 3 đến khối 5 được học môn Tin học. Mỗi lớp được học với thời lượng 2 tiết/ 1tuần.

– Môn Tin học là một môn học Tự chọn nên HS tiếp thu kiến thức một cách thoải mái, không bị gò ép, các em rất hứng thú với môn học.

– HS đã nắm được các kiến thức cơ bản của bài học. Từ đó HS đã biết sử dụng và ứng dụng phần mềm vào việc học tập.

2. Khó khăn

Nhà trường đã có một phòng máy vi tính để cho học sinh học nhưng vẫn còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng, mỗi ca thực hành có tới 3 – 4 em ngồi cùng một máy nên các em không có nhiều thời gian để thực hành làm bài tập một cách đầy đủ. Hơn nữa nhiều máy cấu hình máy đã cũ, chất lượng không còn tốt nên hay hỏng hóc, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của học sinh.

Đời sống kinh tế của một số địa phương còn gặp nhiều khó khăn, rất ít học sinh ở nhà có máy vi tính, nên ngoài giờ thực hành trên lớp học sinh không có điều kiện để luyện thêm ở nhà, nên việc rèn luyện kỹ năng và ứng dụng chưa nhiều.

Tài liệu tham khảo dành riêng cho bộ môn Tin học còn quá ít. Nhất là những tài liệu nói về phương pháp dạy học đặc trưng của môn Tin học.

Đây là môn học tự chọn nên một số HS chưa học nghiêm túc và phụ huynh chưa quan tâm.

Sự cố về kỹ thuật: Nhiều máy bị hỏng. Dẫn đến không đủ máy cho HS thực hành.

Năm học 2017-2018 áp dụng học sách Tin học mới do BGD&ĐT triển khai trong đó có một số chương trình phần mềm có yêu cầu cấu hình máy nhưng do nhiều máy đã cũ và cấu hình thấp nên không đáp ứng được cho việc cài đặt phần mềm học tập cho học sinh.

Một số phần mềm không thể áp dụng được vào giảng dạy vì do trình độ Gv còn hạn chế và phòng máy không có tai nghe cho HS như phần mềm học tiếng Anh và phần mềm nhạc Encore, MuseScore.

III. MỤC TIÊU CỦA CHUYÊN ĐỀ 1. Đối với nhà trường

+ Từng bước nâng cao chất lượng bộ môn Tin học nói riêng và chất lượng chuyên môn của nhà trường, vì Tin học là một môn bổ trợ và tích hợp rất nhiều các nội dung kiến thức của các bộ môn khác.

+ Giúp lãnh đạo các nhà trường nâng cao chất lượng quản lí, đánh giá thực trạng và nhu cầu trang bị cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu tất yếu phục vụ cho việc dạy học môn tin học và ứng dụng CNTT trong việc quản lý nhà trường.

2. Đối với Giáo viên

+ Giúp giáo viên bộ môn có thêm tư liệu giảng dạy và từng bước đổi mới phương pháp dạy môn Tin học ở Tiểu học

+ Chia sẻ, xây dựng nội dung kiến thức CNTT, kinh nghiệm trong giảng dạy môn Tin học để xây dựng phương pháp giảng dạy tối ưu.

+ Giúp các thầy giáo, cô giáo ứng dụng CNTT vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

3. Đối với Học sinh

+ Giúp học sinh học tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng và vận dụng kiến thức vào thực tế.

+ Góp phần rèn luyện HS một số phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời kỳ hiện đại hóa.

+ Giúp học sinh hiểu biết ban đầu về Tin học và ứng dụng của Tin học trong đời sống và học tập.

+ Trang bị cho HS kiến thức về CNTT, HS sử dụng máy tính như một công cụ học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập.

IV. BIỆN PHÁP 1. Tăng cường tự học để năng cao nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học môn tin học

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là phủ nhận phương pháp dạy học truyền thống và sử dụng phương pháp dạy học hoàn toàn mới. Đổi mới phương pháp dạy học là sự vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học, các biện pháp, kỹ thuật dạy học truyền thống kết hợp với những phương pháp dạy học, phương tiện, công nghệ và các kỹ thuật dạy học hiện đại, sao cho phù hợp với đối tượng, nội dung chương trình, nhằm giúp người học tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng và vận dụng kiến thức vào thực tế.

Bản chất của phương pháp dạy học là đổi mới quan niệm dạy học từ: dạy học thụ động sang dạy học tích cực; dạy học bằng thuyết trình hay giải thích sang dạy học bằng cách khám phá; dạy học độc thoại bằng dạy học đối thoại; dạy học tập trung vào cá nhân sang dạy học tập trung vào nhóm, dạy học hợp tác; dạy học tập trung vào nội dung tiến tới dạy học tập trung vào quá trình; dạy học tập trung vào việc dạy sang tập trung vào việc học; dạy kiến thức sang dạy cách học cho học sinh …..

Làm như vậy, thể hiện sự tôn trọng học sinh, tôn trọng vốn hiểu biết, kinh nghiệm đã có của các em. Tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện vấn đề, tự thực hành các thao tác trên máy tính, giúp học sinh dễ tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn, mạnh dạn tự tin hơn, phấn khởi hơn khi được tham gia thực hành. Tạo không khí học tập vui vẻ, nhẹ nhàng, thoải mái, không áp lực, mệt mỏi.

Bước đầu vận dụng một số PPDH làm sao cho học sinh: được tham gia nhiều hơn, được trao đổi nhiều hơn và được làm, thực hành nhiều hơn.

Đó chính là thay đổi nhận thức từ dạy học tập trung vào người dạy chuyển sang dạy học tập trung vào người học.

So sánh 2 cách dạy học, tôi nhận thấy:

1. Không chú ý kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh

2. Tập trung vào việc dạy của thầy

3. Thầy độc thoại, phát vấn

4. Học sinh thụ động nghe

5. Thầy cung cấp thông tin

6. Thầy áp đặt kiến thức có sẵn

7. Trò học thuộc

8. Thầy độc quyền đánh giá

1. Tôn trọng kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh

2. Tập trung vào việc học của trò

3. Đối thoại trò-trò, trò-thầy

4. Học sinh tích cực, chủ động

5. Thầy tổ chức, động viên, hướng dẫn/gợi ý

6. Học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự rút ra kết luận

7. Học cách học, cách giải quyết vấn đề

8. Kết hợp thầy đánh giá với tự đánh giá của học sinh, của tập thể lớp

Dựa vào các nội dung so sánh nêu trên và thực tiễn trong quá trình dạy học từ nhiều năm nay, tôi nhận thấy cách dạy học tập trung vào người học có hiệu quả rõ rệt giúp cho các em tự tin cố gắng vươn lên trong học tập.

2. Sắp xếp nội dung, phương pháp học tập cho từng phần học phù hợp, hiệu quả

Ngay từ bài học đầu tiên trong chương trình học Tin học, giáo viên phải xác định rõ cho học sinh nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho học sinh quan sát ngay trong giờ dạy lý thuyết.

Xây dựng kế hoạch bài dạy này ta làm như sau:

Tiết 1: Giới thiệu máy tính:

Việc 1: Quan sát: Bộ máy tính để bàn

Cho học sinh quan sát một bộ máy tính để bàn và nhận biết các bộ phận quan trọng của một máy tính bao gồm: Màn hình; phần thân máy; bàn phím; chuột.

– Màn hình của máy tính có cấu tạo và hình dạng như màn hình ti vi. Các dòng chữ, số và hình ảnh hiện trên màn hình cho thấy kết quả hoạt động của máy tính (giáo viên thao tác trực tiếp trên máy cho học sinh quan sát)

– Phần thân của máy tính là một hộp chứa nhiều chi tiết tinh vi, trong đó có bộ xử lý. Bộ xử lý là bộ não điều khiển mọi hoạt động của máy tính.

– Bàn phím của máy tính gồm nhiều phím. Khi gõ các phím, ta gửi tín hiệu vào máy tính.

– Chuột của máy tính giúp điều khiển máy tính nhanh chóng và thuận tiện. (Với sự giúp đỡ của máy tính các em có thể làm nhiều công việc như: học nhạc, học vẽ, học làm toán, liên lạc với bạn bè …)

Việc 2: Thực hành

a. Học sinh quan sát thầy, cô giáo gõ phím, điều khiển chuột máy tính và theo dõi sự thay đổi trên màn hình.

b. Dưới sự hướng dẫn của thầy, cô giáo, học sinh thử gõ một vài phím và quan sát sự thay đổi trên màn hình.

Việc 1: Giới thiệu về cách bật/tắt máy tính đúng quy trình.

Việc 2: Thực hành về cách bật/tắt máy tính đúng quy trình.

Giáo viên biết kết hợp giữa dạy lí thuyết và thực hành sao cho phù hợp, dạy lí thuyết tốt thì học sinh thực hành tốt. Khi học sinh thực hành tốt thì sẽ hiểu sâu hơn về lý thuyết.

Nội dung giảng dạy là chương trình SGK Cùng học Tin học quyển 1,2,3. Nội dung rất phù hợp, lôi cuốn HS. Để thực hiện dạy đạt hiệu quả, ngoài việc thực hiện đúng theo chương trình, tôi đã thực hiện như sau:

Ở phần học này, ngay từ bài học đầu tiên, GV cần giúp cho HS xác định rõ và nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho HS quan sát ngay trong giờ giảng lý thuyết. Sau đó, vấn đề làm tôi quan tâm nhất là tạo cho các em có thao tác đúng và thành thạo khi sử dụng chuột, bàn phím,…

Ví dụ: Ở bài Bàn phím máy tính: Để giúp các em làm quen với bàn phím, GV cho HS nêu tên tất cả các phím và cho chơi một số trò chơi có nội dung về bàn phím. Trong đó có trò chơi Piano. Nhưng theo tôi phần mềm này không đạt hiệu quả vì các máy tính của HS không có tai nghe hay loa nên HS dễ nhàm chán vì gõ mà không thấy có kết quả gì. Vì thế, theo tôi ngay từ bài học này GV có thể hướng dẫn HS làm quen luôn với phần mềm Mario. Như thế HS vừa nắm được tên của các phím, vừa gây được hứng thú học tập của các em. Còn phần mềm đó GV nên giới thiệu cho HS và khuyến khích các em chơi ở nhà.

Ở lớp 4 và 5: Lúc này các em đã được hiểu biết nhiều hơn về máy tính nên GV sẽ có những yêu cầu cao hơn. HS phải nắm được cách sắp xếp thông tin theo hệ thống của máy tính. Biết cách sắp xếp và tìm kiếm thông tin.

GV yêu cầu HS cần có thái độ nghiêm túc khi học và làm việc trên máy tính, không phân biệt phần mềm học tập hay phần mềm trò chơi. GV cần liên hệ thực tế để giúp HS nắm được từ việc học và chơi trên máy tính đến đời sống thường ngày.

+ Luyện tính kiên trì, trí thông minh, luyện sử dụng chuột qua trò chơi Dots, Stiks, ……

+ Yêu thích môn Toán qua trò chơi Cùng học toán.

+ Chơi thể thao, tìm hiểu thiên nhiên qua trò chơi Godl, Khám phá rừng nhiệt đới.

Ở chương học này, thời gian thực hành khá dài, dễ gây nhàm chán. GV nên chủ động dạy dàn trải trong các tiết học.

Đây cũng là phần trọng tâm của chương trình lớp 3. Phần này đòi hỏi phải có sự tập luyện thường xuyên thì mới đạt hiệu quả cao được. GV cần giúp HS hiểu được lợi ích của việc gõ phím bằng 10 ngón để từ đó HS có ý thức hơn trong việc rèn luyện. Không cần nhiều, ở mỗi tiết thực hành, nếu còn thời gian hãy khuyến khích HS luyện gõ trong 10 phút thôi sẽ mang lại hiệu quả rất tốt. Cần phải chú trọng và nghiêm túc rèn từ lớp 3 về cách đặt tay lên bàn phím, cách gõ phím…thì đến lớp 4-5 HS mới có thói quen gõ 10 ngón.

Với phần học này, HS rất có hứng thú học tập. Ở phần học này GV cần chú trọng cho HS thực hành nhiều, giảm tiết lí thuyết hoặc có thể giảng lí thuyết ngay trong tiết thực hành. Như vậy học sinh mới có thao tác thành thạo được. Ngoài việc dạy những yêu cầu cơ bản trong SGK. Nếu có điều kiện GV có thể thiết kế các bài tập khác để phần học này thêm phong phú.

Ở lớp 4-5, yêu cầu đã được nâng cao hơn. Ngoài những kiến thức cơ bản cần đạt được ra, GV cần quan tâm nhiều đến vấn đề ứng dụng của các kiến thức đó vào bài vẽ.

Nội dung kiến thức chủ yếu là tạo cho HS những kiến thức cơ bản nhất để soạn thảo và trình bày một văn bản. Ở phần này GV cũng chú ý đến dạy thực hành hơn, dạy xong lý thuyết là cho HS thực hành ngay như vậy HS mới nắm được.

Ở lớp 3 HS được làm quen với 2 cách gõ là kiểu VNI và kiểu Telex. GV cần cung cấp cả 2 cách gõ này và khuyến khích các em lựa chọn cách gõ phù hợp để việc soạn thảo dễ dàng hơn.

Ở lớp 4 và 5 HS đã được học cách trình bày văn bản. GV hãy tạo điều kiện cho các em ứng dụng những kiến thức vừa học vào trình bày những văn bản thông thường.

Ví dụ: Khi dạy bài Căn lề (lớp 4) GV đưa thêm một số bài thơ, bài ca dao tục ngữ hay một đoạn văn bản đã học trong SGK Tiếng Việt mà HS đã học ở trên lớp để các em thực hành.

Logo là một ngôn ngữ lập trình, có đầy đủ các đặc điểm của một ngôn ngữ máy tính, xuất phát từ ngôn ngữ LISP, ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo. Logo là ngôn ngữ để học. Để hỗ trợ thực hiện quá trình học và suy nghĩ bằng cách khuyến khích HS tìm tòi khám phá. Logo có bảng kí tự, từ khóa riêng, cú pháp riêng và khá chặt chẽ.

Ở lớp 4 và lớp 5 HS mới được làm quen với phần mềm này và đây cũng là lần đầu tiên HS được làm quen với ngôn ngữ lập trình. Do vậy, khi thực hành những câu lệnh của Logo GV cần lưu ý HS phải rất cẩn thận khi viết các câu lệnh, tránh để HS hiểu tùy tiện, áp dụng những ngôn ngữ thông thường dành cho câu lệnh.

Đứng trước mỗi bài tập, bài thực hành, GV luôn luôn yêu cầu HS chia công việc được giao thành những nhiệm vụ nhỏ hơn và cuối cùng dùng những lệnh cơ bản của Logo để thực hiện. Sau khi chia nhỏ và phân tích bài toán, cần rèn luyện cho HS cách nhìn tổng hợp bài toán.

Khuyến khích HS làm việc tập thể, làm việc theo nhóm.

Viết chương trình một số thủ tục để tạo ra hình trang trí theo mẫu.

Thủ tục 1: Vẽ hình vuông với câu lệnh Repeat 4 [FD 50 RT 90]

Thủ tục 2: Vẽ tam giác: Repeat 3 [FD 50 RT 120]

Thủ tục 3: Vẽ ngôi nhà: dùng hai thủ tục 1 và 2 trong thân thủ tục 3.

Thủ tục 4: Vẽ vành bánh xe (lặp 12 lần thủ tục 3)

3. Hệ thống các bài tập thực hành

Việc hệ thống các bài tập thực hành phải phù hợp với nội dung dạy lí thuyết, liên hệ với một số môn học khác trong chương trình học của các e m.Các bài tập không quá dài, nâng dần từ mức đơn giản đến phức tạp. Liên kết kiến thức bài học trước với bài học sau để học sinh thực hành đạt hiệu quả cao.

Ví dụ 4:Trong một tiết thực hành: Vẽ quang cảnh trường em

(Tranh vẽ của HS lớp 5 Tiểu học Cao Đại trên máy tính)

Ở bài vẽ trên, học sinh phải sử dụng công cụ vẽ đường thẳng, vẽ đường cong và công cụ tô màu để vẽ quang cảnh trường em. Từ bài này học sinh liên tưởng nhớ lại cách vẽ quang cảnh được học ở môn mĩ thuật (xác định mảng chính, mảng phụ, sử dụng luật xa gần, phối hợp màu nóng, màu lạnh) để từ đó vận dụng vẽ quang cảnh trường em sao cho đẹp.

4. Trong giờ thực hành

Giáo viên luôn động viên tạo sự thi đua giữa các nhóm bằng cách phân công các nhóm làm bài thực hành, sau đó các nhóm nhận xét, đánh giá, chấm điểm giữa các nhóm (dưới sự chỉ dẫn của giáo viên) để tạo sự hào hứng học tập và sự sáng tạo của học sinh trong quá trình thực hành.

Phần thực hành: Thực hành giải toán trên phần mềm

Chia nhóm đôi, các nhóm cùng thực hành bài toán về so sánh số thập phân.

Chẳng hạn: 2,25 1,25 9163,6771 738849,4

447,27 184,28 234642,15 3480,7905

HS tự điền dấu thích hợp cho đúng.

Nhóm nào nhanh, làm đúng, không làm sai thì nhóm đó được khen ngợi.

5. Sử dụng Tài nguyên

Sử dụng các chương trình có sẵn trong máy vi tính, hoặc truy cập mạng để tìm kiếm thông tin, tìm kiếm tài nguyên trên Internet phục vụ cho quá trình dạy và học, tăng cường sử dụng bài giảng điện tử tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào bài học.

– Phần mềm KP Typing Tuto (giúp học sinh luyện gõ 10 ngón tay); trang Web chúng tôi (giúp học sinh giải toán qua mạng)…

– Phần mềm soạn thảo văn bản Microsoft Word giúp học sinh tập soạn thảo.

– Phần mềm đồ hoạ Paint giúp học sinh học vẽ

– Trong bài: Khám phá rừng nhiệt đới (Tin học lớp 4 – quyển 2) bản thân tôi đã tìm kiếm thông tin trên Web về thế giới động vật, tôi đã hướng dẫn học sinh vào trang chúng tôi để tìm kiếm những hình ảnh và thông tin về động, thực vật trong rừng nhiệt đới.

(Đây là những hình ảnh mà học sinh của tôi đã tra cứu trên mạng Internet)

– Sử dụng bài giảng điện tử ( giúp học sinh tiếp thu bài tích cực, chủ động hơn)

(Đây là một số bài dạy điện tử mà tôi đã trực tiếp thiết kế và giảng dạy) 6. Cải thiện chất lượng phòng máy

– Với những sự cố bất ngờ trên, việc xác định nguyên nhân của nó sẽ giúp ta tìm ra cách giải quyết, xử lí vấn đề dễ dàng hơn:

– Việc đầu tiên là cần phải kiểm tra tất cả các cáp (cáp nguồn, cáp dữ liệu…) để chắc chắn là mọi thứ đã được gắn chặt và đúng cách.

a) Kiểm tra lại những phần mềm hay phần cứng được cài đặt gần đây: Nếu sự cố xảy ra ngay sau vừa cài đặt một phần cứng hay chương trình phần mềm, bạn hãy gỡ bỏ chúng ra và khởi động trở lại. Nếu máy tính vẫn hoạt động bình thường thì đó chính là nguyên nhân. Còn việc cài đặt lại sẽ do nhân viên bảo trì tiếp tục làm sau đó.

b) Chạy các chương trình diệt vi rút hiệu quả: Để chương trình này chạy tốt bạn phải luôn cập nhập phiên bản mới nhất. Các chương trình được xem là tốt nhất hiện nay như: Norton Antivirus, AGV Antivirus…

c) Kiểm tra nhiệt độ thùng máy: Sự quá nhiệt là một nguyên nhân khác, thường xảy ra do sự hoạt động kém của các quạt giải nhiệt, các loại bụi bẩn bám trong thùng máy. Nếu thấy bên trong thùng máy có nhiều bụi bẩn bám vào, bạn nên vệ sinh nhưng phải rất cẩn thận vì nó có nguồn điện thế cao, rất dễ gây nguy hiểm. Tốt hơn hết là nên báo lại cho nhân viên bảo trì.

d) Kiểm tra lại bộ nhớ Ram: Đây là nguyên nhân chủ yếu mà tôi thường gặp mỗi khi máy không khởi động được hoặc bị lỗi bất thường khi đang hoạt động. Nếu phát hiện ra bộ nhớ có vấn đề, hãy tháo các thanh Ram ra, lau sạch chân thanh Ram và gắn lại thật chặt, hoặc lần lượt gắn từng thanh Ram ở các vị trí khác nhau để kiểm tra.

e) Cài đặt máy tính với đầy đủ phần mềm học tập cho HS rồi tôi đóng băng ổ C lại bằng phần mềm Deep Freeze giúp giảm việc hỏng máy do virut hay những lỗi HS vô tình xóa dữ liệu trong ổ C.

f) Đôi lúc máy chạy nhưng màn hình không lên hình. Hãy mượn màn hình đang sử dụng tốt khác để thử.

h) Thường xuyên hướng dẫn HS vệ sinh phòng máy, phân công mỗi lớp một tuần phụ trách vệ sinh phòng máy dưới sự chỉ đạo của GV, giáo dục HS ý thức bảo vệ của công và ý thức giữ gìn máy tính trong phòng Tin học đồng thời giảm việc hỏng máy tính do bụi bẩn.

7. Xây dựng câu lạc bộ Tin học

Câu lạc bộ là tổ chức nhằm mở rộng tầm nhận thức, hiểu biết về văn hoá, khoa học kĩ thuật, giáo dục lòng yêu lao động, ý thức đạo đức, giúp phát triển toàn diện các khả năng sáng tạo và các năng khiếu của con người. Tổ chức câu lạc bộ tin học là điều kiện tốt để các cá nhân yêu thích tin học có môi trường phát huy khả năng của mình. Đối tượng của câu lạc bộ có thể là các cá nhân hoặc nhóm

Thành lập câu lạc bộ Tin học khối Tiểu học của Huyện: Câu lạc bộ là nơi để cho các đồng chí giáo viên, nhân viên tin học của khối tiểu học trong toàn huyện sinh hoạt nhằm trao đổi những kinh nghiệm cũng như giúp nhau rút ra những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy để từ đó đưa ra phương pháp giảng dạy tốt nhất giúp các em học sinh tiếp thu một cách gần nhất với môn học.

Câu lạc bộ cũng giúp các thành viên chia sẻ các kiến thức về CNTT, hỗ trợ nhau trong việc sử lý các sự cố công nghệ trong quá trình giảng dạy.

7.2. Câu lạc bộ Tin học nhà trường dành cho các em học sinh:

a) Thành viên: là các em học sinh khối lớp 3-4-5

b) Mục địch hoạt động : Là một CLB trực thuộc trường Tiểu học hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ nhà trường trong công tác giáo dục định hướng cách tự học của học sinh, xây dựng ý thức tự giác. Từ đó góp phần rèn luyện nâng cao kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học

c) Nhiệm vụ : Tạo điều kiện cho những học sinh có sở trường, năng khiếu, yêu thích tin học có cơ hội phát huy năng lực của mình. Củng cố, mở rộng kiến thức tin học cho học sinh, trang bị những kĩ năng cần thiết góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh.Tạo môi trường làm việc giao lưu, hợp tác, giúp học sinh học hỏi, giao lưu, ứng xử.

Câu lạc bộ là một trong những phương thức hoạt động sinh động, có hiệu quả cho môn tin học. Đồng thời là môi trường tiên tiến để mỗi thành viên tự điều chỉnh nhận thức, hành vi, rèn luyện, phấn đấu trưởng thành. Qua các loại hình sinh hoạt khác nhau của câu lạc bộ, thành viên có dịp giúp nhau học tập, trao đổi kinh nghiệm trong cuộc sống, phát huy mặt tích cực, cải thiện uốn nắn các biểu hiện tiêu cực, lạc hậu, kích thích tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực xã hội, xây dựng nếp sống văn minh môi trường học đường lành mạnh.

– Hướng dẫn HS sử dụng các phần mềm học tập hiệu quả.

– Nâng cao kỹ năng soạn thảo văn bản Word.

– Sử dụng chương trình trình chiếu Powerpoint.

– Học vẽ tranh bằng các phần mềm có sẵn trong Win XP.

– Được tìm hiểu thêm về lợi ích và tính năng của mạng Internet .

– Phát triển vốn Anh văn chuyên ngành Tin học.

Hoạt động của Câu lạc bộ được xây dựng dựa trên sự đóng góp nội dung hoạt động của các thành viên. Các nội dung hoạt động của Câu lạc bộ được chọn lựa dựa trên một số tiêu chí:

1- Chất lượng của các hoạt động được đặt lên hàng đầu.

2- Thu hút được đông đảo các thành viên tham gia.

3- Thúc đẩy được phong trào học tập của học sinh trong trường.

4- Nội dung hoạt động đa dạng, chứa đựng nhiều tri thức và những vấn đề thực tế

5- Không có ảnh hưởng xấu tới thuần phong mĩ tục, đạo đức, tư tưởng và lối sống của học sinh, không vi phạm pháp luật.

6- Khuyến khích các ý tưởng mới lạ của các thành viên về hình thức hoạt động.

– Kinh phí hỗ trợ từ nhà trường

– Đóng góp kinh phí sinh hoạt câu lạc bộ từ thành viên

* Toàn bộ kinh phí này sẽ được chi vào các hoạt động sau:

– Tiền điện và bảo trì, sửa chữa máy tính

– Tổ chức các buổi giao lưu giữa các câu lạc bộ trong cụm, huyện

IV. KẾT LUẬN

– Phần thưởng cho các em đạt thành tích tốt trong các buổi giao lưu cấp trường, cụm, huyện.

Để phát huy hiệu quả trong công tác dạy học, mỗi giáo viên nói chung và giáo viên dạy môn tin học nói riêng cần:

– Tìm tòi sáng tạo cách dạy, cách học tạo sự hứng thú tiếp thu bài cho học sinh.

– Yêu nghề, mến trẻ, tăng cường tự học tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ…

– Tích cực dự giờ đồng nghiệp, tham gia hội thảo phương pháp giảng dạy các bộ môn khác.

– Không ngừng học tập, tìm hiểu tích lũy kiến thức khoa học. Phải tìm hiểu các mảng kiến thức khác về mọi lĩnh vực như văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội để tự nâng cao nhận thức của bản thân.

Giáo viên phải biết phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.

GV cần phải có phương pháp dạy học linh hoạt sáng tạo, phải tìm mọi cách để cải tiến cách dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, bổ sung sáng tạo thêm nhiều thủ pháp sinh động, hấp dẫn, đa dạng hóa cách thức truyền đạt ở mỗi bài học.

Để đạt được những nội dung đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải không ngừng nâng cao kiến thức, tạo cho mình một trình độ chuyên môn vững vàng, thường xuyên học hỏi rút kinh nghiệm từ các đồng nghiệp.