Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tiếng Anh
  • Dạy Và Học Môn Tiếng Anh: Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng?
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Phân Môn Hát Ở Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn Cho Giáo Viên Mầm Non
  • CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN

    I. Bối cảnh chất lượng bộ môn toán đầu năm học 2008-2009 của nhà trường và những nguyên nhân.

    Qua khảo sát chất lượng đầu năm học ở bộ môn toán các khối lớp từ 6 đến 9 có kết quả cụ thể như sau:

    Với con số đã nêu kết hợp với thực tế nắm bắt phần nào phản ánh chất lượng bộ môn toán vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà trường và phụ huynh. Sở dĩ chất lượng đầu vào có tỉ lệ thấp như vậy là do nhiều nguyên nhân. Có thể nêu ra đây một số nguyên nhân để cùng tham khảo.

    1. Đặc điểm rõ nét nhất của ngôi trường THCS Chu Văn An là ngôi trường đặt ở vị trí không trung tâm, đường sá đi lại không thuận lợi, cơ sở vật chất còn thiếu thốn lại ở cạnh 2 ngôi trường lớp có điều kiện thuận lợi hơn về nhiều mặt. Bên cạnh đó dự án trường sắp chuyển đi nơi khác phần nào gây tâm lý hoang mang nên sức thu hút học sinh ngày càng giảm sút. Đặc biệt số học sinh giỏi ở trường Lê Văn Tám chuyển đi nơi khác ngày càng nhiều gây ảnh hưởng không ít đến chất lượng mũi ngọn cũng như tạo hạt nhân cho phong trào thi đua học tốt của nhà trường.

    2. Trên địa bàn Phường An Sơn có một số khu dân cư do đặc điểm nghề nghiệp nên việc quan tâm đến việc học tập của con em cũng chưa cao, môi trường sinh hoạt cũng phần nào ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Trường thu hút con em thuộc địa bàn (khu Bến Sạn, làng giết mổ An Thổ, nay lại thêm các tụ điểm vui chơi Karaoke, bi da, café, các quán nhậu mọc lên rất nhiều trên địa bàn phường).

    3. Chất lượng đầu vào lớp 6 còn thấp. Trình trạng ngồi nhầm lớp vẫn còn làm ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức của các em.

    4. Một số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt về hạnh phúc gia đình, về hoàn cảnh kinh tế. Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình.

    5. Một bộ phận học sinh chưa xác định được động cơ, thái độ học tập, chưa thực sự có tinh thần vượt khó, vươn lên mà còn chây lười, thụ động trong học tập.

    6. Do đặc điểm của môn toán là bộ môn suy luận loogic, nó đòi hỏi học sinh không những phải nắm vững kiếm thức về định nghĩa, định lý, hệ quả, tính chất, quy tắc,… một cách cơ bản có hệ thống mà còn phải biết suy luận, phân tích, tổng hợp, lập luận. Nói chung, là bộ môn hơi khó học nên tỉ lệ học sinh yếu kém tương đối cao so với các môn khác.

    7. Một số em vì nhiều lí do khác nhau đã hỏng kiến thức cũ, nay lại phải tiếp thu kiến thức mới nên rất vất vả, đâm ra chán nãn, chây lười, quậy phá dẫn đến chất lượng yếu kém.8. Về phần giáo viên: Một bộ phận giáo viên vẫn chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục nên việc dạy học ở một số tiết chưa thực sự có chất lượng.

    II. Những giải pháp mà nhóm đã thực hiện nhằm từng bước nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán.

    Qua thực tế tình hình chất lượng, nhóm đã suy nghĩ, đánh giá và bàn bạc biện pháp để từng bước nâng cao chất lượng yếu kém bộ môn toán, cụ thể như sau:

    1. Ngay từ đầu năm học các giáo viên bộ môn điều tra, nắm chắc đối tượng học sinh yếu kém môn toán của lớp mình đang giảng dạy là bao nhiêu? Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để phân loại đặc điểm từng đối tượng: Yếu do hoàn cảnh gia đình? Yếu do hỏng kiến thức cũ? Yếu do lười học? Yếu do trí tuệ hạn chế? Yếu vì ảnh hưởng môi trường bạn bè? Để có thái độ và biện pháp thích hợp.

    2. Trên cơ sở điểu tra phân loại ban đầu mà giáo viên có cách nhìn nhận và thái độ ứng xử cho phù hợp: Nhẹ nhàng, bảo ban, động viên, khích lệ đối với các em có hoàn cảnh đặc biệt hoặc mất căn bản, đồng thời nghiêm nghị, cứng rắn đối với các em chây lười, quậy phá với mục đích chung là để các em phấn khởi, tin tưởng và nổ lực trong học tập.

    3. Trong giảng dạy nói chung và trong từng bài học cụ thể, phải có sự chú ý giúp đỡ đối tượng yếu, kém thông qua câu hỏi gợi mở, bài tập (công việc này phải thực hiện ngay trong thiết kế bài giảng, và ngay cả kiểm tra bài cũ cũng có những câu hỏi dành cho học sinh yếu kém để động viên, diều dắt các em.

    4. Thường xuyên động viên, hướng dẫn các em cần phải nắm vững lý thuyết, vì kiến thức toán học là môn suy luận loogic nếu không nắm vững hệ thống lý thuyết thì không thể hiểu được khi nghe giảng chứ chưa nói gì việc giải bài toán. Để làm được việc này thì giáo viên cần giúp đỡ học sinh cách học dễ ghi nhớ, dễ thuộc, lâu quên. Có thể là như: Công thức thì luôn ghi nhiều nơi ở nhà để lúc nào cũng đập vào mắt buộc phải nhớ hoặc ghi vào sổ tay bỏ túi thỉnh thoảng mở ra xem dù bất cứ ở đâu. Học định lý thì phải vẽ hình, từ hình vẽ tưởng tượng đó để suy luận xây dựng thành lời, thỉnh thoảng giáo viên còn cung cấp thơ vui để các em dễ nhớ, dễ vận dụng.

    5. Giáo viên cần cung cấp cho học sinh quy trình các bước giải một bài toán.

    B1: Tìm hiểu về bài toán: Đọc thật kỹ đề toán. Cú ý các chi tiết nổi bậc, khắc sâu từng ý cơ bản là lưu ý mối quan hệ của chúng.

    B2: Tìm lời giải: Xét xem bài toán thuộc dạng nào? Phương pháp chứng minh ra sao?

    B3: Thực hiện lời giảng: Trình bày bài viết lập luận của mình

    B4: Kiểm tra lại bài giải và thử tìm xem phương pháp khác để giải bài toán trên hoặc phát triển một bài toán mới từ bài toán đã cho.

    Đặc biệt khi giảng dạy hình học ta cần hướng dẫn các em phương pháp chứng minh bằng con đường phân tích đi lên một cách có hệ thống. Trước tiên bằng câu hỏi tổng quát dành cho học sinh giỏi, sau đó triển khai phương pháp bằng một loạt câu hỏi dẫn dắt để học sinh yếu kém tham gia xây dựng theo cơ sở phân tích. Tiếp theo yêu cầu đối tượng khá giỏi trình bày bài toán giải bằng lời và cuối cùng cho đối tượng cho đối tượng yếu kém trình bày lại bài viết để lớp nhận xét, bổ sung. Thực hiện theo quy trình này tuy mất thời gian nhưng thà rằng làm ít mà chắc, phục vụ nhiều cho đối tượng yếu, kém còn hơn là dạy nhiều nhưng chỉ phục vụ cho học sinh khá, giỏi. Do vậy, bài tập cần nghiên cứu phân dạng để rồi mỗi dạng chỉ giải một bài mẫu, các bài còn lại học sinh về nhà làm tương tự theo cách đã giải.

    6. Giáo viên cần chú ý và coi trọng bước hướng dẫn về nhà. Để giúp cho học sinh yếu, kém có thể tiếp thu bài mới thì giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung bài mới và đề ra các yêu cầu cần thiết để học sinh chuẩn bị. Ví dụ: Khi chuẩn bị bài dạy “Góc có đỉnh bên trong và ngoài đường tròn” thì yêu cầu học sinh về học lại tính chất góc ngoài của một tam giác ở hình học 7, tính chất góc nội tiếp ở hình học 9. Có như thế thì việc hiểu được chứng minh định lý của bài trên đối với học sinh yếu, kém là dễ dàng. Nếu không có hướng dẫn trước thì các em không biết chuẩn bị điều gì và dẫn đến việc tiếp thu bài mới rất khó khăn.

    7. Giáo viên bộ môn kết hợp với giáo viên chủ nhiệm để phân đôi bạn học tập hoặc nhóm bạn học tập (cơ cấu có đối tượng khá, giỏi và yếu, kém với nhau) trong đó chú ý giao nhiệm vụ cho các học sinh khá, giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém và cần thiết đề ra các biện pháp cụ thể để thúc đẩy việc hoạt động của các nhóm có hiệu quả. Ví dụ: khi được kiểm tra đối tượng yếu, kém của nhóm mà không thuộc bài hoặc chưa làm bài thì cả nhóm cùng liên đới chịu trách nhiệm). Có như thế các em mới nhắc nhở, giúp đỡ nhau tích cực.

    8. Giáo viên cần tận dụng các tiết phụ đạo hoặc bám sát để củng cố, hệ thống, ôn tập lại các kiến thức đã học. Cung cấp cho các em phương pháp chứng minh. Việc này rất cần thiết đối với học sinh yếu, kém. Và đây cũng là dịp để giáo viên tháo gỡ những băn khoăn, thắc mắc của học sinh, muốn vậy đòi hỏi giáo viên phải phân giải, thân thiện để các em mạnh dạn tỏ bày những trăn trở trong việc học toán (giáo viên nên động viên khuyến khích các đối tượng yếu, kém hỏi.Việc tháo gỡ được nhiều thắc mắc này cho các em xem như một thành công lớn của một tiết dạy bằng các hình thức phong phú để tạo không khí vui vẻ, thỏa mái, thích thú trong học tập (Chú ý các tiết sinh hoạt này nhằm đế các đối tượng yếu, kém là chính để đảm bảo mục đích từng bước nâng cao chất lượng học toán của học sinh yếu kém).

    9. Giáo viên thỉnh thoảng liên hệ với phụ huynh qua điện thoại (Ghi chép ở giáo viên chủ nhiệm) những trường hợp cần thiết nhằm mục đích phối hợp để giáo dục tốt. (nếu đối tượng có nhiều tiến bộ đáng khen thì báo phụ huynh biết để mừng và tiếp tục động viên – nếu đối tượng chậm tiến bộ, ì ạch, chây lười thì cũng báo để phụ huynh biết và cùng phối kết hợp nhắc nhở, động viên, giáo dục thích đáng hơn).

    III. Kết luận:

    Với những công việc là cụ thể bằng những biện pháp tích hợp nêu trên, chúng tôi nhận thấy chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn toán từng bước có chuyển biến, tiến bộ. Một số em đã từng lo sợ môn học này, nay lại có khuynh hướng thích học. Từng bước gây được không khí ham học, tỷ lệ yếu, kém giảm dần. Chất lượng thống kê cuối năm 2008-2009 cho thấy điều đó.

    IV. Những bài học kinh nghiệm:

    Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, bằng các việc làm cụ thể, bằng biện pháp thích hợp, chúng tôi rút ra được một số kinh nghiệm để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán như sau:

    1. Phải yêu nghề, mến trẻ, luôn tận tâm với công việc, hết lòng hết sức với học sinh thân yêu.

    2. Luôn khơi dậy và phát triển năng lực tự học, nhằm hình thành tư duy tích cực, độc lập sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề ở học sinh.

    3. Kết hợp chặt chẻ giữa ôn bài cũ, giảng bài mới, rèn luyện kỹ năng tư duy, phương pháp học tập, từng bước nâng cao năng lực lập luận, phân tích, tổng hợp cho học sinh.

    4. Tăng cường học tập cá thể với học tập nhóm, phải có mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên con đường tìm tòi, phát hiện kiến thức mới.

    5. Phát huy vai trò chủ động của học sinh, phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh, nhận xét, góp ý cách phát biểu, cách làm bài của bạn, trách vấp phải sai lầm, tìm nguyên nhân sai lầm và nêu cách sửa chữa.

    6. Giáo viên cần phải chuẩn bị bài kỹ, phân loại các bài tập, phân loại phương pháp giải, phân loại theo mức độ phát triển tư duy.

    7. Giáo viên dạy toán cần quán triệt tinh thần “Tư duy quan trọng hơn kiến thức; nắm vững phương pháp hơn thuộc lý thuyết, dạy cách suy nghĩ, cách tư duy, cách phân tích, cách tổng hợp và thường xuyên cung cấp cho các em phương pháp học toán”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Internet…
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy ⋆ Nam Phát Construction
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Đạt Chuẩn
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Hiệu Quả Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Bê Tông Tiết Kiệm Chi Phí ?
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hoc Sinh Thcs
  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lịch Sử
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Vật Lí 7 Ở Vùng Đặc Biệt Khó Khăn.
  • trong quá trình dạy học .Do đặc điểm của môn Toán là một môn học rất gần gũi với thực tế đời sống nên người giáo viên phải linh hoạt , sáng tạo trong từng tiết dạy của mình để làm nổi rõ sự kết hợp , gắn bó của Toán học với cuộc sống hàng ngày . Ngôn ngữ phải dễ hiểu để học sinh dễ nhìn nhận , chiếm lĩnh tri thức mới . Với phương pháp dạy học mới hiện nay, chúng ta cần thiết kế một hệ thống câu hỏi logic , gợi mở từ câu đầu tiên đến câu cuối cùng để học sinh tự tìm kiếm ra kiến thức mới . Từ đó kiến thức mới sẽ được học sinh khắc sâu , nhớ lâu và sẽ gây hứng thú trong học tập . *Dạy môn toán cần dạy cho học sinh nắm chắc các khái niệm , các qui ước, các ký hiệu , các tính chất Nó là mấu chốt để học sinh khỏi mơ hồ , lẫn lộn giữa cái này với cái khác , có suy nghĩ lệch lạc, quan niệm tách rời xa với thực tế đời sống.Chẳng hạn , dạy về chu vi một hình , học sinh phải biết chu vi một hình là gì ? Tại sao hình vuông lại lấy (cạnh x 4) còn chu vi hình chữ nhật lại tính (dài + rộng )x2 Các vấn đề đó rất gần gũi với đời sống , nếu chúng ta không để ý tới thì đôi khi học sinh chỉ thực hành một cách máy móc , rập khuôn các công thức do vậy mau quên , kiến thức Toán học không được sâu sắc. *Khi dạy Toán cần có đồ dùng dạy học trực quan , nếu có điều kiện cần phát huy mặt này . Chẳng hạn khi dạy bài " Đo đoạn thẳng trên tia " từng học sinh phải có thước đo để học sinh nắm chắc cách đo , kích thước của mỗi đơn vị độ dài ; giáo viên cũng cần chuẩn bị các dụng cụ đo : thước thẳng, thước dây Khi dạy tiết thực hành ngoài trời đo chiều cao của vật , giáo viên phải chuẩn bị giác kế để học sinh biết giác kế là gì ? Cách xác định góc bằng giác kế ra sao , dùng thước dây xác định khoảng cách giữa hai điểm trên mặt đất như thế nào ? Để tạo tình huống gây trí tò mò cho học sinh khi dạy chứng minh định lí " Tổng các góc trong một tam giác bằng 1800" , giáo viên phải chuẩn bị thước đo góc và bảng phụ có vẽ sẵn các tam giác có nhiều hình dạng khác nhau .Vào đầu tiết học giáo viên cho lần lượt một số học sinh lên đo các góc của tam giác . Gợi ý cho các em phát hiện một điều thú vị là " Tổng các góc trong một tam giác bằng 1800 " . Lúc này đặt vấn đề cần thiết chứng minh điều thú vị đó . Vì vậy đầu tư vào việc chuẩn bị đồ dùng trực quan cho một tiết dạy là hết sức cần thiết để học sinh hiểu được kiến thức một cách sâu sắc , sát với thực tế , hiểu được các kiến thức đó có được do đâu ? Dựa trên cơ sở nào ? Còn rất nhiều các vấn đề khác nếu được đầu tư chu đáo sẽ tạo nên một tiết học hấp dẫn , dễ học và gây hứng thú cho học sinh trong học tập. Một vấn đề cần thiết nữa đặt ra là khi dạy một tiết học người giáo viên phải nắm bắt kịp thời số học sinh hiểu bài và chưa kịp hiểu bài . Từ đó có biện pháp giúp đỡ số học sinh chưa kịp hiểu bài . Sau mỗi tiết học đều phải có phần củng cố và luyện tập ; bằng những câu hỏi trọng tâm , cơ bản tiết học người giáo viên phải quan sát từng đối tượng học sinh ; chú ý đến học sinh yếu , cá biệt để nắm bắt tình hình tiếp nhận kiến thức trong nội dung bài học ; bài luyện tập tại lớp cần được nâng dần từ dễ đến khó , từ những bài toán rất đơn giản đến phức tạp . Ngoài ra người giáo viên phải tính đến việc kiểm tra một lúc được nhiều học sinh ; nhất là yêu cầu tối thiểu những nội dung cần đạt được . Chẳng hạn khi dạy bài " Giải phương trình bậc nhất một ẩn" giáo viên phải đưa ra một số bài tập nâng cao dần như sau: v.v. Các bài tập a,b,c,d dành cho học sinh yếu và kiểm tra một lúc đồng thời 4 học sinh lên bảng . Là các bài tập yêu cầu tối thiểu sau một tiết dạy học sinh phải tự làm được. Khi giảng bài "Định lí Talet trong tam giác" , kiến thức học sinh cần nắm được trong tiết học này là nội dung định lí Talet , định lí đảo của định lí Talet và hệ quả . Nội dung định lí Talet được phát biểu như sau: "Nếu một đường thẳng cắt hai cạnh của một tam giác và song song với cạnh còn lại thì nó định ra trên hai cạnh đó những đoạn thẳng tỉ lệ" . Để giúp học sinh nắm được định lí , cách vận dụng định lí để giải bài tập , yêu cầu tối thiểu để học sinh đạt được , giáo viên ra một bài tập : Cho tam giác ABC,một đường thẳng song song với BC và cắt hai cạnh AB & AC lần lượt tại B' & C'. Biết AB'=5cm , BB'=4cm , CC'=6cm . Tính AC'? Với bài tập này học sinh vận dụng trực tiếp định lí Talet để giải Theo định lí Talet ta có : hay = Qua bài tập này giáo viên rút ra nhận xét cho học sinh thấy : Trong 4 đoạn thẳng AB',BB', AC',CC' nếu biết được số đo 3 đoạn thẳng ta sẽ tính được số đo đoạn thẳng còn lại . Sau khi học sinh nắm được bài tập này , giáo viên cho một bài tập nâng cao hơn như sau: Cho hình thang ABCD có AB//CD ; AB=BC=3cm ; AD=2cm ; CD=5cm. Các cạnh bên AD & BC cắt nhau tại E . Tính AE , BE ? Để giúp đỡ nhau trong học tập , học sinh khá giúp học sinh yếu , giáo viên có thể tạo ra các cặp học tập khá yếu . Trong những lúc rãnh rỗi , trong những giờ giải lao , kể cả ở nhà chỗ nào chưa hiểu bạn yếu có thể hỏi bạn khá . Khi đã tổ chức làm thì phải có những hình thức tuyên dương điển hình , khuyến khích thi đua với nhau , có kiểm tra việc tiến bộ của học sinh yếu với mục đích các em đều học được môn Toán và có phong trào học tập sôi nổi.Trong sách bồi dưỡng môn Toán cấp tiểu học cho giáo viên có viết : "Số học là hạt nhân của chương trình toán" . Vì vậy người giáo viên cần dạy học sinh nắm vững chắc về cấu trúc của số học và các phép tính trên tập N,tập Z , tập Q. Do đó chương trình Toán lớp 6 là nền tảng để có cơ sở học các nội dung khác .Trong chương trình có những chỗ căn bản , trọng tâm nên giáo viên phải thường xuyên ôn luyện và ra bài tập thật nhiều để học sinh thực hành để kiến thức mới được khắc sâu và lâu quên. Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh cách ôn tập chương , cách liệt kê các công thức toán để tóm tắt và chốt lại những điểm trọng tâm vận dụng vào giải bài tập . Tóm lại trong quá trình dạy học sự nhiệt tình , chịu khó ,tinh thần trách nhiệm của người giáo viên là đều không thể thiếu được để dạy nâng cao chất lượng học tập cho học sinh . Nhưng đó cũng chỉ là một mặt , là điều kiện cần nhưng chưa đủ để học sinh đạt chất lượng cao . Phải có sự kết hợp ,vận dụng sáng tạo trong phương pháp dạy học nhất là phương pháp dạy học mới hiện nay . Người giáo viên cần chú ý trong từng trường hợp ,từng đối tượng học sinh để học sinh tự lực của mình để có điều kiện phát triển khả năng tư duy , chiếm lĩnh kiến thức ,rèn luyện kỹ năng kỹ xảo trong việc giải toán . 2.3.2.Phương pháp ra bài tập về nhà : Môn Toán là môn học rất cần đến việc thực hành, luôn luôn phải có sự kết hợp với nhau giữa lý thuyết và thực hành . Qua thực hành mới củng cố được lý thuyết , khắc sâu kiến thức , rèn luyện kỹ năng tính toán và phát triển tư duy . Ở phạm vi SGK sau mỗi bài học đều có một lượng bài tập để học sinh thực hành , luyện tập nhưng đôi khi còn ít ,hệ thống bài tập chưa đủ cho học sinh yếu tập làm quen từ những bài tập rất dễ để từng bước nâng dần giải những bài tập khó hơn .Do đó trong từng tiết dạy người giáo viên có thể ra thêm bài tập tùy tình hình lớp học để học sinh có điều kiện tiếp xúc với khâu thực hành và nội dung bài tập phong phú hơn. Những số tiết cơ bản trong chương trình rất cần thiết .Vì vậy vấn đề luyện tập thật nhiều để học sinh nhớ lâu , củng cố lý thuyết được bền vững là rất cần thiết . Nếu khâu thực hành làm ít thì rõ ràng kiến thức chóng quên hơn , lí thuyết không được khắc sâu đậm nét . Chẳng hạn khi dạy quy tắc cộng, trừ , nhân, chia phân số ở học sinh lớp 6, cần có lượng bài tập thật nhiều để qua bài tập học sinh mới được khắc sâu quy tắc . Khi dạy học sinh mới giải toán hình , nếu học sinh ít giải bài tập , ngại thực hành thì chắc chắn các em không nhạy bén ,vận dụng lý thuyết ít được linh hoạt vào giải bài tập .Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến đợt kiểm tra , đợt thi , làm giảm sút chất lượng trầm trọng .Nói chung do đặc điểm của môn Toán là môn học không thể nói suông , nói và làm phải luôn đi song song với nhau.Vì vậy , cần thực hành để rèn luyện kỹ năng , khắc sâu kiến thức và phát triển tư duy. 2.3.3.Phương pháp kiểm tra bài tập về nhà : *Kiểm tra bài cũ, kiểm tra bài tập về nhà là việc rất cần thiết .Nếu chúng ta kiểm tra thường xuyên thì việc học bài cũ và làm bài tập ở nhà của các học sinh sẽ chu đáo hơn . Ngược lại , nếu bị xem nhẹ thì việc chuẩn bị bài tập ,học bài cũ sẽ hạn chế và chất lượng học tập giảm rõ rệt. *Ở lứa tuổi của các em nhất là đầu cấp học đôi khi nhận thức còn kém , học là để đối phó thầy cô giáo, học là để giáo viên kiểm tra bài mình đã làm ,đã thuộc. Chưa có sự hiểu biết phải tự giác học để hiểu , để bản thân mình được tiến bộ . Do vậy kiểm tra bài cũ thường xuyên là biện pháp để học sinh tự giác học bài và làm bài ở nhà trước khi đến lớp . Từ đó tạo nên không khí lớp học nghiêm túc , trật tự , mọi học sinh đều ở tư thế chuẩn bị giáo viên sẽ kiểm tra mình . *Thời gian kiểm tra bài cũ ở đầu các tiết học rất có giới hạn , không thể kiểm tra hết được.Vì vậy muốn nắm được việc làm bài tập ở nhà của học sinh một cách toàn diện người giáo viên phải nghĩ ra kế hoạch phân công các tổ trưởng chịu trách nhiệm kiểm tra từng thành viên trong tổ ở đầu buổi học .Đầu tiết học các tổ trưởng báo cáo tình hình chuẩn bị bài tập ở nhà của từng tổ viên . Học sinh nào chưa làm bài tập ở nhà sẽ có biện pháp xử phạt thích đáng . Trong trường hợp học sinh không làm bài tập ở nhà mà lên lớp mượn vở bạn chép cũng được báo lại và sẽ xử phạt nặng hơn. Giải pháp nữa là giáo viên cùng với các em bầu cán sự bộ môn Đại số và hình học để chính những em này sẽ là hạt nhân : Thứ nhất có thể giải bài tập khó cho các bạn (nêu em giải được ) ,chỉ đạo trong công tác kiểm tra việc làm bài của các bạn Thứ hai làm một cầu nối để thông tin lại về chất lượng giờ dạy của giáo viên (các em có hiểu bài không ,phương pháp truyền đạt của thầy ...) *Sau khi các tổ trưởng báo cáo lại xong giáo viên mới kiểm tra bài cũ . Nếu kiểm tra có gì không khớp với báo cáo của tổ trưởng thì sẽ có biện pháp xử phạt tổ trưởng vì chưa thực hiện đúng với sự phân công . Có như vậy trong từng tiết học mới sớm phát hiện được những học sinh lười học bài , lười làm bài tập giúp giáo viên sớm có biện pháp xử lý và tìm ra nguyên nhân cụ thể để sớm khắc phục. *Công tác đánh giá định kỳ (bài kiểm tra )nên ra 2 hoặc 3 đề trong một giờ kiểm tra giúp các em tính tự lực cánh sinh trong làm bài ,sau khi chấm trả bài giáo viên nên lập bảng tổng hợp điểm : Giỏi Khá Tbình Yếu Kém để theo dõi chất lượng qua các bài kiểm tra để từ đó có biện pháp nâng cao chất lượng Với kế hoạch kiểm tra bài tập ở nhà và đánh giá như trên , người giáo viên đã kiểm tra được toàn diện học sinh . Phải làm thường xuyên , liên tục mới thấy được kết quả nâng cao chất lượng rõ rệt tạo thành nếp thi đua học tập sôi nổi ở học sinh . Học sinh hứng thú học tập , giáo viên biết được các học sinh cá biệt của mình . Khi trở thành thói quen , giáo viên làm việc rất nhẹ nhàng nhưng đạt hiệu quả cao . Từ các báo cáo tổng quát đến cụ thể tình hình học tập của học sinh , giáo viên kịp thời nắm bắt được lỗ hổng của học sinh mà kịp thời sửa chữa. Tóm lại , những kế hoạch ở lớp , kế hoạch ra bài tập về nhà đến kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà là những suy nghĩ tìm ra phương pháp làm việc của bản thân trong thời gian qua . Với những kế hoạch đó bản thân tôi đã làm nhiều năm và thấy chất lượng dạy học tăng rõ rệt. Nhưng dù sao thì tinh thần trách nhiệm , tính nhiệt tình trong công tác , hăng say trong nghề nghiệp là không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy ,nó phải được xuất phát từ tâm của một nhà giáo . 2.3.4. Phương pháp phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm , giáo viên bộ môn với gia đình ,xây dựng mối tương quan "Gia đình - nhà trường - xã hội " trong quá trình giáo dục học sinh Việc phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm trong công tác dạy học cũng là điều cấn thiết . Giáo viên bộ môn phải trao đổi với giáo viên chủ nhiệm những học sinh cá biệt , học sinh lười để cùng hợp tác kiểm điểm , nhắc nhở , xử phạt ; dùng đủ hình thức từ mềm dẻo đến cứng rắn hơn sao cho các em sửa chữa tiến bộ dần đà theo cả lớp. Cũng thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn mới nắm được tình hình gia đình của những em cá biệt có hoàn cảnh khó khăn , gia đình buông lỏng hay ảnh hưởng của bạn bè xunh quanh .để có biện pháp phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau mang lại hiệu quả giáo dục cao hơn. Giáo viên chủ nhiệm cũng có trách nhiệm trao đổi với giáo viên bộ môn những học sinh cá biệt ở lớp mình , những học sinh có hoàn cảnh khó khăn để giáo viên bộ môn nắm bắt được tình hình trước, có cách xử lý khéo là liều thuốc chữa bệnh có hiệu quả nhất mang lại kết quả nhanh nhất. Còn vấn đề phối hợp giữa gia đình học sinh và nhà trường cũng không thiếu được; cụ thể là giữa giáo viên bộ môn , giáo viên chủ nhiệm và gia đình . Giáo viên có trách nhiệm báo về gia đình kịp thời những sai sót , lười biếng của học sinh cho gia đình biết (Thông qua trao đổi trực tiếp hay phiếu kiến nghị với gia đình hay lời phê ,nhận xét trực tiếp vào vở bài tập của các em ).Từ đó gia đình cho biết ý kiến , giáo viên mới tham khảo theo ý đó mà xử lý phù hợp . Những trường hợp vi phạm quá mức có thể báo cáo với liên đội ,ban giam hiệu nhà trường,hội phụ huynh đễ phối hợp giáo dục các em Tất cả những kế hoạch phối hợp nêu trên giúp chúng ta giáo dục các em một cách toàn diện . Phải có mối liên kết với nhau giữa tất cả các giáo viên bộ môn , giáo viên chủ nhiệm ,BGH và gia đình ,xã hội đó là phương pháp "thế cờ vây " vào một mục tiêu,giải thích cho các em hiểu rằng việc học tập trước tiên là học cho chính mình , cho gia đình ,cho xã hội.Buộc các em phải cố gắng vươn lên trong học tập bên cạnh đó có sự giúp đỡ của bạn bè, của thầy cô giáo, việc học trở thành rất cần thiết cho các em mang lại nhiều điều thú vị và bổ ích . Trong tình hình chất lượng học sinh hiện nay tất cả các môn nói chung và môn toán nói riêng , học sinh yếu kém càng ngày càng "nở ra", học sinh khá giỏi càng ngay bị "co lại". Là người giáo viên đứng trước tình hình đó phải trăn trở suy nghĩ tìm nguyên nhân chính , cơ bản dẫn đến kết quả nêu trên, để có biện pháp thích đáng, hữu hiệu , tìm ra giải pháp tối ưu nhất để nâng dần chất lượng , đảm bảo yêu cầu giáo dục theo kịp thời đại. 2.4.Kết quả đạt được: - Sau khi áp dụng phương pháp này lớp tôi dạy đạt hiệu quả cao. Năm học 2012-2013 qua khảo sat định kỳ cả 3 lần học sinh đạt từ loại kha trở lên là 90%. Học kỳ I của năm học 2013-2014, đạt 98% học sinh khá, giỏi.Đặc biệt ở kì thi khảo sát chất lượng mũi nhọn năm học 2013- 2014 lớp tôi dạy có 10 em đạt giải môn Toán . PHẦN 3 Kết luận Qua thực tế giảng dạy , với cách dạy trên , tôi nhận thấy học sinh có nhiều tiến bộ. Với cách dạy và học trên học sinh chăm chú say mê học toán, các em không ngại khi giải các bài toán đặc biệt các bài toán hình học. Học sinh tích cực, chủ động tìm tòi, sáng tạo xây dựng kiến thức của bài học. Nhờ vậy mà học sinh nắm bài nhanh, nhớ kiến thức lâu hơn, chắc hơn và tự tin làm cho không khí tiết học sôi nổi, không gò bó, học sinh được thực sự bộc lộ hết khả năng của mình. Từ đó học sinh có hứng thú học toán, tạo thành thói quen tự suy nghĩ, chủ động làm bài để tìm ra cách giải hay và nhanh nhất. Đề xuất một số giải pháp: 3.1. Đối với trường THCS Nghĩa Lâm có nhiều em học sinh dân tộc thiểu số ,mặt bằng kiến thức không đồng đều nên việc tiếp thu kiến thức toán học còn hạn chế vì vậy theo tôi nên tổ chức cho các em học lớp hai buổi để các em có thêm thời gian luyện tập bài tập... Giống như hình thức tổ chức phụ đạo như hiện nay nhưng phải có sự chỉ đạo xuyên suốt của các cấp ,giáo viên dạy phải có giáo án ,có một phương án cho phân phối chương trình bổ túc thêm từng phần cụ thể. 3.2. Nên tổ chức mô hình trường THCS bán trú,tức là đến trường các em vừa học vừa chơi từ đó giáo viên toán cần có kế hoạch cho các làm bài tập nhóm,nhóm học tập ... 3.3 Thành lập câu lạc bộ giáo viên dạy toán theo cụm ,câu lạc bộ em yêu toán học Hình thức tổ chức câu lạc bộ như sau: 3.3.1.Phải có tiêu chí của câu lạc bộ khi tham gia các em ,giáo viên có quyền và nghĩa vụ gì? 3.3.2.Thành lập ban chủ nhiệm câu lạc bộ (gồm giáo viên ,học sinh) Hàng năm nên tổ chức đại hội câu lạc bộ ,tổ chức buổi lễ khi kết nạp thành viên mới,trao thẻ câu lạc bộ cho các em . 3.3.3.Trong vấn đề này phải phát huy tối đa phía học sinh ,Đội ngũ giáo viên dạy toán phải là ban cố vấn và là chủ nhiệm câu lạc bộ phải là giáo viên toán có năng lực ,đạo đức tốt ,tâm huyết ,ví như có thể tư vấn cho các em ... Theo tôi thiết nghĩ việc nâng cao chất lượng dạy học không thể chỉ xét đến một mặt nào đó mà phải nhìn trên quan điểm toàn cục, đồng bộ trên mọi mặt . về phía giáo viên phải có sự nhiệt tình , phải có năng lực, phải có đầu tư cao cho từng tiết dạy . Về phía học sinh đã đi vào quỹ đạo nội quy , trật tự , kỉ cương của lớp học , của nhà trường hay chưa, về phía gia đình đã thực sự quan tâp đến con ,em mình chưa ?,xã hội (môi trường ) của các sống đã thực sự trong sạch chưa ? v.v...Nhưng một điều cần thiết trước tiên để dạy đạt chất lượng là phải xây dựng một tập thể lớp có tổ chức , có kỉ cương , tất cả các thành viên đều hoạt động theo quỹ đạo đó . Nếu một phần tử nào đó chưa hòa mình vào quỹ đạo,chưa theo kịp cũng buộc tự quay theo quỹ đạo để trở thành một lớp học có nề nếp , trật tự,chú ý nghe giảng . Giáo viên vào lớp tự nhiên sẽ thấy hứng thú , say mê trong công tác dạy học của mình hơn, yêu nghề hơn. Trong thời gian tới bản thân sẽ cố gắng thực hiện đầy đủ , nhiều hơn nữa những gì đã trăn trở trước tình hình chất lượng môn Toán hiện nay . Làm sao các em đều học được môn Toán , môn Toán trở thành một môn học rất gần gũi với các em,"thực sự là môn thể thao trí tuệ" . Các em không ngại giải bài tập , xem đó là khâu thực hành cần thiết để giúp các em phát triển tư duy , trí tuệ, tính chịu khó , cần cù , làm đến nơi đến chốn không bỏ dở giữa chừng,không ngại khó . Tính suy luận có logic , chính xác , chặt chẽ là cơ hội tốt nhất để rèn luyện bản thân , rèn luyện nhân cách của con người .để các em có một hành trang tri thức đầy đủ bước vào tương lai đầy niềm tin và hy vọng. 3.4. Soạn bài các tiết Toán thật cẩn thận chi tiết và có chất lượng. 3.5. Thường xuyên đọc các tài liệu, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, trau dồi kiến thức môn Toán với các đồng nghiệp. 3.6. Sử dụng tốt đồ dùng trực quan, tranh ảnh để tạo hứng thú học tập cho học sinh và nhớ nhanh nội dung bài học. 3.7. Cần quán triệt phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, coi học sinh làm chủ thể của hoạt động nhận thức, biến các em thành người chủ động trong quá trình học tập, lĩnh hội tri thức. Các em phải hoàn toàn tự mình tham gia mọi hoạt động nhận thức . Sau khi thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy học sinh không những học tốt môn Toán mà còn học tốt cả những phân môn khác trong chương trình phổ thông. Nghĩa Lâm, ngày 05 tháng 03 năm 2022 Người viết Hồ Văn Thái Tài liệu tham khảo 1. Sách giáo khoa-Sách bài tập môn toán các khối lớp. 2.Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy-học toán trong trường phổ thông. 3. Tập huấn về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị Quyết 29 4. Các nguồn tài liệu trên mạng internet MỤC LỤC Phần 1; Mở đầu Trang 1. 1.2.Rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh Trang 2,3 II/PHƯƠNG PHÁP DẠY NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN CHO HỌC SINH 2.1.Phương pháp dạy học trên lớp Trang 3,4,5 2.2.Phương pháp ra bài tập về nhà Trang 3,4,5 2.3.Phương pháp kiểm tra bài tập về nhà và kiểm tra định kỳ Trang 6,7 2.4.Phương pháp phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm Trang 7,8 2.5.Đề xuất một số giải pháp mới qui mô. Trang 8,9 Đăk Nông Giáo Dục

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs
  • Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.
  • Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần
  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • ho một tiết dạy là hết sức cần thiết để học sinh hiểu được kiến thức một cách sâu sắc, sát với thực tế, hiểu được các kiến thức đó có được do đâu ? Dựa trên cơ sở nào ? Còn rất nhiều các vấn đề khác nếu được đầu tư chu đáo sẽ tạo nên một tiết học hấp dẫn, dễ học và gây hứng thú cho học sinh trong học tập. Một vấn đề cần thiết nữa đặt ra là khi dạy một tiết học người giáo viên phải nắm bắt kịp thời số học sinh hiểu bài và chưa kịp hiểu bài. Từ đó có biện pháp giúp đỡ số học sinh chưa kịp hiểu bài. Sau mỗi tiết học đều phải có phần củng cố và luyện tập; bằng những câu hỏi trọng tâm, cơ bản tiết học người giáo viên phải quan sát từng đối tượng học sinh; chú ý đến học sinh yếu, cá biệt để nắm bắt tình hình tiếp nhận kiến thức trong nội dung bài học; bài luyện tập tại lớp cần được nâng dần từ dễ đến khó, từ những bài toán rất đơn giản đến phức tạp. Ngoài ra người giáo viên phải tính đến việc kiểm tra một lúc được nhiều học sinh; nhất là yêu cầu tối thiểu những nội dung cần đạt được. Chẳng hạn khi dạy bài " Luỹ thừa của một số hữu tỉ" giáo viên phải đưa ra một số bài tập nâng cao dần như sau: Thực hiện các phép tính sau: a) 23 b) (- 5)3 c) ( 23 )2 d) e) (1,5)3.8 f) g) h) i) v.v. Các bài tập a, b, c, d dành cho học sinh yếu và kiểm tra một lúc đồng thời 4 học sinh lên bảng. Là các bài tập yêu cầu tối thiểu sau một tiết dạy học sinh phải tự làm được. Định lí 1: Trong một tam giác, góc đối diện với cạnh lớn hơn là góc lớn hơn. Định lí 2: Trong một tam giác cạnh đối diện với góc lớn hơn là cạnh lớn hơn. Để giúp học sinh nắm được định lí, cách vận dụng định lí để giải bài tập, yêu cầu tối thiểu để học sinh đạt được, giáo viên ra một bài tập: Bài tập 1: So sánh các góc của tam giác ABC, biết rằng: AB = 2cm; BC = 4cm; AC = 5cm Bài tập 2: So sánh các cạnh của tam giác ABC, biết rằng: Với bài tập này học sinh vận dụng trực tiếp định lí 1 và định lí 2 để giải: Bài tập 1: Áp dụng định lí 1, ta có: Tronghay 2cm < 4cm < 5cm Bài tập 2: Áp dụng định lí 2, ta có: Trong Hay do đó hay 450 < 550 < 800 AC < AB < BC Qua bài tập này giáo viên rút ra nhận xét cho học sinh thấy: Trong một tam giác nếu biết độ dài ba cạnh của tam giác thì ta có thể so sánh ba góc của tam giác đó và nếu biết số đo hai góc của một tam giác thì ta có thể so sánh ba cạnh của tam giác đó. Sau khi học sinh nắm được bài tập này, giáo viên cho một bài tập nâng cao hơn như sau: Ba bạn Hạnh, Nguyên, Trang đi đến trường theo ba con đường AD, BD, CD ( hình vẽ sau). Biết rằng ba điểm A, B, C cùng nằm trên một đường thẳng và là góc tù. Hỏi ai đi xa nhất, ai đi gần nhất ? Hãy giải thích ? Để giúp đỡ nhau trong học tập, học sinh khá giúp học sinh yếu, giáo viên có thể tạo ra các cặp học tập khá yếu. Trong những lúc rãnh rỗi, trong những giờ giải lao, kể cả ở nhà chỗ nào chưa hiểu bạn yếu có thể hỏi bạn khá. Khi đã tổ chức làm thì phải có những hình thức tuyên dương điển hình, khuyến khích thi đua với nhau, có kiểm tra việc tiến bộ của học sinh yếu với mục đích các em đều học được môn Toán và có phong trào học tập sôi nổi. Trong sách bồi dưỡng môn Toán cấp tiểu học cho giáo viên có viết: "Số học là hạt nhân của chương trình toán". Vì vậy người giáo viên cần dạy học sinh nắm vững chắc về cấu trúc của số học và các phép tính trên tập N, tập Z, tập Q. Do đó chương trình Toán lớp 6 là nền tảng để có cơ sở học các nội dung khác. Trong chương trình có những chỗ căn bản, trọng tâm nên giáo viên phải thường xuyên ôn luyện và ra bài tập thật nhiều để học sinh thực hành để kiến thức mới được khắc sâu và lâu quên. Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh cách ôn tập chương, cách liệt kê các công thức toán để tóm tắt và chốt lại những điểm trọng tâm vận dụng vào giải bài tập. Tóm lại trong quá trình dạy học sự nhiệt tình, chịu khó, tinh thần trách nhiệm của người giáo viên là đều không thể thiếu được để dạy nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. Nhưng đó cũng chỉ là một mặt, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để học sinh đạt chất lượng cao. Phải có sự kết hợp, vận dụng sáng tạo trong phương pháp dạy học nhất là phương pháp dạy học mới hiện nay. Người giáo viên cần chú ý trong từng trường hợp, từng đối tượng học sinh để học sinh tự lực của mình có điều kiện phát triển khả năng tư duy, chiếm lĩnh kiến thức. 4.Kế hoạch ra bài tập về nhà: Môn Toán là môn học rất cần đến việc thực hành, luôn luôn phải có sự kết hợp với nhau giữa lý thuyết và thực hành. Qua thực hành mới củng cố được lý thuyết, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán và phát triển tư duy. Ở phạm vi SGK sau mỗi bài học đều có một lượng bài tập để học sinh thực hành, luyện tập nhưng đôi khi còn ít, hệ thống bài tập chưa đủ cho học sinh yếu tập làm quen từ những bài tập rất dễ để từng bước nâng dần giải những bài tập khó hơn. Do đó trong từng tiết dạy người giáo viên có thể ra thêm bài tập tùy tình hình lớp học để học sinh có điều kiện tiếp xúc với khâu thực hành và nội dung bài tập phong phú hơn. Những số tiết cơ bản trong chương trình rất cần thiết. Vì vậy vấn đề luyện tập thật nhiều để học sinh nhớ lâu, củng cố lý thuyết được bền vững là rất cần thiết. Nếu khâu thực hành làm ít thì rõ ràng kiến thức chóng quên hơn, lí thuyết không được khắc sâu đậm nét. Chẳng hạn khi dạy cộng, trừ, nhân, chia số hữu tỉ ở học sinh lớp 7, cần có lượng bài tập thật nhiều để qua bài tập học sinh mới được khắc sâu kiến thức. Khi dạy học sinh mới giải toán hình, nếu học sinh ít giải bài tập, ngại thực hành thì chắc chắn các em không nhạy bén,vận dụng lý thuyết ít được linh hoạt vào giải bài tập. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến đợt kiểm tra, đợt thi, làm giảm sút chất lượng trầm trọng. Nói chung do đặc điểm của môn Toán là môn học không thể nói suông, nói và làm phải luôn đi song song với nhau. Vì vậy, cần thực hành để rèn luyện kỹ năng, khắc sâu kiến thức và phát triển tư duy. 5.Kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà: Kiểm tra bài cũ, kiểm tra bài tập về nhà là việc rất cần thiết. Nếu chúng ta kiểm tra thường xuyên thì việc học bài cũ và làm bài tập ở nhà của các học sinh sẽ chu đáo hơn. Ngược lại, nếu bị xem nhẹ thì việc chuẩn bị bài tập, học bài cũ sẽ hạn chế và chất lượng học tập giảm rõ rệt. Ở lứa tuổi của các em nhất là đầu cấp học đôi khi nhận thức còn kém, học là để đối phó thầy cô giáo, học là để giáo viên kiểm tra bài mình đã làm, đã thuộc. Chưa có sự hiểu biết phải tự giác học để hiểu, để bản thân mình được tiến bộ. Do vậy kiểm tra bài cũ thường xuyên là biện pháp để học sinh tự giác học bài và làm bài ở nhà trước khi đến lớp. Từ đó tạo nên không khí lớp học nghiêm túc, trật tự, mọi học sinh đều ở tư thế chuẩn bị giáo viên sẽ kiểm tra mình. Thời gian kiểm tra bài cũ ở đầu các tiết học rất có giới hạn, không thể kiểm tra hết được. Vì vậy muốn nắm được việc làm bài tập ở nhà của học sinh một cách toàn diện người giáo viên phải nghĩ ra kế hoạch phân công các tổ trưởng chịu trách nhiệm kiểm tra từng thành viên trong tổ ở đầu buổi học. Đầu tiết học các tổ trưởng báo cáo tình hình chuẩn bị bài tập ở nhà của từng tổ viên. Học sinh nào chưa làm bài tập ở nhà sẽ có biện pháp xử phạt thích đáng. Trong trường hợp học sinh không làm bài tập ở nhà mà lên lớp mượn vở bạn chép cũng được báo lại và sẽ xử phạt nặng hơn. Sau khi các tổ trưởng báo cáo lại xong giáo viên mới kiểm tra bài cũ. Nếu kiểm tra có gì không khớp với báo cáo của tổ trưởng thì sẽ có biện pháp xử phạt tổ trưởng vì chưa thực hiện đúng với sự phân công. Có như vậy trong từng tiết học mới sớm phát hiện được những học sinh lười học bài, lười làm bài tập giúp giáo viên sớm có biện pháp xử lý và tìm ra nguyên nhân cụ thể để sớm khắc phục. Với kế hoạch kiểm tra bài tập ở nhà như trên, người giáo viên đã kiểm tra được toàn diện học sinh. Phải làm thường xuyên, liên tục mới thấy được kết quả nâng cao chất lượng rõ rệt tạo thành nếp thi đua học tập sôi nổi ở học sinh. Học sinh hứng thú học tập, giáo viên biết được các học sinh cá biệt của mình. Khi trở thành thói quen, giáo viên làm việc rất nhẹ nhàng nhưng đạt hiệu quả cao. Từ các báo cáo tổng quát đến cụ thể tình hình học tập của học sinh, giáo viên kịp thời nắm bắt được lỗ hổng của học sinh mà kịp thời sửa chữa. Tóm lại, những kế hoạch ở lớp, kế hoạch ra bài tập về nhà đến kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà là những suy nghĩ tìm ra phương pháp làm việc của bản thân trong thời gian qua. Với những kế hoạch đó bản thân tôi đã làm nhiều năm và thấy chất lượng dạy học tăng rõ rệt. Nhưng dù sao thì tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác, hăng say trong nghề nghiệp là không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy. Kế hoạch làm việc theo nhóm: Hướng dẫn học sinh học cách thu thập các nguồn tài liệu từ sách báo, từ thư viện, từ mạng hoặc cách đánh số trang tài liệu tìm được. - Đối với học sinh: Tích cực tham gia và làm theo hướng dẫn của giáo viên, chuẩn bị các dụng cụ, phương tiện hỗ trợ để giúp cho việc học của mình đạt kết quả cao hơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó các cá thể trong nhóm có thể hoạt động không đồng đều (giáo viên lưu ý trước các nhóm, người trình bày trước lớp của các nhóm được giáo viên lựa chọn ngẫu nhiên). 7. Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh: Mục tiêu chính của kế hoạch này là: ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh. Hướng dẫn học sinh phương pháp học tập tích cực (tức là tự học tập). Ở kế hoạch này còn nhằm mục đích khắc phục được hai nhược điểm của học sinh là khả năng diễn đạt và khả năng làm việc theo nhóm. Ở kế hoạch này đòi hỏi giáo viên phải là người tiếp thu những phương tiện mới trong dạy học cụ thể là máy vi tính, máy chiếu, giáo án điện tử, biết truy cập Internet tìm kiếm thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy. Giáo viên tăng cường giám sát tính tự học của học sinh thông qua kế hoạch làm việc của các nhóm, cách thức làm việc của các nhóm đã khoa học chưa ? Còn học sinh là người tự giác tích cực trong trong việc học của mình để chiếm lĩnh kiến thức, nâng cao kiến thức cho bản thân. 8. Kế hoạch phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn với gia đình trong quá trình giáo dục đào tạo: Việc phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm trong công tác dạy học cũng là điều cấn thiết. Giáo viên bộ môn phải trao đổi với giáo viên chủ nhiệm những học sinh cá biệt, học sinh lười để cùng hợp tác kiểm điểm, nhắc nhở, xử phạt; dùng đủ hình thức từ mềm dẽo đến cứng nhắc sao cho các em sửa chữa tiến bộ dần đà theo cả lớp. Cũng thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn mới nắm được tình hình gia đình của những em cá biệt có hoàn cảnh khó khăn, gia đình buông lỏng hay ảnh hưởng của bạn bè xunh quanh để có biện pháp phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau mang lại hiệu quả giáo dục cao hơn. Giáo viên chủ nhiệm cũng có trách nhiệm trao đổi với giáo viên bộ môn những học sinh cá biệt ở lớp mình, những học sinh có hoàn cảnh khó khăn để giáo viên bộ môn nắm bắt được tình hình trước, có cách xử lý khéo là liều thuốc chữa bệnh có hiệu quả nhất mang lại kết quả nhanh nhất. Còn vấn đề phối hợp giữa gia đình học sinh và nhà trường cũng không thiếu được; cụ thể là giữa giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và gia đình. Giáo viên có trách nhiệm báo về gia đình kịp thời những sai sót, bê tha của học sinh cho gia đình biết. Từ đó gia đình cho biết ý kiến, giáo viên mới dò theo ý đó mà xử lý phù hợp. Những trường hợp vi phạm quá mức có thể báo cáo với chính quyền địa phương để xử lý như: nghiện hút, chích hêrôin Tất cả những kế hoạch phối hợp nêu trên giúp chúng ta giáo dục các em một cách toàn diện. Phải có mối liên kết với nhau giữa tất cả các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và gia đình đó là phương pháp đánh bao vây vào một mục tiêu, chỉ có con đường bị tê liệt và hòa vào quỹ đạo. Buộc các em phải cố gắng vươn lên trong học tập bên cạnh đó có sự giúp đỡ của bạn bè, của thầy cô giáo, việc học trở thành rất cần thiết cho các em mang lại nhiều điều thú vị và bổ ích. IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: - Khi chưa áp dụng chuyên đề đã nêu trên, học kì I môn Toán ở khối 7 năm học 2006 - 2007 đạt kết quả như sau: Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém 2,3% 14,2% 28,2% 29,4% 25,9% - Sau khi áp dụng chuyên đề này thì kết quả học kì I môn Toán khối 7 năm học 2007 - 2008 đạt kết quả như sau: Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém 7,2% 25,3% 39,8% 24,1% 3,6% C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: I. Kết luận: Trong tình hình chất lượng học sinh hiện nay tất cả các môn nói chung và môn Toán nói riêng, học sinh yếu kém càng ngày càng nở ra, học sinh khá giỏi càng ngay bị co lại. Là người giáo viên đứng trước tình hình đó phải trăn trở suy nghĩ tìm nguyên nhân chính, cơ bản dẫn đến kết quả nêu trên, để có biện pháp thích đáng, hữu hiệu, tìm ra giải pháp tối ưu nhất để nâng dần chất lượng, đảm bảo yêu cầu của cấp trên. Theo tôi nghĩ việc nâng cao chất lượng dạy học không thể chỉ xét đến một mặt nào đó mà phải nhìn trên quan điểm toàn cục, đồng bộ trên mọi mặt. Về phía giáo viên phải có sự nhiệt tình, phải có năng lực, phải có đầu tư cao cho từng tiết dạy. Về phía học sinh đã đi vào quỹ đạo nội quy, trật tự, kỉ cương của lớp học, của nhà trường hay chưa ? Một điều cần thiết trước tiên để dạy đạt chất lượng là phải xây dựng một tập thể lớp có tổ chức, có kỉ cương, tất cả các thành viên đều hoạt động theo quỹ đạo đó. Nếu một phần tử nào đó chưa hòa mình vào quỹ đạo kịp cũng buộc đầu quay theo quỹ đạo để trở thành một lớp học có nề nếp, im lặng, trật tự. Giáo viên vào lớp tự nhiên thấy hứng thú, hưng phấn, say mê trong công tác dạy học của mình. Trong thời gian tới bản thân sẽ cố gắng thực hiện đầy đủ, nhiều hơn nữa những gì đã trăn trở trước tình hình chất lượng môn Toán hiện nay. Làm sao các em đều học được môn Toán, môn Toán trở thành một môn học rất gần gũi với các em. Các em không ngại giải bài tập, xem đó là khâu thực hành cần thiết để giúp các em phát triển tư duy, trí tuệ, tính chịu khó, cần cù, làm đến nơi đến chốn không bỏ dở giữa chừng. Tính suy luận logic, chính xác, chặt chẽ là cơ hội để rèn luyện bản thân, rèn luyện nhân cách của con người bước vào tương lai đầy niềm tin và hy vọng. II. Kiến nghị: Đối với phụ huynh học sinh cần quan tâm hơn nữa về việc học tập của con em mình. Thường xuyên kiểm tra việc học của con em mình thông qua việc học ở nhà và thông qua điểm của các bài kiểm tra. Đối với nhà trường: Tham mưu cho phòng giáo dục tạo điều kiện cho các em có một phòng thư viện để hỗ trợ tài liệu giúp các em trong việc học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học là một việc làm cần thiết và cấp bách đặt biệt hỗ trợ dạy môn hình học. Do cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu thốn, nhà trường có thể tham mưu phòng giáo dục hỗ trợ giúp đỡ nhà trường có một đầu máy chiếu để phục vụ cho việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh. Tuy nhiên với trình độ tay nghề còn non trẻ, chuyên đề còn nhiều sai sót, khiếm khuyết. Rất mong sự thông cảm và chân thành góp ý của các thành viên trong tổ Tự nhiên, của BGH nhà trường để tôi hoàn thiện chuyên đề này hơn. KonTum, ngày 15 tháng 03 năm 2008 Người viết Trần Lê Ánh Nguyệt D. TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách Phương pháp dạy học môn Toán ( Dành cho GV THCS) - Nhà xuất bản giáo dục. SGK Toán 7 - Của nhà xuất bản giáo dục. Sách giáo viên Toán 7 Tài liệu về ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy bộ môn Toán. MỤC LỤC Trang A. PHẦN MỞ ĐẦU 2 B. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH 4 II. TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN 4 III. BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG 5 MÔN TOÁN 7 CHO HỌC SINH 1. Dạy nâng cao chất lượng môn Toán để phát 5 triển tư duy, trí tuệ. Học sinh học tốt môn Toán là điều kiện thuận lợi để học tốt các môn học khác. 2. Rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh, dạy kiến thức 6 nói chung và kiến thức toán học nói riêng là hai vấn đề có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình giáo dục đào tạo. 3. Kế hoạch dạy ở lớp. 6 4. Kế hoạch ra bài tập về nhà. 11 5. Kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà. 11 6. Kế hoạch làm việc theo nhóm. 12 7. Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin 13 và truyền thông trong việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh. 8. Kế hoạch phối hợp giữa giáo viên bộ môn 13 với giáo viên chủ nhiệm, giữa giáo viên bộ môn với gia đình trong quá trình giáo dục đào tạo. IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14 C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 14 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A
  • Skkn Một Vài Giải Pháp Nâng Cao Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Gd Toàn Diện Ở Trường Thcs Miền Núi
  • Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Vĩnh Thới

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Thực Hành Môn Tin Học 4
  • Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ Mầm Non
  • Điểm Tiếng Anh Thấp: Nguyên Nhân Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Không Thể Chậm Trễ Hơn !
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs
  • I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

    -Tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở cấp THCS đang là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn,trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

    -Tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục giống nhau, nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau,có điều kiện hoàn cảnh và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau,môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập,khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác .

    -Có nhiều nguyên nhân làm học sinh học yếu môn toán,song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn,có nhiều lỗ hổng về kiến thức,kĩ năng.Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác làm cho các em ngày càng hổng kiến thức nhiều hơn.

    -Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em nên Tôi thiết nghĩ cần phải nghiên cứu,tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập nhất là môn Toán. Chính vì vậy nên Tôi chọn chuyên đề: “Giải pháp nâng cao chất lượng môn Toán”

    II. THỰC TRẠNG:

    – Học sinh phần đông sợ bộ môn toán vì phải đối mặt với những công thức, những định lí khô khan.

    -Học sinh ngại khó, thiếu kiên nhẫn trong quá trình học toán dẫn đến việc thường xuyên không học bài và làm bài tập ở nhà.

    -Đa số học sinh chưa biết cách học môn toán như thế nào cho hiệu quả.

    -Gia đình học sinh chưa quan tâm đúng mức đến con em mình.

    -Đôi khi giáo viên cũng thiếu kiên nhẫn đối với học sinh học yếu.

    Đối với bộ môn toán:

    – Từ 5,0 điểm trở lên: 61 / 154 .Tỉ lệ: 39,61 % (giảm 24,2% so với năm học trước). Cụ thể:

    9/1 : 37 / 39 (94,87%). Trong đó có 8 học sinh 10 điểm

    9/2: 8 / 27 (29,63%)

    9/3 : 5 / 31 (16,13%)

    9/4: 6/ 28 (21,43%)

    9/5: 5 / 29 (17,24%)

    – Điểm bình quân môn toán là 4,78. Xếp hạng 10/12

    – Điểm yếu, kém: 93/ 154. Tỉ lệ: 60,39 %. Trong đó yếu: 41 hs. Kém: 52 hs. Không có hs điểm 0

    9/2: yếu: 12; kém: 7

    9/3: yếu: 12; kém : 14

    9/4: yếu: 8; kém: 14

    9/5: yếu: 8; kém: 16

    III. NGUYÊN NHÂN

    – Nhận thức của phụ huynh về việc học của con em mình chưa cao, nuông chìu con, sợ con mình học mệt nên chưa động viên con mình trong vấn đề học tập

    – Học sinh học yếu mất căn bản sinh ra chán nãn, thiếu kiên nhẫn nên buông xuôi không hợp tác tới đâu thì tới

    – Một số học sinh do khả năng có hạn, học trước quên sau dẫn đến kiến thức bị hạn hẹp không đạt chuẩn quy định

    – Học sinh có quá nhiều quyền nên dẫn đến ỉ lại, chưa thật sự coi trọng việc học

    – Giáo viên cũng chưa mạnh dạn dùng hết những phương pháp để uốn nắn những học sinh cá biệt

    IV. GiẢI PHÁP

    1. GIẢI PHÁP TÂM LÝ

    – Để học sinh yêu thích môn học của mình,tôi đã tạo sự gần gũi với các em từ những tiết học đầu tiên,chú ý đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn,động viên các em bằng cách kể những gương học tập vượt khó mà các em có thể học tập.Luôn tạo cho các em niềm tin.

    -Có thể khiển trách khi các em chưa ngoan nhưng không quên dành lời khen khi các em có tiến bộ chút ít.

    – Việc đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng,khách quan và công tâm,công khai kết quả sau các giờ kiểm tra,cần phải có nhận xét bài làm của học sinh.

    – Để bài giảng hay, tiết học của mình thêm sinh động tôi luôn tìm ra cách giảng gần gũi nhất, dễ hiểu nhất để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng.

    Ví dụ: Khi học bài “Tỉ số lượng giác” để học sinh dễ thuộc công thức:

    Tôi dạy học sinh bài thơ: “Sin đi học (nghĩa là đối chia huyền)

    Cosin không hư (nghĩa là kề chia huyền)

    Tang đoàn kết (nghĩa là đối chia kề)

    Cotang kết đoàn” (nghĩa là kề chia đối)

    Học sinh vừa thuộc công thức toán mà còn học được bài học đạo đức khi đến lớp

    -Tìm ra giải pháp hữu hiệu cho riêng mình để hạn chế học sinh yếu kém môn toán

    -Kiên trì, nhẫn nại và hy sinh thời gian cho những học sinh yếu

    -Có cái nhìn lạc quan hơn khi dạy những học sinh yếu kém

    -Hình thành nề nếp và kỷ cương trong các tiết dạy từ đầu năm học để quản lý học sinh tốt hơn.

    -Quan tâm con em mình nhiều hơn nữa trong việc học tập

    -Kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em

    -Tư vấn và giúp đỡ giáo viên trong việc dạy học sinh yếu

    -Cảm thông, động viên, chia sẻ với những bức xúc của giáo viên khi dạy học sinh yếu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Đơn Vị
  • Luận Văn Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Trung Dài Hạn Tại Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam
  • Luận Văn Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Quân Đội
  • Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng
  • Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ở Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Tiểu Học
  • Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Nhà Trường Thcs
  • Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên
  • Giải Pháp Thu Hút Nguồn Vốn Oda Vào Tỉnh Tuyên Quang
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Sử Dụng Nguồn Vốn Oda Ở Việt Nam
  • Môn Ngữ Văn có một vị trí quan trọng đặc biệt trong chương trình của cấp học THCS. Ngoài việc cung cấp kiến thức như các môn học khác, môn Ngữ Văn còn góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em học sinh: biết yêu thương, quý trọng gia đình, thầy cô, bạn bè, có lòng yêu nước, biết hướng tới những tư tưởng cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái ác, cái xấu, bước đầu các em có năng lực cảm thụ các tác phẩm có giá trị nhân văn cao cả.

    Tuy nhiên học Văn là cả một quá trình tích luỹ lâu dài, không thể học xổi, học dồn mà phải cập nhật từng ngày, từng vấn đề, từng tác phẩm.

    Đây cũng là đề tài đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều giáo viên đã thực hiện song đó cũng là các đề tài có tính chất chung cho việc dạy học môn Ngữ Văn. Qua kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học, qua việc tìm hiểu thực tế ở dạy – học môn Ngữ Văn ở trường sở tại, chúng tôi mạnh dạn đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn.

    I. Thực trạng

    Các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn đều đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, có lòng yêu nghề, nhiệt tình trong giảng dạy.

    Thông báo cho Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm về tình hình học tập chung của học sinh, nhất là những học sinh chưa chịu khó, chưa tích cực đề xuất các hình thức khen thưởng, kỉ luật kịp thời.

    6. Kết hợp gia đình học sinh

    Phối hợp với gia đình để nâng cao chất lượng dạy – học: Giáo viên dạy Văn thường là các giáo viên chủ nhiệm nên có thể trao đổi với phụ huynh qua buổi họp phụ huynh, nếu không có thể đến gặp gỡ với gia đình, trao đổi qua điện thoại, thư, … để gia đình đôn đốc nhắc nhở, kiểm tra học sinh giúp học sinh chăm chỉ tích cực hơn nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn.

    Có thể đề nghị nhà trường tổ chức họp phụ huynh từng lớp hoặc theo đối tượng học sinh (Trung bình, Yếu) để thông báo với gia đinh, bàn với gia đình những biện pháp nâng cao chất lượng học tập.

    Nguồn tin: NukeVie

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Năm Học 2012
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Tại Trường Đại Học Đông Á Để Đáp Ứng Chuẩn Đầu Ra
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán 8 Ở Trường Ptdtbt Thcs Xuân Lẹ Huyện Thường Xuân
  • Các Giải Pháp Cải Tiến Phương Pháp Giảng Dạy Ở Bậc Đại Học Theo
  • Chuyên Đề: “giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Một Số Học Phần Ở Trường Đại Học An Giang”
  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hoc Sinh Thcs
  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lịch Sử
  • Chủ trì buổi sinh hoạt: Nguyễn Thu Huyền , chức vụ: Tổ trưởng

    Người thực hiện chuyên đề :………………………………………….

    Thời gian thực hiện:…………………………………………………..

    GIẢI PHÁP DUY TRÌ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    Chất lượng giáo dục luôn luôn là điều trăn trở đối với các nhà quản lý giáo dục nói chung cũng như đối với người giáo viên nói riêng. Chất lượng giáo dục ở trường THCS, trong đó đặc biệt là chất lượng môn toán luôn được quan tâm hàng đầu trong sự chỉ đạo của người cán bộ quản lý nhà trường, của người giáo viên trực tiếp giảng dạy. Làm thế nào để nâng cao chất lượng môn toán ở trường THCS đây là câu hỏi không mới nhưng câu trả lời thì luôn là đề tài “nóng” cho các cán bộ quản lý và giáo viên dạy toán ở trường THCS. Để duy trì được chất lượng tốp đầu môn Toán của huyện chúng ta cần tìm hiểu các nội dung sau:

    I- Nguyên nhân không duy trì được chất lượng:

    – Chất lượng đầu vào thấp. Chẳng hạn một số em đã đậu vào lớp 6 nhưng khả năng đọc, viết, tính toán chưa thành thạo.

    – Có quá nhiều lỗ hổng kiến thức vì vậy HS dễ chán nản và không ham thích học Toán, tâm lí sợ môn Toán.

    – Một số em lười học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo dụng cụ học tập dẫn tới không nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc học và vận dụng vào việc giải quyết các dạng bài tập toán học.

    – Một số em thiếu tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu vươn lên, có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bè hoặc xem lời giải sẵn trong sách giảimột cách thụ động.

    * Phía giáo viên: (gv dễ mắc phải)

    – Có thể phương pháp dạy toán chưa có phương phù hợp với các đối tượng học sinh có trình độ khác nhau (có nhiều đối tượng học sinh), chưa thực sự quan tâm đến tất cả học sinh trong cả lớp mà chỉ chú trọng một số em học khá, giỏi; giáo viên chưa thật tâm lý, chưa động viên khéo léo kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ.

    – Xem nhẹ dẫn đến không khắc sâu kiến thức cơ bản, các kĩ năng cần thiết như: Kỹ năng phân tích, liên kết các các dữ liệu của bài toán, kĩ năng vẽ hình, viết giả thiết, kết luận…

    – Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề cao quá mức đối với học sinh, dẫn tới hiện tượng: Dạy lướt (nghĩ học sinh nắm được rồi), thích chữa bài tập khó bỏ qua bài tập dễ, trung bình, mà không chú ý tới khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh.

    – Chưa tạo được không khí học tập thân thiện vì yêu cầu cao của giáo viên. Giáo viên chưa phối kết hợp tốt với gv chủ nhiệm và phụ huynh học sinh

    + Sự quan tâm của một số phụ huynh đối với việc học của con em mình còn hạn chế. Đặc biệt, có những phụ huynh của những em học sinh yếu không bao giờ kiểm tra sách vở của các em, phó thác việc học tập của các em cho nhà trường.

    + Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet với các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em.

    T Yêu thích môn học, học tập chăm chỉ, có động cơ, mục đích học tập và ý thức phấn đấu trong lớp, tích cực lắng nghe thầy cô giảng bài và đóng góp xây dựng bài. Để làm đc điều này giáo viên phải khéo léo phối hợp nhiều biện pháp, chẳng hạn như:

    – Giáo viên dạy phải kết hợp chặt chẽ với GVCN và phụ huynh học sinh để hướng dẫn, uốn nắn các em kịp thời (thông tin với phụ huynh qua điện thoại, gặp phụ huynh). Động viên, khích lệ với những tiến bộ dù nhỏ của các em.

    – Tổ chức cho học sinh giúp đỡ lẫn nhau trong học tập: học nhóm, phân công bạn khá giỏi giúp đỡ bạn yếu kém. Không lấy điểm số làm áp lực với các em, tạo điều kiện để các em mạnh dạn thể hiện bản thân, luôn tạo không khí học tập vui vẻ, thân thiện.

    GV khi lên lớp cần chú trọng nhiều đến việc chuẩn bị nội dung. Đối với các tiết bài tập giải kỹ từng bài tập ở nhà, xem kỹ các trường hợp có thể xảy ra. Để từ đó tìm ra thuật Toán đơn giản, giúp HS từng bước nắm được kiến thức và có hứng thú học tập.

    – Trong cách dạy, chúng ta dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức không cần phải bổ sung, nâng cao đối với HS yếu kém; cần giúp HS nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài.

    – Nắm thật sát năng lực học tập của từng học sinh, của từng lớp để từ đó phân loại và đổi mới phương pháp dạy học thích hợp.

    – Khai thác triệt để các sai lầm, thiết sót của HS trong quá trình giải toán, nhất là các tiết luyện tập, tiết trả bài kiểm tra; hướng dẫn, phân tích giúp HS phát hiện sai lầm và hướng giải quyết để khắc phục dù những sai lầm nhỏ nhất.

    – Thường xuyên liên hệ toán học với thực tế, ứng dụng CNTT vào các giờ dạy, kết hợp các trò chơi toán học vào bài dạy để tăng tính hứng thú của học sinh, tạo sự phấn khởi và niềm tin trong học Toán.

    – Cuối năm học các giáo viên trong nhóm toán thống nhất nội dung ôn tập trong hè cho học sinh, đầu năm học có kiểm tra đánh giá nhằm khắc phục tình trạng học sinh lãng quên kiến thức trong thời gian nghỉ hè. Nhà trường tìm biện pháp để tổ chức tốt hơn hoạt động ôn tập trong hè cho học sinh, để đây là một hoạt động thường xuyên và là sự mong đợi của học sinh và phụ huynh trong hè.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs
  • Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà
  • Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Trường Thcs Nhân Sơn

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan
  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Giờ Thực Hành Tin Học 7
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Ở Tiểu Học
  • 6 Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Soạn Giảng
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lương Gdthcs
  • TRƯỜNG THCS NHÂN SƠN THAM LUẬN VỀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN Kính thưa quý vị đại biểu, thưa toàn thể hội nghị! Hôm nay, tôi rất vinh dự được thay mặt tổ khoa học tự nhiên trường THCS Nhân Sơn trình bày tham luận về vấn đề nâng cao chất lượng học tập của học sinh, vì chuyên môn của tôi là môn toán nên cũng xin phép hội nghị tham luận về môn này mà thôi. Trước khi vào nội dung cho phép tôi xin được gửi lời chúc sức khỏe tới quý vị đại biểu, chúc hội nghị thành công tốt đẹp. Chất lượng giáo dục luôn luôn là điều trăn trở đối với các nhà quản lý giáo dục nói chung cũng như đối với người giáo viên nói riêng. Chất lượng giáo dục ở trường THCS, trong đó đặc biệt là chất lượng môn toán luôn được quan tâm hàng đầu trong sự chỉ đạo của người cán bộ quản lý nhà trường, của người giáo viên trực tiếp giảng dạy. Làm thế nào để nâng cao chất lượng môn toán ở trường THCS đây là câu hỏi không mới nhưng câu trả lời thì luôn là đề tài "nóng" cho các cán bộ quản lý và giáo viên dạy toán ở trường THCS. Trường ta đang từng bước xây dựng là trường chuẩn quốc gia, hiện tại chất lượng học tập môn Toán chưa thật sự cao, chưa đồng đều, không ổn định. Thực tế là đầu năm học chất lượng rất thấp, cuối năm học chất lượng được nâng lên nhưng sau 2 tháng nghỉ hè tất cả lại quay về điểm xuất phát. Hiện tượng này vẫn lặp đi lặp lại nhiều năm nay nhưng chưa có cách giải quyết hiệu quả. Qua quá trình giảng dạy, học tập và đúc rút kinh nghiệm, tôi mạnh dạn chỉ ra những nguyên nhân và đề ra một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng trên như sau: I- Nguyên nhân: * Từ học sinh: - Chất lượng đầu vào thấp. Chẳng hạn một số em đã đậu vào lớp 6 nhưng khả năng đọc, viết, tính toán chưa thành thạo. - Có quá nhiều lỗ hổng kiến thức vì vậy HS dễ chán nản và không ham thích học Toán, tâm lí sợ môn Toán. - Một số em lười học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo dụng cụ học tập dẫn tới không nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc học và vận dụng vào việc giải quyết các dạng bài tập toán học. - Một số em thiếu tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu vươn lên, có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bè hoặc xem lời giải sẵn trong sách giải một cách thụ động. * Phía giáo viên: (gv dễ mắc phải) - Có thể phương pháp dạy toán chưa có phương phù hợp với các đối tượng học sinh có trình độ khác nhau (có nhiều đối tượng học sinh), chưa thực sự quan tâm đến tất cả học sinh trong cả lớp mà chỉ chú trọng một số em học khá, giỏi; giáo viên chưa thật tâm lý, chưa động viên khéo léo kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ. - Xem nhẹ dẫn đến không khắc sâu kiến thức cơ bản, các kĩ năng cần thiết như: Kỹ năng phân tích, liên kết các các dữ liệu của bài toán, kĩ năng vẽ hình, viết giả thiết, kết luận - Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề cao quá mức đối với học sinh, dẫn tới hiện tượng: Dạy lướt (nghĩ học sinh nắm được rồi), thích chữa bài tập khó bỏ qua bài tập dễ, trung bình, mà không chú ý tới khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh. - Chưa tạo được không khí học tập thân thiện vì yêu cầu cao của giáo viên. Giáo viên chưa phối kết hợp tốt với gv chủ nhiệm và phụ huynh học sinh * Nguyên nhân khác : + Sự quan tâm của một số phụ huynh đối với việc học của con em mình còn hạn chế. Đặc biệt, có những phụ huynh của những em học sinh yếu không bao giờ kiểm tra sách vở của các em, phó thác việc học tập của các em cho nhà trường. + Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet với các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em. II. Đề xuất giải pháp: Theo tôi một HS muốn học tốt cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: Yêu thích môn học, học tập chăm chỉ, có động cơ, mục đích học tập và ý thức phấn đấu trong lớp, tích cực lắng nghe thầy cô giảng bài và đóng góp xây dựng bài. Để làm đc điều này giáo viên phải khéo léo phối hợp nhiều biện pháp, chẳng hạn như: - Giáo viên dạy phải kết hợp chặt chẽ với GVCN và phụ huynh học sinh để hướng dẫn, uốn nắn các em kịp thời (thông tin với phụ huynh qua điện thoại, gặp phụ huynh). Động viên, khích lệ với những tiến bộ dù nhỏ của các em. - Tổ chức cho học sinh giúp đỡ lẫn nhau trong học tập: học nhóm, phân công bạn khá giỏi giúp đỡ bạn yếu kém. Không lấy điểm số làm áp lực với các em, tạo điều kiện để các em mạnh dạn thể hiện bản thân, luôn tạo không khí học tập vui vẻ, thân thiện. - GV khi lên lớp cần chú trọng nhiều đến việc chuẩn bị nội dung. Đối với các tiết bài tập giải kỹ từng bài tập ở nhà, xem kỹ các trường hợp có thể xảy ra. Để từ đó tìm ra thuật Toán đơn giản, giúp HS từng bước nắm được kiến thức và có hứng thú học tập. - Trong cách dạy, chúng ta dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức không cần phải bổ sung, nâng cao đối với HS yếu kém; cần giúp HS nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài. - Nắm thật sát năng lực học tập của từng học sinh, của từng lớp để từ đó phân loại và đổi mới phương pháp dạy học thích hợp. - Khai thác triệt để các sai lầm, thiết sót của HS trong quá trình giải toán, nhất là các tiết luyện tập, tiết trả bài kiểm tra; hướng dẫn, phân tích giúp HS phát hiện sai lầm và hướng giải quyết để khắc phục dù những sai lầm nhỏ nhất. - Thường xuyên liên hệ toán học với thực tế, ứng dụng CNTT vào các giờ dạy, kết hợp các trò chơi toán học vào bài dạy để tăng tính hứng thú của học sinh, tạo sự phấn khởi và niềm tin trong học Toán. - Cuối năm học các giáo viên trong nhóm toán thống nhất nội dung ôn tập trong hè cho học sinh, đầu năm học có kiểm tra đánh giá nhằm khắc phục tình trạng học sinh lãng quên kiến thức trong thời gian nghỉ hè. Nhà trường tìm biện pháp để tổ chức tốt hơn hoạt động ôn tập trong hè cho học sinh, để đây là một hoạt động thường xuyên và là sự mong đợi của học sinh và phụ huynh trong hè. Tôi xin cảm ơn! Nhân Sơn, ngày 20 tháng 9 năm 2022 HÀ VĂN VƯƠNG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Quảng Phương
  • Một Số Biện Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Môn Toán Ở Trường Thcs
  • Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Thể Dục
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Vẽ Cho Trẻ Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Trong Trường Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Phân Môn Vẽ Trang Trí
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Phân Môn Vẽ Trang Trí Ở Trường Thcs
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Cho Trẻ Khuyết Tật Trí Tuệ Đạt Hiệu Quả
  • Biện Pháp Giúp Trẻ Khó Khăn Về Ngôn Ngữ Qua Các Hoạt Động Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Giúp Trẻ Khuyết Tật “chậm Phát Triển Trí Tuệ, Ngôn Ngữ Kém” Hoà Nhập Với Trường Mầm Non
  • Thứ ba – 27/05/2014 14:39

    PHÒNG GD&ĐT TP LÀO CAI

    TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BÁ NGỌC

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO

    CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN LỚP 1

    Người thực hiện: Phạm Thị Hằng

    Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn khối 1

    Đơn vị: Trường TH Nguyễn Bá Ngọc

    Duyên Hải, ngày 02 tháng 12 năm 2013

    1

    1

    4

    2.2 Thực trạng chất lượng đầu vào lớp 1 trường TH Nguyễn Bá Ngọc- thành phố Lào Cai.

    5

    2.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán lớp 1

    2.3.1 Phối kết hợp với gia đình học sinh

    2.3.2 Tích cực, kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

    2.3.3 Sử dụng đồ dùng hiệu quả, đặc biệt là đồ dùng trực quan

    2.3.4 Tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập thân thiện, hiệu quả.

    6

    2.4 Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm.

    – Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì, không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

    – Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

    – Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học, tuần học…

    – Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như tuyên dương …

    – Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo thói quen cho học sinh.

    Ví dụ : Soạn một tiết toán cụ thể theo phương pháp mới

    Phép cộng trong phạm vi 7

    – Lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

    – Vận dụng các phép tính cộng trong phạm vi 7 làm các bài tập.

    – HS khuyết tật nắm đựơc các phép cộng trong phạm vi 7

    * Giáo dục học sinh say mê, yêu thích học toán.

    II : Đồ dùng dạy học

    – Bộ đồ dùng dạy toán.

    III: Các hoạt động dạy học chủ yếu

    Hoạt động 1: Thành lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

    a: Hướng dẫn học sinh phép cộng 6+1=7, 1+6=7

    HD h/s q/s hình vẽ và nêu thành bài toán

    : Gv hướng dẫn HS làm việc cá nhân, dùng que tính lập các phép tính cộng

    HS ghi bảng con các phép tính đã lập

    6+1=7 4+3=7

    1+6=7 3+4=7

    5+2=7 2+5=7

    HS làm việc theo nhóm đôi.

    – HS đọc và đối chiếu kết quả

    : HS trao đổi và ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7 theo nhóm 4.

    : HS báo cáo kết quả trước lớp dưới sự điều hành của ban học tập.

    – Trưởng ban tổ chức cho các bạn ghi nhớ các phép cộng.

    Hoạt động 2: Thực hành

    Bài 1: Tính

    – HS đọc yêu cầu, làm bài vào SGK

    – Trưởng ban học tập nhận xét – chốt lại kiến thức: Bài toán ôn lại phép cộng trong phạm vi 7

    Bài 2: Tính

    – GV gọi h/s nêu yêu cầu bài tập

    – Gv nhận xét chốt lại nội dung bài

    – Khi thay đổi vị trí các số trong phép tính nhưng kết quả không thay đổi

    Bài 3: Tính

    – GV hướng dẫn h/s cách làm bài tập

    – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp nêu cách làm.

    – Gv nhận xét

    Bài 4: Viết phép tính thích hợp

    – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành các bạn tìm hiểu đề bài bài toán.

    B1: Quan sát tranh

    B2: Đặt đề toán.

    a/ Có 6 con bướm. Thêm 1 con bướm. Hỏi tất cả có bao nhiêu con bướm?

    b/ Có 4 con chim, 3 con chim bay tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim?

    B3: Viết phép tính

    * Củng cố dặn dò

    – CTHĐTQ điều hành lớp ôn lại các phép tính cộng trong phạm vi 7

    – GV nhận xét xếp giờ

    – H/s quan sát hình và nêu thành bài toán

    – HS 6 cộng 1 bằng 7

    – HS đọc phép tính 6+1=7

    ( CN-N-L)

    – HS làm việc cá nhân theo lệnh của GV.

    – HS lập các phép cộng ra bảng con, dựa trên trực quan (que tính)

    – HS trao đổi nhóm đôi.

    – Nhóm trưởng điều hành các cá nhân đọc phép cộng trong phạm vi 7.

    – Đại diện các nhóm báo cáo kết quả

    – HS thi đua nhau ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7.

    – HS khắc sâu: 6+1=7; 1+6=7…

    – HS nêu y/c bài tập – làm bài tập vào SGK

    – HS đổi vở, kiểm tra chéo.

    6 2 3 4 1 5

    + + + + + +

    1 5 4 3 6 2

    7 7 7 7 7 7

    – HS nêu yêu cầu bài tập – 3 h/s lên bảng làm bài tập – cả lớp làm bảng con.

    7+0=7 6+1=7 3+4=7 2+5=7 0+7=7 1+6=7 4+3=7 5+2=7

    – HS mời các bạn nhận xét và chữa bài.

    – HS nêu yêu cầu bài tập – cách thực hiện phép tính

    5+1+1=7 4+2+1=7 2+3+2=7 3+2+2=7 3+3+1=7 4+0+2=6

    – HS làm bài tập và chữa bài

    – HS q/s tranh vẽ, đặt thành bài toán

    – HS làm vở ô ly – 2 bạn làm bảng phụ.

    – Viết phép tính thích hợp vào ô trống

    a/ 6+1=7

    b/ 4+3=7

    Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

    Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp báo cáo kết quả

    Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

    Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10 que tính. 9 + 1 = 10.

    Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

    Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

    Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

    Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

    Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

    Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì học sinh mới hiểu được

    Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong phạm vi 9.

    Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

    Sau khi xây dựng xong công thức

    8+1=9 3+6=9

    1+8=9 6+3=9

    Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ, hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

    : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

    + Phương pháp trực quan

    + Phương pháp hỏi đáp

    + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

    + Phương pháp luyện tập thực hành

    + Phương pháp kỉ luật tích cực.

    + Phương pháp trò chơi

    Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100.

    Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

    1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn ngọn

    2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

    3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh

    4. Nói ít

    5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc

    Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

    Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát hiện, trình bầy chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực quan.

    Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

    – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

    Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

    Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

    3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

    – Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò chơi Bin-gô… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt động nhóm …

    3.5

    Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững, tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

    Phạm Thị Hằng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 12 Nắm Vững Trọng Âm Từ Trong Tiếng Anh
  • Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm ?
  • Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì? Các Biện Pháp Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì?
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Tổ Chuyên Môn Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật Quân Khí Phục Vụ Huấn Luyện, Diễn Tập Có Bắn Đạn Thật Ở Học Viện Lục Quân
  • Quân Khu 2 – Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật, Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật Cho Thực Hiện Nhiệm Vụ
  • Tập Trung Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ
  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chi Đoàn Thuộc Đoàn Cơ Sở
  • Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN THCS.

    ĐẶT VẤN ĐỀ:

    Do vậy việc sinh hoạt tổ chuyên môn phải được thường xuyên, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng và hiệu quả.

      Điều 16 trong Điều lệ trường trung học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 02 tháng 04 năm 2007, ghi rõ: “Tổ chuyên môn có những nhiệm vụ sau:

    – Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ; hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình, môn học của Bộ Giáo dục – đào tạo và kế hoạch năm học của nhà trường.

    – Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ, tham gia, đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo các qui định của Bộ GD – ĐT.

    – Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên”.

    Như vậy tổ chuyên môn có chức năng, nhiệm vụ, vai trò rất quan trọng trong việc triển khai, thực hiện các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Có thể khẳng định hoạt động của tổ chuyên môn tốt, thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ như Điều lệ trường trung học đã qui định sẽ góp phần tích cực, khá quyết định đến việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng được những yêu cầu mới trong quá trình đổi mới giáo dục.

    Tuy nhiên tổ chuyên môn không phải là cấp cơ sở có đầy đủ thẩm quyền để thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, mà trường trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học, nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Do vậy chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn phụ thuộc nhiều vào kế hoạch, hoạt động của nhà trường, vào sự lãnh đạo của Ban giám hiệu. Trong các văn bản hướng dẫn nhiệm vụ năm học của Sở Giáo dục và Đào tạo, của Phòng GD & ĐT năm nào cũng chỉ đạo cho các đơn vị, trường học làm tốt công việc cải tiến nội dung, nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, coi đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản, thiết thực để nâng cao chất lượng dạy – học, thực hiện đổi mới giáo dục.

    Bản thân đã 22 năm công tác tại Phòng GD&ĐT, phụ trách chuyên môn THCS, trong quá trình thanh kiểm tra, tôi nhận thấy: hoạt động của một số tổ chuyên môn chưa đi vào thực chất để nâng cao chất lượng dạy học, sinh hoạt tổ chuyên môn còn nặng về giải quyết sự vụ, thi đua ..còn nặng về hình thức ….

    Trước tình hình thực tế công tác chuyên môn của bậc học, trước các đòi hỏi bức bách phải nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục nhằm đáp ứng được những yêu cầu trong quá trình đổi mới và thực hiện tốt cuộc vận động hai không của Bộ GD – ĐT: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, tôi đã thực hiện một số biện phápđể nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chuyên môn góp phần trong việc nâng cao chất lượng dạy – học.

    Trong bài viết, chúng tôi xin trình bày: Kinh nghiệm chỉ đạo hoạt động các tổ chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy – học ở trường trung học cơ sở.

     B. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    – Phương pháp quan sát

    – Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm.

    – Phương pháp thống kê.

    C. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

      Để chỉ đạo tốt hoạt động dạy – học phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của tổ chuyên môn trong trường THCS, chúng ta cần thực hiện các biện pháp sau:

    1/ Biện pháp thứ nhất: Xây dựng ké hoạch của chuyên môn.

    a) Nhà trường phải lưu trữ đầy đủ các văn bản chỉ đạo về hoạt động dạy học và các qui chế chuyên môn. Phân công rõ trách nhiệm trong việc triển khai các văn bản này đến cán bộ, giáo viên một cách đầy đủ, kịp thời

    – Đối với các văn bản về qui chế chuyên môn do hiệu phó chuyên môn triển khai cho tất cả giáo viên trong phiên họp chuyên môn chung toàn trường.

    – Đối với các loại văn bản chỉ đạo về giảng dạy từng bộ môn cụ thể, do tổ trưởng chuyên môn triển khai thực hiện.

    – Ngoài ra trong phòng họp của giáo viên, có một số chỗ khá thuận lợi để niêm yết các văn bản chuyên môn quan trọng hay sử dụng; các văn bản chuyên môn mới để cán bộ, giáo viên tiện theo dõi học tập và thực hiện.

    b) Hiệu phó chuyên môn lập kế hoạch kịp thời cho các hoạt động chuyên môn chung toàn trường trong từng tháng, học kỳ và cả năm học, dành thời gian hợp lý cho các tổ chuyên môn sinh hoạt:

    Đây là công việc rất quan trọng nhằm thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn mà Sở Giáo dục và đào tạo, Phòng GD & ĐT và Hội nghị cán bộ, công chức đầu năm học của trường đề ra. Ngoài công việc thông thường mà người cán bộ quản lý phải làm là: lập kế hoạch cho phần việc được phụ trách trong cả năm học, từng học kỳ, từng tháng, thì một phần việc rất quan trọng là lập được kế hoạch cụ thể trong việc xử dụng thời gian của mỗi ngày thứ 5 trong tuần. Thường nên bố trí thời gian trong ngày thứ 5 hàng tuần như sau:

    + Sáng thứ 5 dành cho các hoạt động: kiểm tra 1 tiết tập trung, họp chung toàn trường, thao giảng và họp tổ chuyên môn.

    + Chiều thứ 5 dành cho việc dạy bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, dạy tự chọn.

    Do vậy các tổ, chuyên môn luôn có quỹ thời gian cố định, chủ động trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu.

    Đối với nội dung công việc trong sáng thứ 5, hiệu phó chuyên môn có trách nhiệm lên kế hoạch cụ thể từng buổi ngay từ đầu mỗi học kỳ; có thể tạm gọi đây là: “Kế hoạch họp và kiểm tra chung toàn khối” trong từng học kỳ của năm học. Trong kế hoạch này ghi rõ từng buổi sáng thứ 5 làm những việc gì: Tiết 1, 2 đa phần dành cho kiểm tra 1 tiết tập trung theo khối. Từ tiết 3 đến tiết 5 dành cho việc thao giảng, họp toàn trường, họp tổ chuyên môn.

    Kế hoạch tổ chuyên môn được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa kế hoạch năm học, kế hoạch chuyên môn, kế hoạch bồi dưỡng của nhà trường. Khi xây dựng cần căn cứ vào điều kiện thực tiễn, tình hình đội ngũ giáo viên, điều kiện về cơ sở vật chất và đối tượng học sinh trong trường.

    Trong kế hoạch tổ chuyên môn thì nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn là một phần quan trọng. Nội dung này phải thể hiện được những công việc cần làm cho cả năm học và bổ sung những vấn đề mà nhà trường chỉ đạo, như tăng cường biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu sau mỗi lần kiểm tra định kì, dạy học theo nhóm đối tượng học sinh, những vấn đề giáo viên chưa nắm vững hoặc gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy. Đặc biệt quan tâm đến những giáo viên mới ra trường hoặc năng lực chuyên môn còn hạn chế.

    Dựa trên cơ sở nhiệm vụ năm học, kế hoạch của nhà trường để phân công nhiệm vụ theo năng lực và chuyên môn đào tạo của giáo viên.

    Trong sinh hoạt nhóm chuyên môn, các nhóm trưởng chuyên môn phải vạch ra kế hoạch sinh hoạt của nhóm mình dựa trên kế hoạch chung của tổ nhưng đi sâu hơn vào từng bộ môn, từng khối lớp.

    2/ Biện pháp thứ hai: Chỉ đạo nội dung sinh hoạt Tổ chuyên môn.

    Nội dung sinh hoạt chuyên môn cần đi sâu tập trung vào các vấn đề sau:

    – Thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục, dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học.

    – Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức lớp học phù hợp với từng đối tượng học sinh, phát huy tính tích cực trong lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng của học sinh, chú trọng đến kĩ năng tổ chức giờ dạy, phối hợp các phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh học tập tích cực, tự giác, chủ động và phát huy được khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân.

    – Bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, thực hiện hướng dẫn nhiệm vụ năm học về phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

    – Đánh giá xếp loại học sinh, dự giờ rút kinh nghiệm, tổ chức chuyên đề, sử dụng và tự làm đồ dùng dạy học, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường …

    – Học tập, bồi dưỡng chuyên môn bằng các hình thức khác như xem băng hình, đọc sách trong thư viện nhằm tăng vốn hiểu biết của giáo viên, nghiên cứu các bài viết, các chuyên đề trên các tạp chí chuyên ngành như tạp chí Giáo dục, thế giới trong ta, báo giáo dục – đào tạo, văn học tuổi trẻ, thông tin khoa học giáo dục đào tạo Hà Tĩnh, các sáng kiến kinh nghiệm do Sở phát hành, khai thác thông tin trên mạng và học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong và ngoài trường.

    – Nghiên cứu, học tập các văn bản chỉ đạo, tìm hiểu tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của địa phương Ưu tiên cho những vấn đề còn vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của giáo viên.

    * Các hình thức sinh hoạt chuyên môn

    Sinh hoạt qua dự giờ thăm lớp:

    – Cả tổ, nhóm chuyên môn dự giờ 1 tiết (thường vào buổi chiều)

    + Thực hiện các bước lên lớp.

    + Nội dung kiến thức

    + Phương pháp dạy học.

    + Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học.

    + Phân phối thời gian hợp lý

    + Liên hệ thực tế

    + Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục giới tính, giáo dục đạo đức cho học sinh

    + Phát huy năng lực, trí tuệ cho học sinh.

    + Học sinh hiểu nội dung kiến thức và kỹ năng.

    – Trao đổi các phương pháp soạn giáo án, dạy một bài trình chiếu điện tử đảm bảo chất lượng, có hiệu quả trong giảng dạy.

    – Trao đổi các văn bản chỉ đạo củ … i giáo viên bộ môn nhập ngay điểm vào sổ điểm chính và vào máy tính.

    h/ Bước 5: Giai đoạn rút kinh nghiệm

    – Để phục vụ cho việc theo dõi, lưu trữ, rút kinh nghiệm về chất lượng dạy – học sau mỗi lần kiểm tra cần in bảng thống kê kết quả từng bài kiểm tra 15 phút, 45 phút và kiểm tra học kỳ theo từng khối lớp. Sau đó giao các bảng thống kê này cho tổ và nhóm chuyên môn lưu trữ, phục vụ cho việc sinh hoạt tổ nhóm.

    – Trong họp tổ, nhóm chuyên môn phải rút kinh nghiệm qua từng bài kiểm tra: từ khâu ra đề kiểm tra, coi và chấm bài, kết quả bài làm của học sinh. Từ đó các giáo viên trong tổ, nhóm cùng nhau trao đổi thống nhất: nội dung, phương pháp, yêu cầu trong việc dạy các bài tiếp theo nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy – học.

      3.2/ Đối với các bài không kiểm tra 1 tiết tập trung:

    Tất cả các bài kiểm tra từ 15 phút trở lên mà không có trong kế hoạch kiểm tra chung thì giáo viên bộ môn chủ động tổ chức kiểm tra theo đúng kế hoạch kiểm tra của tổ chuyên môn; đề kiểm tra do giáo viên bộ môn ra, sau khi kiểm tra xong thì lưu đề và đáp án tại hồ sơ của tổ, nhóm chuyên môn.

    Với cách làm như thế này, dù không được kiểm tra chung, nhưng việc tổ chức kiểm tra viết từ 15 phút trở lên của tất cả các bộ môn đều được chỉ đạo thống nhất về thời gian, nội dung và yêu cầu kiểm tra. Các đề và biểu điểm đáp án của các bài kiểm tra được lưu tại hồ sơ tổ, nhóm, chính là các tư liệu chuyên môn khá quan trọng để giáo viên trong nhóm trao đổi học tập.

    Với các biện pháp trong chuỗi biện pháp thứ hai như tôi vừa trình bày đã đạt được những kết quả rất tích cực:

    + Thực hiện được mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, đánh giá học sinh. Kết quả đánh giá thể hiện chính xác trình độ và năng lực học tập của từng học sinh. Các tồn tại, hạn chế khi còn kiểm tra riêng hầu như được chấm dứt hẳn.

    + Điểm số và sổ và máy tính kịp thời, đúng tiến độ.

    + Đã thúc đẩy được các tổ, nhóm chuyên môn sinh hoạt với nhiều nội dung thiết thực, phục vụ cho nâng cao chất lượng dạy – học.

      4/ Biện pháp thứ tư: Tổ chức học tập chuyên đề dạy – học, thao giảng:

    Đây là một hoạt động rất quan trọng của tổ, nhóm chuyên môn, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay: thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, và phương pháp dạy – học; theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.

    – Về phía nhà trường: phân công, theo dõi, động viên giáo viên thực hiện tốt công tác học tập bồi dưỡng thường xuyên trong hè và trong cả năm học.

    – Nhà trường lập kế hoạch và dành thời gian họp để tổ, nhóm chuyên môn triển khai học tập chuyên đề. Sau đó có thao giảng minh họa. Kế hoạch học tập chuyên đề, thao giảng được hiệu phó chuyên môn thể hiện rõ ngay từ đầu học kỳ trong : “Kế hoạch họp và kiểm tra chung toàn khối sáng thứ 5 hàng tuần”. Song song với việc tổ chức thao giảng tập trung, nhà trường luôn yêu cầu các tổ chuyên môn thực hiện tốt kế hoạch “Dự giờ theo chỉ đạo của tổ chuyên môn”. Hàng tuần tổ trưởng chuyên môn lên kế hoạch và phân công nhóm giáo viên dự giờ đồng nghiệp theo thời khoá biểu chính khoá, nhằm tăng cường trao đổi, rút kinh nghiệm trong giảng dạy, đặc biệt là các bài khó dạy, các dạng bài quan trọng. Chỉ đạo mỗi môn/ khối lớp ít nhất 1 tuần phải thực hiện 1 tiết dự giờ theo chỉ đạo của tổ chuyên môn.

    Để tiện việc chỉ đạo theo dõi hoạt động này nhà trường cần in sẵn, phát cho mỗi tổ chuyên môn 1 tập: “Sổ phân công Thao giảng – Dự giờ”

     5/ Biện pháp thứ năm: Chỉ đạo việc nâng cao chất lượng họp tổ chuyên môn.

    – Nhà trường lên lịch họp tổ chuyên môn ngay từ đầu học kỳ (Kế hoạch này nằm trong kế hoạch họp và kiểm tra chung mà tôi đã trình bày) đảm bảo đúng yêu cầu: bình quân 1 tháng tổ chuyên môn họp 2 lần trong buổi sáng thứ 5.

    – Về nhóm chuyên môn ( dành cho tổ có nhiều bộ môn) trong một vài năm gần đây và hiện nay, ngành giáo dục đang thực hiện việc đổi mới sách giáo khoa và chương trình nhằm nâng cao chất lượng dạy – học. Do đó cần phải tăng cường hơn nữa việc họp nhóm chuyên môn.: mỗi nhóm chuyên môn mỗi tuần họp 1 lần với thời gian 1 giờ 30 phút. Lich họp của từng nhóm chuyên môn trong tuần do nhóm chuyên môn thống nhất và báo cáo với tổ chuyên môn và nhà trường.

    + Nội dung: xem xét việc thực hiện chương trình, thống nhất từng tiết dạy của tuần tiếp theo về nội dung, phương pháp, đồ dùng dạy học… yêu cầu tất cả các bài dạy đều được thống nhất trao đổi trong sinh hoạt nhóm. Rút kinh nghiệm qua bài kiểm tra 15 phút, 45 phút, kiểm tra học kỳ. Từ đó có phương pháp dạy – học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy – học. Thống nhất kiến thức trọng tâm của từng chương, phần, chuẩn bị cho kiểm tra sắp tới (nếu có). Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu

    Hiện nay mỗi tổ, nhóm chuyên môn có 1 quyển: “Sổ sinh hoạt chuyên môn”, trong đó phần quan trọng là ghi nội dung sinh hoạt chuyên môn của nhóm cho từ 33 đến 35 lần họp trong 1 năm.

    – Về phía nhà trường luôn tạo điều kiện để mỗi tổ chuyên môn đều có chỗ riêng lưu giữ các loại hồ sơ tổ, nhóm hay sử dụng: Sổ kế hoạch hoạt động của tổ, sổ phân công thao giảng – dự giờ, sổ sinh hoạt nhóm chuyên môn

     6/ Biện pháp thứ sáu: Tin học hóa việc cộng điểm, xếp loại, thống kê kết quả học tập của học sinh. Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các kết quả đó cho tổ và nhóm chuyên môn.

    Việc sử dụng phần mềm quản lý chất lượng học tập của học sinh. Cho đến nay sau gần 3 năm sử dụng, phần mềm quản lý này đã ngày càng được hoàn thiện và phục vụ rất hữu ích cho công tác quản lý, chỉ đạo chuyên môn của nhà trường. Nội dung của phần mềm này rất phong phú, trong bài viết này tôi chỉ nêu một số nội dung cơ bản phục vụ cho hoạt động của tổ, nhóm chuyên môn, cụ thể là:

    – Nhập điểm, cộng điểm trung bình môn của học kỳ, cả năm. Xếp loại học lực của học sinh; kết quả lên lớp, thi lại, ở lại; chương trình in giấy khen.

    – Thống kê kết quả kịp thời ngay khi giáo viên nhập điểm các bài kiểm tra từ 15 phút trở lên. Nội dung thống kê theo từng giáo viên, từng khối lớp và toàn trường. Giáo viên kịp thời cung cấp các bản thống kê này cho tổ và nhóm chuyên môn để phục vụ cho việc sinh họạt tổ.

    7/ Biện pháp thứ bảy Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức sơ kết học kỳ, tổng kết năm một cách khoa học kịp thời.

    Trong quá trình chỉ đạo hoạt động dạy và học, người cán bộ quản lý phải luôn chú ý đến việc phát huy dân chủ, phát huy trí tuệ của tập thể. Vì có thể nói: người dạy học là giáo viên – người đánh giá học sinh cũng là giáo viên. Do đó trong quá trình chỉ đạo hoạt động dạy và học, cán bộ quản lý giáo dục phải luôn chú ý lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng của cán bộ, giáo viên. Đồng thời xếp thời gian một cách khoa học hợp lý để mỗi thầy cô giáo tự đánh giá công tác đã làm được trong từng học kỳ, từ đó đề ra các biện pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong học kỳ tiếp theo. Sau đó mỗi tổ chuyên môn họp sơ kết học kỳ và đề ra kế hoạch nâng cao chất lượng dạy học. Trên cơ sở kế hoạch của giáo viên, của tổ chuyên môn, ban giám hiệu xây dựng kế hoạch và các biện pháp chính nhằm nâng cao chất lượng dạy học cho học kỳ tiếp theo. Đối với học kỳ I công việc này thường hoàn thành trong tuần 18 và nửa đầu của tuần 19. Với cách làm này chúng tôi không áp đặt chỉ tiêu cho từng giáo viên nhưng vẫn phát huy tốt phong trào thi đua dạy và học đi vào thực chất, không chạy theo hình thức.

    C. HIỆU QUẢ:

      Từ khi thực hiện các biện pháp như vừa trình bày ở trên, hoạt động của tổ, nhóm chuyên môn và kết quả dạy học ở các trường THCS toàn huyện có nhiều sự chuyển biến tích cực, cụ thể như sau:

    – Hoạt động của tổ nhóm chuyên môn ngày càng có chất lượng, không còn mang tính chất giải quyết sự vụ, công việc hành chính đơn thuần, mà tập trung chủ yếu vào đặc trưng của từng môn học để nâng cao chất lượng dạy – học.

    – Xây dựng được nề nếp hoạt động chuyên môn chung toàn trường song vẫn tạo được tính chủ động phát huy sáng tạo trong hoạt động của từng tổ, nhóm chuyên môn phù hợp với đặc trưng của bộ môn.

    D. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

      Qua thực tiễn công tác, tôi rút ra các bài học kinh nghiệm sau trong công tác chỉ đạo chuyên môn trong trường trung học cơ sở:

    – Hiệu phó chuyên môn làm việc phải có kế hoạch, khoa học, kịp thời, sát với thực tế, từ đó mới tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch hoạt động một cách khả thi.

    – Nhà trường cần bố trí thời gian một cách hợp lý, tương đối cố định để các tổ chuyên môn hoạt động. Cần có chỉ đạo, định hướng để họp tổ, nhóm chuyên môn, tránh sa đà vào giải quyết công việc mang tính chất hành chính, sự vụ mà chủ yếu là các nội dung nhằm nâng cao chất lượng dạy – học.

    – Kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy- học là một trong công tác quan trọng nhất của người làm công tác quản lý; do vậy cần tập trung xây dựng và có nhiều biện pháp phù hợp để kết quả kiểm tra phản ánh đúng thực chất. Từ đó mới có các giải pháp đúng, khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

    – Qua mỗi hoạt động, trong từng giai đoạn cần tổ chức rút kinh nghiệm kịp thời, từ đó điều chỉnh phương pháp, biện pháp cho phù hợp.

    – Chỉ đạo và nâng cao chất lượng họp tổ, nhóm chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy học là công tác quan trọng thường xuyên của người làm công tác quản lý trường học.

    – Nhà trường cần soạn thảo sẵn các loại hồ sơ, biểu mẫu một cách khoa học để thuận lợi cho giáo viên và tổ nhóm chuyên môn sử dụng cũng như thuận lợi cho việc kiểm tra đánh giá của lãnh đạo.

    Xin chân thành cám ơn !

    Krông Búk, ngày 30 tháng 4 năm 2010

    PHẠM THÀNH NGỌC

    ( Phó Trưởng phòng )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Lực, Hiệu Quả Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát, Thi Hành Kỷ Luật Của Đảng
  • Mô Hình Câu Lạc Bộ Bí Thư Chi Đoàn Trên Địa Bàn Dân Cư
  • Hưng Yên Đưa Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chi Đoàn Trên Địa Bàn Dân Cư Vào Thực Tiễn Công Tác Đoàn
  • Nhiều Chuyển Biến Tích Cực Qua Thực Hiện Đề Án Công An Xã Chính Quy
  • Nâng Cao Vai Trò Của Công An Xã Ở Địa Bàn Nông Thôn .công An Tra Vinh
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Qua Kỹ Năng Dạy Nghe Đối Với Học Sinh Trung Học Cơ Sở
  • Chuyên Gia “bật Mí” Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Âm Nhạc Ở Trường Thcs Hòa Hiệp
  • Skkn Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Phân Môn Học Hát Tại Trường Thcs
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm Nhạc Thcs
  • – Câu (sentence) là sự kết hợp của một nhóm từ (a group of words). Nó được chia làm 2 phần: chủ ngữ (subject) và vị ngữ (pdicate).

    – Động từ trong câu (verb) luôn phải hoà hợp với chủ ngữ về giống (gender), số (number), thời/thì (tense), cách (case)…

    – Nó phải là một sự thông báo hoàn chỉnh (cả về mặt ý nghĩa và ngôn từ).

    – Nó thường được bắt đầu bằng chữ cái in hoa (capital letter) và kết thúc bằng một dấu chấm câu (a full stop).

    Về mặt định nghĩa, giúp học sinh nhận biết đó chính là một câu đơn hay câu cơ bản (a basic sentence).

    Tập trung vào cá nhân / chủ thể cụ thể. Nó phải là câu trả lời cho các dạng câu hỏi:

    Who does what? / What does what?

    What does what →When/Where/How/Why ?

    Who does what → When/Where/How/Why ?

    Dựa trên sự có mặt của 5 yếu tố cơ bản trong câu có thể giúp học sinh nắm được 7 loại câu đơn, bao gồm:

    (4) S + V + O I + Od → My mother buys me a new bike (O I = indirect object: tân ngữ gián tiếp) S V O I O d

    (5) S + V + C SThey are beautiful (C S = subject complement: bổ ngữ cho chủ từ) S V C S

    S V O A

    Giáo viên cần phân tích rõ vị trí, chức năng của từng thành phần trong mỗi loại câu, đặc biệt lưu ý học sinh về vị trí của các trạng từ tần suất trong câu bởi lẽ phần lớn các trạng từ nằm ở cuối hoặc đầu câu, riêng trạng từ tần suất thường được đặt sau động từ “tobe” và trước động từ thường.

    Qua phân tích, nhận định các loại câu cơ bản, chúng ta có thể nhận thấy rằng hai yếu tố chủ ngữ và động từ là thành phần không thể thiếu trong một câu. (Ngoại trừ câu mệnh lệnh, hoặc dạng câu tỉnh lược)

    Vậy giữa chủ ngữ, động từ và các yếu tố khác trong câu sự hòa hợp như thế nào ? Có phải cứ có đủ 5 yếu tố cơ bản đã nêu trên là cấu tạo thành 1 câu hoàn chỉnh không ? Có thể xét ví dụ sau:

    → Đây không phải là 1 câu hoàn chỉnh vì động từ “be” chưa phù hợp với chủ ngữ ” He”.

    → Câu hoàn chỉnh phải là: He is a doctor.

    Như vậy , từ định nghĩa về câu và sự phân tích cấu tạo của câu thì giữa động từ và chủ ngữ nhất thiết phải có sự hoà hợp về giống, số, thời, thể, cách. Ngoài ra, động từ còn phải phù hợp với các yếu tố khác, đặc biệt là các trạng từ trong câu. Dựa vào sự dung hoà này giáo viên có thể thiết kế một số dang bài tập luyện tập cho học sinh như:

    Exercise 1: Correct mistake for there sentences(Sửa lỗi câu cho các câu sau)

    a/ Ba have two sisters. → has (động từ không phù hợp )

    b/ This is my father. Her name’s Ba. → His (giống không phù hợp)

    c/ They are student. → students (Số không phù hợp)

    d/ I am going to visit my grand parents now → tomorrow…. (Trạng từ không phù hợp)

    e/ She is a teacher good. → Đảo good trước teacher (vị trí từ loại không phù hợp)

    Reoder the following words to make full sentences. ( Sắp xếp các từ cho sẵn thành câu hoàn chỉnh).

      Phong / plays / in / soccer / the / usually / afternoon

    → Phong usually plays soccer in the afternoon.

    → Thu lives in the countryside.

    Exercise 3: Complete these sentences with the correct form of word in the parentheses (Hoàn thành các câu sau dùng dạng đúng của từ trong ngoặc)

    a/They are…………….(farm) .They work very hard everyday

    b/ The city is very………………(beauty)

    → The city is very beautiful.

    c/ Mr Lam chúng tôi car to work now. (drive).

    → Mr Lam is driving his car to work now.

    Với các dạng bài tập này có thể giúp học sinh nắm vững cấu trúc cơ bản của một câu đơn cũng như vị trí, chức năng và sự hoà hợp của các yếu tố cấu thành câu.Và khi được luyện tập nhiều, học sinh sẽ dần dần cải thiện và nâng cao kỹ năng viết của mình, các em sẽ viết được một câu văn hay, chính xác cả về văn phong lẫn ý nghĩa.

    Đối với học sinh khối lớp đầu cấp, việc ghi chép lại những gì đã học có thể giúp học sinh củng cố và ghi nhớ được bài học đôi khi nhiều hơn ta tưởng. Đồng thời qua việc ghi chép lại, học sinh có thể hạn chế việc mắc lỗi trong quá trình viết, từng bước cải thiện, nâng cao kỹ năng viết của mình.

    * Complete the dialogue: Một một học sinh sẽ chép lại một lời thoại từ đoạn hội thoại đã cho ( có chứa vốn ngữ liệu đã học ), sau đó chuyền cho bạn kế bên chép lại một câu đáp phù hợp với lời thoại trước. Quá trình luyện tập có thể cho học sinh đổi vai để nắm bắt hết toàn bộ nội dung của đoạn hội thoại. Hình thức này tương tự như cách thực hiện một bài hội thoại dây chuyền (chain dialogue).

    Lan: Good afternoon, Nga. Nga: … …, … .

    Lan: How are you? Nga: … … …, … .

    Lan: Fine, thanks. Nga: Goodbye.

    * Complete the sentences: Một học sinh chỉ chép lại phần đầu của một câu, sau đó chuyền cho bạn bên cạnh chép tiếp phần cuối để hoàn thành câu (hoặc ngược lại). Câu được hoàn thành phải đảm bảo cả về cấu trúc và ý nghĩa (dựa trên ngữ liệu đã được cung cấp).

    – When it’s hot, I ……………………………..

    – When it’s cold, I …………………………….

    – When it’s cool, I ……………………………

    – When it’s warm, I …………………………….

    * Reoder sentences to make a complete dialogue: Giáo viên đưa ra một số câu để cấu thành đoạn hội thoại nhưng được sắp xếp một cách lộn xộn và yêu cầu học sinh tái tạo lại đoạn hội thoại bằng cách sắp xếp và chép lại những mẫu câu đó thành đoạn hội thoại hoàn chỉnh.

    Chép chính tả cũng là một hình thức chép lại có hiệu quả. Ở dạng bài tập này học sinh vừa được luyện tập khả năng nghe hiểu, vừa được củng cố cấu trúc ngữ pháp và từ vựng đã học bằng việc ghi lại đúng chính tả các từ, câu, đoạn văn vừa được nghe. Có nhiều cách chép chính tả khác nhau với mức độ từ dễ đến khó:

    * Nghe, chép lại các từ hoặc các câu đơn giản: cách chép này thường chú trọng vào các từ có âm hoặc chính tả khó, dễ gây nhầm lẫn đối với học sinh.

    * Nghe, chép lại các từ hoặc cụm từ quan trọng trong văn cảnh (spot dictation): Học sinh được đưa cho một đoạn văn chưa hoàn chỉnh, sau đó được yêu cầu vừa theo dõi bài đọc vừa nghe và ghi lại các từ còn thiếu ở chỗ trống.

    Ở phần này, giáo viên thiết kế lại một đoạn văn đã hoàn chỉnh trong sách giáo khoa bằng cách bỏ bớt một số từ quan trọng để giới thiệu cho học sinh (viết lên bảng hoặc dùng bảng phụ), sau đó yêu cầu học sinh gấp sách, theo dõi lên bảng kết hợp nghe và viết lại các từ còn thiếu).

    * Nghe, chép lại toàn bài: Đối với học sinh lớp 6 thì giáo viên nên thiết kế những đoạn văn ngắn có câu, từ đơn giản, nội dung phù hợp với vốn ngữ liệu mới vừa được cung cấp để tránh gây áp lực cho học sinh, đặc biệt là những học sinh yếu.

    Giáo viên đưa ra một bài hội thoại mẫu đồng thời cung cấp một số từ, cụm từ chủ chốt. Học sinh dựa vào bài mẫu và dùng những từ đã cho để viết thành một bài hội thoại mới tương tự như bài mẫu. Với dạng bài tập này nên cho học sinh đọc kỹ bài hội thoại mẫu để các em có thể vừa nắm được nội dung vừa nhận biết những từ, ý văn cần thay thế.

    Step 1: Read this dialogue

    What do you want? → I want a hot drink.

    Step 2: Now use the key words and make the similar dialogues

    Hình thức bài tập này cũng tương tự với dạng bài xây dựng hội thoại có hướng dẫn. Học sinh được đưa cho một đoạn văn, một câu chuyện hay một bài học. Dựa vào bài mẫu đó, yêu cầu học sinh viết lại một đoạn văn với một số thay đổi theo yêu cầu.

    Every morning, I get up. Then I get dressed. I brush my teeth and wash my face. I have breakfast. Then I go to shool

    → Every morning, Ba gets up. He ……………………………………………………………….

    Get up / 5.30. / brush teeth / wash face. / have breakfast / 6.00. / After breakfast / school / 6.30. / go home / lunch / 11.30. / afternoon / homework / play sports. / have dinner / 6.30. /evening / watch TV. / bed / 10.00.

    * Writing messages (viết lời nhắn): Học sinh có thể viết và chuyền cho nhau những yêu cầu, đề nghị đơn giản qua mẫu giấy nhỏ.

    – How about………………?

    – Why don’t we…………………?

    * Writing letters (viết thư): Viết thư là một trong những hình thức giao tiếp qua viết phổ biến. Có nhiều hình thức viết thư khác nhau như: thư mời, xin lỗi, cám ơn, chúc mừng, đề nghị, thăm hỏi, hướng dẫn,…

    * Interviews(viết bài phỏng vấn ngắn): Thông thường phỏng vấn là một thủ thuật phổ biến dành cho luyện tập giao tiếp bằng ngôn ngữ nói( speaking), tuy nhiên giáo viên vẫn có thể sử dụng hình thức này như một dạng bài tập luyện tập phối hợp để rèn kỹ năng viết cho học sinh. Trước khi phỏng vấn, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh soạn ra một bảng câu hỏi (questionare) và định hướng cách trả lời (các câu hỏi nên có nội dung đơn giản để học sinh có thể thu được kết quả phỏng vấn cao), cho học sinh tiến hành phỏng vấn (theo cặp hoặc theo nhóm nhỏ), sau khi phỏng vấn xong yêu cầu các em ghi lại các câu trả lời ở dạng đầy đủ sau đó sắp xếp các câu trả lời sao cho có logic và viết lại thành một bài phỏng vấn hoàn chỉnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Không Thể Chậm Trễ Hơn !
  • Điểm Tiếng Anh Thấp: Nguyên Nhân Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ
  • Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ Mầm Non
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Thực Hành Môn Tin Học 4
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Vĩnh Thới
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100