Khả Năng Hấp Phụ Của Đất

--- Bài mới hơn ---

  • Bài 7. Một Số Tính Chất Của Đất Trồng
  • Khả Năng Hấp Thụ Của Đất
  • 10 Biện Pháp Đảm Bảo Giáo Viên Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Skkn Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 5
  • 3.2. KHẢ NĂNG HẤP PHỤ CỦA ĐẤT

    3.2.1. Khái niệm

    Hấp phụ là đặc tính của đất có thể hút được các chất rắn, chất lỏng hoặc chất khí hoặc làm tăng nồng độ của các chất đó trên bề mặt của hạt keo đất.

    Vật chất bị tích tụ trên bề mặt của chất khác được gọi là chất bị hấp phụ. Chất rắn có khả năng tích tụ vật chất khác trên bề mặt của nó thì gọi là chất hấp phụ. Trong đất keo đất, các phần tử rắn của đất là những chất hấp phụ. Các phân tử hay ion trong dung dịch đất thường bị giữ trên bề mặt keo được gọi là chất bị hấp phụ.

    Căn cứ vào cơ chế giữ lại các chất trong đất có thể chia khả năng hấp phụ của đất thành 5 dạng như sau:

    3.2.1.1. Hấp phụ sinh học

    Hấp phụ sinh học là khả năng sinh vật (thực vật và sinh vật) hút cation và anion trong đất. Những ion dễ di chuyển trong đất được rễ cây và vi sinh vật hút, tổng hợp lên cơ thể thực vật. Cây hoàn trả chất dinh dưỡng cho đất khi cây chết hoặc qua cành rơi, lá rụng, cung cấp chất hữu cơ trong đất. Chất hữu cơ này được vi sinh vật phân giải để tạo thành chất dinh dưỡng cho cây. Vi sinh vật cố định đạm cũng là hình thức hấp thụ sinh học.

    Ưu điểm của dạng hấp thu này là giữ lại vật chất cho đất, tránh mất mát. Trong quá trình hấp thu cây hút dinh dưỡng ở tầng sâu, hoàn trả trên tầng mặt nên tạo ra tầng đất mặt tơi xốp, giàu chất dinh dưỡng. Đặc biệt nhờ cơ chế hút dinh dưỡng có chọn lọc của cây và quá trình quang hợp nên vật chất cây trả lại đất bao giờ cũng lớn hơn lượng chất mà cây hút từ đất và phù hợp hơn với thế hệ sau.

    3.2.1.2. Hấp phụ cơ học

    Hấp phụ cơ học là đặc tính của đất có thể giữ lại những vật chất nhỏ trong khe hở của đất như những hạt sét, xác hữu cơ.

    Hấp phụ cơ học là dạng hấp phụ phổ biến trong đất. Hiện tượng này thấy rõ nhất khi mưa, nước mưa lẫn cát, sét đục nhưng chảy vào giếng thành nước trong vì khi thấm qua các tầng đất các vật chất này bị giữ lại do hấp phụ cơ học.

    Nguyên nhân hấp phụ cơ học bao gồm:

    – Kích thước khe hở nhỏ hơn kích thước vật chất.

    – Bờ khe hở gồ ghề làm cản trở sự di chuyển của vật chất.

    – Vật chất mang điện trái dấu với bờ khe hở nên bị giữ lại.

    3.2.1.3. Hấp phụ lý học (còn gọi là hấp phụ phân tử)

    Hấp phụ lý học được biểu thị bằng sự chênh lệch nồng độ các hợp chất trên bề mặt keo đất so với môi trường xung quanh. Nguyên nhân của hiện tượng hấp phụ lý học trước tiên do các phân tử trên bề mặt hạt keo ở trong điều kiện khác với phân tử trong hạt keo do đó phát sinh năng lượng bề mặt. Năng lượng bề mặt phụ thuộc sức căng bề mặt và diện tích bề mặt. Trong đất năng lượng bề mặt phát sinh ở chỗ tiếp xúc giữa các hạt đất với dung dịch đất.

    Vật chất nào làm giảm sức căng mặt ngoài của dung dịch đất sẽ tập trung vào mặt hạt keo. Ví dụ: axit axetic sẽ tập trung trên bề mặt hạt đất đó là sự hấp phụ lý học (hấp phụ dương).

    Vật chất nào làm tăng sức căng mặt ngoài của dung dịch đất thì bị đẩy khỏi keo đất để đi vào dung dịch (đó là hấp phụ âm)

    Ngoài các chất tan đất còn hấp phụ các chất khí. Đất hấp phụ các chất khí rất chặt. Ví dụ đất hấp phụ NH 3 sinh ra trong quá trình phân giải chất hữu cơ có chứa đạm.

    3.2.1.4. Hấp phụ hoá học

    Hấp phụ hoá học là sự hấp phụ đồng thời với sự tạo thành trong đất những muối không tan từ các muối dễ tan. Bản chất của hấp phụ hoá học là các quá trình hoá học xảy ra trong đất.

    Ví dụ: Na 2SO 4 + CaCl 2 CaSO 4 + 2 NaCl

    Fe 3+ + PO 43- FePO 4

    Hấp phụ hoá học có tác dụng giữ lại vật chất cho đất nhưng đây cũng là nguyên nhân gây tích luỹ một số nguyên tố trong đất như lân, sắt và lưu huỳnh. Đây là một nguyên nhân làm cho các nguyên tố này bị giữ chặt trong đất, cây ít có khả năng sử dụng, làm giảm hiệu lực của phân bón. Đây là nguyên nhân mà ở những vùng đất chua cây thường bị thiếu lân mặc dù hàm lượng lân tổng số trong đất rất cao và khi bón hiệu quả bón lân thấp.

    3.2.1.5. Hấp phụ lý hoá học (hấp phụ trao đổi)

    Hấp phụ lý hoá học được thực hiện bởi keo đất khi trao đổi ion trong phức hệ hấp phụ với ion trong dung dịch đất tiếp xúc với nó. Thực chất của hấp phụ lý hoá học là sự trao đổi ion trên bề mặt keo đất với ion trong dung dịch đất. Trong đất có keo âm và keo dương nên đất có khả năng hấp phụ cả cation và anion.

    Keo đất đóng vai trò quyết định đối với sự hấp phụ nói chung và hấp phụ trao đổi nói riêng của đất. Số lượng và chủng loại keo đất quyết định khả năng hấp phụ của đất và có ảnh hưởng rất lớn đến độ phì nhiêu đất.

    3.2.2. Hấp phụ trao đổi cation

    Hấp thụ cation xảy ra ở keo âm. Do keo âm chiếm đa số trong đất nên hấp phụ cation là chủ yếu.

    Ví dụ: Khi bón phân sunfat amôn, quá trình hấp phụ xảy ra:

    H+ NH 4+

    KĐ + NH 4SO 4 KĐ + H 2SO 4

    H+ H+

    Hấp thụ cation tuân theo các quy luật sau:

    – Trao đổi cation tiến hành theo chiều thuận nghịch. Tính chất này phụ thuộc vào nồng độ và đặc tính cation trong dung dịch đất.

    – Trao đổi xảy ra nhanh, có thể hoàn thành chỉ sau 5 phút nếu điều kiện tiếp xúc giữa keo đất và cation tốt.

    – Trao đổi cation phụ thuộc vào hoá trị, độ lớn và mức độ thuỷ hoá của cation:

    + Hoá trị của cation càng cao khả năng trao đổi càng mạnh. Nghĩa là khả năng trao đổi của cation hoá trị 3 lớn hơn hoá trị 2, hoá trị 2 lớn hơn hoá trị 1.

    + Nếu cùng hoá trị thì ion nào có bán kính lớn hoặc bán kính thuỷ hoá nhỏ thì trao đổi mạnh hơn. H+ là cation đặc biệt do có màng thuỷ hoá rất nhỏ (rất ít bị hydrat hoá) nên khả năng trao đổi của H+ không chỉ vượt các cation hoá trị 1 mà còn vượt cả cation hoá trị 2.

    – Khả năng trao đổi phụ thuộc nồng độ ion trong dung dịch, hay nói chính xác hơn là sự thay đổi về nồng độ ion trong dung dịch đất. Khi có sự thay đổi nồng độ ion trong dung tịch đất thì quá trình trao đổi giữa keo đất và dung dịch đất diễn ra. Nếu nồng độ ion trong dung dịch đất tăng lên, keo đất sẽ hấp thu ion từ dung dịch đất và nếu nồng độ ion trong dung dịch đất giảm đi thì ion sẽ đi từ keo đất ra dung dịch đất.

    Bảng 3.2: Quan hệ giữa đặc điểm cation và khả năng trao đổi cation

    Hoá trị

    Bán kính cation (A0)

    Bán kính thuỷ hoá (A0)

    NH 4+

    1

    1,47

    5,37

    4

    (Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thế Hùng, 1999)

    Để đánh giá khả năng hấp phụ cation của đất cũng như chất lượng (thành phần cation) của sự hấp phụ đó người ta thường dùng các chỉ số như dung tích hấp thu và độ no kiềm của đất sau đây:

    Dung tích hấp thu của đất, CEC (Cation Exchange Capacity):

    Dung tích hấp thu là tổng số cation hấp phụ (kể cả cation kiềm và không kiềm) trong 100g đất, tính bằng li đương lượng, ký hiệu bằng chữ T.

    Dung tích hấp phụ được xác định bằng cách phân tích trực tiếp và được tính theo công thức:

    T = S + H

    S – tổng số cation kiềm hấp phụ

    H- tổng số ion H+ hấp phụ (độ chua thuỷ phân)

    Dung tích hấp phụ của đất phụ thuộc vào các yếu tố sau:

    + Thành phần keo.

    Loại keo T (ldl/100g đất)

    Fe (OH) 3 và Al (OH) 3 Rất bé

    Kaolinit 5 – 15

    Monmorilonit 80 – 150

    Ilit 30 – 40

    Axit humic (mùn) 350

    + Thành phần cơ giới đất càng nặng T càng lớn:

    Bảng 3.3: Mối quan hệ giữa kích thước hạt và dung tích hấp thu

    (Nguyễn Thế Đặng và CS, 2008)

    + Tỷ lệ SiO 2/R 2O 3 càng lớn thì T càng lớn:

    Bảng 3.4: Mối quan hệ giữa tỷ lệ SiO2/R2O3 và dung tích hấp thu

    Dung tích hấp thu

    T (lđl/100g đất)

    (Nguyễn Thế Đặng và CS, 2008)

    + Độ chua của đất: pH tăng thì T tăng và pH lớn hay nhỏ phụ thuộc nhiều và loại đất phát sinh

    Bảng 3.5 : Dung tích hấp thu của một số loại đất Việt Nam

    (Nguyễn Thế Đặng và CS, 2008)

    Độ no kiềm của đất:

    Nói chung T càng lớn thì đất càng tốt và chứa nhiều keo. Song dung tích hấp thu chưa nêu được thành phần cation hấp phụ. Thực tế một số đất trũng T lớn nhưng do nhiều H+ nên đất chua. Bởi vậy người ta sử dụng chỉ tiêu “độ no kiềm” để đánh giá đất.

    Độ no kiềm là tỷ lệ phần trăm các cation kiềm chiếm trong tổng số cation hấp phụ T, kí hiệu bằng V, đơn vị tính là %.

    S S

    V(%) = x 100 hay V(%) = x 100

    T S + H

    V càng lớn đất càng no kiềm. Có thể phân loại đất no kiềm và đói kiềm dựa vào V như sau:

    V < 50 % đất đói kiềm, rất cần phải bón vôi.

    V = 50 – 70 % đất trung bình, cần bón vôi;

    3.2.3. Hấp phụ trao đổi Anion

    Sự hấp phụ anion của đất xảy ra đối với keo mang điện dương, song tỷ lệ keo đất mang điện không nhiều nên anion ít được hấp phụ trong đất. Khả năng hấp phụ anion có thể xếp như sau:

    Dựa vào khả năng hấp phụ có thể chia các nhóm anion trong đất làm 3 nhóm:

    – Nhóm thứ nhất: Trong nhóm này có thể anion có thể bị hấp phụ mạnh bằng cách tạo thành các kết tủa khó tan với các cation trong dung dịch đất như Ca 2+, F 2+… Đó là kiểu hấp phụ hoá học đã nói ở phần trên. Nhóm này gồm có các anion của một số axit hữu cơ và axit photphoric như PO 43-, HPO 42- HPO 4

    – Nhóm thứ hai: Gồm có các anion hầu như không bị hấp phụ. Nhóm này có CO 3 và NO 2. Các anion này không tạo thành với các anion của dung dịch đất để tạo thành những chất khó tan, cũng không bị keo đất hút vì mang điện cùng dấu với keo đất (diện tích âm). Bởi vậy Cl dễ bị rửa trôi và không có sự tích luỹ Cl. Không có sự tích luỹ Cl trong đất sẽ ảnh hưởng tốt đến đất, còn NO 3 rửa trôi đất sẽ mất đạm.

    – Nhóm thứ ba: Gồm có các anion được hấp phụ trung gian giữa hai nhóm trên, đó là SO 42-, HCO 3, CO 32-, SiO 3

    3.3. VAI TRÒ CỦA KEO ĐẤT VÀ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG KEO ĐẤT

    3.3.1. Vai trò của keo đất

    Quan hệ giữa keo đất với quá trình hình thành đất:

    Số lượng và thành phần keo đất phụ thuộc vào quá trình hình thành đất.

    – Kaolinit là keo sét điển hình cho quá trình hình thành đất nhiệt đới ẩm. Còn monmorilonit là sét đặc trưng trong quá trình hình thành đất ôn đới.

    – Khi càng lên cao do nhiệt độ giảm, ẩm độ tăng nên keo sét giảm nhưng tỉ lệ keo hữu cơ lại tăng.

    – Hàm lượng Si, Fe và Al trong đất và trong keo đất cho biết mức độ phong hoá đá và khoáng vật, mức độ rửa trôi và mức độ biến đổi trong quá trình hình thành đất. Ví dụ khi tỉ lệ SiO 2/Al 2O 3 < 2 là quá trình alit (quá trình phá hủy khoáng nguyên trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm), còn lớn hơn 3 là quá trình sialit (quá trình phân hủy sâu sắc phần khoáng đất).

    Ảnh hưởng của keo đất tới lý tính đất:

    Có thể nói keo đất và thành phần cation trong phức hệ hấp phụ ảnh hưởng mạnh mẽ đến chỉ tiêu lý tính của đất như tính kết cấu đất, tính trương co, tính dẻo, từ đó ảnh hưởng lớn tới chế độ nước, không khí, nhiệt độ và dinh dưỡng của đất.

    Ảnh hưởng của keo đất tới hoá tính đất:

    Thành phần và số lượng cation hấp phụ trên bề mặt keo đất ảnh hưởng đến hoá tính đất. Cation nào chiếm ưu thế sẽ tác động đến hoá tính đất:

    – Nếu nhiều Ca 2+, Mg 2+ thì đất phản ứng trung tính và hơi kiềm và độ no bazơ cao.

    – Nếu tỉ lệ Mg 2+ chiếm dưới 15 % của dung tích hấp phụ thì không có hại gì đến tính chất đất, nếu quá tỉ lệ này thì đất sẽ bị mặn Mg.

    – Những đất chứa nhiều H+ và Al 3+ trong thành phần cation hấp phụ, đất sẽ có phản ứng chua, độ no bazơ thấp. ở Việt Nam đa số đất đều chua vì chứa nhiều H+ và Al 3+.

    – Nếu nhiều Na+ sẽ làm cho đất có phản ứng kiềm.

    3.3.2. Biện pháp tăng cường keo và khả năng hấp phụ trong đất

    Keo đất có tầm quan trọng đặc biệt tới chất lượng đất. Đặc biệt phức hệ keo đất ảnh hưởng lớn đến thành phần và nồng độ dung dịch đất, quyết định đến tính chất lý học, hoá học, chế độ nước, không khí của đất và ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và vi sinh vật. Vì vậy muốn nâng cao, bảo vệ độ phì đất cần có biện pháp duy trì, tăng cường và thay đổi thành phần, số lượng keo đất.

    Đất cát chứa ít keo, khả năng hấp phụ kém, tính giữ nước, phân kém, cần tăng cường keo đất lên bằng cách bón sét, tưới nước phù sa mịn và bón phân hữu cơ, cày sâu lật sét..Trong sản xuất nông dân hay dùng bùn ao hay cày sâu dần lật sét lên kết hợp bón phân hữu cơ là biện pháp rất tích cực để cải thiện keo tăng cường độ phì nhiêu cho đất.

    Đối với đất có thành phần cơ giới quá nặng do thành phần keo sét quá cao, ta cải tạo bằng bón cát, phù sa hạt thô và bón nhiều phân hữu cơ. Tăng cường hàm lượng mùn cho đất là biện pháp rất quan trọng để tăng cường keo đất và khả năng hấp phụ của đất.

    Cùng với các biện pháp kỹ thuật tăng cường số lượng và thành phần keo đất, việc thay đổi thành phần và số lượng cation trên bề mặt keo có ý nghĩa rất quan trọng. Các biện pháp kỹ thuật bón phân và bón vôi là dần thay đổi thành phần cation trên bề mặt keo theo hướng tăng cường các cation kiềm, cation dinh dưỡng, giảm cation H+.

    3.4. DUNG DỊCH ĐẤT

    3.4.1. Khái niệm và vai trò của dung dịch đất

    Theo trạng thái tồn tại, đất được chia làm 3 phần: Đó là phần rắn, lỏng và khí. Phần lỏng đó chính là dung dịch đất.

    Nồng độ của dung dịch đất ảnh hưởng tới sức hút của cây thông qua trị số áp suất thẩm thấu của dung dịch. Khi dung dịch đất có nồng độ chất hoà tan cao (như khi ẩm độ thấp hoặc do bón phân), làm cho áp suất thẩm thấu của dung dịch đất lớn và cây không có khả năng hút nước mặc dù trong đất vẫn còn một lượng nước nhất định. Ổn định nồng độ dung dịch đất tránh sự thay đổi đột ngột về nồng độ của dung dịch đất thông qua tính đệm của dung dịch đất tránh được ảnh hưởng sấu tới sự sinh trưởng và phát triển của cây và vi sinh vật.

    Ví dụ: Khi đất quá chua hay quá kiềm, khả năng hoà tan của lân giảm do sự tạo thành photphat 3 của Fe, Al hay canxi (FePO 4 , AlPO 4, Ca 3(PO 4) 2).

    Phản ứng dung dịch đất cũng có ảnh hưởng đến sự hình thành hay phá vỡ kết cấu đất. Sự thay thế của H+ vào vị trí của Ca 2+ trong cầu nối mùn – Ca – sét hay mùn – Ca – mùn trong môi trường chua là những ví dụ điển hình.

     Si – O – Ca – OOCR + 2H+  Si – OH + RCOOH + Ca 2+

    Tính đệm của dung dịch đất có tác dụng điều hoà sự thay đổi của pH môi trường và duy trì nồng độ của các chất hoà tan tránh được sự thay đổi pH hay nồng độ các chất tan trong dung dịch một cách đột ngột, ảnh hưởng xấu tới cây và vi sinh vật đất.

    Ngoài ra, dung dịch đất còn tăng cường quá trình phong hoá đá, hình thành đất. Như CO 2 hoà tan trong dung dịch đất tăng cường quá trình hoà tan đá vôi:

    CaCO 3 + CO 2 + H 2O Ca(HCO 3) 2

    3.4.2. Thành phần dung dịch đất và các yếu tố ảnh hưởng

    Thành phần dung dịch đất bao gồm các chất hữu cơ, vô cơ, hữu cơ – vô cơ và các chất khí hoà tan trong nước.

    Các chất vô cơ hoà tan: có thể là các cation như: Ca2+, Mg 2+, NH 4+, Na+, K+, H+…. hoặc Fe 3+, Al 3+ trong môi trường chua và các anion như HCO 3, CO 32-, NO 3, HPO 42-, H 2PO 4

    Các chất hữu cơ hoà tan: Là sản phẩm phân giải chất hữu cơ hoặc các chất thải của sinh vật như đường, rượu, axit hữu cơ, men, mùn…

    Các chất hữu cơ – vô cơ như muối của các axit hữu cơ, axit mùn với cation hoá trị 1,2 như humat – Na, humat – K …

    Những chất khí hoà tan như O 2, CO 2, NH 3, N 2, CH 4

    Ngoài những chất hoà tan như trên, dung dịch đất còn chứa một lượng keo đáng kể, đây là những chất không hoà tan nhưng lơ lửng trong dung dịch đất.

    Nồng độ dung dịch đất luôn thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Có 3 nguyên nhân chính ảnh hưởng trực tiếp tới nồng độ dung dịch đất, đó là: quá trình bổ xung chất hoà tan, quá trình mất chất hoà tan và quá trình thay đổi lượng nước trong đất.

    – Các chất hoà tan thường xuyên được bổ sung vào dung dịch đất thông qua:

    + Bón phân cho cây: Đây là hoạt động thường xuyên ở đất trồng trọt. Hoạt động này góp phần duy trì nồng độ các chất dinh dưỡng trong dung dịch đất ở tầng canh tác một cách có hiệu quả.

    Để tránh tăng nồng độ chất dinh dưỡng một cách đột ngột và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, hạn chế quá trình rửa trôi dinh dưỡng thì các biện pháp kỹ thuật bón phân như bón rải làm nhiều lần, bón phân kết hợp với sục bùn để thúc đẩy quá trình trao đổi ion giữa keo đất và dung dịch đất, số lượng phân bón được tính toán dựa vào khả năng hấp thu của đất và như cầu dinh dưỡng của cây cần được chú trọng.

    + Bổ sung chất tan qua nước mưa nước tưới: Đó là nguồn bổ sung các chất hoà tan trong nước mưa, nước tưới như HCO 3 , NH 4+ , NO 3 , SO 42-. Ví dụ như ở Mỹ hay Nhật Bản, nước mưa thường có lượng axít khá cao, khi mưa bổ sung một lượng axít đáng kể vào đất hoặc sấm sét làm tăng lượng NH 4+ trong nước mưa, bổ sung một lượng đạm nhất định cho đất. Chính vì vì vậy ca dao Việt Nam có câu:

    Lúa chiêm ngấp nghé đầu bờ

    Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”.

    + Các chất được giải phóng ra từ quá trình phong hoá đá và khoáng vật: Đây là nguồn bổ sung lớn nhất, chính vì vậy mỗi đất hình thành trên các loại đá và khoáng khác nhau, có thành phần cũng như nồng độ các chất tan trong dung dịch đất đặc trưng.

    + Các chất được giải phóng từ quá trình phân giải xác hữu cơ trong đất. Đây là nguồn bổ sung thường xuyên và quan trọng nhất và có tính chất quyết định nhất tới thành phần chất hoà tan ở mỗi loại đất. Đặc biệt, thông qua quá trình sinh trưởng phát triển của thực vật, thực vật hút chất dinh dưỡng ở tầng sâu, sau đó cung cấp lại chất hữu cơ (khi chết hay qua cành rơi, lá rụng) cho đất ở tầng mặt, phân bố lại dinh dưỡng trong đất, làm giàu dinh dưỡng ở tầng đất mặt.

    – Chất hoà tan trong dung dịch đất bị mất mát do các quá trình sau:

    + Quá trình xói mòn rửa trôi: Đây là nguyên nhân quan trọng làm giảm nồng độ dung dịch đất. Quá trình này xảy ra đặc biệt nghiêm trọng ở đất đồi. Những nơi đất đai có độ che phủ kém, các biện pháp kỹ thuật chống xói mòn chưa được áp dụng.

    + Do cây hút dinh dưỡng: Đây là nguyên nhân không căn bản bởi nhờ quá trình tiểu tuần hoàn sinh vật, cây sẽ hoàn trả chất dinh dưỡng cho đất qua xác hữu cơ. Tuy nhiên, trên đất canh tác lượng hao hụt các chất của đất là rất đáng kể do các chất bị lấy đi theo sản phẩm thu hoạch. Chính vì vậy, một chế độ phân bón hợp lý phải đảm bảo được cân bằng dinh dưỡng cho đất, lượng phân bón phải đủ để bù đắp lượng dinh dưỡng bị tiêu hao trong quá trình canh tác. Tăng cường sử dụng các sản phẩm phụ (rơm rạ, thân lá..) làm phân bón tại chỗ sẽ góp phần hạn chế nguyên nhân này.

    – Ngoài các quá trình làm tiêu hao hay bổ xung trực tiếp các chất hoà tan vào dung dịch đất, nhiều quá trình khác có những ảnh hưởng không nhỏ đến nồng độ dung dịch đất. Ví dụ:

    + Mưa hay tưới hoà loãng dung dịch đất, bốc hơi nước, đặc biệt trong điều kiện hạn hán sẽ làm tăng vọt nồng độ dung dịch đất. Chính vì vậy, thời tiết khí hậu đặc trưng cho các vùng khác nhau hay các mùa trong năm có tính chất quyết định đến nồng độ của dung dịch đất. Thời tiết khí hậu còn ảnh hưởng gián tiếp tới nồng độ dung dịch đất thông qua ảnh hưởng tới ảnh hưởng của vi sinh vật, phong hoá đá và khoáng vật, xói mòn, rửa trôi chất dinh dưỡng…

    + Quá trình trao đổi giữa keo đất và dung dịch đất, quá trình hoà tan hay kết tủa làm tăng hay giảm nồng độ của một cation hay anion nào đó trong đất…

    3.4.3. Đặc tính cơ bản của dung dịch đất

    Dung dịch đất có nhiều đặc tính quan trọng như phản ứng dung dịch đất, tính đệm và tính oxy hoá – khử.

    Nguyên nhân làm đất chua:

    Đất chua là sản phẩm của các yếu tố và quá trình hình thành đất. Đó là sự tích luỹ các cation H+ và Al 3+ và sự rửa trôi các cation kiềm, kiềm thổ như Ca 2+, Mg 2+, K+ … trong quá trình hình thành, phát triển và sử dụng đất.

    Đất chua có thể do những nguyên nhân sau:

    + Do cây hút chất dinh dưỡng từ đất: Hàng năm cây hút một lượng chất dinh dưỡng nhất định từ đất. Trong đó chủ yếu là các cation kiềm, kiềm thổ như K+, NH 4+, Ca 2+, Mg 2+ đồng thời thải vào đất một lượng H+ tương ứng gây chua đất. Đây là nguyên nhân không quan trọng vì cây sẽ hoàn trả lại những chất mà nó hút từ đất qua tiểu tuần hoàn sinh vật. Tuy nhiên, với đất canh tác một lượng lớn cation kiềm và kiềm thổ bị mất khỏi đất trong sản phẩm thu hoạch làm đất chua nhanh hơn so với các loại đất dưới rừng tự nhiên. Bón phân và vôi vừa làm tăng năng suất cây trồng, vừa đảm bảo duy trì dinh dưỡng và độ chua bảo vệ độ phì nhiêu của đất.

    + Do bón các loại phân chua và phân sinh lý chua: Đất có thể bị chua nếu ta bón các loại phân như supe lân vì trong thành phần loại phân này có chứa một lượng axit nhất định (phân chua). Các loại phân sinh lý chua như K 2SO 4, KCl, NH 4Cl, (NH ) 2SO 4 … Trong thành phần của phân có chứa các gốc axit khi bón vào đất chúng phân ly trong dung dịch. Cation kiềm được cây hút hay keo đất hấp thu. Gốc axit còn lại sẽ gây chua cho đất.

    + Do xói mòn rửa trôi: Đây là nguyên nhân quan trọng nhất gây chua cho đất đặc biệt là các loại đất đồi núi vùng nhiệt đới. Đó là sự xói mòn và rửa trôi cation kiềm linh động như Ca 2+, Mg 2+ , K+ … và tích tụ H+ và Al 3+ trong đất. Các loại đất chua mạnh pH = 4 – 5 phổ biến ở các loại đất nhiệt đới kể cả các loại đất được hình thành trên đá mẹ giàu cation kiềm như đất đỏ vàng trên đá vôi, macma bazơ là những ví dụ điển hình.

    + Do sự phân giải xác hữu cơ trong điều kiện yếm khí: Đây là nguyên nhân cơ bản gây chua ở các loại đất thường xuyên ngập nước như đất lầy thụt, đất chiêm trũng ở nước ta. Quá trình phân giải xác hữu cơ trong điều kiện yếm khí tạo ra các sản phẩm trung gian như axit hưũ cơ, H 2S … tích luỹ một lượng H+ đáng kể gây chua cho đất.

    Ngoài 4 nguyên nhân trên, ở những vùng đất mặn sú vẹt phát triển mạnh, thân lá có hàm lượng lưu huỳnh cao khi chúng được phân giải trong điều kiện yếm khí tạo ra H 2S sau đó được oxy hoá tạo ra H 2SO 4 gây chua.

    H2S + 2O 2 H 2SO 4 + Q

    Các loại độ chua:

    Đất chua là đất có chứa một lượng H+ và Al 3+ , chúng có thể tồn tại ở ngoài dung dịch hay trên bề mặt keo đất. Khi tồn tại ở ngoài dung dịch, chúng có ảnh hưởng trực tiếp tới cây và vi sinh vật. Chính vì vậy, độ chua được quyết định bởi H+ và Al 3+ trong dung dịch đất được gọi là độ chua hoạt tính. Trái lại, độ chua tiềm tàng được xác định bởi lượng H+ và Al 3+ trên bề mặt keo đất, chúng chỉ ảnh hưởng tới cây trồng và vi sinh vật khi chúng được đẩy ra ngoài dung dịch đất.

    – Độ chua hoạt tính

    Độ chua hoạt tính không phụ thuộc vào tổng lượng axit hay kiềm trong dung dịch đất mà nó phụ thuộcvào tỉ lệ giữa nồng độ H+ và nồng độ OH trong dung dịch được biểu thị bằng trị số pH (H 2 O) và được tính theo công thức:

    pH = – lg  H+

    Như ta đã biết trong nước tinh khiết hay bất cứ một dung dịch nào tích số của luôn bằng một hằng số và bằng 10-14 ion gam/lit

    Tuy nhiên pH đất thường dao động từ 3 – 9 do đất có tính đệm. Dựa vào pH của nước ta có thể chia đất theo các cấp độ chua như bảng 3.6.

    Bảng 3.6. Phân chia đất theo các cấp độ chua

    (Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thế Hùng, 1999)

    – Độ chua tiềm tàng

    Trong đất ngoài H+ và Al 3+ trong dung dịch đất, còn một lượng đáng kể H+ và Al 3+ tồn tại trên bề mặt keo đất. Độ chua tiềm tàng là lượng H trong đất và được xác định khi ta tác động một dung dịch muối vào đất để đẩy H+ và Al 3+ trên bề mặt keo đất vào dung dịch đất. Do H+ và Al 3+ được giữ trên bề mặt keo với những lực khác nhau do vậy khi tác động vào đất những muối khác nhau ta sẽ xác định được độ chua tiềm tàng với giá trị khác nhau. Dựa theo loại muối tác động vào đất, độ chua tiềm tàng được phân ra làm 2 loại độ chua: độ chua trao đổi và độ chua thuỷ phân.

    + Độ chua trao đổi (ldl/100g đất):

    Độ chua trao đổi được xác định khi ta dùng một muối trung tính, muối của axit mạnh (như NaCl, BaCl 2…) để đẩy H+ và Al 3+ trên bề mặt keo vào dung dịch đất. Quá trình trao đổi xảy ra như sơ đồ sau:

    H+ 4Na+

    KĐ. + 4NaCl KĐ. + HCl + AlCl 3

    Al 3+

    Sau đó: AlCl 3 + 3H 2O Al(OH) 3 + 3HCl

    Do cơ chế để xác định độ chua trao đổi xảy ra giống như quá trình bón các loại phân sinh lý chua vaò đất, do vậy độ chua trao đổi được sử dụng để xác định chế độ phân bón hợp lý. Nếu độ chua trao đổi lớn, đó là dấu hiệu của sự thay đổi đột ngột pH khi ta bón phân khoáng như K 2SO 4 , KCl, NH 4 Cl… Để hạn chế tác động tiêu cực của bón phân khoáng ở những loại đất có độ chua trao đổi cao, cần bón phân làm nhiều lần để tránh sự thay đổi đột ngột của độ chua hoặc bón vôi trước khi bón phân khoáng để trung hoà bớt độ chua sinh ra do bón phân khoáng.

    + Độ chua thuỷ phân:

    Khác với việc xác định độ chua trao đổi, khi xác định độ chua thuỷ phân ta dùng một muối thuỷ phân: muối của bazơ mạnh và axit yếu (thường dùng là muối Ch 3COONa), để tác động vào đất đẩy ion H+ và Al 3+ trên bề mặt keo đất ra ngoài dung dịch. Quá trình trao đổi xảy ra như sau:

    H+ 4Na+

    KĐ. + CH 3COONa KĐ. + Al 3+ + H+ + 4CH 3COO

    Al 3+

    Do trong dung dịch muối thuỷ phân thường có sự phân ly:

    Ch 3COONa + H 2O CH 3 COOH + NaOH

    Sau đó do CH COOH là axit yếu ít phân ly còn NaOH là bazơ mạnh phân ly hoàn toàn nên ion Na+ trong muối thuỷ phân có sức đẩy lớn hơn nhiều so với cation trong muối trao đổi. Chính vì vậy độ chua thuỷ phân thường được dùng để phản ánh toàn bộ lượng H+ và Al 3+ trong cả dung dịch đất và keo đất (tiềm năng gây chua cho đất), và đây là cơ sở tính toán lượng vôi bón cải tạo đất chua. Thường độ chua thuỷ phân lớn hơn độ chua trao đổi.

    Phản ứng kiềm được hình thành do sự tích luỹ các ion OH trong đất. Sự tích luỹ các ion OH có thể do các nguyên nhân như đất chứa nhiều CaCO 3, do sự trao đổi giữ keo đất và dung dịch đất đặc biệt là ở đất mặn, do việc bón phân khoáng hay tro bếp…. Tuy nhiên đất kiềm gây nên chủ yếu do sự tích luỹ Na 2CO 3 trong đất. Sự tích luỹ Na 2CO 3 có thể do các nguyên nhân sau đây:

    – Quá trình hoá học.

    CaCO 3 + 2NaCl + CO 2 + H 2O 2NaHCO 3 + CaCl 2

    Sau đó:

    2NaHCO 3 Na 2CO 3 + CO 2 + H 2O

    – Do sự trao đổi nên ion Na+ bị đẩy khỏi phức hệ hấp phụ:

    Na+ H+

    KĐ. + H 2O + 2CO 2 KĐ. + 2NaHCO 3

    Na+

    Sau đó:

    2NaHCO 3 Na 2CO 3 + CO 2 + H 2 O

    – Do tác động của vi sinh vật trong điều kiện yếm khí:

    Na 2SO 4 + 2C Na 2S + 2CO 2

    Na 2S + 2H 2CO 3 2NaHCO 3 + H 2O

    2NaHCO 3 Na 2CO 3 + CO 2 + H 2O

    Sự tích luỹ Na 2CO 3 trong đất ảnh hưởng xấu tới cây và tính chất đất.

    Tính đệm là chỉ khả năng của đất có thể giữ cho pH ít bị thay đổi khi có thêm một lượng ion H+ hay OH tác động vào đất. Nói rộng hơn thì tính đệm của đất là khả năng đất chống lại sự thay đổi nồng độ các chất tan trong dung dịch đất khi nồng độ các chất tan tăng lên hay giảm đi do tác động nào đó.

    Như vậy tính đệm có vai trò rất quan trọng với cây trồng và vi sinh vật đất. Nhờ có tính đệm mà pH và nồng độ các chất tan trong dung dịch đất không đột ngột thay đổi với trị số lớn, ảnh hưởng xấu tới cây trồngà vi sinh vật (thực tế pH đất nhờ có tính đệm chỉ biến thiên từ 3 đến 10). Để ổn định nồng độ các chất tan trong dung dịch thì một loạt các quá trình sẽ xảy ra theo chiều hướng làm giảm hay tăng nồng độ một chất nào đó khi chất đó được bổ sung hay mất đi trong quá trình hình thành, phát triển và sử dụng đất. Các quá trình đó có thể là quá trình trao đổi giữa keo đất và dung dịch đất, quá trình hoà tan hay kết tủa, các phản ứng hoá học trong đất…

    Nguyên nhân đất có tính đệm

    – Do tác động trao đổi giữa keo đất và dung dịch đất. Đây là phản ứng thuận nghịch xảy ra một cách thường xuyên và liên tục, đảm bảo duy trì nồng độ các chất tan trong đất.

    Ví dụ: Khi có một lượng H+ sinh ra trong đất:

    Ca 2+ 3H+

    KĐ. + 2HCl KĐ. + CaCl 2 (muối trung tính)

    H+

    Khi có một lượng OH sinh ra thì:

    Ca 2+ Ca 2+

    KĐ. + NaOH KĐ. + H 2 O (chất ít phân ly)

    H+ Na+

    Khi bón phân:

    Ca 2+ 2K+

    KĐ. + K 2SO 4 KĐ. + CaSO 4

    H+ H+

    Ngược lại nếu nồng độ các cation này giảm xuống trong dung dịch đất có thể do rửa trôi, xói mòn hay cây hút chất dinh dưỡng thì phản ứng theo chiều hướng ngược lại sẽ xảy ra và các cation trên bề mặt keo đất sẽ được giải phóng vào dung dịch để duy trì nồng độ ban đầu.

    – Do tác dụng đệm của các axit hữu cơ, axit amin, axit mùn.

    – Ví dụ: Khi có thêm một lượng axit:

    NH 2 NH 3Cl

    R – CH + HCl R – CH

    COOH COOH

    Khi có thêm lượng kiềm thì:

    NH 2 NH 3

    R – CH + NaOH R – CH + H 2 O

    COOH COONa

    Đây cũng là phản ứng thuận nghịch, có thể đệm cả với axit và kiềm, cả khi nồng độ của chúng tăng lên hay giảm đi.

    – Do tác dụng đệm của nhôm di động.

    2+ + H 2 O

    + + H 2 O

    Nhôm di động Al(H 2O) 63 chỉ có thể đệm với OH trong môi trường chua. Bởi trong môi trường kiềm, nhôm sẽ bị kết tủa dưới dạng Al(OH) 3.

    – Do đất chứa các chất có khả năng trung hoà.

    Ví dụ: Đất giàu CaCO 3 khi có một lượng axit chúng sẽ trung hoà như sau:

    CaCO 3 + 2HCl CaCl 2 + H 2O + CO 2

    Qua 4 quá trình trên ta thấy nếu đất giàu sét, giàu mùn, có khả năng trao đổi và hấp thụ lớn thì tính đệm tốt. Tính đệm phụ thuộc vào các chất trung hoà trong đất và các cation trên bề mặt keo. Nếu trên bề mặt keo đất chủ yếu là các cation kiềm, kiềm thổ thì đất đệm tốt với axit. Ngược lại nếu trên bề mặt keo chứa chủ yếu các cation H+ và Al 3+ thì đệm tốt với kiềm.

    Nghiên cứu về tính đệm của các loại đất giúp các nhà nông học tính toán lượng phân khoáng bón phù hợp cho các loại đất. Với đất có tính đệm tốt như đất sét, đất giàu mùn thì có thể bón một lượng phân lớn, bón tập trung hơn so với đất có tính đệm kém như đất cát, đất bạc màu. Cũng tương tự như vậy, tính toán lượng vôi bón cải tạo đất chua cần căn cứ vào độ chua của đất. Thông thường để cải tạo đất có cùng độ chua, đất có tính đệm tốt phai bón vôi với lượng nhiều gấp 1,2 – 1,5 lần so với đất có tính đệm kém.

    Biện phán kỹ thuật để làm tăng tính đệm cho đất chủ yếu là làm tăng về số lượng và chất lượng keo đất, lượng chất hữu cơ cho đất và thành phần cation trên bề mặt keo.

    Bón phân hữu cơ và vôi, cày sâu lật sét hay tưới bằng nước phù sa hạt mịn là những biện pháp thiết thực vừa tăng được số lượng keo đất, vừa thay đổi được thành phần cation trên bề mặt keo.

    3.4.4. Bón vôi cải tạo đất chua

    Nước ta khí hậu nhiệt đới nóng ẩm do vậy quá trình tích luỹ Fe, Al tương đối (quá trình feralit) trong quá trình hình thành đất, quá trình tích luỹ Fe, Al tuyệt đối trong quá trình phát triển của đất và quá trình phân giải chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí đã tạo ra tính chua cho đa số các loại đất như đất đồi núi, đất bạc màu, đất trũng…

    Biện pháp kỹ thuật cải tạo đất chua bằng bón vôi vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa góp phần duy trì nâng cao độ phì nhiêu của đất.

    Lợi ích của bón vôi

    Lợi ích trước tiên và quan trọng nhất của bón vôi là làm tăng sinh trưởng và năng suất của cây trồng. Qua các thí nghiệm và thực tiễn bón vôi ở Việt Nam, bón vôi được xem vừa như một biện pháp cải tạo đất, vừa như một biện pháp kỹ thuật có hiệu quả nhanh bằng tăng năng suất cây trồng đặc biệt ở những loại đất có độ chua cao. Do vậy năng suất và sinh trưởng của cây là phản ánh hiệu quả tổng hợp của bón vôi. Nếu xét từng mặt, có thể thấy hiệu quả của bón vôi qua các khía cạnh sau:

    – Bón vôi khử chua cho đất đồng nghĩa với việc làm giảm tính độc của mangan và nhôm di động trong đất. Ở nước ta các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nhôm hoà tan với cây trồng còn ít, một số tác giả cũng kết luận về ảnh hưởng xấu của nhôm tới sinh trưởng của một số loại cây. Nhiều kết quả nghiên cứu về nhôm hoà tan trong đất của các tác giả nước ngoài cho thấy nhôm có ảnh hưởng tới sự phân chia tế bào của rễ, giảm tỉ lệ hô hấp của rễ, ảnh hưởng tới hoạt động cuả một số loại enzim, tính thấm của màng tế bào và khả năng của rễ hấp thu các cation khác như Ca 2+ , Mg 2+ … Ảnh hưởng xấu của nhôm hoà tan trong đất thể hiện rõ trong việc cố định lân làm giảm lượng lân rễ tiêu trong đất.

    – Ngoài làm giảm các chất độc trong đất, bón vôi còn huy động chất dinh dưỡng trong đất.

    Trước tiên bón vôi có ảnh hưởng đến cân bằng cation giữa keo đất và dung dịch đất. Cation Ca2+ trong vôi sẽ trao đổi và đẩy các cation dinh dưỡng như NH+4 , K+ trên bề mặt keo đất và đẩy các cation này từ bề mặt keo ra dung dịch để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây như phản ứng sau:

    NH 4+ Ca 2+

    KĐ. + Ca 2+ KĐ. + NH 4+ + K+

    K+

    Ngoài ra Ca 2+ trong vôi còn làm nhiệm vụ nâng cao chất lượng của các cation trên bề mặt keo như giảm độ chua tiềm tàng bằng việc đẩy nhôm ra ngoài dung dịch và kết tủa nhôm hoặc đẩy Na+ ở đất mặt ra dung dịch.

    Al 3+ Ca 2+

    KĐ. + Ca(OH) 2 KĐ. + Al(OH) 3 + H 2

    K+

    Na+ Ca 2+

    KĐ. + Ca(OH) 2 KĐ. + 2Na+.

    Na+

    Vai trò huy động chất dinh dưỡng trong đất của bón vôi còn được thể hiện thông qua ảnh hưởng của pH đất đến độ hoà tan của lân và một số nguyên tố vi lượng.

    Ở đất chua, lân rễ tiêu rất thấp bởi sự cố định lân của sắt và nhôm di động trong đất. Khi bón vôi, pH đất tăng dần và Al, Fe di động bị kết tủa làm tăng lượng lân dễ tiêu trong đất. Tuy nhiên nếu bón quá nhiều vôi, pH vượt quá trị số pH trung tính thì lân lúc này lại là cố định dưới dạng photphat 3 canxi Ca 3(PO 4) 2 thay cho photphat sắt nhôm ở đất chua FePO4, AlPO 4. Như vậy để đảm bảo chất lượng lân dễ tiêu cao nhất thì việc tính toán lượng vôi bón để đạt trị số pH trong khoảng 5,5 – 6,8 là rất quan trọng. Tương tự như đối với lân, đa số các nguyên tố vi lượng, trừ Mo, có khả năng hoà tan và cung cấp cho cây lớn nhất trong khoảng pH = 5,5 – 6,0.

    – Bón vôi cải thiện tính chất vật lý của đất. Khi bón vôi cho đất chua, cation Ca+2 có khả năng kết hợp với mùn, ngưng tụ mùn để tạo nên các vật chẩt kết gắn như: Mùn – Ca – mùn, mùn – Ca – sét. Sự cải thiện kết cấu đất của bón vôi sẽ cải thiện được một loạt các tính chất khác của đất, như làm tăng tính thấm nước , tính thông khí của đất…

    Ngoài ra bón vôi có các ảnh hưởng khác như làm tăng tính chống chịu bệnh của cây, tăng chất lượng của sản phẩm thu hoạch…

    – Cần phải xem xét khoảng pH thích hợp cho các loại cây trồng:

    Như ta đã biết mỗi loại cây trồng sống thích hợp với một khoảng giá trị pH thích hợp. Như chè có thể sinh trưởng và cho năng suất cao trong khoảng pH = 4,5 – 5,5. Trái lại có một số loại cây trồng chỉ có thể sinh trưởng và đạt năng suất cao trong môi trường trung tính hoặc kiềm yếu như bông, mía, dưa chuột, đa số các loại đậu đỗ. Tuy nhiên, hầu hết các loại cây trồng đều có thể sinh trưởng và phát triển bình thường trong khoảng pH = 6,0 – 8,0. Vì vậy để xác định được trị số pH thích hợp cho mỗi loại cây trồng, làm cơ sở cho việc tính toán lượng vôi bón, cần có các thí nghiệm đồng ruộng, thí nghiệm trong phòng cho từng loại cây trồng cụ thể.

    – Nắm được tính chất của loại đất nghiên cứu.

    + pH KCl hay độ no bazơ.

    Khi căn cứ vào pH KCl của đất và khoảng pH thích hợp của cây trồng ta sẽ xác định được cần bón vôi hay không. Nếu pH của đất nhỏ hơn so với trị số pH thích hợp của cây thì cần bón vôi.

    Ngược lại pH của đất lớn hơn hoặc bằng mức pH thích hợp của cây thì chưa cần bón vôi.

    Như vậy với một loại đất pH = 5,5 thì cần bón vôi khi trồng đậu đỗ, nhưng chưa cần bón vôi khi trồng thuốc lá hoặc chè.

    Nếu dựa vào bazơ thì: V < 50% thì rất cần bón vôi.

    V = 50 – 70% cần bón vôi vừa phải.

    + Độ chua thuỷ phân H (ldl/100g đất).

    Độ chua thuỷ phân thường dùng để tính toán lượng vôi bón cần thiết.

    + Lượng nhôm trao đổi (ldl/100g đất).

    Ở một số nước như Mỹ, Canađa, Braxin … thường dùng trị số về lượng nhôm trao đổi để tính toán lượng vôi bón.

    + Tính đệm của đất.

    Tính đệm của đất được thể hiện qua thành phần cơ giới, hàm lượng mùn, dung tích hấp thu…. Tính đệm là cơ sở để xác định lượng vôi bón thực tế. Nếu đất có tính đệm cao tức là có khả năng chống lại sự thay đổi pH khi ta bón vôi, để tay đổi một đơn vị pH ta cần phải bón nhiều hơn so với đất có tính đệm thấp hơn.

    – Tính toán lượng vôi bón thực tế:

    – Có nhiều phương pháp để tính toán lượng vôi bón. Chúng ta có thể tham khảo một số phương pháp sau:

    + Tính lượng vôi bón dựa vào độ chua thuỷ phân (H).

    Khi xem xét về độ chua của đất hoặc độ no bazơ cùng với trị số pH thích hợp của cây. Nếu thấy cần bón vôi thì dựa vào độ chua thuỷ phân H để tính như sau:

    (1). 1 lđl ion H+ cần 1 ldl gam Ca tức là (40/2 = 20mg Ca).

    (2). Lượng ion H+/diện tích nào đó = S.h.d.10 3.10.H (ldl).

    Trong đó:

    S: Là diện tích tính bằng m 2

    H: Là độ dày tầng canh tác cần trung hoà (m).

    D: Là dung trọng đất (kg/dm 3)

    H: Là độ chua thuỷ phân (ldl/100g đất).

    3). Từ (1) và (2) ta tính được lượng vôi nguyên chất cần trung hoà:

    S.h.d.10 3.10.H.20 (mg).

    Từ công thức chung (3), để tính lượng vôi bằng CaCO 3 hoặc CaO hecta có độ sâu tầng canh tác là 0,2m và dung trọng là 1,5 cách tính như sau:

    Với lượng vôi là CaO:

    0,2 x 10000 x 0,2 x 1,5 x (28/20) x H.

    1000

    1000

    Với cách tính toán dựa vào độ chua thuỷ phân ta tính được lượng vôi lý thuyết cần bón. Có nghĩa là bón theo lượng này pH đất sẽ đạt tới trị số lý tưởng tức là khi đó đất không còn độ chua ẩn trong điều kiện đất không có tính đệm.

    Trong thực tế, không phải tất cả các loại cây trồng đều thích hợp với độ chua lý tưởng như trên và khi bón vôi vào đất trị số pH thay đổi tuỳ loại đất có thành phần cơ giới và hàm lượng mùn khác nhau, tức là có tính đệm khác nhau.

    Căn cứ vào từng loại đất và cây trồng cụ thể mà ta có thể bón khoảng 1/3 đến 1/2 lượng vôi trên cho đất bạc màu, đất có thành phần cơ giới nhẹ, có hàm lượng mùn thấp và bón khoảng 2/3 đến 3/4 lượng vôi lý thuyết cho đất có tính đệm tốt như đất sét, đất giàu mùn.

    Đây là cách tính lượng vôi bón thường được áp dụng ở nước ta. Phương pháp này có ưu điểm là tính toán nhanh, đơn giản. Nhưng phương pháp có nhược điểm là không tính được lượng vôi chính xác cho từng loại cây trồng cụ thể trên những loại đất cụ thể. Từ lượng vôi bón lý thuyết đến lượng bón thực tế được xác định chủ yếu dựa vào định tính phụ thuộc vào nhiều kinh nghiệm của người tính toán.

    Tính toán lượng vôi bón dựa vào thí nghiệm trong phòng:

    Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi ở Mỹ và một số nước châu Mỹ la tinh khác.

    Về phương pháp của nguyên tắc này là:

    Dùng một loại chậu hoặc vại dựng một lượng đất nhất định của loại đất cần nghiên cứu. Sau đó người ta cho vào mỗi chậu với lượng vôi khác nhau cung cấp cho đất độ ẩm xác định. Sau một vài ngày (hoặc thậm chí một vài tháng), người ta đo pH trong các chậu.

    Từ kết quả thí nghiệm người ta biết được lượng vôi cần thiết để đưa pH của loại đất cần nghiên cưú từ trị số ban đầu lên trị số cần đạt.

    Đây là phương pháp có độ chính xác cao hơn. Có căn cứ vào tính đệm của đất trong quá trình tính toán và xác định lượng vôi cụ thể cho từng loại cây trồng với trị số pH xác định. Tuy nhiên phương pháp này thường tốn thời gian hơn.

    CÂU HỎI ÔN TẬP

    CHƯƠNG 4

    Поделитесь с Вашими друзьями:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Cải Tạo Tăng Độ Phì Nhiêu Cho Đất
  • Biện Pháp Làm Tăng Độ Phì Nhiều Của Đất, Độ Phì Nhiêu Của Đất Là Gì?
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Khi Khởi Kiện
  • Thủ Tục Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính
  • Về Điều Kiện Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự
  • Khả Năng Hấp Thụ Của Đất

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Biện Pháp Đảm Bảo Giáo Viên Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Skkn Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp Đối Với Học Sinh Lớp 1
  • Biện Pháp Luân Canh Có Tác Dụng Lớn Nhất Là: Tăng Sức Chống Chịu Sâu Bệnh Của Cây
  • Do trong đất có chứa những keo mang điện tích, nên có khả năng hấp thụ. Nếu xử lý đất bằng một muối phân ly trung tính (KCl) thì K+ của muối này bị đất hấp phụ và trong dung dịch đất lại xuất hiện một cation khác.

    Khả năng giữ lại những chất ở trạng thái hòa tan hoặc một phần khoán chất phân tán ở dạng keo hay những hạt rất nhỏ, vi sinh vật và những thể huyền phù thô khác gọi là khả năng hấp phụ của đất.

    Khả năng hấp phụ của đất được chia ra 5 dạng sau:

    1. Hấp phụ cơ học: Là khả năng đất giữ lại những hạt tương đối thô trong các khe, lỗ hỏng. đất là một thể xốp, chứa nhiều lỗ hổng có kích thước khác nhau nên có khả năng giữ lại một cách cơ học những hạt có kích thước lớn hơn kích thước của lỗ hổng, hay các chổ uốn cong của mao quản.
    2. Hấpthụ lý học (hấp thụ phân tử): Là khả năng giữ lại những hạt có kích thước nhỏ, những phân tử, nguyên tử trên bề mặt keo đất. Các hạt đất có kích thước nhỏ thường co năng lượng bề mặt. Hấp thụ lý học phụ thuộc nhiều vào thành phần cơ giới, nếu đất nào có nhiều hạt sét (thành phần cơ giới nặng) thì có năng lượng bề mặt lớn do đó khả năng hấp phụ lý học càng lớn.
    3. Hấp thụ lý học: Là khả năng giữ lại trong đất các chất hoa tan ở dạng kết tủa, không tan, ít tan do kết quả của những phản ứng hóa học xảy ra trong dung dịch đất.

    Dạng hấp phụ này rất phổ biến trong đất và dẫn đến sự cố định nhiều nguyên tố dinh dưỡng trong đất.

    1. Hấp phụ lý – hóa học (hấp thụ trao đổi): Là hấp phụ trao đổi giữa nhũung ion trên bề mặt các keo đất và những ion cùng dấu trong dung dịch đất. Thực chất là phản ứng lý – hóa giữa keo đất và ion trong dung dịch đất.
    2. Hấp phụ sinh học:Là khả năng giữ lại các chất dinh dưỡng bởi vi sinh vật từ dung dịch đất, chủ yếu là cây xanh và vi sinh vật.Đây là hình thức hấp phụ một chiều, đôi khi còn là trao đổi, vì rễ thực vật tiết ra ion H+ để trao đổi với chất dinh dưỡng ở dạng cation.

    Đặt tính nổi bật của hấp phụ sinh học là tính chọn lọc, tức mỗi loài thực vật chỉ thu và giữ trong chúng một số nguyên tố hóa học nhất định, do đó không làm chúng rửa trôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 7. Một Số Tính Chất Của Đất Trồng
  • Khả Năng Hấp Phụ Của Đất
  • Biện Pháp Cải Tạo Tăng Độ Phì Nhiêu Cho Đất
  • Biện Pháp Làm Tăng Độ Phì Nhiều Của Đất, Độ Phì Nhiêu Của Đất Là Gì?
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Khi Khởi Kiện
  • Biện Pháp Làm Tăng Độ Phì Nhiều Của Đất, Độ Phì Nhiêu Của Đất Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Cải Tạo Tăng Độ Phì Nhiêu Cho Đất
  • Khả Năng Hấp Phụ Của Đất
  • Bài 7. Một Số Tính Chất Của Đất Trồng
  • Khả Năng Hấp Thụ Của Đất
  • 10 Biện Pháp Đảm Bảo Giáo Viên Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm
  • Độ phì nhiêu của đất là gì?

    Độ phì nhiêu của đất là khả năng của đất để duy trì sự phát triển của cây trồng và tối ưu hóa năng suất cây trồng. Các yếu tố cấu thành nên độ phì nhiêu của đất phải kể đến như các chất dinh dưỡng phù hợp với cây trồng. Độ ẩm thích hợp, nhiệt độ thích hợp. Không độc hại và đất tơi xốp.

    Đất có độ phì nhiêu cao sẽ giúp cây trồng tươi tốt và cho năng suất cao. Ngược lại đất có độ phì nhiêu thấp sẽ khiến cây trồng vàng héo và kém phát triển.

    Trong quá khứ, thiên nhiên đã xây dựng nên những loại đất giàu dinh dưỡng và phù hợp cho sự phát triển của cây cơ. Nhưng có quá trình này kéo dài hàng triệu năm. Chúng ta không thể có nhiều thời gian để làm điều đó như tự nhiên đã làm.

    Do đó chúng ta cần những biện pháp thông minh để tăng độ phì nhiêu cho đất. Chúng ta có thể tác động qua một hoặc đồng thời nhiều yếu tố như luân canh, xới đất, tạo luống, làm cỏ, kĩ thuật làm đất, ủ phân, bảo tồn tất, bón phân, kiểm tra đất,….

    Cách làm tăng độ phì nhiêu của đất

    Tạo luống và lối đi cố định

    Một quy tắc mà các chuyên gia nông nghiệp khuyên bạn nên tuân theo khi làm vườn là không nên đi bộ trên luống vườn. Giẫm lên đất sẽ làm chặt nó, phá hủy đất cũng như các sinh vật có ích trong đất và môi trường sống của chúng.

    Tạo thành các luống và các lối đi cố định. Các lối đi chỉ nên vừa đủ để bạn có thể thăm khu vườn của bạn và không nên tốn quá nhiều diện tích. Thiết lập thành các lối đi sẽ giúp tránh được tình trạng đất bị nén chặt do di chuyển.

    Thay vì áp dụng các biện pháp cải tạo đất nhiều vất vả trên diện rộng. Bạn chỉ cần áp dụng chúng cho các khu vực luống cố định, bỏ qua các lối đi Việc lắp đặt hệ thống tưới cũng dễ dàng hơn trên các luống cố định

    Việc tạo cho khu vườn của bạn thành các luống và lối đi cố định này sẽ giúp cho khu vực trồng cây của bạn luôn tươi xốp, đảm bảo độ phì nhiêu của đất. Ngoài việc chúng còn giúp bạn tiết kiệm thời gian và tiền bạc chăm sóc cây.

    Xới đất và làm cỏ

    Xới đất là một phương pháp cơ học để làm tơi xốp và thoáng khí cho đất chuẩn bị trồng. Các chuyên gia khuyên rằng bạn nên xới đất ít nhất một năm một lần. Ở các vùng quê Việt Nam thường dùng trâu cày tơi đất lên sau mùa vụ.

    Các trang trại lớn thường dùng các loại máy để xới đất. Ở mô nhỏ như vườn sân sau nhà bạn thì có thể không cần xới đất. Ở khu vườn nhỏ việc xới đất có thể khiến đất bị rửa trôi, xói mòn hoặc tiêu diệt các vi sinh vật trong đất.

    Với những khu vườn nhỏ, thì bạn nên dùng cái nĩa đào hoặc xẻng nhỏ để làm tơi đất mà không tiêu diệt vi sinh vật. Trước khi trồng cây, bạn chỉ cần nhẹ nhàng đảo đất khoảng 5- 7cm trước khi trồng là có thể đảm bảo độ tơi xốp phì nhiêu cho đất

    Bổ sung dinh dưỡng cho đất

    Phân chuồng

    Phân chuồng là nguồn cung cấp rất nhiều chất dinh dưỡng khác nhau cho cây. Lượng chất dinh dưỡng khác nhau tùy thuộc vào loài vật nuôi, thức ăn và cách bảo quản phân. Ví dụ như phân bò chứa khoảng 5 tới 6 kg nito, 2 đến 4kg photpho và 4 tới 6 kg kali mỗi tấn.

    Trong khi đó phân gia cầm có tỷ lệ cao hơn của cả ba yếu tố. Phân chuồng có thể bón tươi cho cây. Khi bón phân tưới thì bạn cần lưu ý thời điểm bón phân. Các loại phân chuồng được ủ cho tới hoai mục được sử dụng nhiều hơn.

    Phân xanh chủ yếu là từ các loại thực vật được ủ, trộn với vi sinh cho lên men trong một thời gian nhất định rồi bón cho cây. Đây cũng là một nguồn dinh dưỡng dồi dào bổ sung cho đất.

    Các loại cây thường được sử dụng như cây phân xanh, vỏ lạc, bột đậu tương, thân chuối, rác mía, vỏ cà phê chúng tôi nhiên khi mua các phân này bạn cần chú ý mua từ các nguồn uy tín. Bởi vì chúng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ lây lan mầm bệnh.

    Các nguồn chất hữu cơ khác

    Ngoài ra còn nhiều nguồn phân hữu cơ khác có thể cung cấp một lượng đáng kể các yếu tố dinh dưỡng cho đất của bạn. Ví dụ như tàn dư cỏ dại, tàn dư các cây trồng khác, nước tiểu của động vật,…

    Trên thị trường cũng bán nhiều loại phân hữu cơ động vật: phân gà, phân bò, phân dê,…. Bạn có thể tìm mua để cải tạo độ phì nhiêu cho đất của mình. Tần suất sử dụng các loại phân hữu cơ này được khuyến cáo là một năm một lần.

    Luân canh cây trồng và cho đất nghỉ ngơi

    Luân canh cây trồng là một trong những biện pháp tận dụng tốt đất và vẫn giúp cải tạo đất. Chúng có thể cung cấp chất hữu cơ và chất dinh dưỡng, cải thiện hệ thống thoát nước và thông khí, thu hút các sinh vật có ích trong đất.

    Các loại cây luân canh có thể gieo trồng vào bất cứ thời điểm nào trong năm. Nhưng phổ biến vào cuối hè hoặc đầu thu khi mùa vụ của cây chính kết thúc. Chúng sinh trưởng qua mùa đông.

    Hoặc một biện pháp khác là để cho đất nghỉ ngơi, để cho cỏ dại mọc tự do. Sau đó khoảng 3 tuần trước khi vào mùa vụ mới bạn nên xới tơi đất và có thể lật những cây cỏ này xuống.

    Tạo lớp phủ trên bề mặt đất

    Tạo một lớp phủ là một trong những biện pháp tăng độ phì nhiêu cũng như để bảo vệ đất. Chúng có tác dụng chống xói mòn do gió. Nó cũng rất hữu ích trong việc giúp đất giữ được lượng nước cần thiết.

    Bạn có thể rải một lớp mùn mỏng, hoặc lá cây khô đã có phần hoai mục xung quanh gốc của các cây đang phát triển trong mùa sinh trưởng. Lớp phủ sẽ giữ cho đất không tiếp xúc trực tiếp với gió và nước. Đồng thời giữ được các chất dinh dưỡng và độ ẩm trong đất.

    Trên thị trường cũng có bán một số sản phẩm mùn phủ khác nhau. Giá của chúng cũng không hề đắt và có thể dễ dàng mua ở các cửa hàng bán vật liệu nuôi trồng. Ngoài ra bạn có thể sử dụng gỗ vụn, lá cây và xác thực vật mục nát vào máy cắt nhỏ tạo thành hỗn hợp mùn phủ.

    Đào các rãnh thoát nước

    Các chuyên gia nông nghiệp khuyên rằng bạn nên tạo các rãnh thoát nước, định hướng nước chảy. Điều này tránh ngập úng cho khu vườn, đặc biệt là vào những ngày mưa. Đồng thời rãnh thoát nước làm giảm dòng chảy tránh xói mòn đất.

    Nuôi giun và các sinh vật có lợi

    Các sinh vật nói chung đặc biệt là giun có vai trò quan trọng trong việc phân hủy chất hữu cơ và hình thành mùn. Do đó chúng rất cần thiết cho đất khỏe mạnh, độ phì nhiêu cao.

    Giun và các sinh vật có lợi góp phần trong việc tái chế các chất dinh dưỡng trong đất. Chúng cũng giúp cải thiện đáng kể sự sẵn sàng cung cấp dinh dưỡng của đất cho cây trồng.

    Giun ăn các vật chất chết và thối rữa. Sau khi tiêu hóa, sau đó bài tiết ra ngoài phân giàu dinh dưỡng góp phần tạo nên sự phong phú dinh dưỡng của đất.

    Bạn có thể nuôi giun bằng cách sử dụng phân tươi và đất. Trộn đều chúng cùng với ít nước, tránh quá ướt và đậy lại. Sau khoảng 2 tuần những con giun sẽ sinh sản và phát triển.

    Với quy mô lớn thì bạn có thể mua sẵn các loại phân vi sinh có sẵn trên thị trường. Bón đều đặn khoảng một năm một lần để tăng độ phì nhiêu cho đất.

    Bón vôi cho đất

    Vôi và thạch cao được biết đến không chỉ là những sản phẩm có giá trị để điều hòa độ pH của đất. Chúng còn cung cấp canxi và magie thiết yếu cho đất. Sau khi canh tác một vài năm đất thường có độ pH thấp, giảm độ phì nhiêu đất.

    Do đó, việc bón vôi định kì và kiểm tra độ pH là điều cần thiết. Trung bình thì chúng ta nên bón vôi sau mỗi 3 – 4 năm trồng cây. Cứ sau mỗi 3 năm lại kiểm tra lại một lần xem có cần bón thêm vôi không.

    Có thể bón vôi vào tất cả các thời điểm trong năm. Nhưng tốt hơn trước khi cày bừa làm tơi đất. Bón vôi ít nhất 6-8 tuần trước khi trồng hoặc gieo hạt vì nó phản ứng tương đối chậm trong đất và cần thời gian để cho tác dụng tăng pH.

    Nên bón vôi từng chút một. Tránh việc bón quá nhiều vôi sẽ khiến đất kiềm. Nếu đất quá kiềm, các chất dinh dưỡng như sắt, mangan, kẽm và phốt pho sẽ không thể tiếp cận được với cây trồng.

    Các loại vôi được khuyên sử dụng đó là vôi nông nghiệp với hàm lượng canxi cacbonat (CaCO 3) tối thiểu là 80%. Vôi Dolomitic gồm lượng canxi và magie cacbonat (CaCO 3 + MgCO 3) bằng nhau và nên được sử dụng trên đất chua thiếu magie.

    Vôi tôi hoặc vôi xây dựng thường tiết kiệm hơn nhưng hút ẩm và ăn da. Điều này khiến việc sử dụng nó gây khó chịu. Các chuyên gia nông nghiệp khuyên rằng bạn không nên dùng vôi nung để bón cho cây.

    Cách xác định độ phì nhiêu của đất và nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng

    Để đưa ra quyết định sử dụng loại phương pháp nào tăng độ phì nhiêu của đất bạn cần có một số quan sát hoặc kiểm tra đất thích hợp. Quan sát sự phát triển của cây trồng hoặc các loại cỏ dại cũng có thể phát hiện chất dinh dưỡng nào đang thiếu.

    Ví dụ như cây tăng trưởng ban đầu kém, thể trạng thấp còi, sự phát triển rễ bị hạn chế, ra hoa quả muộn có thể cho thấy cây đang thiếu dinh dưỡng và đất chưa đủ độ phì nhiêu thích hợp.

    Sự phát triển lá cũng có thể cho biết sự thiếu hụt dinh dưỡng. Nhưng cần phân biệt với các nguyên nhân khác như bệnh tật, sâu hại.

    Quan sát màu đất cũng là một cách xác định độ phì nhiêu của đất. Nhìn chung, đất màu sẫm được cho là màu mỡ và có nhiều chất hữu cơ trong đất. Đất có kết cấu nhiều mùn cũng được cho là có độ phì nhiêu cao hơn đất cát.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Khi Khởi Kiện
  • Thủ Tục Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính
  • Về Điều Kiện Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự
  • Khái Quát Chung Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Các Trường Hợp Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Xét Nghiệm Khả Năng Sinh Sản Cho Phụ Nữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Sức Khỏe Sinh Sản Gồm Những Gì Và Được Thực Hiện Ra Sao
  • Khám Sức Khỏe Sinh Sản Là Khám Những Gì?
  • Kiểm Tra Khả Năng Sinh Sản Nữ Cần Thiết Không Và Gồm Những Gì?
  • Nên Lựa Chọn Khám Sức Khỏe Sinh Sản Ở Đâu Có Chất Lượng Dịch Vụ Tốt?
  • Khám Vô Sinh Nữ: Những Xét Nghiệm Cần Được Thực Hiện
    • Tiền sử bệnh tật, tình trạng phẫu thuật
    • Loại thuốc đang sử dụng
    • Hút thuốc lá, uống rượu, ăn hoặc uống đồ uống có caffeine hoặc sử dụng các chất kích thích
    • Tiếp xúc với hóa chất, chất độc hoặc phóng xạ tại nhà hoặc nơi làm việc

    Bác sĩ cũng sẽ muốn biết về đời sống tình dục của bạn, chẳng hạn như:

    • Bạn đã có thai trước đây chưa?
    • Kinh nguyệt trong năm qua có đều không?
    • Kinh nguyệt không đều và biến mất hoặc có đốm máu giữa các chu kỳ không?
    • Bạn có bất kỳ thay đổi trong lưu lượng máu hoặc sự xuất hiện của cục máu đông lớn không?
    • Những phương pháp kế hoạch hóa gia đình mà bạn đã sử dụng
    • Bạn đã bao giờ đi khám bác sĩ về vấn đề vô sinh nữ và đã được điều trị chưa?

    Trên thực tế, vẫn chưa có xét nghiệm tốt nhất để chẩn đoán nguyên nhân vô sinh. Do đó, các bác sĩ sẽ phải sử dụng nhiều cách khác nhau để xác định nguyên nhân gây ra rắc rối về khả năng sinh sản của nữ giới.

    Đầu tiên, bạn có thể được thực hiện xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung (Pap smear) nhằm phát hiện ung thư cổ tử cung, các vấn đề khác với cổ tử cung hoặc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Bất kỳ các bệnh lý nào trong số này có thể can thiệp vào việc mang thai.

    Để có thai, bạn cần giải phóng một quả trứng mỗi tháng – được gọi là “rụng trứng“. Bạn có thể cần các xét nghiệm để kiểm tra vấn đề này. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn làm xét nghiệm nước tiểu tại nhà để tìm hoocmon luteinizing, hoặc LH. Hormone này thường xuất hiện ở nồng độ cao ngay trước khi bạn rụng trứng.

    Bác sĩ cũng có thể kiểm tra mức độ hormone progesterone trong máu của bạn. Tăng progesterone cho thấy bạn đang rụng trứng.

    Bạn có thể kiểm tra nhiệt độ cơ thể mỗi sáng. Nhiệt độ cơ thể thường tăng lên một chút ngay sau khi rụng trứng. Bằng cách kiểm tra nhiệt độ mỗi sáng, bạn sẽ hiểu được quy luật rụng trứng của bản thân trong vài tháng.

    Bác sĩ cũng có thể tiến hành các xét nghiệm trên tuyến giáp của bạn hoặc kiểm tra các vấn đề về nội tiết tố khác nhằm loại trừ các tình trạng có thể mất kinh nguyệt hoặc kinh nguyệt không đều.

    • Chụp buồng tử cung vòi trứng cản quang (tiếng anh là hysterosalpingogram và viết tắt là HSG): Kỹ thuật này sử dụng một loạt các tia X để chụp ống dẫn trứng và tử cung sau khi bác sĩ tiêm thuốc cản quang qua âm đạo. Một phương pháp khác sử dụng nước muối và không khí thay vì thuốc nhuộm và siêu âm. HSG có thể giúp bác sĩ kiểm tra xem ống dẫn trứng của bạn bị chặn hoặc nếu bạn có bất kỳ khiếm khuyết nào ở tử cung hay không. Kỹ thuật chẩn đoán này thường được thực hiện ngay sau kỳ kinh.
    • Siêu âm qua âm đạo (Transvaginal ultrasound): Một bác sĩ đặt que đầu dò vào âm đạo và đưa nó đến gần các cơ quan vùng chậu. Kỹ thuật này sử dụng sóng âm thanh giúp bác sĩ sẽ có thể nhìn thấy hình ảnh của buồng trứng và tử cung để dễ dàng phát hiện các vấn đề ở trong các cơ quan này.
    • Nội soi buồng tử cung (Hysteroscopy): Bác sĩ đặt một ống mỏng mềm và ở đầu có gắn một camera, từ từ đưa qua cổ tử cung và vào trong tử cung. Kỹ thuật này giúp bác sĩ nhìn được vào bên trong tử cung và nếu cần thiết có thể lấy mô tử cung để làm xét nghiệm.
    • Nội soi ổ bụng: Bác sĩ thực hiện kỹ thuật này thông vết cắt nhỏ trên bụng và chèn các dụng cụ đặc biệt vào bên trong, bao gồm cả máy quay. Kỹ thuật này có thể kiểm tra toàn bộ khung xương chậu và có khả năng khắc phục được một số vấn đề, chẳng hạn như lạc nội mạc tử cung.

    Bác sĩ có thể yêu cầu các xét nghiệm khác để kiểm tra các vấn đề sinh sản.

    • Xét nghiệm nồng độ hormone nữ bằng cách xét nghiệm máu để kiểm tra nồng độ hormone kích noãn bào tố (follicle-stimulating hormone, FSH) có chức năng kích hoạt buồng trứng chuẩn bị một quả trứng để rụng mỗi tháng. Nếu nồng độ FSH cao có thể có nghĩa là khả năng sinh sản thấp. Nồng độ FSH trong máu được kiểm tra sớm trong chu kỳ kinh nguyệt (thường là vào ngày thứ 3).
    • Xét nghiệm thử thách clomiphene citrate (Clomiphene citrate challenge) có thể được thực hiện cùng với xét nghiệm FSH. Bạn uống một viên clomiphene citrate vào ngày thứ năm đến thứ chín của chu kỳ kinh nguyệt. FSH được kiểm tra vào ngày thứ 3 (trước khi bạn dùng thuốc) và vào ngày thứ 10 sau đó. Nồng độ FSH cao cho thấy bạn có cơ hội mang thai thấp hơn.
    • Bác sĩ cũng có thể chỉ định xét nghiệm máu để kiểm tra hormone anti-müllerian AMH). Mức độ AMH cho thấy phụ nữ có bao nhiêu trứng, đây được gọi là dự trữ buồng trứng. Nếu mức độ càng cao thì cơ hội mang thai càng cao.
    • Xét nghiệm sau giao hợp (postcoital testing). Bác sĩ kiểm tra chất nhầy cổ tử cung của bạn sau khi bạn quan hệ tình dục.
    • Sinh thiết nội mạc tử cung

    Bạn có thể không cần phải thực hiện tất cả các xét nghiệm này. Tùy thuộc vào từng tình trạng cụ thể, bác sĩ sẽ chỉ định loại xét nghiệm và kỹ thuật chẩn đoán nào phù hợp nhất. Sau khi xét nghiệm xong, khoảng 85% các cặp vợ chồng sẽ tìm được lý do tại sao họ gặp khó khăn khi mang thai.

    Khách hàng có thể đến với Trung tâm Hỗ trợ sinh sản – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec. Đây là trung tâm hàng đầu Việt Nam được xây dựng và áp dụng quy trình điều trị phối hợp thăm khám toàn diện, kết hợp cả nam khoa và sản phụ khoa để đưa ra phương pháp tối ưu cho từng trường hợp của người bệnh.

    Ưu điểm khi khách hàng lựa chọn trung tâm hỗ trợ sinh sản Vinmec:

    • Được trang bị thiết bị hiện đại, hệ thống khí sạch theo tiêu chuẩn quốc tế đảm bảo chất lượng lab, hệ thống tủ cấy đơn tối ưu hóa chất lượng phôi, nâng cao tỉ lệ thành công cho mỗi chu kỳ thụ tinh nhân tạo.
    • Thực hiện hầu hết các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tiên tiến trên thế giới: ICSI (tiêm tinh trùng vào bào tương noãn); hỗ trợ phôi thoát màng; dự trữ sinh sản: đông phôi, đông tinh, đông noãn giúp KH chủ động thời gian sinh con theo ý muốn, chuyển phôi ngày 5, giảm thiểu thai; các kỹ thuật vô sinh nam (PESA, MESA, TEFNA, TESE)
    • Bên cạnh phương pháp hỗ trợ sinh sản tiên tiến, đội ngũ bác sĩ giỏi trong nước và thế giới, có uy tín và kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực hiếm muộn.

    Để đăng ký khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương 3: Quản Lý Chất Lượng
  • Vai Trò, Trách Nhiệm, Nhiệm Vụ Của Trưởng Phòng Sản Xuất
  • Những Vấn Đề Xoay Quanh Kcs Và Nhiệm Vụ Của Bộ Phận Kcs
  • Giới Thiệu Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Quản Lý Chất Lượng
  • Làm Thế Nào Để Kiểm Tra Chính Tả Trong Slide Powerpoint Trong 60 Giây.
  • Làm Thế Nào Để Tăng Độ Phì Nhiêu Của Đất?

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Để Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 5
  • Skkn Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 5 Mot So Bien Phap Lam Cong Tac Chu Nhiem Lop Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1
  • Giáo Án Ngữ Văn 9
  • Nghệ Thuật Tả Cảnh Ngụ Tình Là Gì? Tìm Hiểu Bút Pháp Tả Cảnh Ngụ Tình
  • Độ phì nhiêu của đất hay còn gọi là khả năng sản xuất của đất là tổng hợp các điều kiện, các yếu tố để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt”. Những điều kiện đó là: Đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết ở dạng dễ tiêu đối với cây trồng. Độ ẩm thích hợp. Nhiệt độ thích hợp. Chế độ không khí thích hợp cho hô hấp của thực vật và hoạt động của vi sinh vật. Không có độc chất. Không có cỏ dại, đất tơi xốp đảm bảo cho hệ rễ phát triển.

    Do đó, muốn tăng độ phì nhiêu của đất và thu được năng suất cao, ổn định, cần phải tác động đồng thời các yếu tố đối với đời sống cây trồng. Có thể dùng các biện pháp như thủy lợi, kỹ thuật làm đất, phân bón, chế độ canh tác,… để cải tạo đất.

    Ngoài luân canh cây trồng, các nhà khoa học đề xuất một số biện pháp kỹ thuật khác để cải thiện và phục hồi độ phì nhiêu của đất. Đó là cải thiện chất hữu cơ trong đất bằng cách bón phân hữu cơ hoặc phân rơm đã được ủ cho hoai. Sử dụng các loài nấm và vi khuẩn phân hủy rơm trả lại dinh dưỡng cho đất. Tiến hành các biện pháp làm đất thích hợp: Đối với canh tác rau màu nên làm ở ẩm độ thích hợp. Đối với canh tác lúa nên sử dụng các loại máy cày nhỏ trong khâu chuẩn bị đất để hạn chế tác động nén dẽ trong điều kiện làm đất ướt. Những biện pháp này cũng đã được thực hiện mô hình thí nghiệm và cho kết quả khả quan.

    – Giàu các nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng, bao gồm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng.

    – Khả năng trao đổi ion (CEC) cao để giữ gìn dinh dưỡng và tiết dần cho cây hấp thu.

    – Giàu vi sinh vật (VSV) có ích, gồm VSV tạo dinh dưỡng và VSV đối kháng (với VSV gây bệnh cây).

    Trong 5 chỉ tiêu trên thì chỉ tiêu thứ 3 Giàu chất hữu cơ là quan trọng và quyết định nhất cho độ phì nhiêu của đất, vì chất hữu cơ tạo nên phần lớn các chỉ tiêu khác nêu trên. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, đất có nhiều chất hữu cơ thì sinh vật đất phát triển phong phú, nhất là giun đất, các VSV khoáng hóa (phân hủy) chất hữu cơ, VSV phân giải lân và VSV cố định đạm. Theo chúng tôi Vũ Cao Thái:

    – Đất không bón gì thì VSV tổng số (gồm vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm, tảo và nguyên sinh vật động vật) có 510 triệu con/gam đất.

    – Đất bón phân chuồng có 930 triệu con/gam đất;

    – Đất bón phân sinh hóa hữu cơ KOMIX có 878 triệu con/gam đất.

    – Đất bón phân NPK (hóa học) chỉ có 420 triệu con/gam đất.

    Bốn số liệu trên cho thấy, trong đất bón phân chuồng và phân sinh hóa hữu cơ Komix có nhiều chất hữu cơ nên lượng VSV nhiều gấp 2 lần đất bón phân hóa học. Nhiều kết quả nghiên cứu cũng khẳng định độ che phủ của thảm thực vật càng cao (đồng nghĩa với hàm lượng hữu cơ trong đất càng lớn) thì tổng số VSV trong đất càng nhiều, trong đó đáng mừng là đại bộ phận VSV có ích sống hoại sinh trong đất, còn lại VSV có hại sống ký sinh gây bệnh cho cây là rất ít.

    Các biện pháp bảo vệ độ phì nhiêu cho đất:

    – Tăng cường bón phân hữu cơ cho đất, trong điều kiện Việt Nam hiện nay thì càng nhiều càng tốt;

    – Bón phân hóa học vừa đủ, cân đối;

    – Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc BVTV bằng các hóa chất độc hại và nếu có điều kiện thì sử dụng các chế phẩm sinh học, thảo mộc để thay thế.

    Theo sonongnghiep.angiang.gov.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Độ Phì Nhiêu Của Đất Là Gì? Thế Nào Là Đất Phì Nhiêu?
  • Những Cách Làm Hay Tăng Độ Phì Nhiêu Cho Đất
  • Giải Pháp Nào Làm Tăng Độ Phì Nhiêu Cho Đất?
  • Các Trường Hợp Không Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính
  • Phân Biệt Xử Phạt Hành Chính Và Biện Pháp Ngăn Chặn Hành Chính
  • Suy Thận Có Con Được Không? Làm Gì Để Tăng Khả Năng Có Con?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Chức Năng Thận: Làm Cách Nào Để Thận Luôn Khỏe Mạnh?
  • Thăm Dò Chức Năng Tuyến Vỏ Thượng Thận
  • Chế Độ Dinh Dưỡng Bổ Thận
  • Đau Thận Trái Nên Làm Gì ? Đây Có Phải Là Dấu Hiệu Suy Thận Giai Đoạn Đầu ?
  • Giãn Đài Bể Thận Trái: Nguyên Nhân, Chi Phí Mổ, Nên Ăn Gì?
  • Suy thận là hậu quả của bệnh thận gây suy giảm chức năng lọc của cầu thận. Ngoài những cách điều trị suy thận bằng phương pháp lọc máu thì người bệnh còn được điều trị thêm các bệnh khác do biến chứng suy thận. Bệnh suy thận và những bệnh lý kèm theo có nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe sinh lý của nam giới do suy giảm hormon androgen được sản xuất từ tuyến thượng thận, giảm chất lượng tinh trùng, suy giảm chức năng tình dục,… dẫn đến khó có con.

    Tương tự đối với nữ giới, tuyến thượng thận là nơi lọc thải những chất cặn bã, độc tố và sinh sản ra hormone. Do đó khi chức năng thận bị suy giảm, sẽ gây ra những vấn đề như tóc gãy rụng, xơ, yếu, bị phù, tiểu nhiều, tăng cân bất thường, tiểu đêm gây ảnh hưởng xấu đến giấc ngủ, ngủ không sâu giấc.

    Chức năng sinh lý suy giảm cùng với thể trạng mệt mỏi, bị suy nhược, tâm lý chán nản sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu quan hệ ở phụ nữ. Bệnh suy thận ảnh hưởng đến khả năng có con một cách từ từ chứ không xuất hiện luôn như ở nam giới nên rất khó phát hiện.

    Vì vậy, các chuyên gia y tế khuyến cáo cả nam giới và nữ giới cần đến ngay các cơ sở y tế uy tín để thăm khám và có phương án điều trị kịp thời nếu nhận thấy những dấu hiệu của bệnh.

    Còn về việc sử dụng thuốc huyết áp thì không có ảnh hưởng gì, nếu chất lượng và số lượng tinh trùng tốt thì hai vợ chồng có thể yên tâm sinh con.

    Suy thận nên làm gì để tăng khả năng có con?

    • Cải thiện chế độ dinh dưỡng: Người bệnh không sử dụng chất kích thích như rượu, bia thuốc lá, không ăn mặn. Đặc biệt nên tăng cường ăn các loại trái cây, rau củ tốt cho sức khỏe.
    • Thay đổi lối sống sinh hoạt: Người bệnh bắt đầu bằng việc dậy sớm, chọn các bài tập nhẹ nhàng hoặc một môn thể dục yêu thích, không thức quá khuya và không giữ những thói quen xấu trong sinh hoạt.
    • Suy nghĩ tích cực: Nhiều người không biết rằng mong muốn có con đến tiêu cực và sự căng thẳng là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thụ thai của hai người. Vì vậy, cả vợ và chồng nên giữ một thái độ lạc quan, một tinh thần vui vẻ.

    Một số nam giới bị suy thận có thể khó khăn hơn trong việc cương cứng. Còn nữ giới sẽ bị khô âm đạo hơn vì sự sụt giảm hormon. Tình trạng này rất phổ biến ở người bị suy thận, có thể do tác dụng phụ của thuốc hoặc sự tích tụ của các chất thải độc hại trong máu mà thận không thể đào thải hoàn toàn do chức năng thận suy giảm.

    Cảm xúc của người bệnh cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến chức năng tình dục. Điều này bao gồm trầm cảm, sợ hãi, tâm lý stress, thần kinh của người suy thận. Bệnh khiến cho họ cảm thấy mệt mỏi, kém hấp dẫn, có thể ảnh hưởng đến ham muốn tình dục.

    Nhiều người bệnh lo lắng việc quan hệ sẽ khiến cho tình trạng bệnh trở nên xấu hơn. Nhưng theo cách chuyên gia, nếu người bệnh suy thận biết quan hệ một cách hợp lý, không gây mệt mỏi hay suy kiệt thì không ảnh hưởng gì đến bệnh. Lo lắng, sợ hãi khi quan hệ tình dục ở người bị suy thận là điều không cần thiết.

    Có thể bạn muốn biết:

    Đối với những bệnh nhân sau khi ghép thận, nhận được thận cấy ghép, điều quan trọng là chờ cho đến khi vết sẹo đã bắt đầu hồi phục. Bác sĩ chỉ định tất cả đã bình thường, thì người bệnh lúc đó có thể quan hệ bình thường.

    Cập nhật mới nhất vào ngày 12 Tháng Chín, 2022 bởi admin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cây Râu Mèo Tăng Cường Chức Năng Thận Hiệu Quả
  • Các Thực Phẩm Và Chất Dinh Dưỡng Tăng Cường Chức Năng Tuyến Thượng Thận
  • 5 Thực Phẩm Bổ Thận, Bổ Máu, Tăng Sinh Lực Tốt Nhất: Người Muốn Thận Khỏe Không Nên Bỏ Qua
  • Thực Phẩm Bảo Vệ, Tăng Cường Chức Năng Thận
  • Bài Thuốc Tăng Cường Chức Năng Của Thận Giúp Phòng Ngừa Đau Thần Kinh Tọa
  • Sử Dụng Thuốc Kích Thích Trứng Rụng Có Làm Tăng Khả Năng Thụ Thai?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kích Thích Rụng Trứng Bằng Biện Pháp Dân Gian
  • Các Phác Đồ Kích Thích Buồng Trứng Trong Điều Trị Vô Sinh Hiếm Muộn
  • Thuốc Kích Thích Rụng Trứng Clomid Tác Dụng Như Thế Nào?
  • Xác Định Thẩm Quyền Áp Dụng Biện Pháp Khắc Phục Hậu Quả
  • Các Biện Pháp Khắc Phục Hậu Quả Khi Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính
  • Thuốc kích thích rụng trứng như clomiphene được dùng cho phụ nữ có vấn đề về sinh sản. Cơ chế tác động của thuốc là liên kết với các thụ thể estrogen, ngăn chặn sản sinh estrogen và khiến cơ thể nhầm tưởng là lượng estrogen không đủ. Cơ thể phản ứng lại bằng cách sản sinh ra hormon giải phóng gonadotropin (GnRH). Hormon sinh sản này kích thích cơ thể sản xuất nhiều hóc môn kích thích nang trứng hơn (FSH), từ đó đẩy mạnh quá trình sản xuất trứng và làm trứng chín.

    Bác sĩ thường kê thuốc để điều trị tình trạng vô sinh bắt nguồn từ nguyên nhân không rụng trứng, nghĩa là bạn không thể sản xuất hay giải phóng trứng chín. Các dấu hiệu cho thấy bạn có vấn đề về rụng trứng là không có kinh nguyệt hay kinh nguyệt không đều.

    Loại thuốc mà bạn nhắc tới là clomiphene vì thuốc clomiphene chỉ được bán theo toa nên bạn cần đi khám bác sĩ sản phụ khoa để kiểm tra toàn diện khả năng thụ thai của mình.

    Thuốc có nhược điểm là làm nội mạc tử cung mỏng nên hạn chế sự thụ thai. Chính vì điều này mà hiện nay thuốc này chỉ áp dụng cho các trường hợp hiếm muộn mà người vợ trẻ tuổi và chỉ dùng điều trị 1 chu kỳ, nếu thất bại thì các chu kỳ sau sẽ được gây phóng noãn bằng các loại thuốc nội tiết khác.

    Đã là thuốc kích thích gây phóng noãn, dù tác dụng yếu nhưng nếu dùng nhiều chu kỳ, nhất là dùng liên tục trong nhiều tháng sẽ làm buồng trứng kiệt quệ, đưa đến giảm dự trữ buồng trứng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng có con của người vợ. Không có thuốc nào làm tăng hormon sinh sản, chỉ có thuốc làm tăng số lượng nang noãn vượt trội và trưởng thành của người phụ nữ trên nền số nang noãn thứ cấp của sẵn có người đó.

    Bạn nên nhớ có nhiều nguyên nhân dẫn tới không thể thụ thai, mà nhiều trong số đó không thể giải quyết bằng thuốc kích thích rụng trứng. Vì vậy bạn cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám và tư vấn triệt để.

    Chúc hai bạn sớm được như ý !

    BS. Thu Hà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kích Thích Rụng Trứng Mà Chưa Đậu Thai, Có Vô Sinh Không?
  • 7 Giải Pháp Phòng Chống Tác Hại Thuốc Lá Của Tỉnh Đoàn Tuyên Quang
  • Các Biện Pháp Hạn Chế Thuốc Lá
  • Đi Tìm Giải Pháp Cho Người Nghiện Thuốc Lá
  • Hạn Chế Tác Hại Của Thuốc Lá, Bằng Cách Nào?
  • Giải Pháp Nào Làm Tăng Độ Phì Nhiêu Cho Đất?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Cách Làm Hay Tăng Độ Phì Nhiêu Cho Đất
  • Độ Phì Nhiêu Của Đất Là Gì? Thế Nào Là Đất Phì Nhiêu?
  • Làm Thế Nào Để Tăng Độ Phì Nhiêu Của Đất?
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Để Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 5
  • Skkn Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 5 Mot So Bien Phap Lam Cong Tac Chu Nhiem Lop Doc
  • Độ phì nhiêu của đất hay còn gọi là khả năng sản xuất của đất là tổng hợp các điều kiện, các yếu tố để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Những điều kiện đó là: Đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết ở dạng dễ tiêu đối với cây trồng. Độ ẩm thích hợp. Nhiệt độ thích hợp. Chế độ không khí thích hợp cho hô hấp của thực vật và hoạt động của vi sinh vật. Không có độc chất. Không có cỏ dại, đất tơi xốp đảm bảo cho hệ rễ phát triển.

    Do đó, muốn tăng độ phì nhiêu của đất và thu được năng suất cao, ổn định, cần phải tác động đồng thời các yếu tố đối với đời sống cây trồng. Có thể dùng các biện pháp như thủy lợi, kỹ thuật làm đất, phân bón, chế độ canh tác,… để cải tạo đất. Ngoài luân canh cây trồng, các nhà khoa học đề xuất một số biện pháp kỹ thuật khác để cải thiện và phục hồi độ phì nhiêu của đất. Đó là cải thiện chất hữu cơ trong đất bằng cách bón phân hữu cơ hoặc phân rơm đã được ủ cho hoai. Sử dụng các loài nấm và vi khuẩn phân hủy rơm trả lại dinh dưỡng cho đất. Tiến hành các biện pháp làm đất thích hợp: Đối với canh tác rau màu nên làm ở ẩm độ thích hợp. Đối với canh tác lúa nên sử dụng các loại máy cày nhỏ trong khâu chuẩn bị đất để hạn chế tác động nén dẽ trong điều kiện làm đất ướt. Những biện pháp này cũng đã được thực hiện mô hình thí nghiệm và cho kết quả khả quan.

    Trong 5 chỉ tiêu trên thì chỉ tiêu thứ 3 Giàu chất hữu cơ là quan trọng và quyết định nhất cho độ phì nhiêu của đất, vì chất hữu cơ tạo nên phần lớn các chỉ tiêu khác nêu trên. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, đất có nhiều chất hữu cơ thì sinh vật đất phát triển phong phú, nhất là giun đất, các VSV khoáng hóa (phân hủy) chất hữu cơ, VSV phân giải lân và VSV cố định đạm.

    Theo chúng tôi Vũ Cao Thái:

    – Đất không bón gì thì VSV tổng số (gồm vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm, tảo và nguyên sinh vật động vật) có 510 triệu con/gam đất.

    – Đất bón phân chuồng có 930 triệu con/gam đất;

    – Đất bón phân sinh hóa hữu cơ KOMIX có 878 triệu con/gam đất.

    – Đất bón phân NPK (hóa học) chỉ có 420 triệu con/gam đất.

    Bốn số liệu trên cho thấy, trong đất bón phân chuồng và phân sinh hóa hữu cơ Komix có nhiều chất hữu cơ nên lượng VSV nhiều gấp 2 lần đất bón phân hóa học. Nhiều kết quả nghiên cứu cũng khẳng định độ che phủ của thảm thực vật càng cao (đồng nghĩa với hàm lượng hữu cơ trong đất càng lớn) thì tổng số VSV trong đất càng nhiều, trong đó đáng mừng là đại bộ phận VSV có ích sống hoại sinh trong đất, còn lại VSV có hại sống ký sinh gây bệnh cho cây là rất ít.

    2. Các biện pháp bảo vệ độ phì nhiêu cho đất

    – Tăng cường bón phân hữu cơ cho đất, trong điều kiện Việt Nam hiện nay thì càng nhiều càng tốt;

    – Bón phân hóa học vừa đủ, cân đối;

    – Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc BVTV bằng các hóa chất độc hại và nếu có điều kiện thì sử dụng các chế phẩm sinh học, thảo mộc để thay thế.

    Nguồn: Sonongnghiep An Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Trường Hợp Không Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính
  • Phân Biệt Xử Phạt Hành Chính Và Biện Pháp Ngăn Chặn Hành Chính
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Các Biện Pháp Xử Phạt Hành Chính
  • Vi Phạm Hành Chính Là Gì ? Nguyên Tắc Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Nghiệp Vụ Là Gì? Kiến Thức Về Nghiệp Vụ Theo Ngành Nghề
  • Các Biện Pháp Làm Tăng Doanh Thu Của Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Doanh Của Ngân Hàng Công Thương Hà Nam
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Kinh Doanh Tại Nhà Hàng La Villa
  • Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sản Xuất, Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp Thép
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sản Xuất
  • Các biện pháp nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp

    Từ công thức:

    Tổng lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

    Ta thấy để nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp thì chúng ta phải có những biện pháp nhằm nâng cao doanh thu và có những biện pháp hạ thấp chi phí , sau đây là những biện pháp cụ thể:

    Có rất nhiều biện pháp làm tăng doanh thu của doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm và lĩnh vực kinh doanh của từng doanh nghiệp mà có thể lựa chọn những biện pháp phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. Song yêu cầu của việc sử dụng các biện pháp làm tăng doanh thu đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện sao cho có sự kết hợp giữa các biện pháp để đạt được hiệu quả tổng hợp.

      Xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp

    Chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn cho phép doanh nghiệp định hình được hướng đi mà doanh nghiệp đạt đến trong tương lai, nó sẽ chỉ ra các mục tiêu mà doanh nghiệp cần phải thực hiện để đạt được các mục tiêu đề ra của doanh nghiệp.

    Khi có chiến lược và kế hoạch kinh doanh phù hợp cho phép doanh nghiệp tận dụng tối đa các nguồn lực cho sản xuất kinh doanh , như vậy sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, góp phần làm tăng lợi nhuận.

      Xây dựng và triển khai các kế hoạch và các chính sách marketing, đẩy mạnh nghiên cứu khai thác thị trường tìm hiểu nhu cầu của khách hàng.

    Việc triển khai và thực hiện các kế hoạch và chính sách marketing: chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách giao tiếp khuyếch trương, chính sách phân phối… cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu khai thác thị trường và tìm hiểu nhu cầu của khách hàng… cho phép đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng, góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

    -Với chính sách sản phẩm: chú trọng vào việc nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ, đa dạng hoá hình thức mẫu mã, tổ chức khai thác tốt nguồn hàng, tổ chức việc dự trữ hàng hoá để sẵn sàng cung cấp khi thị trường cần…

    -Với chính sách giá cả: Cần xác định giá cả hợp lý để có thể tăng khối lượng tiêu thụ mà vẫn đảm bảo thu được lãi.

    -Với chính sách phân phối: Cần phải lựa chọn địa bàn, xây dựng các cửa hàng, nhà kho nhà xưởng và bố trí mạng lưới phân phối sao cho có thể cung cấp hàng hoá đến cho khách hàng nhanh nhất, đồng thời bố trí mạng lưới phân phối ở địa bàn cho phép cung ứng sản phẩm hàng hoá với khối lượng lớn.

      Tổ chức tốt quá trình kinh doanh sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của công ty.

    Việc tổ chức tốt quá trình kinh doanh sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đòi hỏi Công ty phải thực hiện tốt ở tất cả các khâu: nguồn cung ứng đầu vào, cho đến đầu vào , cho đến dự trữ hàng hoá, đến tiêu thụ hàng hoá, tổ chức thanh toán … thực hiện tốt các khâu của quá trình trên cho phép doanh nghiệp đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, tăng được doanh số bán ra, cắt giảm được các chi phí không hợp lý phát sinh trong quá trình trên và do đó làm gia tăng chi tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp.

      Lựa chọn cơ cấu mặt hàng kinh doanh hợp lý

    Cơ cấu mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng tới tình hình tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp. Vì vậy, để có thể tăng lợi nhuận của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải lựa chọn cho mình một cơ cấu mặt hàng kinh doanh phù hợp cả về số lượng , tỷ trọng của hàng hoá trong cơ cấu, và làm sao cơ cấu đó phải phát huy được những thế mạnh của doanh nghiệp, thu hút được khách hàng đến doanh nghiệp. Lựa chọn cơ cấu mặt hàng kinh doanh hợp lý phù hợp với việc phân đoạn thị trường tiêu thụ mà doanh nghiệp đã phân tích lựa chọn cùng với việc triển khai kế hoạch xúc tiến marketing thu hút khách hàng sẽ mang lại sự thành công cho doanh nghiệp.

      Tổ chức và lựa chọn phương thức bán phù hợp , phương thức thanh toán thuận tiện, thực hiện nâng cao chất lượng dịch vụ sau bán hàng.

    -Phương thức bán: bao gồm bán buôn hay bán lẻ tuỳ thuộc vào ngành hàng mà doanh nghiệp kinh doanh. Song việc lựa chọn phương thức bán hợp lý sẽ đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp.

    -Phương thức thanh toán: thuận tiện nhanh chóng cho người mua sẽ góp phần vào việc khuyến khích khách hàng mua hàng hoá của doanh nghiệp, giảm khoản công nợ khó đòi, như vậy sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

    -Các dịch vụ sau bán hàng như: dịch vụ lắp đặt sửa chữa, hướng dẫn sử dụng… thuận tiện và chất lượng góp phần vào việc thu hút đông đảo khách hàng đến với doanh nghiệp và tăng khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ, làm tăng doanh thu và lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp.

    • Tăng cường công tác quản lý chi phí: Bằng cách lập kế hoạch và tính toán các khoản chi phí mà doanh nghiệp sẽ phải chi trong kỳ. Xây dựng và phát động ý thức tiết kiệm chi phí cho toàn thể cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Dùng các hình thức khuyến khích vật chất cũng như tinh thần để kêu gọi mọi người trong công ty tiết kiệm chi phí kinh doanh, khuyến khích sáng kiến giảm chi phí của mọi người. Ngoài ra để tiết kiệm chi phí thì cũng cần sử dụng một số biện pháp cứng rắn như kỷ luật đối với những trường hợp làm thất thoát chi phí hoặc khai báo chi phí không hợp lệ gian lận… Cần phải thường xuyên kiểm tra và giám sát các chứng từ khai báo về chi phí, có những biện pháp cương quyết, không chấp nhận những khoản chi phí không có chứng từ hợp lệ và vượt quá qui định của Nhà nước.
    • Tổ chức tốt phân công lao động trong doanh nghiệp: là nhân tố quan trọng để nâng cao năng suất cũng như hiệu quả sử dụng lao động , góp phần vào việc tăng hiệu quả chung của doanh nghiệp. Việc tổ chức phân công lao động khoa học và hợp lý trong doanh nghiệp sẽ góp phần vào việc sử dụng và khai thác tối đa nguồn lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, loại trừ tình trạng lãng phí lao động và máy móc, phát huy được năng lực sở trường sở đoản của từng cán bộ công nhân viên trong công ty, phát huy được tinh thần trách nhiệm của mọi người trong công việc, tạo ra môi trường làm việc trong công ty năng động và đạt năng suất chất lượng cao góp phần vào việc giảm giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
    • Tổ chức khai thác tốt nguồn hàng, nguồn cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp

    Nguồn cung ứng đầu vào và chất lượng hàng đầu vào cho doanh nghiệp rất quan trọng bởi lẽ:

    -Nguồn hàng và nguồn cung ứng đầu vào sẽ cung cấp cho doanh nghiệp hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu cần thiết để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó doanh nghiệp có thể cung cấp hàng hoá cho thị trường phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng. Nếu doanh nghiệp không có nguồn hàng hoặc có nhưng không ổn định thì doanh nghiệp sẽ không có hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường hoặc nếu có thì cũng rơi vào tình trạng cung cấp không ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và làm giảm lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được.

    -Sự ổn định và chất lượng của nguồn hàng tốt sẽ cho phép doanh nghiệp giảm được chi phí, nâng cao được chất lượng sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp … góp phần làm giảm giá thành sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp. Do vậy doanh nghiệp cần phải tạo các mối quan hệ thân thiện đối với các nhà cung cấp cho mình, đồng thời doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn cung cấp với giá rẻ, đa dạng hoá nguồn hàng và nguồn cung cấp để có được nguồn hàng và nguồn cung cấp đầu vào ổn định có chất lượng.

      Tổ chức tốt hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp

    Tổ chức tốt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được nhịp nhàng, ăn khớp, liên tục tạo hiệu quả cao.

    Quản lý tài chính tốt cũng là công cụ thúc đẩy hiệu quả kinh doanh làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, góp phần vào việc cung cấp đủ vốn cho hoạt động của doanh nghiệp, tránh được lãng phí trong sử dụng vốn, giảm được chi phí trả lãi vay…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Tăng Doanh Thu Và Lợi Nhuận Doanh Nghiệp
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • Luận Văn Luận Văn Các Giải Pháp Chiến Lược Phát Triển Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Vạn Thành Đến Năm 2010
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Kinh Doanh
  • Công Ty Tnhh Các Giải Pháp Kinh Doanh Á Châu
  • Nguyên Lý Làm Việc Và Khả Năng Tiết Kiệm Điện Của Biến Tần

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Tần: Giải Pháp Tiết Kiệm Điện
  • Tiết Kiệm Điện Năng Biến Tần Có Phải Là “tội Đồ”
  • Giải Pháp Tiết Kiệm Điện Trong Hệ Thống Máy Nén Khí
  • Biện Pháp Tiết Kiệm Điện Cho Máy Nén Khí
  • 8 Giải Pháp Tiết Kiệm Điện Cho Máy Nén Khí Với Chi Phí Thấp Nhất
  • Hiện nay trong sản xuất ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn những sản phẩm công nghệ biến tần (inverter) với tính năng cải thiện khả năng điều khiển của hệ thống máy và đem lại hiệu quả tiết kiệm điện rất lớn.

    Theo các nhà khoa học, công nghệ Inverter xuất hiện cách đây khoảng 20 năm, nhưng đến nay mới được các nhà sản xuất lưu ý. Biến tần là thiết bị biến đổi dòng điện xoay chiều ở tần số này thành dòng điện xoay chiều ở tần số khác có thể điều chỉnh được.  

     

    Nguyên lý cơ bản làm việc của bộ biến tần cũng khá đơn giản. Đầu tiên, nguồn điện xoay chiều 1 pha hay 3 pha được chỉnh lưu và lọc thành nguồn 1 chiều bằng phẳng. Công đoạn này được thực hiện bởi bộ chỉnh lưu cầu diode và tụ điện. Nhờ vậy, hệ số công suất cosphi của hệ biến tần đều có giá trị không phụ thuộc vào tải và có giá trị ít nhất 0.96. Điện áp một chiều này được biến đổi (nghịch lưu) thành điện áp xoay chiều 3 pha đối xứng. Công đoạn này hiện nay được thực hiện thông qua hệ IGBT (transistor lưỡng cực có cổng cách ly) bằng phương pháp điều chế độ rộng xung (PWM).

    – Theo lý thuyết, giữa tần số và điện áp có một quy luật nhất định tuỳ theo chế độ điều khiển. Đối với tải có mô men không đổi, tỉ số điện áp – tần số là không đổi. Tuy vậy với tải bơm và quạt, quy luật này lại là hàm bậc 4. Điện áp là hàm bậc 4 của tần số. Điều này tạo ra đặc tính mô men là hàm bậc hai của tốc độ phù hợp với yêu cầu của tải bơm/quạt do bản thân mô men cũng lại là hàm bậc hai của điện áp.

    – Ngoài ra, biến tần ngày nay đã tích hợp rất nhiều kiểu điều khiển khác nhau phù hợp hầu hết các loại phụ tải khác nhau. Ngày nay biến tần có tích hợp cả bộ PID và thích hợp với nhiều chuẩn truyền thông khác nhau, rất phù hợp cho việc điều khiển và giám sát trong hệ thống SCADA.

    Nhờ tiến bộ của công nghệ vi xử lý và công nghệ bán dẫn lực hiện nay, tần số chuyển mạch xung có thể lên tới dải tần số siêu âm nhằm giảm tiếng ồn cho động cơ và giảm tổn thất trên lõi sắt động cơ. Tính năng “thông minh” này giúp thiết bị có thể giảm tiêu thụ điện từ 20 – 40%.

     

    * Trong nông nghiệp

    Biến tần cũng đã được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, được người tiêu dùng đánh giá cao. Một số máy chủ chốt dùng trong nông nghiệp đã được hoàn thiện dần về mức độ tự động hóa. Khi được trang bị hệ thống điều khiển tiên tiến, ngoài lợi ích để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, nó còn làm giảm đáng kể chi phí điện năng trong vận hành. Đó chính là những  thiết bị điều khiển thích hợp như hệ thống truyền động biến tần – động cơ AC, bộ biến đổi tốc độ động cơ điện một chiều và thiết bị khởi động mềm giúp giảm chi phí và tiết kiệm điện năng cho cơ sở, đồng thời còn làm tăng tuổi thọ của động cơ và thiết bị đi kèm.

    Biến tần AC là bộ nguồn bán dẫn điều khiển kết hợp với động cơ không đồng bộ xoay chiều ba pha để thực hiện khởi động/dừng và điều chỉnh chính xác số vòng quay động cơ theo yêu cầu công nghệ. Có nhiều loại biến tần được thiết kế phù hợp với dẫy động cơ công suất từ rất nhỏ (vài trăm Woat) đến hàng 100 kW. 

    Nhiều cơ sở sản xuất có công suất tiêu thụ điện lớn và trung bình như các trạm bơm nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, xí nghiệp sản xuất và chế biến nông hải sản, hoa quả,quạt thông gió, băng truyền tải, máy nén khí, máy lạnh ở nhà bảo quản… đã sử dụng thiết bị “khởi động mềm” nhằm giảm trị số dòng điện khi khởi động, do đó tổn thất điện năng cũng sẽ giảm. Khởi động mềm là thiết bị điện tử chỉ thay thế cho phương pháp khởi động “sao/tam giác” nhằm giảm dòng điện khi khởi động, nhưng không có khả năng điều khiển tốc độ động cơ. Khởi động mềm thường kết hợp với động cơ điện không đồng bộ công suất trung bình và lớn nhưng không đòi hỏi phải thay đổi số vòng quay, ví dụ một số thiết bị và máy như: Bơm nước nông nghiệp, quạt thông gió trong kho bảo quản, máy nghiền thức ăn chăn nuôi…  

    * Trong sản xuất công nghiệp

    Hiện nay, biến tần được ứng dụng ngày càng phổ biến để điều khiển tốc độ cho tất cả các máy móc trong các ngành công nghiệp ở nước ta như máy nghiền, máy cán, kéo, máy tráng màng, máy tạo sợi, máy nhựa, cao su, sơn, hóa chất, dệt, nhuộm, đóng gói, chế biến gỗ, băng chuyền, cần trục, nâng hạ tiết kiệm năng lượng cho máy nén khí, bơm và quạt…

    Với nguyên lý hoạt động thông minh của công nghệ inverter, công suất điện tiêu thụ tỷ lệ với bậc ba của tốc độ, vì thế giải pháp ứng dụng biến tần là sự lựa chọn duy nhất cho khả năng tiết kiệm điện cao.

     

    Trong dây chuyền chế biến có nhu cầu về điều chỉnh số vòng quay động cơ không đồng bộ cho phù hợp với công nghệ sản xuất thì sử dụng bộ biến tần xoay chiều. Nhờ ứng dụng các thiết bị này vào đúng vị trí của dây chuyền sản xuất nên chi phí điện năng sẽ giảm cũng như chất lượng lưới điện được cải thiện và tuổi thọ của động cơ và cáp sẽ tăng.

    Nhờ tính năng vượt trội của biến tần trong sản xuất đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm chi phí cho các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp tiêu thụ điện năng lớn như sắt, thép, xi măng. Trong tình hình lạm phát như hiện nay, đó là một trong những giải pháp tối ưu giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn.

    Với giải pháp tiết kiệm năng lượng bên cạnh việc nâng cao tính năng điều khiển hệ thống, các bộ biến tần hiện nay đang được coi là một ứng dụng chuẩn cho các hệ truyền động cho bơm và quạt.

    Nhờ tính năng kỹ thuật cao với công nghệ điều khiển hiện đại nhất (điều khiển tối ưu về năng lượng) các bộ biến tần đang và sẽ làm hài lòng nhiều nhà đầu tư trong nước, trong khu vực và trên thế giới.

     

    Ngoài công dụng tiết kiệm điện và chi phí, biến tần còn giúp tăng hiệu suất làm việc, tăng tuổi thọ của máy cao; giảm bớt số nhân công phục vụ và vận hành máy. Bên cạnh đó, hệ thống máy có thể kết nối với máy tính ở trung tâm. Từ trung tâm điều khiển nhân viên vận hành có thể thấy được hoạt động của hệ thống và các thông số vận hành (áp suất, lưu lượng, vòng quay …), trạng thái làm việc cũng như cho phép điều chỉnh, chẩn đoán và xử lý các sự cố có thể xảy ra.

    1. Phụ tải có mô mem thay đổi (điều hòa trung tâm, bơm cấp nước, bơm quạt mát,… ).

    2. Động cơ luôn chạy non tải mà không thể thay động cơ được thì phải lắp thêm biến tần.

    1. Phụ tải có mô mem thay đổi (điều hòa trung tâm, bơm cấp nước, bơm quạt mát,… ).2. Động cơ luôn chạy non tải mà không thể thay động cơ được thì phải lắp thêm biến tần.

    MUA BÁN BIẾN TẦN HẢI LÂM

    TRUNG TÂM MUA BÁN SỬA CHỮA BIẾN TẦN HẢI LÂM

    Chuyên mua bán, phân phối các loại biến tần

    Sửa chữa biến tần chuyên nghiệp

     

    LIÊN HỆ

    Địa chỉ: 223, QL1A, Khu phố Bình Đường 3, Phường An Bình, Thị Xã Dĩ An, Tỉnh Bình Dương

    Điện thoại: 0919 288 339 – 0978 549 368 – (02743) 794 551

    Mail: [email protected] 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Lý Biến Tần Tiết Kiệm Điện Hiệu Quả Nhất Như Thế Nào
  • Giải Pháp Tiết Kiệm Năng Lượng Với Biến Tần
  • Nguyên Lý Làm Việc Và Khả Năng Tiết Kiệm Điện Của Biến Tần? Dat Technology
  • Hướng Tiết Kiệm Điện Hiệu Quả Cho Gia Đình Bạn
  • Những Biện Pháp Tiết Kiệm Điện Ở Trường Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100