Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự

--- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Thuộc Thẩm Quyền Áp Dụng Của Trọng Tài Thương Mại
  • Mẫu Đơn Yêu Cầu Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự 2022
  • Thi Hành Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Thi Hành Án Dân Sự
  • Thi Hành Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Phong Tỏa Tài Khoản
  • Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS năm 2022 đã góp phần giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự nói chung trong thời gian qua vẫn còn xảy một số ra sai sót, vi phạm. Chính vì vậy, ngày 30/12/2019, Chánh án TANDTC đã ban hành Chỉ thị số 03/2019/CT-CA về việc nâng cao chất lượng áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự và kèm theo Phụ lục về một số sai sót cần rút kinh nghiệm trong việc áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

    1. Về đương sự có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLTTDS năm 2022 thì quy định về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự như sau: “1. Trong quá trình giải quyết vụ án (kể từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án chỉ những cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây mới có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự: Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự; …”.

    Chẳng hạn như vụ án như sau: Nguyên đơn là ông A là bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp, bị đơn là ông B là bên đang trực tiếp sử dụng thửa đất tranh chấp. Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, nguyên đơn dùng xe cơ giới đấp đất trên thửa đất tranh chấp để chặn ngang đường cấp thoát nước vào ao nuôi tôm của bị đơn. Bị đơn nộp đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc nguyên đơn phải khai thông đường cấp thoát nước vào ao nuôi tôm của bị đơn. Vì việc ông A chặn đường cấp thoát nước vào ao tôm của ông B làm thiệt hại tôm mà ông B đang nuôi chưa thu hoạch. Đối với vụ án này, có quan điểm cho rằng ông B không có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì trong ông B không có yêu cầu phản tố gì trong vụ án. Nhưng có quan điểm cho rằng ông B có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì BLTTDS năm 2022 không có quy định bị đơn không có yêu cầu phản tố sẽ không có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

    2. Về việc yêu cầu đương sự sửa đơn yêu cầu và nộp chứng cứ cho Tòa án

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2022, người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự phải có các nội dung chính quy định từ điểm a đến điểm e khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2022. Tùy theo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó.

    Như vậy, nếu đương sự làm đơn yêu cầu chưa đúng quy định tại khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2022 thì Tòa án chưa xem xét đơn yêu cầu của đương sự mà phải yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay BLTTDS năm 2022 cũng như chưa có văn bản nào hướng dẫn thời hạn đương sự sửa đổi, bổ sung đơn trong thời hạn bao lâu. Nếu hết thời hạn đó mà đương sự không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu theo yêu cầu của Tòa án thì hậu quả pháp lý như thế nào. Cụ thể là Tòa án có quyền trả lại đơn yêu cầu cho đương sự hay không. Tương tự, nếu đương sự cung cấp chứng cứ chưa đủ thì Tòa án đề nghị đương sự cung cấp bổ sung chứng cứ trong thời hạn bao lâu. Nếu hết thời hạn được yêu cầu mà đương sự không cung cấp bổ sung được chứng cứ thì hậu quả pháp lý như thế nào. Cụ thể là Tòa án trả lại đơn yêu cầu cho đương sự hay xem xét đơn yêu cầu và ra quyết định không chấp nhận yêu cầu của đương sự.

    Ngoài ra, đối với trường hợp đương sự nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa mà đơn yêu cầu chưa đúng quy định tại khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2022 hoặc đương sự nộp chưa đầy đủ chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét đơn yêu cầu thì Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu cũng như là đề nghị đương sự nộp bổ sung chứng cứ không. Nếu có thì thời hạn là bao lâu. Nếu hết thời hạn theo quy định mà đương sự không thực hiện thì hậu quả pháp lý như thế nào.

    3. Về xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Một trong những sai sót được nêu trong mục 1.2 của Phụ lục ban hành kèm theo Chỉ thị số 03/2019/CT-CA như sau: ” Theo quy định tại khoản 4 Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự thì trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, gồm: phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ, phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ thì theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Thẩm phán chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện. Tuy nhiên, khi áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời này, Thẩm phán có sai sót là không ấn định rõ số tiền bị phong tỏa; không xác định giá trị tài sản phong tỏa mà phong tỏa một phần tài sản chung (chưa chia); phong tỏa số tiền hoặc tài sản có giá trị lớn hơn nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện; hoặc phong tỏa số tiền, tài sản có giá trị vượt quá yêu cầu của người yêu cầu”

    Như vậy, về nguyên tắc Tòa án chỉ phong tỏa tài sản, tài khoản tương ứng với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện. Nên việc Tòa án phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, theo tác giả vấn đề xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần phải được hướng dẫn cụ thể hơn, nhất là về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời gian Tòa án phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể là tự Thẩm phán, Hội đồng xét xử có quyền xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không. Hay là phải do Hội đồng định giá tài sản xác định. Trình tự, thủ tục tiến hành việc xác định giá tài sản như thế nào. Thời hạn để xác định già trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là bao lâu. Một vấn đề khác nữa là nếu tại phiên tòa đương sự có đơn yêu cầu phong tỏa tài sản và Tòa án cần phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp tạm thời và cần có thời gian mới xác định được già trị tài sản thì Hội đồng xét xử quyết định tạm dừng phiên tòa hay phải hoãn phiên tòa.

    4. Về dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra

    Có một thực tế là nếu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì có thể xảy ra thiệt hại. Vì vậy mà Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử khi xem xét áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngoài việc ấn định một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá tương đương với nghĩa vụ tài sản thì còn phải phải dự kiến và tạm tính có tính chất tương đối thiệt hại thực tế có thể xảy ra. Tuy nhiên, vấn đề này không được BLTTDS năm 2022 quy định cụ thể. Trong Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về các biện pháp khẩn cấp tạm của Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn tại khoản 3 Điều 9 như sau: ” 3. Việc dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra tùy thuộc vào từng biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể, từng trường hợp cụ thể và được thực hiện như sau:

    Như vậy, có một thực tế có thể xảy ra là người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể sẽ đưa ra dự tính thiệt hại thực tế rất cao hoặc rất thấp nhằm để Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà họ yêu cầu hoặc cũng có thể là nhằm gây khó khăn để Tòa án không xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của người yêu cầu. Trong trường hợp như vậy, Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử phải tự quyết định dự tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra. Vậy căn cứ nào để Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử quyết định dự tính và dự kiến thiệt hại thực tế có thể xảy ra. Theo tác giả, trong trường hợp như vậy, Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử sẽ dự tính và dự kiến thiệt hại không quá mức trung bình thiệt hại thực tế có thể xảy ra do người yêu cầu và người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đưa ra.

    Kết luận: Để việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đảm bảo đúng quy định pháp luật và để những quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS năm 2022 được thực hiện thông suốt trong thực tiễn thì những vấn đề nêu trên rất cần được TANDTC sớm có hướng dẫn, qua đó tháo gỡ được khó khăn vướng mắc của Tòa án địa phương.

    Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự bao gồm:

    1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

    2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.

    3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.

    4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

    5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.

    6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.

    7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

    8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.

    9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.

    10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.

    11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

    12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.

    13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.

    14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.

    16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.

    17. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định.

    (Điều 114 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2022)

    --- Bài cũ hơn ---

  • #1 Quy Định Về Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Blttds
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Là Gì? Đặc Điểm Và Ý Nghĩa Áp Dụng
  • Tư Vấn Quy Định Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Khắc Phục Tai Nạn Giao Thông Là Lương Tâm, Trách Nhiệm Của Người Đứng Đầu
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Lý Luận Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài
  • Pháp Luật Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Quy Định Tố Tụng Trọng Tài
  • Trách Nhiệm Của Tòa Án Trong Việc Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Khi Không Có Đơn Yêu Cầu
  • Cho Em Hỏi Về Việc Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Của Tòa Án?
  • Trong pháp luật Việt Nam, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2004 có một chương riêng với 28 điều quy định về biện pháp KCTT (Chương VIII, các Điều từ 99 đến 126). Về bản chất, các quy định mới của các Điều từ 48 đến 53 LTT 2010 là luật riêng so với các quy định chung của BLTTDS 2004. Nói cách khác, trong tố tụng trọng tài phải áp dụng trước tiên các quy định của LTT 2010, nếu các quy định đó thiếu, chưa rõ hoặc chưa cụ thể thì cần áp dụng các nguyên tắc chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự.

    Biện pháp KCTT (Interim injunctive relief, Vorläufiger Rechtsschutz) được hiểu là một công đoạn tố tụng rút ngắn và giản đơn nhằm giúp cơ quan tài phán can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản tranh chấp hoặc các đảm bảo khác thiết yếu cho thi hành các nghĩa vụ, trong khi phiên tranh tụng chính chưa kết thúc. Tuy rằng mục đích hướng tới là các biện pháp cụ thể, ví dụ kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, cấm định đoạt tài sản, song Chương VII LTT 2010 các Điều từ 48 đến 53 về biện pháp KCTT là một quy trình, quy định quyền yêu cầu, thẩm quyền xem xét và ban hành các quyết định tố tụng, các đảm bảo, quyền khiếu nại và yêu cầu đền bù thiệt hại nếu có.

    Quy trình tố tụng này là một phần phụ, phái sinh, có tính chất chuẩn bị, bổ trợ cho một thủ tục tố tụng chính đang được cơ quan tài phán thụ lý. Đây là một chế định của luật tố tụng dân sự, thường có các đặc trưng sau:

    – Thứ nhất, các biện pháp này phải do một bên yêu cầu, thường là nguyên đơn, còn cơ quan tòa án thường không có quyền tự mình ra các quyết định nhằm bảo tồn tài sản tranh chấp hoặc chứng cứ; trừ những trường hợp hết sức hãn hữu tòa án mới tự mình (ex officio) ra các lệnh tòa, ví dụ được nêu tại Điều 119, Điều 102 1-5 BLTTDS 2004;

    – Thứ hai, phải có những điều kiện nhất định kèm theo các yêu cầu cho áp dụng biện pháp này, ví dụ phải có chứng cứ đủ tin rằng quyền lợi của bên yêu cầu sẽ không được đảm bảo nếu không áp dụng ngay các biện pháp ví dụ như phong tỏa tài khoản hay kê biên tài sản;

    – Thứ ba, quy trình ban hành các lệnh tòa để bảo toàn tài sản hay chứng cứ hoặc các biện pháp mang tính tạm thời khác thường là thủ tục rút gọn, dựa trên yêu cầu, các chứng cứ, hồ sơ của bên yêu cầu cung cấp, thường không thể có thời gian để tổ chức lấy lời khai của chứng nhân, cũng không mở phiên xét xử, mà cơ quan tài phán quyết định thường là dựa trên hồ sơ;

    – Thứ tư, hình thức quyết định thường là các lệnh tòa (court’s order, einstweilige Verfügung), không phải là bản án;

    – Thứ năm, bên bị thi hành các lệnh tòa đó có quyền khiếu nại, nếu việc áp dụng biện pháp khẩn cấp đó không có cơ sở, gây ra thiệt hại cho bên bị thi hành thì người này có quyền yêu cầu bồi thường;

    – Thứ sáu, sau khi có lệnh tòa, bên yêu cầu thường phải tự liên hệ với cơ quan thi hành án (ví dụ Gerichtsvollziehers theo luật Đức) để yêu cầu cho thi hành.

    Điều cần lưu ý là khái niệm trọng tài ở đây được hiểu là Hội đồng trọng tài (HĐTT), chứ không phải Trung tâm trọng tài, ví dụ VIAC. Ban thư ký thường có chức năng thụ lý, cung cấp các dịch vụ tống đạt, yêu cầu các bên chỉ định trọng tài viên và ra quyết định thành lập HĐTT (đây mới là khái niệm tòa án trọng tài Schiedgericht, arbitral tribunal). Chỉ có HĐTT này mới có quyền ra các lệnh tạm thời, tương tự như lệnh tòa.

    Xét về mặt thực tiễn, nếu cần tới các lệnh khẩn cấp, nguyên đơn có thể có một vài bất lợi về thời gian nếu phải chờ bị đơn chỉ định trọng tài viên và ban thư ký hoàn tất thủ tục thành lập HĐTT. Thời gian để thành lập một HĐTT, nếu bị đơn có chiến lược trì hoãn, có thể tốn tới 1-2 tháng. Thời gian ấy đủ dài để bị đơn, nếu muốn, có thể tẩu tán đáng kể các tài sản tranh chấp.

    Thêm một lý do nữa, về mặt lý thuyết, người ta cho rằng chỉ có tòa án, một cơ quan công lực, mới có quyền ra các lệnh tạm thời nhằm can thiệp vào tài sản của đương sự, đặc biệt là hạn chế các quyền định đoạt của họ. Nếu lệnh đó cần có hiệu lực đối với một bên thứ ba, ví dụ một công ty kho bãi đang lưu trữ hàng hóa tranh chấp của bên bán và bên mua, thì người ta càng khẳng định đó phải là một lệnh tòa, chứ không thể là lệnh từ một cơ quan tài phán tư do hai bên tự thỏa thuận. HĐTT nếu có là tòa án, thì cũng chỉ là tòa án tư, các lệnh tạm thời có thể có hiệu lực đối với hai bên đương sự, song khó có lý do để cho các lệnh đó hiệu lực hạn chế quyền của người thứ ba.

    Ngoài ra, người ta còn băn khoăn rằng lệnh tạm thời còn phải được thi hành. Nếu lệnh đó do tòa án ban hành, khả năng thực thi sẽ tuân theo các quy định của tố tụng dân sự. Nếu lệnh đó do HĐTT ban hành, người ta cần sửa các quy định tương ứng về thi hành án, để đảm bảo lệnh của HĐTT cũng có hiệu lực thi hành tựa như lệnh tòa.

    LTT 2010 của Việt Nam quy định rất uyển chuyển, và có vẻ như rất thận trọng rằng các bên có thể nhờ cậy đến tòa án (sau khi nộp đơn kiện tới trọng tài – Điều 53.1) hoặc trọng tài (sau khi lập HĐTT – các Điều 48, 49) yêu cầu ban hành các lệnh KCTT. Nếu yêu cầu được gửi tới cả hai nơi, thì có thể dịch Nôm rằng cơ quan tài phán nào nhận trước sẽ thụ lý, cơ quan nhận sau phải từ chối (theo Điều 49.3 LTT 2010, HĐTT phải từ chối yêu cầu, nếu đương sự đã yêu cầu tòa án; ngược lại theo Điều 53.5 LTT 2010, tòa án phải từ chối, nếu đương sự đã yêu cầu HĐTT).

    Chứng cớ thuyết phục sự cần thiết của biện pháp KCTT

    Cơ quan tài phán cần có chứng cớ để được thuyết phục rằng một lệnh can thiệp tạm thời là hợp lý. Điều 50 LTT 2010 cũng như Điều 117.1 BLTTDS 2004 có thể cần được hướng dẫn chi tiết hơn, song về cơ bản, tòa án hay HĐTT nhận định sự cần thiết dựa trên hồ sơ, chí ít phải có những nhận định căn bản sau:

    Để nhận định về sự cần thiết này, sau khi nhận đơn, bằng chứng và biện pháp bảo đảm HĐTT phải họp hoặc trao đổi và thống nhất quyết định giữa các trọng tài viên; hình thức phiên họp hay trao đổi này chưa được quy định chi tiết tại Điều 50, chỉ quy định tại Điều 50.5 LTT 2010 rằng HĐTT sẽ xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp KCTT trong thời hạn 03 ngày làm việc.

    Biện pháp bảo đảm tương đương

    Điều 120.1 BLTTDS 2004 và Điều 50.3 LTT 2010 có hai quy định tương đối giống nhau, buộc người yêu cầu biện pháp KCTT phải gửi tiền, vàng, đá quý, giấy tờ có giá hay tài sản khác do HĐTT hoặc tòa án ấn định làm biện pháp bảo đảm để cơ quan tài phán ra các lệnh tạm thời. Số tiền hay tài sản bảo đảm phải tương đương nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thi hành lệnh tòa phải thực hiện hoặc tương ứng giá trị thiệt hại có thể phát sinh do lệnh tạm thời mà HĐTT gây ra khi được áp dụng.

    Sự khó khăn khi thể hiện hai điều luật này cũng xuất hiện trong Điều 1041.1 BLTTDS Đức khi tòa án trọng tài có quyền yêu cầu mỗi bên nộp một khoản bảo đảm hợp lý, người ta dùng chữ Angemessene Sicherheit, chứ không dùng chữ tương đương hay tương ứng như trong luật Việt Nam.

    Thi hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Điều 50.5 quy định các biện pháp KCTT do HĐTT ban hành được thi hành theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Nếu các lệnh tạm thời do tòa án quyết định, lệnh đó được thi hành theo Điều 126 BLTTDS và pháp luật thi hành án dân sự. Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành theo Điều 2.1.e. Luật Thi hành án dân sự 2008 bao gồm các quyết định của trọng tài thương mại. Có thể cần giải thích quyết định này không chỉ bao gồm phán quyết (Arbitral arward, Urteil) mà bao gồm tất cả các quyết định khác trong tố tụng trọng tài, ví dụ các lệnh tạm thời.

    – LTT 2010 là một thành tựu lập pháp quan trọng. Các quy định về biện pháp KCTT trong Luật này được thiết kế uyển chuyển và hợp lý, hiệu quả của chúng có thể cần phải chờ đợi sự phán xét từ thực tiễn và nên được đánh giá chung trong tổng thể hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Luận Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài
  • Áp Dụng, Thay Đổi, Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Ở Tòa Án Cấp Sơ Thẩm, Phúc Thẩm
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Phần Quyết Định Của Bản Án Sơ Thẩm
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Vụ Án Kinh Tế
  • Thi Hành Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Phong Tỏa Tài Khoản
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • #1 Quy Định Về Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Blttds
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự
  • Bàn Về Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Thuộc Thẩm Quyền Áp Dụng Của Trọng Tài Thương Mại
  • Mẫu Đơn Yêu Cầu Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự 2022
  • Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ án hành chính được áp dụng trên cơ sở yêu cầu của đương sự, người đại diện của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án trong trường hợp do tình thế cấp thiết để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc đảm bảo việc thi hành án.

    Theo quy định tại Điều 68 Luật tố tụng hành chính 2022 thì các biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm:

    – Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

    – Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính.

    – Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.

    1. Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh(Điều 69)

    Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho rằng việc thi hành quyết định đó sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục.

    2.Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính (Điều 70)

    Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính được áp dụng nếu có căn cứ cho rằng việc tiếp tục thực hiện hành vi hành chính sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục.

    3. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định(Điều 71)

    4. Áp dụng, hủy bỏ, thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời

    a. Các trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

    – Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện của đương sự có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó;

    – Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

    b. Điều kiện thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    – Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng;

    – Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn;

    – Vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

    – Tòa án trả lại đơn khởi kiện;

    – Vụ án được đình chỉ.

    c. Thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Việc xác định thẩm quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được chia làm hai trường hợp tùy theo thời điểm xem xét, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời:

    – Trước khi mở phiên tòa do một Thẩm phán xem xét, quyết định.

    – Tại phiên tòa do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

    Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay, đồng thời tòa án phải cấp hoặc gửi ngay quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp.

    5. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Theo quy định tại điều 73, Luật tố tụng hành chính 2022, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được tiến hành như sau:

    – Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền; kèm theo đơn phải có chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có đầy đủ nội dung theo yêu cầu pháp luật.

    – Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án xem xét, giải quyết trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận đơn yêu cầu. Trường hợp thẩm phán không chấp nhận yêu cầu thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp.

    – Trường hợp HĐXX nhận đơn yêu cầu tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không; trường hợp không chấp nhận thì HĐXX phải thông báo, nêu rõ lý do cho người yêu cầu và ghi vào biên bản phiên tòa.

    – Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án chỉ định ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp.

    6. Khiếu nại, kiến nghị việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Tùy vào thời điểm khiếu nại mà sẽ có thẩm quyền giải quyết khác nhau. Cụ thể:

    – Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có thẩm quyền giải quyết khi đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

    – Hội đồng xét xử giải quyết nếu tại phiên tòa, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị về việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng.

    Chánh án Tòa án phải xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị trong thời hạn là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc thông báo của Thẩm phán về việc không quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

    Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư Phan Mạnh Thăng để được tư vấn miễn phí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Là Gì? Đặc Điểm Và Ý Nghĩa Áp Dụng
  • Tư Vấn Quy Định Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Khắc Phục Tai Nạn Giao Thông Là Lương Tâm, Trách Nhiệm Của Người Đứng Đầu
  • Nêu Các Biện Pháp Khắc Phục Ùn Tắc Và Tai Nạn Trong Giao Thông Ở Hà Nội
  • Tai Nạn Giao Thông: Nguyên Nhân Khách Quan Và Giải Pháp Kiềm Chế
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính Thuộc Lĩnh Vực Hải Quan
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Đối Với Tài Sản Đang Tranh Chấp
  • Tiểu Luận Luật Tố Tụng Dân Sự
  • Quyết Định Nào Của Tòa Án Không Thể Bị Kháng Cáo, Kháng Nghị?
  • Đề Thi Môn Luật Tố Tụng Dân Sự Thầy Huỳnh Quang Thuận
  • Biện pháp do toà án quyết định áp dụng để bảo vệ lợi ích cần thiết của đương sự, bảo đảm việc thi hành án.

    Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm có: tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu kiện; cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá nhân khác thực hiện những hành vi nhất định nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án hành chính hoặc để bảo đảm cho việc thi hành án. Sau khi toà án đã thụ lí vụ án hành chính, đương sự có quyển làm đơn yêu cầu toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm việc thi hành án. Trong quá trình giải quyết vụ án, toà án tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Nếu do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp !uật mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Yêu cầu của đương sự hoặc của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được toà án xem xét trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Nếu có đủ căn cứ pháp luật và xét thấy cần thiết chấp nhận yêu cầu, thì toà án ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải ghi rõ thời hạn cóhiệu lực của quyết định, nhưng không quá thời hạn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

    Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thi hành ngay dù có khiếu nại hoặc kiến nghị. Các đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyển kháng nghị Chánh án tòa án đang giải quyết vụ án hành chính về quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kháng nghị, Chánh án tòa án đang giải quyết vụ án phải xem xét, trả lời. Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể bị thay đổi hoặc huỷ bỏ. Việc thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi mở phiên toà do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án quyết định; tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chấn Chỉnh Những Sai Sót Trong Việc Áp Dụng Các Quy Định Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự
  • ++Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự 2022
  • 5. Thủ Tục Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Giai Đoạn Xét Xử Phúc Thẩm
  • Tải Mẫu Quyết Định Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Cho Hội Đồng Xét Xử
  • Phòng Trừ Dịch Hại Tổng Hợp
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Quy Định Trong Luật Tố Tụng Hành Chính
  • Nhiều Sai Sót Khi Tòa Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Hệ Lụy Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Thủ Tục Khiếu Nại Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Khi Đang Giải Quyết Vụ Kiện Tại Tòa
  • Sai Sót Trong Việc Áp Dụng Các Quy Định Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Khoản 2 Điều 66 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 mới chỉ quy định trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, chưa có quy định trách nhiệm do không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc chậm ra quyết định trong trường hợp […]

    Khoản 2 Điều 66 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 mới chỉ quy định trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, chưa có quy định trách nhiệm do không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc chậm ra quyết định trong trường hợp cần phải ra quyết định gây thiệt hại cho đương sự. Do đó, để nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng hành chính, Luật Tố tụng hành chính năm 2022 đã bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn hoặc không áp dụng mà gây thiệt hại cho người có yêu cầu; cụ thể là:

    Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng, gây thiệt hại cho người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải bồi thường (khoản 3 Điều 72).

    Bên cạnh đó Luật cũng đã bổ sung quy định mới về các trường hợp Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, gồm: Người đã yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ; căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn; vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định của Luật này hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định tại Điều 143 của Luật này (khoản 2 Điều 74)./.

    THANH HUYỀN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Tục Ngăn Chặn Tẩu Tán Nhà Đất Do Đang Có Tranh Chấp
  • Thủ Tục Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Khi Giải Quyết Tranh Chấp Đất Đai?
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Được Áp Dụng Theo Quy Định Pháp Luật
  • Phân Loại Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Quy Định Hiện Nay
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Quy Định Hiện Nay
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Dân Sự
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời, Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Phân Loại Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Quy Định Hiện Nay
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2022 cũng bổ sung quy định trường hợp sau khi đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án quyết định trả lại đơn khởi kiện hoặc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khi đương sự rút đơn khởi kiện hoặc Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm ra quyết định về việc đình chỉ giải quyết vụ án thì phải đồng thời quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

    Trường hợp đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Chánh án của Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phân công một Thẩm phán giải quyết; đồng thời, bổ sung quy định căn cứ hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn; bổ sung quy định rõ thủ tục, thẩm quyền giải quyết yêu cầu áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa để tránh những sai sót, vướng mắc trong thực tiễn.

    Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường nếu thuộc một trong các trường hợp: Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu; Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng.

    Việc bồi thường thiệt hại trong các trường hợp nêu trên được thực hiện theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (khoản 2 và khoản 3 Điều 113).

    (Trích bài viết: “Những điểm mới cơ bản của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2022” của TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi, Tạp chí Kiểm sát số 5/2016). Bài 4: Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Kỳ sau (bài 6): Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tòa Xin Lỗi “quý Bà Thành Đạt” Vì Lệnh Cấm Xuất Cảnh
  • Tố Tụng Dân Sự: Điều Cần Biết Về Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Cấm Xuất Cảnh Đối Với Người Có Nghĩa Vụ
  • Cấm ‘quý Bà Thành Đạt’ Xuất Cảnh Sai, Ai Chịu Trách Nhiệm?
  • Tư Vấn Về Tranh Chấp Dân Sự Có Áp Dụng Biện Pháp Cấm Xuất Cảnh
  • ++Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Chấn Chỉnh Những Sai Sót Trong Việc Áp Dụng Các Quy Định Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính Là Gì ?
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính Thuộc Lĩnh Vực Hải Quan
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Đối Với Tài Sản Đang Tranh Chấp
  • Tiểu Luận Luật Tố Tụng Dân Sự
  • Bộ luật Tố Tụng dân sự 2022 dành hẳn một chương – Chương VIII , bao gồm 32 điều luật ( từ điều 111 đến điều 142) để quy định về “các biện pháp khẩn cấp tạm thời” đủ thấy tầm quan trọng của chế định này. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho Toà án trong việc quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đáp ứng yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.

    1. “Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục”. Như vậy, có thể thấy so với Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2004 thì tại khoản quy định vấn đề này Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2022 đã mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với cả “người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”. Đây là một điểm tiến bộ, bởi với chế định này pháp luật đã quan tâm, bảo vệ đủ nhóm người yếu thế khi họ không có người giám hộ. Việc giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc là hết sức cần thiết nhằm bảo vệ họ bởi những xâm hại về quyền và lợi ích cũng như đảm bảo cho họ một môi trường phát triển bình thường về thể chất, tinh thần.

    4. “Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động”. Biện pháp này nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách cho đương sự, hay cụ thể ở đây là cho người lao động, góp phần giúp người lao động khắc phục những khó khăn xảy ra do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Đồng thời còn buộc người sử dụng lao động thể hiện trách nhiệm của họ đối với người lao động. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

    6. “Kê biên tài sản đang tranh chấp”: Theo quy định của pháp luật, kê biên tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản. Ý nghĩa: Khi tranh chấp chưa được giải quyết, tài sản tranh chấp vẫn có thể được định đoạt bằng các hình thức khác nhau. Nếu tài sản bị kê biên, tài sản đó không thể được định đoạt- nói cách khác tài sản đó sẽ bị hạn chế quyền định đoạt. Đồng thời việc kê biên tài sản đang tranh chấp nhằm xác định giá trị tài sản đang tranh chấp qua đó xác định trách nhiệm của đương sự. Mặt khác, tránh các hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại tài sản qua đây góp phần loại bỏ các hành vi xâm phạm hoặc hủy hoại chứng cứ, bảo vệ được chứng cứ..Tuy nhiên, theo quy định hiện nay thì chỉ áp dụng đối với tài sản đang bị tranh chấp còn đối với các tài sản khác thì không được áp dụng. Điều này cho thấy phạm vi áp dụng của biện pháp này là rất hẹp dẫn đến hiệu quả của biện pháp này chưa cao. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của biện pháp này pháp luật tôi đưa ra ý kiến cần quy định mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này cho tất cá các tài sản của đương sự chứ không chỉ thu hẹp trong phạm vi tài sản đang tranh chấp.

    7. “Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp”. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác.Tài sản đang tranh chấp có thể được chuyển dịch thông qua các hình thức mua bán, trao đổi, cầm cố, thế chấp, cho thuê… Nếu chuyển dịch quyền về tài sản sẽ gây khó khăn cho Tòa án khi giải quyết tranh chấp, đồng thời gây thiệt hại cho đương sự hoặc người thứ ba.Vì vậy pháp luật quy định biện pháp này là BPKCTT là cần thiết và hợp lý nhằm mục đích loại bỏ các hành vi tẩu tán tài sản, qua đó bảo toàn được tình trạng của tài sản, tránh việc gây thiệt hại không thể khắc phục được, giữ được tài sản bảo đảm cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án sau này,góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp cho đương sự .Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật quy định biện pháp này cũng chỉ áp dụng cho tài sản đang tranh chấp còn những tài sản không tranh chấp thì không được áp dụng. Điều này đã hạn chế phần nào hiệu quả của biện pháp. Để áp dụng biện pháp này có hiệu quả tốt nhất nên quy định theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng của biện pháp đối với cả những tài sản không phải là tài sản đang tranh chấp.

    8. “Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp”. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó. Thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp có thể gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, tính chất vụ án, giá trị tài sản tranh chấp có thể bị thay đổi (tăng hoặc giảm)…Vì vậy, việc quy định biện pháp này nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, chính xác nhất. Cũng giống với BPKCTT cấm chuyển dịch quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp thì BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng tài sản cũng mang vai trò là BPKCTT cần thiết và hợp lý nhằm mục đích loại bỏ các hành vi tẩu tán tài sản, qua đó bảo toàn được tình trạng của tài sản, tránh việc gây thiệt hại không thể khắc phục được, giữ được tài sản bảo đảm cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án sau này. Qua đây cũng góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Tuy nhiên, có rất nhiều những trường hợp mà đương sự trong vụ án chỉ có một tài sản duy nhất là tài sản đang có tranh chấp, hoàn cảnh sống thuộc mức khó khăn thì việc thực hiện biện pháp bảo đảm là khó. Pháp luật cần phải quy định rõ những trường hợp như vậy, quy định cụ thể về những trường hợp mà đương sự yêu cầu có thể được miễn vấn đề đảm bảo hoặc thay thế bằng những biện pháp khác.

    10. “Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ”. Biện pháp này được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhà nước và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thi hành án.Việc quy định biện pháp này nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, chính xác nhất. Loại bỏ được trường hợp đương sự rút tiền nhằm tẩu tán tài sản gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án cũng như bảo đảm cho việc thi hành án. Cũng giống như những biện pháp trên biện pháp này nhằm giải quyết các nhu cầu cấp bách của đương sự và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 133 của Bộ luật tố tụng dân sự 2022, thì khi áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài khoản ở nơi gửi giữ thì chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện. Quy định này gây khó khăn, phức tạp cho việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì người yêu cầu phải chứng minh tài sản đề nghị phong tỏa có giá trị là bao nhiêu để xác định nó tương đương với nghĩa vụ và việc chứng minh đó phải dựa trên cơ sở pháp lý là thẩm định giá hoặc định giá chứ không thể bằng trực quan.

    14. “Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình”. Đây là một quy định mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2022, một biện pháp được áp dụng khi cần thiết để ngăn chặn nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự của nạn nhân bạo lực gia đình. Đồng thời, việc bổ sung quy định mới này trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2022 đã thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, thể hiện rõ chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân trong gia đình và xã hội.

    17. “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định”. Ngoài các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 16 Điều 114 của Bộ luật tố tụng dân sự 2022, Tòa án có trách nhiệm giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác do luật khác quy định. Đây là một quy định mở,rất cần thiết nhằm san lấp những kẻ hở của pháp luật mà chưa lường trước được bởi với sự thay đổi ngay một khác của xã hội trong thực tế có những tình huống, trường hợp chưa dự liệu trước được .

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5. Thủ Tục Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Giai Đoạn Xét Xử Phúc Thẩm
  • Tải Mẫu Quyết Định Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Cho Hội Đồng Xét Xử
  • Phòng Trừ Dịch Hại Tổng Hợp
  • Thế Nào Là Quản Lý Dịch Hại Tổng Hợp?
  • Ẩn Dụ Là Gì? Các Hình Thức Ẩn Dụ? Phân Biệt Ẩn Dụ Với Biện Pháp Khác
  • Hạn Chế Của Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyền Yêu Cầu Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính
  • Biện Pháp Thi Công Là Gì ? Các Bước Lập Biện Pháp Thi Công Thế Nào ?
  • Kỹ Năng Nghe Hiểu Trong Tiếng Anh, Những Khó Khăn Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Một Số Biện Pháp Khắc Phục Những Lỗi Thông Thường Khi Nói Và Viết Tiếng Anh
  • Tiếng Anh Chuyên Ngành Xử Lý Nước Thải/môi Trường
  • Hạn chế của các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự về việc thi hành và áp dụng cũng như kết quả đạt được.

    Các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong đã là một bước tiến mới phản ánh một nền tố tụng dân chủ, đảm bảo thực thi đúng pháp luật, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Quá trình thực hiện các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) nói chung và biện pháp BPKCTT áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp nói riếng được quy định từ Điều 108 đến Điều 114 đã đạt được nhiều kết quả tuy nhiên bên cạnh những kết quả ấy vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định trong quá trình áp dụng và cần phải được hoàn thiện để nâng cao hiệu quả của các biện pháp.

    Thứ nhất: đối với biện pháp kê biên tài sản: thì theo quy định hiện nay thì chỉ áp dụng đối với tài sản đang bị tranh chấp còn đối với các tài sản khác thì không được áp dụng. Điều này cho thấy phạm vi áp dụng của biện pháp này là rất hẹp dẫn đến hiệu quả của biện pháp này chưa cao. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của biện pháp này pháp luật cần quy định mở rộng phạm vi áp dụng BPKCTT này cho tất cá các tài sản của đương sự chứ không chỉ thu hẹp trong phạm vi tài sản đang tranh chấp.

    Thứ hai, đối với BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. Hiện nay, pháp luật quy định biện pháp này cũng chỉ áp dụng cho tài sản đang tranh chấp còn những tài sản không tranh chấp thì không được áp dụng. Điều này đã hạn chế phần nào hiệu quả của biện pháp. Để áp dụng biện pháp này có hiệu quả tốt nhất BLTTDS nên quy định theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng của biện pháp đối với cả những tài sản không phải là tài sản đang tranh chấp.

    Thứ ba, trường hợp khi áp dụng mà gây thiệt hại hoặc không đúng thì sẽ phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp cụ thể. Những hạn chế trên là một phần hậu quả của việc khi ra chấp nhận yêu cầu áp dụng, ra quyết định áp dụng BPKCTT thì phía Tòa án vẫn chưa xem xét cụ thể vụ việc từ đó mới dẫn tới áp dụng sai, áp dụng nhầm.Theo quy định như hiện nay, cứ người yêu cầu có đề nghị là thẩm phản ra quyết định áp dụng, sau đó nếu sai thì người yêu cầu chịu trách nhiệm.Như vậy, người yêu cầu sẽ có tâm lý e ngại vấn đề này mà người có thẩm quyền cũng xem nhẹ trách nhiệm của mình.

    Biện pháp khắc phục: ngoài việc đề cao trách nhiệm của người yêu cầu áp dụng BPKCTT thì cũng phải nâng cao trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng khi ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT như: bổ sung thêm trường hợp chịu trách nhiệm của Tòa án như sau: tòa án cũng phải chịu trách nhiệm khi ra quyết định áp dụng BPKCTT theo yêu cầu của người có quyền mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba nếu có lỗi của tòa án.

    Thứ tư: Nhìn chung đa phần các BPKCTT này khi áp dụng sẽ có lợi cho người yêu cầu, đảm bảo được lợi ích của họ, đảm bảo cho quá trình xét xử vụ án. Tuy nhiên, trong một số trường hợp tài sản tranh chấp xuất hiện sự có mặt của bên thứ ba thì các biện pháp này cũng sẽ ảnh hưởng nhất định tới quyền lợi của họ và nhiều trường hợp để bảo vệ cho lợi ích của người thứ ba mà tài sản bị tẩu tán, thiệt hại thuộc về đương sự. Thực tế pháp luật Tố tụng dân sự cũng chưa đề cập rõ vấn đề này và những quy định về khả năng của người thứ ba có được chấp nhận không.Từ bất cập trên, cần có thêm quy định quyền kháng cáo của người thứ ba đối với quyết định áp dụng BPKCTT.

    Thứ năm: Việc quy định biện pháp bảo đảm đối với người yêu cầu thực hiện áp dụng BPKCTT đối với tài sản đang có tranh chấp như hiện nay dường như một rào cản đối với việc thi hành những quy định về BPKCTT. Bởi lẽ có rất nhiều những trường hợp mà đương sự trong vụ án chỉ có một tài sản duy nhất là tài sản đang có tranh chấp, hoàn cảnh sống thuộc mức khó khăn thì việc thực hiện biện pháp bảo đảm là khó. Pháp luật cần phải quy định rõ những trường hợp như vậy, quy định cụ thể về những trường hợp mà đương sự yêu cầu có thể được miễn vấn đề đảm bảo hoặc thay thế bằng những biện pháp khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chế Định Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Hướng Dẫn Quy Định Về Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Quyết Định Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Dùng Cho Thẩm Phán
  • Mẫu Quyết Định Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Pháp Luật Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài

    --- Bài mới hơn ---

  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Quy Định Tố Tụng Trọng Tài
  • Trách Nhiệm Của Tòa Án Trong Việc Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Khi Không Có Đơn Yêu Cầu
  • Cho Em Hỏi Về Việc Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Của Tòa Án?
  • Có Sang Tên Được Sổ Đỏ Khi Có Quyết Định Của Tòa Án Về Việc Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời?
  • Thay Đổi, Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Ở Tòa Án Cấp Sơ Thẩm
  • Có các tranh chấp xảy ra với nội dung phức tạp, mức độ tranh chấp gay gắt… chúng đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự. Do đó, trong quá trình hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu cảm thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại thì các bên có quyền làm đơn đến Tòa án hoặc Hội đồng trọng tài để yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời thích hợp để bảo vệ tài sản đang bị tranh chấp theo quy định tại Điều 48 Luật trọng tài thương mại 2010.

    • Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
    • Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài;
    • Kê biên tài sản đang tranh chấp;
    • Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp;
    • Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
    • Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.
      Thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Theo yêu cầu của một trong các bên, Hội đồng trọng tài có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các bên tranh chấp. Trước khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Hội đồng trọng tài có quyền buộc bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thực hiện nghĩa vụ bảo đảm tài chính.

    Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác hoặc vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bên yêu cầu mà gây thiệt hại cho bên yêu cầu, bên bị áp dụng hoặc người thứ ba thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

      Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

    Theo quy định tại Điều 50 Luật TTTM 2010 thì bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Hội đồng trọng tài. Kèm theo đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, bên yêu cầu phải cung cấp cho Hội đồng trọng tài chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó.

    Theo quyết định của Hội đồng trọng tài, bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Hội đồng trọng tài ấn định tương ứng với giá trị thiệt hại có thể phát sinh do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây ra để bảo vệ lợi ích của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng do Hội đồng trọng tài quyết định.

      Thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

    a, Thẩm quyền và thủ tục của Hội đồng trọng tài

    Theo yêu cầu của một bên, Hội đồng trọng tài có quyền thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời vào bất kỳ thời điểm nào trong quá trình giải quyết tranh chấp. Thủ tục thay đổi, bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện tương tự như đối với thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

    Việc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được hội đồng trọng tài áp dụng trong các trường hợp sau đây:

    • Bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ;
    • Bên phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;
    • Nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của pháp luật.

    b. Thẩm quyền và thủ tục của Tòa án

    Một hoặc các bên tranh chấp có quyền làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi nộp đơn khởi kiện tại Trọng tài (khi thời điểm tố tụng trọng tài đã bắt đầu) mà không phân biệt Hội đồng trọng tài đã được thành lập hay chưa, Hội đồng trọng tài đã giải quyết tranh chấp hay chưa. Tòa án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án nơi có biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng.

    Một hoặc các bên có quyền đề nghị Tòa án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật TTTM, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

    Cùng với việc nộp các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu, bên yêu cầu áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp lệ phí yêu cầu và thực hiện biện pháp bảo đảm theo quy định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Lý Luận Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài
  • Lý Luận Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài
  • Áp Dụng, Thay Đổi, Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Ở Tòa Án Cấp Sơ Thẩm, Phúc Thẩm
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Phần Quyết Định Của Bản Án Sơ Thẩm
  • Lý Luận Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài
  • Đề Tài Lý Luận Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài
  • Pháp Luật Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Trọng Tài
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Theo Quy Định Tố Tụng Trọng Tài
  • Trách Nhiệm Của Tòa Án Trong Việc Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Khi Không Có Đơn Yêu Cầu
  • Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong pháp luật Việt Nam, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2004 có một chương riêng với 28 điều quy định về biện pháp KCTT (Chương VIII, các Điều từ 99 đến 126). Về bản chất, các quy định mới của các Điều từ 48 đến 53 LTT 2010 là luật riêng so với các quy định chung của BLTTDS 2004. Nói cách khác, trong tố tụng trọng tài phải áp dụng trước tiên các quy định của LTT 2010, nếu các quy định đó thiếu, chưa rõ hoặc chưa cụ thể thì cần áp dụng các nguyên tắc chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự. Biện pháp KCTT (Interim injunctive relief, Vorläufiger Rechtsschutz) được hiểu là một công đoạn tố tụng rút ngắn và giản đơn nhằm giúp cơ quan tài phán can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản tranh chấp hoặc các đảm bảo khác thiết yếu cho thi hành các nghĩa vụ, trong khi phiên tranh tụng chính chưa kết thúc. Tuy rằng mục đích hướng tới là các biện pháp cụ thể, ví dụ kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, cấm định đoạt tài sản, song Chương VII LTT 2010 các Điều từ 48 đến 53 về biện pháp KCTT là một quy trình, quy định quyền yêu cầu, thẩm quyền xem xét và ban hành các quyết định tố tụng, các đảm bảo, quyền khiếu nại và yêu cầu đền bù thiệt hại nếu có. Quy trình tố tụng này là một phần phụ, phái sinh, có tính chất chuẩn bị, bổ trợ cho một thủ tục tố tụng chính đang được cơ quan tài phán thụ lý. Đây là một chế định của luật tố tụng dân sự, thường có các đặc trưng sau: – Thứ nhất, các biện pháp này phải do một bên yêu cầu, thường là nguyên đơn, còn cơ quan tòa án thường không có quyền tự mình ra các quyết định nhằm bảo tồn tài sản tranh chấp hoặc chứng cứ; trừ những trường hợp hết sức hãn hữu tòa án mới tự mình (ex officio) ra các lệnh tòa, ví dụ được nêu tại Điều 119, Điều 102 1-5 BLTTDS 2004; – Thứ hai, phải có những điều kiện nhất định kèm theo các yêu cầu cho áp dụng biện pháp này, ví dụ phải có chứng cứ đủ tin rằng quyền lợi của bên yêu cầu sẽ không được đảm bảo nếu không áp dụng ngay các biện pháp ví dụ như phong tỏa tài khoản hay kê biên tài sản; – Thứ ba, quy trình ban hành các lệnh tòa .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Áp Dụng, Thay Đổi, Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Ở Tòa Án Cấp Sơ Thẩm, Phúc Thẩm
  • Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Phần Quyết Định Của Bản Án Sơ Thẩm
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Vụ Án Kinh Tế
  • Thi Hành Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Phong Tỏa Tài Khoản
  • Thi Hành Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Thi Hành Án Dân Sự
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100