Giải Pháp Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước

--- Bài mới hơn ---

  • Tài Trợ Thâm Hụt (Deficit Financing) Là Gì?
  • 24 Giải Pháp Lưu Trữ Đám Mây (Cloud Storage) Dành Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
  • Chủ Đề: Các Giải Pháp Lưu Trữ Cho Doanh Nghiệp
  • Giải Pháp Máy Chủ Mail Server Cho Doanh Nghiệp
  • Ứng Dụng Giải Pháp Thư Viện Điện Tử Trong Trường Học
  • Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    LỜI MỞ ĐẦU

    Các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn luôn phải đối mặt

    với những khó khăn, bất ổn gây ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô. Một trong số những

    vấn đề khó khăn đó là tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước. Đây được xem là vấn

    đề nan giải mà có thể nói chưa có một giải pháp nào hữu hiệu nhất để chống lại nó bởi

    vì hầu hết những giải pháp đưa ra đều để lại những hệ lụy về sau.

    Thâm hụt ngân sách sẽ gây sức ép làm tăng lãi suất thị trường, do đó cản trở nhu

    cầu đầu tư của các nhà kinh doanh làm giảm sự tăng trưởng kinh tế, lãi suất tăng làm

    giá trị đồng nội tệ tăng, dẫn đến tình trạng siêu nhập. Ngoài ra thâm hụt ngân sách còn

    ảnh hưởng tới tình trạng lạm phát, sự ổn định xã hội…

    Vì vậy vấn đề thâm hụt ngân sách là một trong những mối quan tâm sâu sắc của

    mỗi quốc gia hiện nay. Để hiểu rõ vấn đề thâm hụt ngân sách của Việt Nam giai đoạn

    2009 đến nay như thế nào, trong bài viết này em sẽ trình bày: thực trạng thâm hụt ngân

    sách Việt Nam, tác động của nó đến nền kinh tế, nguyên nhân và giải pháp nhằm giảm

    bớt tình trạng thâm hụt ngân sách trong giai đoạn này.

    Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi

    những sai sót. Rất mong nhận được sự góp ý của giảng viên để bài tiểu luận được hoàn

    thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Page 1

    Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

    Ngân sách nhà nước

    Quỹ tiền tệ quốc tế

    Tập đoàn dầu khí Việt Nam

    Hỗ trợ phát triển chính thức (vốn đầu tư nước ngoài)

    Tổ chức thương mại thế giới

    Đơn vị tiền tệ chính thức tại Việt Nam

    Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    MỤC LỤC

    trang

    LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………..1

    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT………………………………………………….2

    1 Nhìn nhận tình hình thâm hụt ngân sách của các quốc gia trên thế giới

    trong những năm gần đây………………………………………………………………………4

    2 Tình hình thâm hụt ngân sách Việt Nam và những ảnh hưởng của nó

    giai đoạn 2009 đến nay…………………………………………………………………………..4

    2.1 Thâm hụt NSNN…………………………………………………………………………….4

    2.2 Thực trạng thâm hụt ngân sách Việt Nam trong năm 2009………………….4

    2.3 Thực trạng thâm hụt ngân sách Việt Nam trong năm 2010 và ước tính

    đến năm 2011…………………………………………………………………………………………………..6

    2.4 Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách………………………………………………….8

    3 Nguyên nhân thâm hụt ngân sách………………………………………………………9

    3.1 Thất thu thuế………………………………………………………………………………….9

    3.2 Nhà nước huy động vốn từ kích cầu……………………………………………….10

    3.3 Đầu tư công kém hiệu quả……………………………………………………………..10

    3.4 Quy mô chi tiêu của Chính phủ quá lớn…………………………………………..11

    3.5 Chưa chú trọng giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên…………11

    3.6 Sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng như một

    công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế………………..11

    4 Kiến nghị và giải pháp giảm thâm hụt NSNN……………………………………12

    4.1 In tiền………………………………………………………………………………………….12

    4.2 Vay trong nước……………………………………………………………………………..12

    4.3 Vay nước ngoài…………………………………………………………………………….12

    4.4 Tăng thuế…………………………………………………………………………………….13

    4.5 Cắt giảm đầu tư công…………………………………………………………………….13

    4.6 Cắt giảm các khoản đầu tư và chi phí thường xuyên, chi tiêu không đáng

    có của nhà nước……………………………………………………………………………………………..13

    KẾT LUẬN……………………………………………………………………14

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………….15

    Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    1. Nhìn nhận tình hình thâm hụt ngân sách của các quốc gia trên thế giới

    trong những năm gần đây

    Thâm hụt ngân sách nghiêm trọng nhất bắt đầu từ năm 2009, khi cuộc khủng

    hoảng tài chính lan rộng và không thể kiểm soát. Theo tổ chức hợp tác và phát triển

    kinh tế (OECD), năm 2010 khu vực OECD thâm hụt khoảng 7,5% GDP (3,3 nghìn tỷ

    USD) và năm 2011 mức thâm hụt khoảng 6,1% GDP. Cả hai mức thâm hụt đều là mức

    cao nhất trong lịch sử của khu vực này.

    Hiện tại, mục tiêu cao nhất của các nước là cải thiện tính cân đối giữa phục hồi

    và phát triển kinh tế với củng cố tài khóa, thúc đẩy niềm tin tiêu dùng và tăng trưởng

    bền vững. Chính sách tài khóa được điều hành theo 2 xu hướng cơ bản: Nới lỏng (đơn

    cử như Mỹ và Nhật Bản thực thi gói kích thích kinh tế mới) và tiếp tục thắt chặt (điển

    hình tại khu vực châu Âu).

    Chính sách tài khóa thắt chặt dựa trên cơ sở vẫn đảm bảo các vấn đề an sinh, xã

    hội, đảm bảo cuộc sống người dân ít bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng: Cắt giảm chi tiêu

    Chính phủ ở mức độ vừa phải; Cơ cấu lại các khoản chi cho hợp lý theo xu hướng đầu

    tư cho tương lai như tăng chi cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển, giáo dục, y tế

    và phúc lợi xã hội…; Cải cách chính sách thuế theo hướng bổ sung thuế, hạ thuế suất,

    mở rộng đối tượng chịu thuế thông qua việc hạn chế miễn và giảm thuế, giảm thuế trực

    thu và tăng thuế gián thu…

    Nhìn chung, tình trạng thâm hụt trong năm 2010 của các nước đã được cải thiện

    với mức thâm hụt giảm nhẹ. Các nước phát triển thâm hụt giảm 1% GDP từ 8,8%

    xuống 7,9%, Mỹ và Đức ghi nhận mức thâm hụt thấp hơn dự báo tương ứng là 0,5% và

    1%. Tuy nhiên, thị trường thâm hụt của các nền kinh tế mới nổi không được cải thiện

    nhiều. Năm 2011, khu vực kinh tế châu Âu dự kiến mức thâm hụt ở mức 4% (giảm

    khoảng 0,4% so với dự báo từ tháng 11/2010 của IMF). Đức có thể sẽ giảm mức thâm

    hụt xuống còn 1,5% năm 2011. Các nền kinh tế mới nổi mức thâm hụt vào khoảng

    3,2% (giống mức thâm hụt dự báo từ tháng 11/2010 của IMF).

    2. Tình hình thâm hụt ngân sách Việt Nam và những ảnh hưởng của nó giai

    đoạn 2009 đến nay

    2.1 Thâm hụt NSNN

    NSNN là tổng các kế hoạch chi tiêu, thu nhập hàng năm của Chính phủ, bao

    gồm các khoản thu (chủ yếu từ thuế) và các khoản chi ngân sách.

    Nhưng khi tình trạng các khoản chi của NSNN lớn hơn các khoản thu, và phần

    chênh lệch đó chính là thâm hụt ngân sách.

    2.2 Thực trạng thâm hụt ngân sách Việt Nam trong năm 2009

    Theo báo cáo của Bộ tài chính, tình trạng bội chi NSNN năm 2009 là -115.900

    tỷ đồng, chiếm 6,9% GDP , tăng 28.600 tỷ đồng so với dự toán và cao hơn nhiều so với

    năm 2008 ( -67.677 tỷ đồng). Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế toàn cầu lan rộng, diễn

    Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    biến phức tạp, khó lường và theo chiều hướng xấu. Tình hình kinh tế thế giới và trong

    nước đang gặp rất nhiều trở ngại, nguồn thu NSNN gặp khó khăn. Yêu cầu tăng chi là

    rất lớn để thực hiện các giải pháp kích thích kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. Thực tế

    trước đó, Chính phủ đã báo cáo và được Quốc hội chấp thuận tăng mức bội chi không

    quá 7%GDP. Vì vậy con số 6,9% vẫn trong phạm vi Quốc hội cho phép, được sử dụng

    toàn bộ cho đầu tư phát triển theo đúng quy định của Luật NSNN, tập trung cho các

    công trình, dự án kích thích kinh tế thực hiện trong năm 2009.

    CÂN ĐỐI DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2009

    Đơn vị: tỷ đồng

    Stt

    Nội dung

    A

    TỔNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    1

    Thu nội địa

    233.000

    2

    Thu từ dầu thô

    63.700

    3

    Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

    88.200

    4

    Thu viện trợ không hoàn lại

    B

    KẾT CHUYỂN TỪ NĂM TRƯỚC SANG

    14.100

    C

    TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    491.300

    1

    Chi đầu tư phát triển

    112.800

    2

    Chi trả nợ và viện trợ

    58.800

    3

    Chi phát triển sự nghiệp kinh tế- xã hội, quốc phòng, an

    ninh, quản lý hành chính

    696.300

    4

    Chi cải cách tiền lương

    36.600

    5

    Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính

    6

    Dự phòng

    13.700

    C

    BỘI CHI NSNN

    -87.300

    Tỷ lệ bội chi so GDP

    -4.82%

    D

    NGUỒN BÙ ĐẮP BỘI CHI NSNN

    87.300

    1

    Vay trong nước

    71.300

    2

    Vay ngoài nước

    16.000

    5000

    100

    Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    So sánh kết quả thực tế đạt được và số liệu dự toán đưa ra trong bảng trên ta có

    thể thấy nhìn chung tình hình thu và chi ngân sách trong năm này đều vượt mức dự

    toán ban đầu, cụ thể :

    Thu NSNN đạt 390.650 tỷ đồng, vượt 100,2% so với dự toán (vượt 750 tỷ

    đồng), tuy nhiên giảm 6,3% so với năm 2008 đạt tỷ lệ động viên 23,3% GDP, trong đó:

    Thu nội địa

    Thu ngân sách dầu thô

    Thu cân đối ngân sách từ hoạt động

    xuất nhập khẩu

    Thu viện trợ không hoàn lại

    =102,9% dự toán ( tăng 6.650 tỷ đồng )

    =91,1% dự toán ( giảm 5.700 tỷ đồng )

    =98,6% so với dự toán ( giảm 1.200 tỷ

    đồng)

    Tăng 1,2% so với dự toán ( tăng 1.000 tỷ

    đồng )

    Tổng chi NSNN ước đạt 533.000 tỷ đồng, tăng 8,5% so với dự toán ( tăng

    41.705 tỷ đồng ) và tăng 7,5 % so với năm 2008, trong đó:

    Chi đầu tư phát triển

    Chi trả nợ và viện trợ

    Tăng 20,1% ( 22.700 tỷ đồng ), chiếm 25,4% tổng chi

    NSNN và bằng 8,1%GDP

    Tăng 10,2% ( 6000 tỷ đồng )

    Qua đó cho ta thấy, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với

    những khó khăn trong nước và áp lực chi để phục hồi kinh tế, ổn định đời sống nhân

    dân thì việc bội chi ngân sách là đều không tránh khỏi. Mặc dù con số bội chi 6,9%

    GDP vẫn nằm trong phạm vi cho phép của Quốc hội nhưng bội chi ngân sách tăng

    trong bối cảnh chính sách tiền tệ nới lỏng, luôn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao trở lại.

    Điều này cũng cảnh báo độ an toàn của ngân sách trong các năm tiếp theo nếu như

    không chủ động có các biện pháp cải cách để tạo nền tảng tăng nguồn thu cũng như

    tăng cường kỷ luật tài chính cho ngân sách.

    2.3 Thực trạng thâm hụt ngân sách Việt Nam trong năm 2010 và ước tính

    đến năm 2011

    So với năm 2009, nhiều yếu tố nền tảng của kinh tế sẽ được cải thiện trong năm

    2010, trong đó phải kể đến cầu đầu tư và cầu tiêu dùng trong nước. Chính những

    chuyển biến tích cực đó đã tạo điều kiện để tăng thu NSNN, cụ thể:

    Nội dung

    Thu NSNN

    Tổng chi NSNN

    Bội chi NSNN

    Năm 2010

    Ước đạt 520.100 tỷ đồng

    Ước đạt 637.200 tỷ đồng

    Ước tính 117.000 tỷ

    đồng, 5,95% GDP

    So với dự toán

    Tăng 12,7%

    Tăng 9,4%

    So với năm 2009

    Tăng 17,6%

    Tăng 9%

    Giảm 0,25 %

    Giảm 6,9%

    Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    cao,nghĩa là số tiền VND phải nhiều hơn trước mới có thể đổi được 1 đơn vị tiền tệ

    khác. Việc này sẽ làm giảm đầu tư, đặc biệt là đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam và

    các đầu tư có yếu tố nuớc ngoài. Tóm lại, thâm hụt ngân sách cao kéo dài sẽ đe dọa sự

    ổn định vĩ mô, khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế,

    gây nguy cơ lạm phát và vỡ nợ của quốc gia.

    3. Nguyên nhân thâm hụt ngân sách

    Thâm hụt NSNN khi số chi lớn hơn số thu ngân sách. Vì thế, nguyên nhân của

    nó cũng xuất phát từ việc thu và chi NSNN.

    3.1 Thất thu thuế

    Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho NSNN bên cạnh các nguồn thu

    khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…Tuy nhiên, do hệ

    thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho các cá

    nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho NSNN…

    Trong khi nguồn thu về cho ngân sách phần lớn là từ thuế, mà thực tế tình trạng gian

    lận và thất thu thuế ngày càng phổ biến dẫn đến thâm hụt ngân sách ngày càng tăng cao

    hơn trong những năm gần đây. Trong năm 2009, Chính phủ đã dành 8 tỷ USD để thực

    hiện kích cầu dành cho mọi thành phần kinh tế, mà khoản tiền này chủ yếu lấy từ thu

    NSNN.

    Từ giữa năm 2008 đến giữa năm 2009, có khoảng 1.000 tấn thuốc lá lậu qua

    biên giới chảy vào nội địa một cách trót lọt. Tính riêng năm 2009 nhập lậu 870 triệu

    bao chiếm khoảng 20% sản lượng tiêu thụ nội địa, năm 2010 nhập lậu 813 triệu bao.

    Với diễn biến về tình trạng buôn lậu thuốc lá như hiện nay đã làm chảy máu ngoại tệ

    khoảng 200 triệu USD/năm và nhà nước thất thu thuế khoảng 3.500 tỷ đồng.

    Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh

    nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc miễn

    thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây

    thâm hụt NSNN. Theo đó, để khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh, kích cầu

    đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó khăn đối với doanh

    nghiệp, dựa trên quyết định số 16/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ tài

    chính đã ban hành nhiều giải pháp miễn, giảm và giãn thuế. Việc thực hiện các giải

    pháp giảm, giãn thuế đã làm giảm thu năm 2009 khoảng 20.000 tỷ đồng. Điển hình là

    Bộ tài chính đã đưa ra văn bản yêu cầu các cơ quan hải quan cho Vinashin chậm nộp

    thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng 1 năm đối với nguyên vật liệu vật tư thiết bị

    máy móc, nhập khẩu cho các hợp đồng bị hủy, tức là được gia hạn đến ngày

    31/12/2011. Đồng thời cơ quan thuế cũng không áp dụng biện pháp cưỡng chế nộp

    thuế và Vinashin sẽ được miễn tiền phạt nộp thuế. Chính điều này đã gây lượng thất

    thu lớn từ thuế.

    Một nguyên nhân khác gây hụt thu là do giá dầu thô giảm đã ảnh hưởng làm

    giảm thu ngân sách: do giá dầu thô sụt giảm từ mức đỉnh 149 USD/thùng hồi giữa năm

    2008 xuống mức thấp nhất vào khoảng 40 USD/thùng đầu năm 2009 và dao động ở

    Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    Mức thâm hụt ngân sách ở Việt Nam đã vượt xa ngưỡng “báo động đỏ” 5%. Đối

    với Việt Nam, đáng lo hơn cả là vay nợ nhưng làm ăn kém hiệu quả và khả năng trả nợ

    ngày càng khó khăn hơn. Nguy cơ đã thấy rõ không giữ nổi tài chính quốc gia trong

    ngưỡng an toàn. Thiếu hụt ngân sách ngày càng tăng, tỷ lệ chi NSNN thực hiện so với

    tỷ lệ ngân sách Quốc hội biểu quyết thường cách xa nhau khoảng 20%.

    3.4 Quy mô chi tiêu của Chính phủ quá lớn

    Tăng chi tiêu của Chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời

    trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro

    tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm

    bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một

    cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của Chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy

    nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của Chính phủ một khi

    vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ

    nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt NSNN và cuối cùng là gây ra lạm

    phát. Vì vậy, cần phải thực hiện tiết kiệm, nhưng không chỉ tiết kiệm chi tiêu gia đình,

    người dân, mà lớn hơn và quan trọng hơn là tiết kiệm chi tiêu Chính phủ. Đây mới là

    khoản tiết kiệm lớn và nếu giải quyết được vấn đề này, nguồn tài chính sẽ có điều kiện

    rót vào những khu vực cần thiết, chẳng hạn như đầu tư vào doanh nghiệp, giải quyết

    việc làm…

    3.5 Chưa chú trọng giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên

    Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách, áp lực bội

    chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ

    chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ

    ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp

    nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân

    sách hằng năm. Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm

    nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và

    đi vào hoạt động cũng như chi phí duy trì, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu

    quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách. Để có nguồn kinh phí

    hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai

    trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.

    Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    4.6 Cắt giảm các khoản đầu tư và chi phí thường xuyên, chi tiêu không

    đáng có của nhà nước

    Vì tiền ngân sách là tiền của dân, nên việc chi tiêu đồng tiền này yêu cầu Chính

    phủ cần rạch ròi hơn về chi tiêu cho lĩnh vực công, làm rõ hiệu quả đầu tư, tách bạch

    hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội. Chi tiêu ngân sách cần được thay đổi theo hướng

    dựa trên nhu cầu thực tế chứ không phải dựa vào đầu vào như hiện nay. Đồng thời, việc

    lập ngân sách cần có định hướng vì lợi ích chung, hạn chế tối đa lợi ích cục bộ để kiểm

    soát tốc độ tăng chi, cải thiện ngân nguồn thu ngân sách, tránh trường hợp ngân sách

    phụ thuộc quá nhiều vào nguồn thu không bền vững.

    KẾT LUẬN

    Thâm hụt NSNN ảnh hưởng đến sự bền vững của nền kinh vĩ mô của đất nước.

    Do đó, Chính phủ nước ta hiện nay đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm để bù đắp thâm hụt

    ngân sách của năm trước và hạn chế thâm hụt trong những năm về sau. Tuy nhiên, mỗi

    biện pháp đó đều có tác động tích cực cũng như tiêu cực đến nền kinh tế vĩ mô. Do

    vậy, đòi hỏi Chính phủ phải linh hoạt điều chỉnh sao cho phù hợp với nền kinh tế nước

    ta. Đây không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam mà ngay cả các nước lớn trên thế giới

    như Mỹ, Nhật, Trung Quốc,… cũng đang gặp phải. Nếu giải quyết tốt việc thâm hụt

    NSNN sẽ đem lại sự ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế và tăng an sinh xã hội.

    Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. http://vneconomy.vn, “Hai kịch bản cho nền kinh tế Việt Nam 2010”, Anh

    Minh.

    2. http://thongtinphapluatdansu.wordpss.com, “Tổng quan kinh tế Việt Nam

    năm 2010 và triển vọng năm 2011″, TS. Nguyễn Hồng Nga và Nhật Trung;

    “Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010 và khuyến nghị năm 2011”, TS. Lê

    Quốc Hội.

    3. http://baigiang.violet.vn, “Thực trạng về thâm hụt ngân sách nhà nước Việt

    Nam”, Trần Mạnh Kiên.

    4. http://tuoitre.vn, “Giảm thâm hụt ngân sách để khôi phục sự ổn định vĩ mô”,

    Vũ Thành Tự Anh – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (Theo Doanh

    nhân Sài Gòn Cuối tuần).

    5. http://www.tienphong.vn,”Thâm thủng ngân sách nhìn từ con tàu Vinashin”,

    Nguyễn Tuấn.

    6. http://www.vp.tamnhin.net, “Chi tiêu ngân sách còn lãng phí…, đầu tư dàn

    trải thiếu tập trung”, Vũ Nguyên.

    7. http://www.bwlaws.com, “Những giải pháp kích cầu năm 2009”, Nhựt

    Thanh.

    8. http://vnn.vietnamnet.vn, “17 tỷ đồng kích cầu cho mọi thành phần kinh tế”,

    Ngọc Lê.

    9. http://vietbao.vn, “Năm 2009: miễn, giảm, giãn thuế thuế khoảng 20.000 tỷ

    đồng”.

    10. http://vef.vn, “Quản lý nợ công – nỗi lo chẳng của riêng ai”, Tô Văn

    Trường; “Hoãn thuế cho Vinashin”, Phạm Huyền.

    11. http://www.thesaigontimes.vn, “Làm gì để giảm thâm hụt ngân sách”,

    Quang Minh.

    12. http://www.taichinhdientu.vn, “Tỷ giá, thâm hụt ngân sách: hai áp lực kinh

    tế Việt Nam năm 2010″, Bình Minh; “Kinh nghiệm quốc tế đối phó tình

    trạng thâm hụt ngân sách”, Khánh Huyền.

    13. http://www.vinacorp.vn, “Việt Nam với bài toán thâm hụt ngân sách”,

    Hoàng Công Tuấn.

    14. http://tintuc.vnn.vn, “Cắt giảm đầu tư công: sẽ cẩn trong hơn!”

    Nguyễn Huỳnh Bảo Trâm, Lớp 102_T05

    15. http://www.xaluan.com, “Tiết kiệm chi tiêu của Chính phủ là quan trọng

    nhất”.

    16. Nghị quyết “Dự toán ngân sách nhà nước năm 2009”, số 21/2008/QH12.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tp Hcm Xây Dựng Hàng Loạt Giải Pháp Ứng Phó Ô Nhiễm Môi Trường
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Không Khí Ở Tphcm
  • Họp Khẩn Tìm Giải Pháp Cấp Bách Khắc Phục Ô Nhiễm Không Khí Ở Các Đô Thị Lớn
  • Các Biện Pháp Nhằm Khắc Phục Tình Trạng Ô Nhiễm Không Khí Ở Hà Nội
  • Giải Pháp Nào Cho Người Tóc Bạc Sớm
  • Thâm Hụt Ngân Sách Và Biện Pháp Tài Trợ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Để Khôi Phục Sự Ổn Định Vĩ Mô
  • Hy Lạp Công Bố Các Biện Pháp Cắt Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Mới
  • Các Biện Pháp Xử Lí Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước Cac Bp Xu Li Tham Hut Ngan Sach Nha Nuoc Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gdcd
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Địa Lí Giai Phap Nang Cao Mon Dia Ly Doc
  • http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    LỜI NÓI ĐẦU

    Ngân sách là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước. Thông qua ngân sách

    tích luỹ và tiêu dùng, xuất và nhập khẩu…

    .CO

    Nhà nước sẽ tham gia vào việc điều chỉnh những vấn đề lớn của nền kinh tế như:

    Thâm hụt ngân sách sẽ gây sức ép làm tăng lãi suất thị trường, do đó cản trở

    nhu cầu đầu tư của các nhà kinh doanh làm giảm sự tăng trưởng kinh tế, lãi suất

    tăng làm giá trị đồng nội tệ tăng, dẫn đến tình trạng siêu nhập. Ngoài ra thâm hụt

    KS

    ngân sách còn ảnh hưởng tới tình trạng lạm phát, sự ổn định xã hội…

    Vì vậy ngân sách và vấn đề thâm hụt ngân sách là mối quan tâm sâu sắc của

    mỗi quốc gia. Để hiểu rõ và nắm vững vấn đề quả là không phải dễ, do đó trong đề

    OO

    án này chỉ đề cập được những vấn đề mang tính chung nhất về “thâm hụt ngân

    Chắc chắn trong đề án còn nhiều sai sót, em mong nhận được lời góp ý của

    KIL

    OB

    thầy cô. Em xin trân trọng cảm ơn!

    1

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    I. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    1. Ngân sách nhà nước là gì ?

    Ngân sách nhà nước là một bảng dự toán và thực hiện các khoản thu ,chi tài

    đầu từ ngày 1/1 đến ngày 31/12 của năm đó).

    .CO

    chính của nhà nước trong khoảng thời gian thường là một năm(năm tài chính bắt

    Ngân sách nhà nước do Quốc hội xem xét và quyết định thông qua tình hình

    thực hiện ngân sách năm trước,nhiệm vụ thu chi của ngân sách nhà nước năm

    nay,tình hình bội chi ngân sách nhà nước,các giải pháp bù đắp bội chi ngân

    KS

    sách,các khoản nợ nhà nước đến hạn…

    Về mặt hình thức thì ngân sách nhà nước là một bảng cân đối tổng hợp các

    khoản thu và chi .Còn về mặt nội dung kinh tế thì ngân sách nhà nước phản ánh các

    quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân và các

    OO

    nguồn tiền tệ khác nhằm hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập chung lớn nhất của

    nhà nước,thực hiện chức năng nhà nước .

    Hàm ngân sách đơn giản có dạng sau:

    B = -G + tY

    OB

    Trong đó: B là cán cân ngân sách

    G là chi tiêu ngân sách

    tY là thu ngân sách

    KIL

    2. Vai trò của ngân sách Nhà nước

    Ngân sách nhà nước là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của

    nhà nước.Mà nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế bảo

    đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định,bền vững.Và như vậy ngân sách nhà nước

    chính là cơ sở tài chính,là nguồn lực để nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình.

    Thông qua ngân sách, nhà nước sẽ điều tiết các quan hệ kinh tế tạo nên sự

    cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng,giữa xuất khẩu và nhập khẩu,giữa cơ cấu đầu tư

    2

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    và cơ cấu tiêu dùng…nhà nước điều tiết thu nhập giữa các thành phần dân cư tạo

    nên sự công bằng xã hội.

    Nếu như trước đây ngân sách nhà nước chuyên đảm nhiệm việc bù lỗ,bù

    giá,bù lương…thì bây giờ nó dành vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng và chi phí cho các

    .CO

    nhu cầu khác của xã hội.

    Vậy ta đã biết thế nào là ngân sách nhà nước và vai trò to lớn của nó trong

    nền kinh tế ,nhưng nếu quản lý thiếu hiệu quả nó sẽ không phát huy được hết tác

    dụng,do đó ta sẽ đi tìm hiểu:

    KS

    3. Quản lý ngân sách Nhà nước

    Quản lý ngân sách nhà nước là một chu trình gồm ba khâu chính sau:

    -Lập dự toán ngân sách nhà nước

    -Chấp hành ngân sách nhà nước

    OO

    -Quyết toán ngân sách nhà nước

    Để quản lý tốt ngân sách cần hoàn thành tốt cả ba khâu trên,ta sẽ đi vào cụ

    thể từng khâu để thấy rõ nhiệm vụ và yêu cầu cần thực hiện.

    3.1. Lập dự toán ngân sách Nhà nước

    OB

    Việc lập dự toán ngân sách do các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa

    phương thực hiện trong phạm vi quản lý,gửi tới các cơ quan cùng cấp .Sau đó Bộ

    tài chính sẽ thay mặt Chính phủ trong việc xem xét dự toán thu chi ngân sách của

    các cơ quan nói trên và dựa trên cơ sở đó sẽ trình Chính phủ bản dự toán ngân sách

    KIL

    nhà nước.Cuối cùng Chính phủ sẽ trình Quốc hội xem xét và quyết định.

    Khi lập dự toán ngân sách nhà nước phải đảm bảo hai yêu cầu sau:

    -Thứ nhất đảm bảo đúng trình tự và thời gian quy định

    -Thứ hai đảm bảo việc xây dựng các chỉ tiêu thu,chi ngân sách nhà nước nhà

    nước phải dựa trên hệ thống,chế độ,các tiêu chuẩn hiện hành có tính chất pháp luật

    của nhà nước.

    Ngoài ra,việc lập dự toán ngân sách nhà nước phải dựa vào :

    3

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    -Các chủ trương chính sách của nhà nước trong việc phát triển kinh tế-xã hội

    của đất nước .

    -Hệ thống chế độ các định mức thu ,chi trong luật ngân sách nhà nước

    3.2.Chấp hành ngân sách Nhà nước

    .CO

    -Tình hình số liệu có tính chất lịch sử.

    Dự toán ngân sách nhà nước sau khi được quốc hội thông qua thì các khoản

    thu chi sẽ trở thành chỉ tiêu pháp lệnh buộc các cấp,các ngành phải thực hiện.

    *Đối với dự toán thu ngân sách phải đảm bảo thu đủ và kịp thời.

    KS

    *Đối với dự toán chi ngân sách phải đảm bảo chi đúng đối tượng,có hiệu quả

    kinh tế cao.

    Ngân sách nhà nước ta hiện nay có năm phương thức cấp phát chính:

    -Gán thu bù chi

    -Cấp phát lệnh chi tiền

    OO

    -Ghi thu ,ghi chi

    -Cấp phát hạn mức kinh phí

    -Cấp phát kinh phí uỷ quyền

    OB

    Mỗi phương thức đều có ưu nhược điểm riêng ,do đó cần phải tiến hành

    đồng bộ nhiều giải pháp để thực hiện tốt kế hoạch thu và chi ngân sách.

    3.3.Quyết toán ngân sách Nhà nước

    Đảm bảo đúng trình tự,đi từ cấp dưới lên cấp trên,Bộ tài chính sẽ xem xét và

    KIL

    duyệt quyết toán thu chi,sau đó sẽ tổng hợp để trình lên Chính phủ.Chính phủ sẽ

    trình lên Quốc hội trong kỳ họp cuối năm để duyệt và thông qua.

    Các báo cáo thu chi ngân sách Nhà nước ở các cấp đều phải được cơ quan

    kiểm toán nhà nước kiểm tra và xác nhận.

    Trong quá trình quyết toán ngân sách phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

    -Phải tuân theo chế độ kế toán,pháp lệnh thống kê-kế toán nhà nước đã ban

    hành.

    4

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    -Phải đảm bảo tính tăng cường trách nhiệm cho các đơn vị,các cơ quan tài

    chính từ trung ương đến địa phương trong việc xem xét và quyết toán ngân sách

    nhà nước.

    -Số liệu phục vụ quyết toán phải được kiểm tra đối chiếu,trùng khớp với số

    4. Phân cấp ngân sách Nhà nước

    .CO

    liệu của kho bạc nhà nước và được kho bạc nhà nước xác nhận.

    Phân cấp ngân sách nhà nước là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp

    chính quyền trong vấn đề quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước

    KS

    Một là,giải quyết mối quan hệ về quyền lực trong việc ban hành chính

    sách,ban hành các chế độ thu chi của ngân sách nhà nước

    Hai là,giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân chia nhiệm vụ về

    kinh tế – chính trị – xã hội và căn cứ vào các nguồn thu trên từng địa bàn để có

    OO

    phương án điều hoà ngân sách một cách thích hợp.

    Ba là,giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình quản lý ngân

    sách nhà nước.

    Nhưng để thực hiện tốt phân cấp ngân sách nhà nước thì trong phân cấp phải

    OB

    đảm bảo các nguyên tắc sau:

    -Phân cấp ngân sách nhà nước phải được tiến hành đồng thời với việc phân

    cấp về kinh tế và bộ máy hành chính nhà nước

    -Trong phân cấp ngân sách nhà nước phải đảm bảo được vai trò của ngân

    KIL

    sách trung ương và tính độc lập của ngân sách địa phương

    -Việc phân cấp ngân sách phải đảm bảo sự công bằng giữa các cấp ngân

    sách.

    Trong nghị quyết186/HĐBT nguyên tắc phân cấp ngân sách có thêm một số

    điểm sau:

    5

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngân sách nhà nước

    là phải đảm bảo sự cân đối giữa thu và chúng tôi nhiên do nhiều tác động

    khác nhau mà nguồn thu bị hạn chế,trong khi nhu cầu chi lại tăng rất nhanh

    nên ngân sách nhà nước rơi vào tình trạng thâm hụt.

    .CO

    Bản chất vấn đề ở đây là gì ? Nguyên nhân ?Hậu quả của nó ra sao ?ta sẽ đi

    vào tìm hiểu

    II. THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ NGUYÊN NHÂN

    1. Khái niệm về thâm hụt ngân sách Nhà nước

    KS

    OO

    thâm hụt ngân sách)

    B=T-G

    B < 0 :Thâm hụt ngân sách (B là hiệu số giữa thu và chi)

    Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngân sách nhà nước

    OB

    là đảm bảo sự cân đối giũa thu và chúng tôi nhiên do khả năng nguồn thu bị hạn chế

    và tăng chậm ,thời kỳ vừâ qua(1976 đến nay) các nhu cầu chi lại tăng nhanh nên

    ngân sách nhà nước mới bội chi kinh niên.Thâm hụt ngân sách cũng là hiện tượng

    phổ biến ở các quốc gia trên toàn thế giới

    KIL

    Người ta phân biệt ba loại thâm hụt là:Thâm hụt cơ cấu,thâm hụt thực tế và

    thâm hụt chu kỳ.

    -Thâm hụt ngân sách thực tế:Là thâm hụt khi số chi thực tế vượt số thu thực

    tế trong một thời kỳ nhất định.

    -Thâm hụt ngân sách cơ cấu:Là thâm hụt tính toán trong truờng hợp nếu nền

    kinh tế hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng.

    -Thâm hụt ngân sách chu kỳ:Là thâm hụt ngân sách bị động do sự vận động

    theo chu kỳ của nền kinh tế thị trường.Thâm hụt chu kỳ xảy ra tự động như nó là

    6

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    kết quả của chu kỳ kinh doanh và được tính bằng hiệu số giữa thâm hụt thực tế và

    thâm hụt cơ cấu.

    Trong ba loại thâm hụt trên thì thâm hụt cơ cấu phản ánh kết quả hoạt động

    chủ quan của chính sách tài khoá như : định ra thuế suất,phúc lợi,bảo hiểm…Vì vậy

    .CO

    để đánh giá kết quả phải sử dụng thâm hụt cơ cấu.

    2. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách

    Thâm hụt ngân sách không phải là ý muốn của bất kỳ chính phủ nào,mà

    ngược lại tất cả các chính phủ đều hứa hẹn và mong muốn đạt tới sự cân bằng ngân

    KS

    sách.Tuy nhiên đây thực sự là một bài toán hóc búa,mà nguyên nhân chủ yếu là do

    vi phạm một số nguyên tắc thu và chi ngân sách.

    Ngoài ra,các cuộc khủng hoảng kinh tế cũng dẫn tới tình trạng thâm hụt.Khi

    đất nước lâm vào khủng hoảng ,GNP thực tế giảm,các khoản thu nhập của chính

    OO

    phủ giảm (thuế doanh thu và thu nhập giảm), mà các khoản chi chuyển nhượng lại

    tăng.

    Cụ thể,ở các nước tư bản,một mặt để khuyến khích phát triển khu vực kinh tế

    tư nhân,chính phủ đã tiến hành cải cách hệ thống thuế, theo hướng thu hẹp tỷ lệ

    OB

    thuế trực thu,làm cho tổng số thu của ngân sách nhà nước giảm mạnh.Mặt

    khác,cùng với việc tăng chi cho các nhu cầu xã hội,xây dựng các công trình công

    cộng,trợ cấp cho các doanh nghiệp tư nhân,nghiên cứu khoa học,thì chi phí quân sự

    trạng thâm hụt.

    KIL

    cũng tăng lên không ngừng,quá sức chịu đựng của ngân sách nhà nước,dẫn đến tình

    Còn ở Việt Nam,đặc điểm nổi bật của ngân sách nhà nước thời gian qua là

    chịu ảnh hưởng nặng nề của hoàn cảnh chiến tranh lâu dài và cơ chế quản lý kế

    hoạch hoá tập trung cao độ.Vì vậy ngân sách nhà nước luôn gặp phải những khó

    khăn to lớn , trở nên hết sức bị động cả về thu,chi và cân đối.

    Thu ngân sách nhà nước tăng chậm và không ổn định,nguồn thu từ nội bộ

    nền kinh tế không đủ chi cho hầu hết các lĩnh vực kinh tế,xã hội và cho sản xuất

    kinh chúng tôi ngân sách còn lãng phí ,kém hiệu quả, mà nhu cầu chi tiêu của nhà

    7

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    nước thì ngày càng tăng .Hơn nữa,việc quản lý và điều hành ngân sách còn nhiều

    hạn chế,thể hiện trên tất cả các lĩnh vực:Lập và quyết định dự toán ngân sách,phân

    bổ ngân sách,kế toán và quyết toán ngân sách..Đó là những nguyên nhân cơ bản

    nhất dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách.

    .CO

    Ngoài ra,còn có một trường hợp đặc biệt.Lý thuyết cổ điển chỉ ra rằng muốn

    thăng bằng ngân sách trong thời kỳ suy thoái thì hoặc phải tăng thu hoặc phải giảm

    chi,song cả hai phương pháp này chỉ ảnh hưởng tới nền kinh tế hai cái “máy hãm”

    khiến cho nền kinh tế đã trì trệ lại càng trì trệ nặng nề hơn.

    KS

    Để tránh ảnh hưởng kìm hãm đó người ta cố tránh bằng cách cố ý thâm hụt

    ngân sách,sự thiếu hụt ngân sách là động lực và khơi mào cho sự phục hồi kinh tế

    bằng cách chi tiêu ra nhiều hơn.Nhưng cách này có tác động nguy hiểm đến nền

    kinh tế của quốc gia,do đó chúng ta phải rất thận trọng trong gây ra thiếu hụt và sự

    OO

    thâm hụt ngân sách tạm thời này phải được kiểm soát chặt chẽ trong một giới hạn

    nhất định

    Ví dụ như ở Pháp trong quá trình thực hiện các chương trình cải cách đã tiến

    hành giảm thuế.Việc bãi bỏ thuế đối với các doanh nghiệp lớn và thuế lợi nhuận

    OB

    đối với các doanh nghiệp lớn và trung bình đã làm mất nguồn thu của ngân sách

    nhà nước 14 tỷ Phơrăng .Thu giảm mà chi cho các nhu cầu xã hội lại tăng (năm

    1982 tăng 4,6% ) dẫn đến thâm hụt ngân sách

    KIL

    Bảng thâm hụt ngân sách nhà nước Pháp (tỷ Phơrăng)

    1981

    hụt 85,6

    ngân sách

    1982

    1983

    1984

    1988

    114,4

    142,3

    139,9

    145

    3. Tác động của thâm hụt ngân sách Nhà nước đối với nền kinh tế

    3.1.Thâm hụt ngân sách và vấn đề thoái lui đầu tư

    8

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    Theo “thuyết tương đương” của Ricardo khi có tình trạng thâm hụt ngân sách

    thì tiết kiệm của dân chúng tăng lên bằng mức thâm hụt.Vì thế sẽ không ảnh hưởng

    đến lãi suất,không gây cản trở đầu tư.

    Tuy nhiên qua thực tế ở nhiều nước khi ngân sách nhà nước thâm hụt ,chi

    .CO

    tăng ,thu giảm,GNP sẽ tăng lên theo hệ số nhân,nhu cầu về tiền tăng theo.Với mức

    cung về tiền cho trước,lãi suất sẽ tăng lên,bóp nghẹt một số đầu tư.Kết quả là một

    phần GNP tăng lên có thể bị mất đi do thâm hụt cao,kéo theo tháo lui đầu tư với

    quy mô nhỏ nếu trong ngắn hạn và quy mô lớn nếu trong dài hạn.Từ đó làm giảm

    KS

    sự tăng trưởng kinh tế .

    3.2.Thâm hụt ngân sách – một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát

    Để thấy rõ điều này trước hết ta cần hiểu lạm phát là gì?

    “Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian.”

    OO

    Khi ngân sách thâm hụt lớn,chính phủ có thể in thêm tiền để trang trải,lượng

    tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây ra lạm phát.Khi giá cả đã tăng lên

    thì sự thâm hụt mới lại nảy sinh đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm

    phát tiếp tục tăng vọt.Mà tác hại của lạm phát là rất lớn như phân phối lại thu nhập

    OB

    và của cải một cách ngẫu nhiên,gây biến dạng về cơ cấu sản xuất và việc làm trong

    nền kinh tế…Như vậy, nghĩa là thâm hụt ngân sách nhà nước gián tiếp gây ra các

    tác động trên làm tổn hại đến nền kinh tế .

    Tuy nhiên,lạm phát cũng có tác động ngược đến thâm hụt ngân sách nhà

    KIL

    nước.Với tác động phân phối lại của cải một cách ngẫu nhiên thì lạm phát cũng làm

    dễ dàng hơn cho chính phủ trong một chừng mực nhất định:

    Thứ nhất,Chính phủ có thêm một nguồn thu nhập đó là thuế lạm phát.

    Thứ hai,Chính phủ có thể được lợi nếu lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa

    tăng ít hơn bản thân mức tăng của lạm phát.

    Và như vậy mức thâm hụt ngân sách có thể giảm .

    3.3.Tác động của thâm hụt ngân sách tới cán cân thương mại

    9

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    Hiệu số giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong khoản giao dịch còn gọi là cán

    cân thương mại.Các hoạt động xuất và nhập khẩu hàng hoá không chỉ được đánh

    giá thông qua số lượng mà còn được đánh giá thông qua tỷ lệ trao đổi.Tỷ lệ trao đổi

    ở đây là tỷ số giữa giá hàng xuất khẩu của một nước và giá hàng nhập khẩu ccủa

    .CO

    bản thân nước đó .Như vậy ,nếu như giá xuất khẩu tăng lên một cách tương đối so

    với hàng nhập khẩu thì cán cân thương mại sẽ được tăng cường theo hướng tích

    cực và ngược lại ( nếu như khối lượng hàng không thay đổi .)

    Như ta đã phân tích ở trên , tình trạng thâm hụt ngân sách sẽ làm cho lãi suất

    KS

    thị trường tăng.Lãi suất tăng làm cho giá trị đồng nội tệ tăng,giá hàng hoá trong

    nước theo đó cũng tăng làm giảm lượng hàng xuất khẩu.Trong khi tương ứng,hàng

    hoá của đất nước khác sẽ rẻ tương đối so với nước đó,dẫn tới việc tăng lượng hàng

    nhập khẩu .Vì vậy ,thâm hụt ngân sách sẽ gây ra tình trạng nhập siêu:Nhập vào lớn

    OO

    hơn xuất ra,việc sử dụng hàng hoá sản xuất trong nước bị hạn chế ,sản xuất gặp

    nhiều khó khăn,tác động không ít tới sự tăng trưởng kinh tế.

    Nước Mỹ từ những năm 80 khi chúng tôi GÂN lên làm tổng thống tình trạng

    thâm hụt ngân sách trở nên trầm trọng,lần đầu tiên trong lịch sử vượt qua con số

    OB

    trên 100 tỷ USD,ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và tình hình xuất nhập khẩu,ta có

    thể thấy rõ điều đó qua bảng số liệu sau (tỷ USD )

    Xuất khẩu

    KIL

    530

    Nhập khẩu

    thâm

    hụt

    155

    10

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    III. TRANG HOẠT ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH THÂM HỤT NGÂN

    SÁCH THỜI GIAN QUA Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ

    GIỚI

    1. Ngân sách nhà nước Việt Nam – nạn nhân của cơ chế bao cấp

    .CO

    Nền kinh tế Việt Nam trước đây kém phát triển ,thứ nhất do hậu quả của

    chiến tranh,thứ hai do duy trì cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập chung và hệ thống

    kiếm soát lỏng lẻo.

    Cả hai yếu tố đó cũng làm cho hoạt động của ngân sách nhà nước mang tính

    KS

    chất bao biện và bao cấp trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế xã hội .Và trên

    thực tế ,ngân sách nhà nước là kênh chủ yếu để động viên các nguồn tài chính cấp

    phát trở lại cho nền kinh tế (từ huy động các nguồn thu đến trang trải các khoản

    chi,thanh toán nợ nần,đảm bảo kinh phí cho các tổ chức đoàn thể và các nhu cầu xã

    OO

    hội ).

    Trong quá trình thực hiện vai trò của mình,ngân sách nhà nước luôn gặp phải

    những khó khăn to lớn và trở nên hết sức bị động cả về thu,chi lẫn cân đối.

    Thu ngân sách nhà nước tăng chậm và không ổn định,nguồn thu từ nội bộ

    OB

    nền kinh tế quốc dân không đủ để bao chi cho hầu hết các lĩnh vực kinh tế ,xã hội

    và cho sản xuất,kinh doanh .Do đó ,phần lớn các khoản cấp phát từ ngân sách nhà

    nước cho tích lũy và tiêu dùng dựa vào nguồn viện trợ và vay nợ nước ngoài.Để

    chứng minh ta có bảng số liệu sau

    KIL

    Giai đoạn

    Nguồn viện trợ và vay nợ

    so với thuNSNN(%)

    1960-1975

    56,8

    1976-1980

    38,2

    1981-1985

    22,4

    1986-1990

    21,5

    11

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    Khu vực kinh tế quốc doanh tuy đóng góp nguồn thu chủ yếu cho ngân sách

    nhà nước nhưng do cơ chế bao cấp nên nguồn thu này không phản ánh đúng thực

    chất hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính của các xí nghiệp,nghĩa là

    nếu loại trừ các khoản nhà nước bao cấp thì hầu như các xí nghiệp quốc doanh

    .CO

    không đóng góp gì cho ngân sách nhà nước,mà ngược lại chúng còn ngốn thêm một

    khoản tiền lớn nhà nước huy động từ các nguồn khác.

    Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tuy chỉ đóng góp tỷ trọng nhỏ vào ngân

    sách nhà nước nhưng số thu được cũng chưa tương xứng với kết quả hoạt động của

    KS

    khu vực này.

    Chi ngân sách nhà nước vẫn còn rơi vào tình trạng bị động,lãng phí ,kém

    hiệu quả.Xuất phát từ sự eo hẹp của nguồn thu,các khoản chi ngân sách nhà nước

    không đáp ứng được một cách đầy đủ,kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu ngày càng

    OO

    tăng của nhà nước.Không những thế,cơ chế bao cấp nặng nề qua cấp phát vốn,bù

    giá,bù lỗ,cấp phát kinh phí tràn lan cho các hoạt động xã hội đã làm cho ngân sách

    nhà nước luôn luôn trong tình trạng tù túng.

    Do những sai phạm trong nguyên tắc thu và chi,dẫn đến thu chi mất cân

    OB

    Từ XNQD: 7,8

    Chi thường xuyên:10,6

    Thuế:

    Chi đầu tư:

    5,8

    Tổng chi:

    16,4

    Bội chi :

    -5,6

    KIL

    Thu NSNN (%GDP)

    3

    Tổng thu: 10,8

    12

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    Từ 1989,những nỗ lực cải cách đã được thực hiện và phát huy tác dụng.Việc

    tự do hoá giá cả lãi suất kết hợp với những thay đổi lớn trong thu chi ngân sách nhà

    nước đã làm cho hoạt động của ngân sách nhà nước trở nên chủ động hơn và phản

    ánh đúng thực chất hơn.

    .CO

    Về thu,đã xoá bỏ hình thức thu ngoài thuế từ khu vực kinh tế quốc

    doanh,thay vào đó,một hệ thống thuế mới áp dụng cho tất cả các thành phần kinh tế

    đã ra đời (ngày 8/ 8/1990 ). Hội đồng nhà nước đã công bố đồng thời ba đạo luật về

    thuế :-Luật thuế doanh thu

    KS

    -Luật thuế lợi tức

    -Luật thuế tiêu thụ

    Cho tới nay ,thu từ thuế chiếm trên 80% tổng số thu ngân sách.

    Về chi đã xoá bỏ các hình thức bao cấp qua bù lỗ,bù giá…áp dụng chế độ tỷ

    OO

    giá cho các loại giá vật tư và máy móc thiết bị,tạo ra cơ sở ổn định cho hệ thống giá

    cả của nền kinh tế.

    Vì vậy mức thâm hụt ngân sách đã giảm đáng kể.

    OB

    Bảng số liệu thâm hụt NSNN so với thu nhập quốc dân sản xuất(%)

    Giai đoạn

    1976-1980

    28,2

    1981-1985

    14,1

    1986-1990

    13,2

    KIL

    Năm

    Thâm hụt NSNN

    1990

    1991

    1992

    1993

    1994

    Tổng thu

    14,7

    13,5

    19,0

    22.3

    25,4

    Tổng chi

    22,8

    17,2

    22,7

    28,5

    28,1

    Thâm hụt

    -8,1

    -3,7

    -3,7

    -6,2

    -2,7

    13

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    Cơ chế quản lý ngân sách nhà nước thực chất là phân quyền ngân sách,làm

    cho nguồn thu ngân sách nhà nước bị xé lẻ ,các khoản thu bị phân tán,nhiều mục

    tiêu kinh tế – xã hội do tất cả các cấp ngân sách chi gây ra tình trạng chồng chéo

    ,nên hoạt động của ngân sách kém hiệu quả và gây khó khăn cho việc kiểm soát

    .CO

    của nhà nước.Ngoài ra,vai trò thống nhất quản lý và điều hành ngân sách nhà nước

    không được đảm bảo,trong khi ngân sách trung ương bội chi thì ngân sách một số

    địa phương lại bội thu,nhưng nhà nước không điều hoà được và ngân sách nhà

    nước vẫn thâm hụt lớn.

    KS

    2. Ngân sách và tình hình thâm hụt ngân sách ở một số nước tư bản

    Ngân sách các nước tư bản cũng rơi vao tình trạng thâm hụt nặng nề với

    những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    -Một là,số lần bội chi trong mỗi giai đoạn ngày càng tăng .Nếu giai đoạn

    OO

    1920 – 1940 ngân sách nhà nước Mỹ có 10 lần bội chi ,thì đến giai đoạn 1950 1970 đã lên tới 16 lần và từ 1970 tới nay rơi vào tình trạng bội chi liên tục.Nước ý

    trong suốt 15 năm ( từ 1965 đến 1980 ) không năm nào là không thâm hụt ngân

    sách nhà nước,ở Đức, Anh và một số nước khác tình trạng này cũng phổ biến.

    OB

    -Hai là, khối lượng bội chi ngày càng lớn, ở Mỹ giai đoạn 1930 – 1979,tổng

    số thâm hụt ngân sách tăng từ 17,6 tỷ USD nhảy vọt lên 300 tỷ chúng tôi nhiên ,

    tình trạng thâm hụt ngân sách trở nên trầm trọng nhất và thực sự được coi là căn

    bệnh hiểm nghèo của nền kinh tế Mỹ bắt đầu từ những năm 80 và ngày càng tăng

    KIL

    Cụ thể mức thâm hụt như sau:

    Giai đoạn

    Mức thâm hụt NSNN

    (tỷ USD)

    1930-1940

    17,6

    1950-1960

    31,2

    1970-1979

    300

    14

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    Mức thâm hụt những năm 80

    Năm

    Mức thâm hụt

    100

    1986

    210

    1988

    155

    1991

    159

    KS

    1982

    .CO

    NSNN(tỷ USD)

    Tình hình thâm hụt ngân sách cũng rất trầm trọng ở Pháp, ý , Đức và nhiều

    nước khác.Pháp trong 11 năm ( từ 1977 – 1988 ) mức thâm hụt tăng 8 lần ,ở Đức

    OO

    mức bội chi năm 1985 là 39,2 tỷ Mác,năm 1988 là 65,5 tỷ.

    Tuy nhiên ở Anh và Nhật,tình trạng bội chi ngân sách nhà nước mấy năm

    gần đây có được cải thiện hơn ,những năm 80 chính phủ đã giảm được số bội

    chi,đặc biệt năm 1989 còn bội thu 7 tỷ bảng.

    OB

    1964-69

    1970-73

    1974-76

    1980

    1982

    1987

    Mỹ

    -0,0

    -0,2

    -1,6

    -1,2

    -5,1

    -3,0

    Anh

    -0,9

    KIL

    Tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước so với GDP (%)

    -0,7

    -4,6

    -3,7

    -2,5

    -2,2

    ý

    -2,8

    -5,4

    -9,5

    -12,4

    -13

    Nước

    Bình quân các năm

    -11,4

    15

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    Pháp

    +0,4

    +0,8

    -0,8

    +0,3

    -2,6

    -3,0

    Đức

    -0,2

    +0,3

    -5,0

    -3,5

    -3,9

    -2,5

    Nhật

    -2,7

    -0,2

    -6,2

    -4,0

    -7,1

    -0,5

    .CO

    Ta thấy,tuỳ từng nước tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP có khác nhau

    ,trong đó có một số nước có xu hướng giảm được bội chi như Anh,Nhật song nhìn

    chung tỷ lệ thâm hụt tăng lên rõ nét từ những năm 70 sang đến những năm

    80.Nhiều nước như Mỹ,Đức,Pháp rất khó có khả năng thu hẹp được tỷ trọng này.

    KS

    -Bốn là,thâm hụt ngân sách thể hiện ở tất cả các cấp ngân sách (bao gồm

    ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.

    OO

    nước tư bản ở mọi thời kỳ đối với thực trạng của ngân sách nhà nước.

    Thật vậy,từ các thế kỷ trước sang đến tận thế kỷ thứ XX,sự thâm hụt ngân

    sách không những không được loại trừ ,mà còn có xu hướng trầm trọng thêm.

    Tuỳ tình hình mỗi nước mà chính phủ các nước đó sẽ đưa ra các biện pháp

    nghiệp vụ vay nợ …

    OB

    để bù đắp thâm hụt ngân sách. Có thể là phát hành thêm tiền hoặc tiến hành các

    Do thâm hụt ngân sách lớn,số vay nợ hàng năm cộng với số nợ các năm

    trước ngày càng chồng chất.Trên thực tế ,các chính phủ rất khó có khẳ năng thanh

    KIL

    toán,nếu không thực hiện biện pháp vay nợ mới để trả nợ cũ.

    Năm 1987,tổng số nợ của Ý chiếm 93% GDP ,ở Mỹ,mặc dù tỷ lệ khối lượng

    chỉ chiếm 31% so với GDP nhưng tổng số nợ đã lên tới trên 2000 tỷ USD,gấp

    khoảng 4 lần tổng số thu hàng năm từ ngân sách nhà nước.Số tiền trả hàng năm từ

    ngân sách nhà nước cho các khoản lãi của nợ nhà nước Mỹ cũng rất lớn , giai đoạn

    1939-1979 bình quân mỗi năm khoảng 16 tỷ USD ,đến 1984 ,số tiền lãi phải trả

    đã tăng lên 144,5 tỷ USD .

    16

    .CO

    TÀI TRỢ THÂM HỤT NGÂN SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ

    Xuất phát từ phương trình kinh tế tính tổng sản phẩm quốc nội theo phương

    pháp luồng sản phẩm:

    GDP = C + I +G +XN (1)

    KS

    Trong đó: GDP là tổng sản phẩm quốc nội

    C là tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình

    I là đầu tư cuối cùng của các hãng kinh doanh

    G là chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ của chính phủ

    OO

    XN là xuất khẩu ròng,XN = xuất khẩu – nhập khẩu

    Cộng T vào hai vế phương trình (1) ta có:

    GDP +T = C + I +G + XN + T

    (GDP – C – T )+ (T – G) = I + XN

    T-G:

    OB

    GDP – C -T :Là tiết kiệm tư nhân,ký hiệu là S

    Là tiết kiệm của chính phủ

    KHi đó phương trình trên trở thành:

    T – G = I + XN – S

    (2)

    KIL

    S + (T – G) = I + XN (3)

    17

    .CO

    các dự án đầu tư ?

    Nếu chính phủ trả nợ để thực hiện một dự án có thể sinh lời trong một thời

    gian dài,thì lợi tức thu được từ dự án ấy có thể dùng để thanh toán lãi vay trong và

    ngoài nước.

    KS

    OO

    OB

    Giả định rằng chi tiêu chính phủ chia làm hai phần:chi tiêu cho hàng hoá và

    dịch vụ,chi trả lãi (iB) trong đó :

    i là lãi xuất danh nghĩa về trái phiếu của chính phủ

    B là giá trị danh nghĩa của các trái phiếu mà chính

    KIL

    phủ chưa phải thanh toán.

    Những nguồn thu nhập của chính phủ là:

    Thu nhập về thuế (T ) chưa khấu trừ các khoản thanh toán chuyển nhượng

    Phát hành thêm trái phiếu (

    chính phủ (

    B ) và phát hành thêm công nợ bằng tiền của

    H )- Bộ phận này gồm:Tiền mặt do chính phủ nắm giữ, tiền dự trữ

    trong các ngân hàng được gọi là lượng tiền cơ sở,ký hiệu là H.

    Như vậy cả B và H đều là công nợ của chính phủ nhưng có điểm khác là các

    trái phiếu ( B ) được trả lãi,còn lượng tiền cơ sở ( H ) thì không được trả.

    18

    http://kilobooks.com

    THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

    Ta có thể thiết lập công thức sau:

    G – T + iB =

    B +

    P

    P

    .CO

    G – T được gọi là số thâm hụt cơ bản, tức là số thâm hụt mà chính phủ phải

    trang trải,không kể những khoản lãi phải trả cho những trái phiếu chưa đến hạn

    thanh toán.

    Do G và T được biểu thị bằng số tiền thực tế,vì vậy để đảm bảo tính thống

    KS

    nhất của các tài liệu nghiên cứu trong phương trình ( 4 ) thì các số hạng còn lại ta

    phải chia chúng cho mức giá cả.

    Vế bên trái của phương trình cho thấy hai phương pháp có thể dùng để tài

    trợ tổng số thâm hụt ngân sách của chính phủ:

    OO

    OB

    Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ảnh hưởng kinh tế vĩ mô của tình trạng thâm

    hụt ngân sách nhà nước tuỳ thuộc vào cách thức bù đắp những khoản thâm hụt

    này.

    đến lạm phát.

    KIL

    19

    .CO

    tình hình kinh tế từng nước mà người ta có thể sử dụng một,hai hay nhiều biện

    KS

    Tăng thuế hoặc tăng các nguồn thu khác của Chính phủ

    Cắt giảm chi tiêu (kể cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển )

    Trong đó ,ba giải pháp đầu được xem như những giải pháp “cấp tiến” vì nó

    không trực tiếp cắt giảm quyền lợi của bất kỳ bộ phận nào trong xã hội.Mặt khác

    OO

    nó lại hướng vào việc tăng nguồn tài chính cho nên khá dễ triển khai.

    Trong khi đó,giải pháp thứ tư được mệnh danh là “bảo thủ” vì nó nhằm vào

    cắt giảm chi tiêu.Do đó,giải pháp này sẽ bị các ban ngành ,địa phương hoặc đơn vị

    có ngân sách dự kiến bị cắt giảm lên tiếng phản đối,cản trở hoặc tìm cách gian

    OB

    KIL

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 4
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Những Biện Pháp Giáo Dục Hiệu Quả Học Sinh Cá Biệt
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Trường Mn Đạt Chuẩn Quốc Gia
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Tăng Cường Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Ở Trường Thpt Quảng Xương 4
  • Nhóm 7(Chính), Chủ Đề Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Phân Tích Những Giải Pháp Khắc Phục Bội Chi Ngân Sách
  • Cách Lắp Điều Hòa Cho Phòng Không Kín. 11 Cách Tiết Kiệm Điện Điều Hòa.
  • Liệu Có Nên Lắp Điều Hòa Cho Phòng Không Kín?
  • 11 Kinh Nghiệm Lắp Điều Hòa Cho Phòng Không Kín Giúp Tiết Kiệm Điện
  • Lắp Điều Hòa Cho Phòng Không Kín
  • Published on

    1. 1. CHỦ ĐỀ 4: Thâm hụt ngân sách nhà nước tại Việt Nam giai đoạn hiện nay. Thực trạng và giải pháp. Nhóm 7
    2. 2. CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM:
    3. 3. I. Thâm hụt ngân sách – Nguyên nhân
    4. 4. 1. Thâm hụt ngân sách a. Một số khái niệm. Ngân sách nhà nước(NSNN) là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước. + Về hình thức, NSNN là bảng tổng hợp các khoản thu, chi của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định và được cơ quan có thẩm quyền quyết định nhằm đáp ứng các nhu cầu thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. + Về thực chất, ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chue thể khác trong xã hội, phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
    5. 5. 1.Thâm hụt ngân sách Thu NSNN được hình thành từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của quốc gia; các khoản viện trợ trong nước và nước ngoài; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi NSNN theo lĩnh vực gồm chi cho kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, quản lý nhà nước, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Thâm hụt NSNN là tình trạng là các khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách.
    6. 6. 1.Thâm hụt ngân sách b. Phân loại thâm hụt NSNN Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: – Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,… – Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.
    7. 7. 2. Nguyên nhân thâm hụt NSNN * Nhóm nguyên nhân khách quan – Tác động của chu kì kinh tế( còn gọi là thâm hụt chu kì). – Hậu quả do các tác nhân gây ra.
    8. 8. 2. Nguyên nhân thâm hụt NSNN * Nhóm nguyên nhân chủ quan – Do cơ cấu thu, chi ngân sách thay đổi: Khi nhà nước thực hiện chính sách – Do điều hành ngân sách nhà nước không hợp lý: + Thất thu thuế nhà nước + Đầu tư công kém hiệu quả + Nhà nước huy động vốn để kích cầu + Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên + Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn.
    9. 9. II. Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY Bảng thông kê tình hình thâm hụt ngân sách qua các năm (2000 – 2010) Đơn vị: Tỷ đồng Chi tiêu Năm Tổng thu cân đối NSNN Tổng chi cân đối NSNN Thâm hụt NSNN Tỉ lệ bội chi NSNN so với GDP 2000 90,749 108,961 22,000 4,7% 2002 123,860 148,208 25,597 4,5% 2003 177,409 197,573 29,936 4,9% 2004 224,776 248,615 34,703 4,85% 2005 283,847 313,479 40,746 4,86% 2006 272,877 321,377 48,500 5% 2007 311,840 368,340 56,500 5% 2008 408,080 474,280 66,200 4,95% 2009 442,340 584,695 115,900 6,9% 2010 528,100 588,210 113,110 5,8% ( Nguồn : Tổng hợp từ cổng TTĐT Bộ Tài chính )
    10. 10. Sáu tháng đầu năm 2014 CÂN ĐỐI THU – CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ( Đơn vị: tỉ đồng) Stt Chỉ tiêu (nguồn http://www.mof.gov.vn Bộ tài chính) 6 tháng năm2014 GDP 1,668,178 A Thu NSNN và viện trợ 413,560 1 Thu từ thuế và phí 395,233 2 Thu về vốn 16,817 3 Thu viện trợ không hoàn lại 1,510 B Tổng chi ngân sách nhà nước (không bao gồm chi trả nợ gốc) 462,915 1 Chi đầu tư phát triển 77,800 2 Chi thường xuyên 385,115 C Chi trả nợ gốc 29,455 D Bội chi ngân sách (không gồm nợ gốc) -49,355 Bội chi so với GDP (%) 3.0% E Bội chi ngân sách theo phân loại của Việt Nam -78,810 Bội chi so với GDP (%) 4.7%
    11. 11. THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Đơn vị: Tỷ đồng STT Chỉ tiêu 6 tháng năm 2014 Thu ngân sách nhà nước và viện trợ (I+II+III) 413,560 I Thu thường xuyên 395,233 I.1 Thu thuế 363,759 1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 116,158 2 Thuế thu nhập cá nhân 26,278 3 Thuế sử dụng phi nông nghiệp 708 4 Thuế môn bài 1,596 5 Lệ phí trước bạ 6,867 6 Thuế giá trị gia tăng 114,654 7 Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước 27,324 8 Thuế tài nguyên 19,905 9 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 25 10 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, TTĐB và BVMT hàng NK 44,353 11 Thuế bảo vệ môi trường 5,891 I.2 Thu phí, lệ phí và thu ngoài thuế 31,474 12 Thu phí, lệ phí 5,205 13 Thu tiền cho thuê đất 4,669 14 Thu khác ngân sách 21,600 II Thu về vốn (thu bán nhà ở, thu tiền sử dụng đất) 16,817 III Viện trợ không hoàn lại 1,510
    12. 12. CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC PHÂN THEO CHỨC NĂNG (Đơn vị: Tỷ đồng) STT Chỉ tiêu 6 tháng đầu năm 2014 Tổng chi NSNN 462,915 I Chi thường xuyên 385,115 1 Chi quản lý hành chính 48,713 2 Chi sự nghiệp kinh tế 34,300 3 Chi sự nghiệp xã hội 180,753 3.1 Chi giáo dục – đào tạo, dạy nghề 86,227 3.2 Chi Y tế 30,600 3.3 Chi dân số và kế hoạch hoá gia đình 269 3.4 Chi khoa học công nghệ 3,778 3.5 Chi văn hoá thông tin 2,835 3.6 Chi phát thanh truyền hình 1,541 3.7 Chi thể dục thể thao 1,103 3.8 Chi lương hưu và đảm bảo xã hội 54,400 4 Chi trả nợ lãi 30,845 II Chi đầu tư phát triển 77,800 1 Chi xây dựng cơ bản 75,200 2 Chi về vốn khác 2,600
    13. 13. III. Tác động & Giải pháp cải thiện tình trạng thâm hụt ngân sách. 3.1 Tác động của thâm hụt ngân sách ở Việt Nam Bội chi ngân sách nhà nước (hay còn gọi là thâm hụt ngân sách nhà nước) có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt. 3.1.1 Tích cực Tác động Sự thâm hụt ngân sách trong những năm qua được sử dụng như là một công cụ của chính sách tài khóa để tăng trưởng kinh tế.
    14. 16. 3.2 Giải pháp cải thiện tình trạng thâm hụt ngân sách Để khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách, tùy theo bối cảnh, tình hình kinh tế từng nước mà người ta có thể sử dụng một, hai hay nhiều biện pháp cùng kết hợp với nhau Giải pháp
    15. 19. Vay nợ trong nước Thông qua việc phát hành: – Tín phiếu – Trái phiếu kho bạc nhà nước – Trái phiếu đầu tư Ưu điểm Nhược điểm – Tận dụng được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, hạn chế được sự phụ thuộc vào nước ngoài. – Nếu vay nợ quá lớn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư tư nhân và có nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến lạm phát tiền tệ.
    16. 21. 3.2.3. Sử dụng dự trữ ngoại tệ: -Ưu điểm: dự trữ hợp lí có thể giúp quốc gia tránh được khủng hoảng. -Nhược điểm: tiềm ẩn nhiều rủi ro và phải hết sức hạn chế sử dụng. Nó có thể dẫn đến một dòng vốn ồ ạt chảy ra thế giới bên ngoài, làm cho đồng nội tệ giảm mạnh giá và làm tăng sức ép lạm phát. Kết hợp với việc vay nợ nước ngoài ở trên, việc giảm quỹ dự trữ ngoại tệ cũng sẽ khiến cho tỷ giá hối đoái tăng, làm suy yếu sức cạnh tranh quốc tế của hàng hoá trong nước.
    17. 22. 3.2.4 Phát hành tiền: -Ưu điểm: nhu cầu bù tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được đáp ứng một cách nhanh chóng, kịp thời mà không phải trả lãi, không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần. -Nhược điểm của biện pháp này lại lớn hơn rất nhiều lần. Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền. Nó đẩy cho việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi. Đồng thời còn làm giảm uy tín của nhà nước với công chúng. Đây chỉ là biện pháp ngoại lệ và mang tính tình thế
    18. 23. XIN CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Gửi Tin Nhắn Cho Nhiều Người Trên Fanpage Đơn Giản Hiệu Quả
  • Tiếp Cận Khách Hàng Bằng Cách Nhắn Tin Với Tư Cách Fanpage
  • Giải Pháp Inbox Tới Khách Hàng Từ Fanpage Cho Doanh Nghiệp, By Bizfly App
  • Giải Pháp Inbox Tới Khách Hàng Từ Fanpage
  • Giải Pháp Inbox Tới Khách Hàng Từ Fanpage Cho Doanh Nghiệp
  • Luận Văn Tiểu Luận Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư, Lưu Trữ Tại Vksnd Tỉnh Sơn La
  • Tìm Giải Pháp Cho Công Tác Văn Thư, Lưu Trữ
  • Microsoft Đang Sử Dụng Ai Để Tìm Giải Pháp Chữa Trị Bệnh Ung Thư
  • Ts. Otto Warburg Nói Về Giải Pháp Để Chữa Bệnh Ung Thư
  • Giải Pháp Chữa Căn Bệnh Ung Thư Thận Giai Đoạn Đầu Cho Người Bệnh
  • Như chúng ta điều biết, thâm hụt ngân sách là một vấn đề mà mọi quốc gia trên thế giới đều gặp phải. Ngay cả một cường quốc kinh tế như Mỹ cũng phải đau đầu và vật lộn với vấn đề này, và tất nhiên Việt Nam cũng không ngoại lệ. Việc xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới , việc tìm ra giải pháp để điều chỉnh thâm hụt ngân sách ở các quốc gia trên thế giới nói chung và ở tại Việt Nam nói riêng là hết sức cấp bách và cần thiết. Ở nước ta, mức độ thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng và ngày càng tác động tiêu cực tới đời sống nhân dân cũng như tới toàn bộ nền kinh tế. Đây chính là một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế, gia tăng lạm phát gây khó khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ. Vậy thâm hụt ngân sách là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách diễn ra ở Việt Nam trong các năm qua như thế nào? Giải pháp nào để xử lý thâm hụt NSNN, ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay? Bài tiểu luận này với đề tài “Thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” là quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra đáp án cho những câu hỏi trên. Bài tiểu luận gồm có 3 chương: Chương I: KHÁI NIỆM THÂM HỤT NGÂN SÁCH Chương II: THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM Chương III: GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thâm Hụt Ngân Sách Tăng Cao: Bù Đắp Bằng Cách Nào?
  • Dùng Dầu Gội Kích Thích Mọc Tóc Có Phải Giải Pháp Cứu Cánh Dành Cho Nàng Có Mái Tóc Mỏng
  • Giải Pháp Nào Hiệu Quả Cho Mái Tóc Thưa, Mỏng Của Chị Em Mẫu Mới 2022
  • Giải Pháp Điều Trị Tối Ưu Nhất Cho Người Tóc Thưa Mỏng
  • Cấy Tóc Cho Người Tóc Mỏng
  • Các Biện Pháp Xử Lí Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước Cac Bp Xu Li Tham Hut Ngan Sach Nha Nuoc Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gdcd
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Địa Lí Giai Phap Nang Cao Mon Dia Ly Doc
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ Trong Hệ Thống Giáo Dục Quốc Dân
  • Skkn Môn Toán Lớp 7 Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Các Định Lí Ở Phân Môn Hình Học Trong Trường Thcs
  • Báo Cáo Chuyên Đề Toán 9
  • Đề tài 2 : Phân tích ưu, nhược điểm của các biện pháp xử lý thâm hụt ngân sách trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay

    Phạm Thị Thùy Dung

    I. Thâm hụt ngân sách

    1. Các khái niệm

    – Ngân sách nhà nước: là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước (Luật Ngân sách Nhà nước CHXHCN Việt Nam ).

    B < 0 :Thâm hụt ngân sách (B là hiệu số giữa thu và chi)

    Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngân sách nhà nước là đảm bảo sự cân đối giũa thu và chi. Tuy nhiên do khả năng nguồn thu bị hạn chế và tăng chậm, thời kỳ vừa qua (1976 đến nay) các nhu cầu chi lại tăng nhanh nên ngân sách nhà nước mới bội chi kinh niên.Thâm hụt ngân sách cũng là hiện tượng phổ biến ở các quốc gia trên toàn thế giới

    Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ .

    -Thâm hụt ngân sách cơ cấu cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho , ,…

    -Thâm hụt ngân sách chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế , nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của và thu nhập quốc dân . Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.

    2. Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong những năm qua

    Giai đoạn trước năm 1986, thâm hụt ngân sách nhà nước luôn ở tình trạng cao quá mức, thu ngân sách không đủ bù đắp cho chi thường xuyên, chi tiêu của Chính phủ Việt Nam phải dựa chủ yếu vào sự viện trợ của nước ngoài, đặc biệt là Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu.

    Sang giai đoạn 1986-1990, trước tình hình khó khăn đó, Đảng ta tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có định hướng XHCN. Với những bước đi chập chững ban đầu, chính sách tài chính đã có đổi mới một bước. Tuy nhiên, thu NSNN càng không đủ chi và bù đắp thâm hụt NSNN không chỉ phải vay trong và ngoài nước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành.

    Giai đoạn 1991-1995, cơ cấu chi ngân sách đã dần dần thay đổi theo hướng tích cực. Nguồn thu trong nuớc đã đủ cho chi thường xuyên, tình trạng đi vay hoặc dựa vào phát hành cho chi thường xuyên đã chấm dứt. Trong giai đoạn này chi đúng đối tượng, có hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội được đặt ra. Nhờ những giải pháp trên, số thâm hụt ngân sách đã giảm dần qua từng năm và được bù đắp bằng vay của dân và vay nước ngoài.

    Như vậy, có thể thấy bội chi NSNN trong những năm 1991-1995 là rất thấp (bình quân 2,63%) thể hiện chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ trong thời kỳ 1991-1995 và đây cũng là yếu tố rất quan trọng góp phần kiềm chế lạm phát.

    Giai đoạn 1996-2000, tình hình thu chi NSNN đã có nhiều chuyển biến tích cực, thu không những đủ chi thường xuyên mà còn cho đầu tư phát triển, thâm hụt NSNN được khống chế ở mức thấp. Tuy nhiên, giai đoạn 1996 – 2000 do tác động của khủng hoảng tài chính ở các nước Đông Nam Á nên nền kinh tế gặp không ít khó khăn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bị giảm dần từ 1996 đến 1999 và đến năm 2000 tốc độ này mới tăng lên chút ít, chặn đứng đà giảm sút.

    Giai đoạn 2001-2010: trong những năm gần đây, NSNN cũng đã có chuyển biến đáng kể. Tốc độ tăng thu hàng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi bình quân hàng năm đạt 18,5%. Bội chi NSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP.

    Đơn vị tính: Tỷ Đồng

    Giảm một cách đáng kế thâm hụt ngân sách Nhà nước được coi là thành tựu đáng kể của quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta. Thành tựu này đă góp phần to lớn vào quá trình đẩy lùi lạm phát ở nước ta cuối những năm 80. Giảm thâm hụt ngân sách đạt được là do kết quả của những biện pháp cứng rắn như cắt giảm chi tiêu chính phủ, xóa bỏ dần các loại trợ cấp qua giá, lương, trợ cấp cho xí nghiệp quốc doanh… Nhiều năm thâm hụt giảm xuống dưới 5% so với GDP – một kết quả đáng khích lệ.

    1.Phát hành tiền

    a. Giới thiệu phương pháp

    b. Thực trạng phát hành tiền bù đắp thâm hụt ở nước ta

    Giai đoạn trước năm 1986, tình hình tài chính nước ta vô cùng yếu kém, thu không đủ chi thường xuyên, thâm hụt ngân sách nhà nước luôn ở tình trạng cao quá mức, chi tiêu Chính phủ chủ yếu nhờ vào sự viện trợ của nước ngoài là chính. Tuy nhiên, mức thâm hụt quá lớn khiến việc bù đắp thâm hụt NSNN không chỉ phải vay trong và ngoài nước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành.

    Đơn vị: tỷ đồng

    Trong thời gian 5 năm 1986 – 1990, 59,7% mức thâm hụt của Ngân sách nhà nước được hệ thống ngân hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền. Trong bối cảnh mà tỷ lệ tích lũy nội bộ của nền kinh tế còn rất thấp (có thể nói là không đáng kể), làm không đủ ăn, tỷ lệ chi đầu tư phát triển lại quá lớn và nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách lại chủ yếu do phát hành tiền như trên chính là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm phát phi mã trong giai đoạn 1986-1990.

    c. Ưu nhược điểm

    Nhu cầu bù tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được đáp ứng một cách nhanh chóng, không phải trả lãi, không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần.

    Trong những năm 80 của thế kỷ 20, nước ta đã bù đắp bội chi ngân sách nhà nước bằng cách in thêm tiền đưa vào lưu thông. Việc này đã đẩy tỷ lệ lạm phát đỉnh điểm lên tới hơn 600%, nền kinh tế bị trì trệ…

    Chính vì những hậu quả đó, biện pháp này rất ít khi được sử dụng. Và từ năm 1992, nước ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước.

    Ngày 1/4/1990 thành lập hệ thống kho bạc nhà nước trực thuộc bộ tài chính (chịu trách nhiệm về thâm hụt ngân sách nhà nước ) độc lập với ngân hàng nhà nước ( chịu trách nhiệm phát hành tiền vào lưu thông ) . Đây là một cuộc cách mạng về cơ cấu nhằm tách chức năng quản lý quỹ ngân sách nhà nước ra khỏi chức năng phát hành tiền,tránh tình trạng tiền túi nọ bỏ vào tuúi kia. Cơ chế đó đã đóng góp có kết quả vào việc kiềm chế bội chi và lạm phát trong thập kỷ vừa qua.Từ năm 1991 nhà nước đã tiến hành vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách.

    a,Vay nợ trong nước

    Vay nợ trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu. Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay các dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội và các ngân hàng.

    Ở Việt Nam, Chính phủ thường uỷ nhiệm cho Kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức: tín phiếu kho bạc; trái phiếu kho bạc; trái phiếu công trình.

    Đơn vị: tỷ đồng

    – Tập chung được khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư,tránh được nguy cơ khủng hoảng nợ nước ngoài, dễ triển khai.

    Thứ nhất , chứa đựng nguy cơ kìm hãm sự phát triển của các hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế.

    Để vay được tiền chính phủ phải đa dạng hoá các hình thức vay như phát hành trái phiếu, tín phiếu, công trái… Đồng thời phải thực hiện nhiều biện pháp để tăng mức độ hấp dẫn người cho vay như tăng lãi suất, mở rộng ưu đãi về thuế thu nhập… ngoài ra còn phải triển khai các biệ n pháp khác , kể cả tuyên truyền, vận động… để huy động tối đa nguồn tiền trong dân cư nhằm hoàn thành kế hoạch vay đã định.

    Tuy nhiên, tổng lượng tiền mà nhân dân và các đơn vị có thể có để cho chính phủ vay bị giới hạn trong tổng lượng tiết kiệm của xã hội. Nếu chính phủ huy động được nhiều thì đương nhiên phần tiền còn lại dành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở khu vực ngoài quốc doanh sẽ giả

    Như vậy, chưa biết chính phủ sẽ làm gì, làm như thế nào đối với lượng tiền huy động đượ c , nhưng xã hội hay trực tiếp hơn là khu vực các doanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng có khả năng dành cho đầu tư phát triển kinh tế. Nếu các biện pháp thu hút tiền vay của chính phủ và của ngân hàng càng có lãi suất cao thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ các khu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà không chảy vào sản xuất kinh doanh.

    Đặc biệt, ở những nước trải qua giai đoạn lạm phát cao (như nước ta hiện nay), giá trị thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng, làm cho chúng trở nên ít hấp dẫn. Chính phủ có thể sử dụng quyền lực của mình để buộc các chủ thể khác trong nền kinh tế phải giữ trái phiếu, tuy nhiên, nếu việc này có dài có thể gây ảnh hướng nghiêm trọng đến uy tín của Chính phủ và khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh này sẽ trở nên khó khăn hơn vào các năm sau.

    Tuy nhiên điều này chưa xảy ra ở Việt Nam.

    Ngược lại, tức thực tế hiện nay, lãi suất trái phiếu chính phủ vẫn không đáp ứng được lãi suất kỳ vọng của thị trường nên phát hành trái phiếu luôn bị thất bại. Hậu quả có khi cũng tệ không kém, thị trường gần như không có thanh khoản.

    b, Vay nợ nước ngoài

    Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cung cấp cho chính phủ của một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA.

    Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoaị tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng…

    Thứ nhất, việc vay nợ nước ngoài sẽ khiến cho gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu của chính phủ.

    Thứ hai, dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài. Thậm chí, nhiều khoản vay, khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị, quân sự, kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều.

    Vay nước ngoài phụ thuộc vào đối tác cho vay và thường phải chịu những điều kiện ngặt nghèo về lãi suất và thời hạn vay trả. Hình thức vay thường qua các hiệp định song phương,nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay trên thị trường tài chính quốc tế. Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức thường cho vay với các điều kiện ưu đãi , nhưng ngày càng hiếm hoi và do vậy có sự cạnh tranh gay gắt. Dù thế nào, thì vay nước ngoài cũng chịu sự ràng buộc của nhiều điều kiện vay áp đặt từ nước cho vay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hy Lạp Công Bố Các Biện Pháp Cắt Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Mới
  • Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Để Khôi Phục Sự Ổn Định Vĩ Mô
  • Thâm Hụt Ngân Sách Và Biện Pháp Tài Trợ
  • Một Số Phương Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 4
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Để Khôi Phục Sự Ổn Định Vĩ Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Hy Lạp Công Bố Các Biện Pháp Cắt Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Mới
  • Các Biện Pháp Xử Lí Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước Cac Bp Xu Li Tham Hut Ngan Sach Nha Nuoc Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gdcd
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Địa Lí Giai Phap Nang Cao Mon Dia Ly Doc
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ Trong Hệ Thống Giáo Dục Quốc Dân
  • Nếu như Milton Friedman đã đúng khi cho rằng lạm phát ở đâu và khi nào cũng xuất phát từ những nguyên nhân tiền tệ, thì một câu hỏi tự nhiên tiếp theo sẽ là tại sao một chính phủ lại chấp nhận chính sách tiền tệ gây ra lạm phát – một trong những điều tối kỵ nhất của điều hành vĩ mô.

    Thâm hụt ngân sách, lạm phát và mất cân đối vĩ mô

    Phóng to

    Thâm hụt ngân sách của Việt Nam và một số nước (2001 – 2007) – Nguồn: Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)

    Bên cạnh một số nguyên nhân khách quan khác, thì lạm phát ở Việt Nam còn do đầu tư công và nền hành chính công – dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính sự kém hiệu quả này, đến lượt mình, lại làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng, và “vòng xoáy đi xuống” của kinh tế vĩ mô sẽ lại tiếp diễn.

    Cũng cần nhấn mạnh thêm là “dòng xoáy đi xuống” này một khi đã được khởi động thì rất khó dừng lại chứ đừng nói tới khả năng đổi chiều. Vì vậy, nhóm giải pháp thứ hai của Thủ tướng yêu cầu “cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách” cần phải được thực hiện một cách triệt để và nhất quán. Nếu không giảm được thâm hụt ngân sách thì nhóm giải pháp thứ nhất – thắt chặt tiền tệ – sẽ bị vô hiệu hóa đáng kể, và vì vậy không thể đạt được mục tiêu mong muốn là kiềm chế lạm phát.

    Tại sao cần giảm thâm hụt ngân sách?

    Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam hiện nay đã tới mức đáng báo động. Theo số liệu chính thức, thâm hụt ngân sách của nước ta hiện nay là 5% GDP (bao gồm cả tiền trả nợ gốc và không bao gồm các khoản chi ngoài dự toán). Thế nhưng theo ước tính của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) thì thâm hụt ngân sách của Việt Nam – theo cách tính quốc tế, không bao gồm tiền trả nợ gốc nhưng bao gồm các khoản chi ngoài dự toán – lên tới 7% GDP (Hình 1). Không những thế, thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong mấy năm trở lại đây luôn được duy trì ở mức cao, và đặc biệt tăng mạnh trong năm 2007.

    Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm tiết kiệm nội địa, giảm đầu tư tư nhân, hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai. Ở Việt Nam, mặc dù thâm hụt ngân sách tăng đột biến trong năm 2007chưa làm suy giảm tiết kiệm nội địa và đầu tư tư nhân nhưng nó đã làm tăng mức thâm hụt tài khoản vãng lai, từ -0,5% năm 2006 lên tới -8% năm 2007.

    Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ

    Vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách ngân sách (hay chính sách tài khóa) của Chính phủ trong thời gian qua chỉ hướng đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên) và qua đó giảm tổng cầu. Cụ thể là Chính phủ chỉ thị: (i) Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng nhà nước; (ii) Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước (DNNN); (iii) Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp.

    Tổng đầu tư của Nhà nước (từ ngân sách, tín dụng nhà nước và thông qua DNNN) luôn chiếm trên dưới 50% tổng đầu tư của toàn xã hội. Vì vậy, không nghi ngờ gì, nếu Nhà nước có thể cắt giảm một số khoản đầu tư kém hiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc chắn sẽ nhẹ đi. Cũng tương tự như vậy, lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt nếu các cơ quan nhà nước có thể cắt giảm chi thường xuyên (chiếm 56% tổng chi ngân sách năm 2007).

    Phóng to

    Cấu trúc đầu tư toàn xã hội (1995 – 2007) – Nguồn: GSO, MPI

    Thứ hai, Nhà nước hầu như không thể kiểm soát các khoản đầu tư của các DNNN, một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư, và mặt khác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng. Thứ ba, với tốc độ lạm phát như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng mức đầu tư công theo đúng dự toán cũng đã được coi là một thành tích đáng kể.

    Thứ tư, kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng vì việc giảm chi thường xuyên rất khó khăn nên đây thường là hạng mục cuối cùng nằm trong danh sách cắt giảm. Hơn thế, với thực tế ở Việt Nam thì phạm vi chi thường xuyên có thể cắt giảm không nhiều. Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương (chiếm khoảng 2/3 tổng chi thường xuyên), sau đó phải trừ đi các khoản phụ cấp có tính chất lương, chi chính sách chế độ, tiền đóng niêm liễn cho các tổ chức quốc tế, các khoản chi thường xuyên đã được thực hiện…

    Theo ước lượng của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì nếu làm thật quyết liệt thì sẽ giảm được khoảng 3.000 tỉ đồng chi hội họp và mua sắm xe – tức là giảm được khoảng 0,8% tổng chi ngân sách.

    Giảm thâm hụt ngân sách bằng cơ chế quản lý đầu tư công

    Chính sách giảm tổng cầu thông qua thắt chặt chi tiêu công là đúng đắn, cần thiết nhưng chưa đủ. Nỗ lực giảm chi tiêu công của Chính phủ chỉ thực sự có hiệu lực nếu như Chính phủ đồng thời có cơ chế để đảm bảo những khoản đầu tư còn lại có hiệu quả. Đầu tiên là phải có cơ chế quản lý đầu tư công sao cho những dự án kém hiệu quả (như chương trình 5 triệu tấn đường hay đánh bắt xa bờ) bị loại bỏ ngay từ đầu. Sau đó, phải đảm bảo dự án được tiến hành đúng tiến độ và không bị thất thoát, lãng phí (như dự án 112 và các dự án đầu tư xây dựng cơ bản – được ước lượng là thất thoát trung bình 30%).

    Một trong những biện pháp có thể được sử dụng để cải thiện cơ chế quản lý đầu tư công là thành lập một hội đồng thẩm định đầu tư công độc lập. Một nguyên nhân quan trọng của tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công là do quá trình ra quyết định đầu tư của chính quyền địa phương và các bộ ngành chủ quản chịu ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và do vậy thiếu khách quan. Vì vậy, nhiệm vụ của ủy ban độc lập này là đánh giá, thẩm định một cách toàn diện và khách quan các dự án có quy mô vượt quá một quy mô đầu tư nhất định nào đó. Kết luận của Hội đồng thẩm định này sau đó được công bố rộng rãi. Tương tự như vậy, báo cáo kiểm toán các DNNN và dự án đầu tư công lớn cũng phải được công khai.

    Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm chi tiêu, Chính phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn thu không bền vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay. Cải cách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khi con số này ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động sản. Thật bất công và kém hiệu quả khi nhiều người sau một đêm trở thành triệu phú nhờ vào việc Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT) tại nơi họ có bất động sản, trong khi lại không phải đóng góp gì cho ngân sách nhà nước. Áp dụng thuế bất động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững cho ngân sách nhà nước, đồng thời giúp Nhà nước thực hiện được các chương trình đầu tư CSHT vì quốc kế dân sinh.

    * * *

    Những khó khăn hiện tại của nền kinh tế Việt Nam bắt nguồn từ những bất cập trong chính sách phát triển dài hạn. Chủ trương tăng trưởng nhờ vào số lượng thông qua đầu tư ồ ạt, dựa vào khu vực nhà nước vốn kém hiệu quả, đồng thời thiếu sự phối hợp đồng bộ trong điều hành vĩ mô đã đưa nền kinh tế Việt Nam từ bối cảnh sau khi gia nhập WTO vô cùng thuận lợi đến tình trạng lạm phát và bất ổn vĩ mô như hiện nay.

    Vẫn còn may là những khó khăn của Việt Nam hiện nay hoàn toàn có thể giải quyết được nếu Chính phủ có quyết tâm mạnh mẽ và chính sách đúng đắn, trong đó kỷ luật tài khóa là điều kiện quan trọng nhất. Thắt chặt và nâng cao hiệu quả của chi tiêu công, đặc biệt là áp đặt kỷ luật nghiêm ngặt đối với hoạt động đầu tư của các tập đoàn nhà nước là điều kiện tiên quyết để có thể khôi phục lại cân bằng vĩ mô và gia tăng hiệu quả, tính ổn định và đà tăng trưởng cho nền kinh tế.

    Nguồn: GSO, MOF, MPI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thâm Hụt Ngân Sách Và Biện Pháp Tài Trợ
  • Một Số Phương Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 4
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Những Biện Pháp Giáo Dục Hiệu Quả Học Sinh Cá Biệt
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Trường Mn Đạt Chuẩn Quốc Gia
  • Thâm Hụt Ngân Sách Tăng Cao: Bù Đắp Bằng Cách Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Tiểu Luận Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư, Lưu Trữ Tại Vksnd Tỉnh Sơn La
  • Tìm Giải Pháp Cho Công Tác Văn Thư, Lưu Trữ
  • Microsoft Đang Sử Dụng Ai Để Tìm Giải Pháp Chữa Trị Bệnh Ung Thư
  • Ts. Otto Warburg Nói Về Giải Pháp Để Chữa Bệnh Ung Thư
  • Bù đắp thâm hụt ngân sách bằng tăng thuế hay tăng vay nợ… giải pháp nào cũng tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, nợ công và lạm phát. Vì thế, câu chuyện siết chặt, minh bạch kỷ cương tài chính, ngân sách đang đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Chi thường xuyên chiếm hơn 70% Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, 5 tháng đầu năm 2022, tổng thu ngân sách hơn 346.000 tỷ đồng, bằng 34% dự toán năm. Tuy nhiên, tổng chi ngân sách lên tới 412.600 tỷ đồng, bằng hơn 32% dự toán năm. Như vậy, Việt Nam đã bị bội chi ngân sách 66.400 tỷ đồng trong 5 tháng đầu năm.

    Hoạt động chi ngân sách tại Kho bạc Nhà nước TP Hồ Chí Minh. Ảnh: Phạm Hậu

    Điều đáng nói, trong hơn 412.000 tỷ đồng chi ngân sách, các khoản chi thường xuyên, chi cho phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, quản lý hành chính đạt gần đến con số 300.000 tỷ đồng, tương đương hơn 70% tổng chi ngân sách. Còn chi đầu tư phát triển 64.300 tỷ đồng, chi trả nợ và viện trợ 55.000 tỷ đồng. Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, đáng lo nhất là con số bội chi thời gian qua liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước, quý sau tăng hơn quý trước. Điều này cho thấy, kỷ luật tài chính đang quá lỏng lẻo, việc chi tiêu công bừa bãi. Số liệu Chính phủ trình Quốc hội cho thấy, ngân sách năm 2022 ước tính thâm hụt 6,34% GDP. Tuy nhiên, con số thâm hụt mà Viện Nghiên cứu và chính sách (VEPR) đưa ra lại ở mức 7%. Dù là con số nào thì mức thâm hụt vẫn rất lớn so với mức mục tiêu 5% GDP mà Quốc hội đưa ra. Ông Sandeep – Chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho rằng, việc dành quá nhiều tiền ngân sách để trả nợ sẽ tạo ra một rủi ro lớn cho việc đầu tư, hạn chế nguồn tiền đầu tư phát triển kinh tế. Nếu nghĩa vụ trả nợ nhiều sẽ gây rủi ro cho những khoản chi tạo ra năng suất lao động, giảm chi vào giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần ổn định chi tiêu thường xuyên, có phương án thu chi ngân sách hợp lý. Để giảm bội chi, phải cân đối thu – chi, đầu ra – đầu vào. Từ nay đến cuối năm, “điểm sáng” của thu ngân sách là việc giá dầu bắt đầu phục hồi lên mức 50 USD/thùng. Bên cạnh đó, Chính phủ đang có nhiều giải pháp hỗ trợ DN, nuôi dưỡng nguồn thu. Công tác thanh tra, kiểm tra, thu hồi nợ thuế… cũng được các cơ quan thực hiện quyết liệt. Những động thái này sẽ hỗ trợ tích cực cho việc tăng thu ngân sách. Ngược lại, ngân sách năm 2022 cũng sẽ khó khăn hơn do nhiều loại thuế bị cắt giảm theo các cam kết hội nhập. Trong khi nguồn thu bị co hẹp thì các chi phí dành cho chi thường xuyên, chi đầu tư, chi trả nợ… tăng cao. Thu ngân sách khó khăn trong khi tốc độ chi tăng nhanh làm cho việc cân đối ngân sách hết sức căng thẳng và bị động, đang đe dọa đến khả năng trả nợ hàng năm của Chính phủ. Tăng thuế, tăng vay nợ… Để giải quyết tình trạng thâm hụt ngân sách, hai giải pháp thường được sử dụng là tăng thuế để tăng thu và tiếp tục vay nợ trong và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu. Với việc tăng thuế nội địa, theo các chuyên gia, cần cân nhắc để đảm bảo nguồn thu nhưng vẫn đảm bảo tính động viên, mức thuế “vừa sức” DN và đảm bảo an sinh xã hội. Còn nếu vay nợ để bù đắp bội chi ngân sách sẽ gây áp lực lên nợ công. chúng tôi Nguyễn Công Nghiệp – Chủ nhiệm khoa Tài chính – Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cho rằng, việc vay nợ nước ngoài để chi tiêu công, phục vụ yêu cầu phát triển là cần thiết. Tuy nhiên, ông Nghiệp cũng thừa nhận, vay nợ cũng dẫn đến nợ công tăng, gây nhiều tác động tiêu cực. Nhất là khi phân bổ sử dụng vốn vay không hiệu quả, kỷ luật tài chính lỏng lẻo, thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ, dẫn đến tình trạng lãng phí, tham nhũng thì hậu quả đối với nền kinh tế xã hội sẽ rất lớn. Thời gian qua, nhiều quốc gia khánh kiệt vì vay nhiều, chi tiêu bất hợp lý, không trả được nợ, vỡ nợ như Argentina, một số nước Mỹ Latinh, Hy Lạp… Vay nợ nước ngoài nhiều, nợ công thêm nặng gánh. Dự báo của WB, đến hết năm 2022, nợ công của Việt Nam sẽ tăng lên mức 63,8% GDP, năm 2022 là 64,4%, năm 2022 lên 64,7%. Như vậy, nợ công của Việt Nam sẽ chạm trần mức 65% mà Quốc hội đề ra. Nợ công chạm trần, Chính phủ sẽ phải tính đến vay nợ trong nước. Để vay nợ, để bù đắp bội chi, các công cụ điều hành vĩ mô như công cụ lãi suất, tỷ giá… sẽ được sử dụng. Điều này sẽ gây áp lực lên lạm phát. “Siết” kỷ luật tài chính ngân sách Báo cáo Nghiên cứu vĩ mô tháng 5/2016 do Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế T.Ư (CIEM) phát hành mới đây cho biết, để giảm thâm hụt ngân sách, giảm nợ công, Bộ Tài chính cần phối hợp với các bộ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách. Các giải pháp cụ thể là đẩy mạnh điều chỉnh cơ cấu thu chi lành mạnh hơn, tập trung tăng tỷ trọng thu nội địa, tiết kiệm và giảm tỷ trọng chi thường xuyên, tăng tỷ trọng chi đầu tư và bố trí đủ nguồn trả nợ. Tăng cường hiệu quả quản lý nợ công theo hướng tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, sửa đổi bổ sung Luật Ngân sách, Luật Quản lý nợ công, chiến lược quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia… Một giải pháp quan trọng là cần tăng trách nhiệm đối với chi tiêu công, đầu tư công… bằng các tiêu chí đánh giá rõ ràng, minh bạch và hiệu quả. Theo TS Lê Đăng Doanh, cần xây dựng một lộ trình tái cơ cấu ngân sách với những bước đi đồng bộ, thích hợp như thực hiện công khai minh bạch; thực hiện trách nhiệm giải trình, trách nhiệm cá nhân đối với chi tiêu công, đầu tư công…

    Cân nhắc về tinh giản bộ máy Đó là giải pháp đã được chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu đưa ra để giảm chi thường xuyên, theo đó, giảm bội chi ngân sách. Năm tháng đầu năm, ngân sách bội chi 66.400 tỷ đồng. Ông nói gì về con số này? – Cá nhân tôi cho rằng, mức thâm hụt này là khá cao. Tuy nhiên, đáng lo nhất là việc bội chi liên tục tăng qua các năm, trong khi nguồn thu bị co hẹp làm cho việc cân đối ngân sách ngày càng khó khăn. Ngân sách thâm hụt trong bối cảnh nhiều loại thuế xuất nhập khẩu sẽ được cắt giảm theo các cam kết hội nhập. Liệu, giải pháp tăng thuế nội địa có khiến DN, người nộp thuế hụt hơi trong cuộc chiến tăng thu ngân sách, thưa ông? – Đúng là nếu tăng thuế, DN sẽ phải chịu gánh nặng chi phí nhiều hơn, làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Nếu tăng thuế thu nhập cá nhân, mức tiêu dùng sẽ giảm, làm giảm một phần tổng cầu, lập tức sẽ tác động tiêu cực đến động lực phát triển của nền kinh tế, tăng trưởng sẽ càng khó khăn hơn. Tăng thuế nội địa là một giải pháp. Nhưng cần nghiên cứu để có chính sách thuế vừa sức với DN, người dân. Ví dụ, có thể tính đến việc tăng thuế các mặt hàng xa xỉ, không thiết yếu… Thâm hụt ngân sách khiến nợ công thêm nặng gánh. Theo ông, giải pháp nào là cần thiết nhất để giảm bội chi trong bối cảnh hiện nay? – Thu không đủ chi thì phải đi vay để chi tiêu thôi. Vay nhiều, nợ công sẽ tăng. Theo tôi, ngoài các giải pháp dài hạn là tăng thu ngân sách, siết chặt kỷ luật tài chính, quan trọng nhất cần tinh giản biên chế, giảm bớt bộ máy hành chính cồng kềnh, không cần thiết và nâng cao hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức… Xin cảm ơn ông!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dùng Dầu Gội Kích Thích Mọc Tóc Có Phải Giải Pháp Cứu Cánh Dành Cho Nàng Có Mái Tóc Mỏng
  • Giải Pháp Nào Hiệu Quả Cho Mái Tóc Thưa, Mỏng Của Chị Em Mẫu Mới 2022
  • Giải Pháp Điều Trị Tối Ưu Nhất Cho Người Tóc Thưa Mỏng
  • Cấy Tóc Cho Người Tóc Mỏng
  • 5 Giải Pháp Cứu Cánh Cho Mái Tóc Mỏng
  • Khắc Phục Bất Cập Trong Chi Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tỷ Trọng Chi Thường Xuyên Giảm, Chi Đầu Tư Cao Hơn Mục Tiêu
  • Làm Cách Nào Để Giảm Căng Thẳng Trong Công Việc
  • 5 Cách Giảm Căng Thẳng Trong Công Việc
  • Biện Pháp Giải Tỏa Căng Thẳng Trong Công Việc
  • Làm Sao Để Bớt Căng Thẳng Trong Công Việc Và Cuộc Sống?
  • (BKTO) – Báo cáo quyết toán NSNN năm 2022 vừa được trình Quốc hội cho thấy, mặc dù Chính phủ đã triển khai quyết liệt nhiều biện pháp trong tổ chức điều hành dự toán chi ngân sách song vẫn còn không ít hạn chế, bất cập, trong đó có những bất cập đã diễn ra nhiều năm nhưng chậm được khắc phục. Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội đề nghị, Chính phủ cần làm rõ nguyên nhân và có giải pháp khắc phục những bất cập này.

    KTNN xuất toán hàng trăm tỷ đồng chi sai chế độ

    Báo cáo trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, nhiệm vụ chi NSNN năm 2022 đã được thực hiện theo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, HĐND các cấp, cơ bản đảm bảo kinh phí đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chính trị, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, xói lở bờ sông, bờ biển, hỗ trợ giống khôi phục sản xuất sau thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội, công tác quốc phòng, an ninh quốc gia… Công tác quản lý, kiểm soát NSNN chặt chẽ theo quy định của Luật NSNN và nghị quyết của Quốc hội. Các Bộ, cơ quan T.Ư, địa phương đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp, điều hành dự toán NSNN từng bước có hiệu quả và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo nghị quyết của Quốc hội.

    Tuy nhiên, báo cáo của Chính phủ cũng nhìn nhận, tình trạng chi tiêu sai chế độ vẫn còn ở một số đơn vị. KTNN đã kiến nghị thu hồi khoản chi sai chế độ hàng trăm tỷ đồng, Kho bạc Nhà nước phát hiện nhiều khoản chi không đúng định mức quy định, từ chối thanh toán 96 tỷ đồng. Việc triển khai nhiệm vụ chi ngân sách ở một số Bộ, cơ quan T.Ư, địa phương còn chậm so với quy định, đặc biệt là mua sắm hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về đấu thầu, nên chuyển nguồn sang năm sau thực hiện tiếp.

    Thẩm tra báo cáo của Chính phủ, Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội cũng có chung đánh giá: Tình trạng chi NSNN chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức vẫn chưa được khắc phục triệt để. Qua kiểm toán, KTNN đã kiến nghị xuất toán thu hồi nộp NSNN 331 tỷ đồng, phát hiện 34/45 địa phương được kiểm toán sử dụng sai nguồn 889 tỷ đồng, 20/45 địa phương chi hỗ trợ không đúng nhiệm vụ chi theo phân cấp 145 tỷ đồng…

    Cơ quan thẩm tra cũng chỉ ra nhiều hạn chế, bất cập đã tái diễn nhiều năm. Cụ thể, công tác lập, giao dự toán chi đầu tư vẫn tái diễn tình trạng giao vốn nhiều lần, chưa sát thực tế, bố trí vốn dàn trải. Một số dự án chưa tuân thủ nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn, giao vốn chậm, không đúng đối tượng… Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến giải ngân vốn đầu tư đạt tỷ lệ thấp, kéo dài trong nhiều năm, gây lãng phí trong sử dụng nguồn vốn đầu tư công. Bên cạnh đó, một số khoản chi quan trọng không đạt dự toán như: chi giáo dục, đào tạo và dạy nghề; chi sự nghiệp y tế; chi sự nghiệp khoa học, công nghệ… Tình trạng này đã diễn ra nhiều năm, do đó, Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị Chính phủ cần xác định rõ nguyên nhân và có giải pháp để khắc phục.

    Giải ngân chậm và nhiều sai sót trong quản lý vốn đầu tư

    Một bất cập khác tái diễn trong năm 2022 được KTNN và Ủy ban Tài chính – Ngân sách chỉ ra, đó là công tác giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản vẫn chậm chuyển biến. Đến hết ngày 31/01/2019 giải ngân được 75,8% dự toán. “Việc giải ngân đạt tỷ lệ thấp đã diễn ra nhiều năm, Chính phủ cần làm rõ nguyên nhân, kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân và quyết liệt chỉ đạo để khắc phục tình trạng nêu trên” – Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Nguyễn Đức Hải đề nghị.

    Cùng với đó, tình trạng chấp hành chưa nghiêm quy định trong hoạt động xây dựng và quản lý vốn đầu tư vẫn xảy ra khá phổ biến. Kết quả kiểm toán tại các Bộ, cơ quan T.Ư, địa phương đã chỉ ra nhiều sai phạm trong hầu hết các khâu của quá trình đầu tư. Công tác phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành vẫn còn chậm. Nhiều địa phương được kiểm toán phát sinh nợ mới năm 2022 số tiền 1.818 tỷ đồng; nhiều địa phương còn nợ đọng xây dựng cơ bản lớn nhưng chưa xử lý dứt điểm. Đến ngày 31/12/2018, số dư ứng trước đến hết kế hoạch năm 2022 chưa thu hồi vẫn còn 74.300 tỷ đồng. Một số địa phương còn tình trạng tạm ứng sai quy định, tạm ứng từ ngân sách T.Ư kéo dài, quá thời hạn…

    Việc thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế để giảm chi thường xuyên còn chậm, cơ cấu chi thường xuyên chưa bảo đảm mục tiêu đặt ra. Theo đó, chi thường xuyên năm 2022 vẫn chiếm 65% tổng chi NSNN, cao hơn mục tiêu Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2022-2020 (giảm tỷ trọng chi thường xuyên xuống dưới 64% tổng chi NSNN). Tổng số chi lương, phụ cấp lương và các khoản đóng góp theo lương từ NSNN năm 2022 là 364.228,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 39% chi thường xuyên.

    Đặc biệt, theo cơ quan thẩm tra, số chi chuyển nguồn năm 2022 sang năm sau là 434.356 tỷ đồng, tăng 33,1% (107.977,4 tỷ đồng) so với năm trước; kết dư ngân sách địa phương là 157.886,2 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2022 và là mức tăng lớn nhất trong 5 năm gần đây. Việc bố trí kinh phí nhưng không hoàn thành nhiệm vụ chi phải chuyển nguồn hoặc để kết dư ngân sách địa phương lớn thể hiện sự lãng phí nguồn lực, chất lượng lập dự toán thấp, công tác chấp hành, hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách chưa cao. Cơ quan thẩm tra cũng cho rằng, bội chi NSNN là bằng 2,8% GDP, giảm 0,9% GDP so với dự toán Quốc hội quyết định, thể hiện sự nỗ lực trong công tác điều hành của Chính phủ. Tuy nhiên, bội chi giảm chủ yếu là do giải ngân vốn đầu tư công từ nguồn vốn vay chậm, không thực sự là do tiết kiệm chi để giảm vay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ô Nhiễm Môi Trường Và Các Biện Pháp Phòng Tránh
  • Trách Nhiệm Kiểm Soát Ô Nhiễm Môi Trường Đất Của Các Cơ Quan
  • Đắk Lắk: Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng, Chống Bạo Lực, Xâm Hại Trẻ Em
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng, Chống Bạo Lực, Xâm Hại Trẻ Em.
  • Các Biện Pháp Phòng Chống Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em
  • Hy Lạp Công Bố Các Biện Pháp Cắt Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Xử Lí Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước Cac Bp Xu Li Tham Hut Ngan Sach Nha Nuoc Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gdcd
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Địa Lí Giai Phap Nang Cao Mon Dia Ly Doc
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ Trong Hệ Thống Giáo Dục Quốc Dân
  • Skkn Môn Toán Lớp 7 Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Các Định Lí Ở Phân Môn Hình Học Trong Trường Thcs
  • Ngày 11/9, Hy Lạp đã công bố gói các biện pháp “thắt lưng buộc bụng” bổ sung nhằm đáp ứng các mục tiêu cắt giảm thâm hụt ngân sách trong năm 2011 và 2012. Động thái này diễn ra chỉ vài ngày trước khi nhóm “bộ ba” tham gia kế hoạch cứu trợ vỡ nợ dành cho Hy Lạp – gồm Ủy ban châu Âu (EC), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) – đến thanh tra kinh tế tại nước này để quyết định có giải ngân khoản cứu trợ thứ sáu trị giá 8 tỷ euro trong gói cứu trợ thứ nhất trị giá 110 tỷ euro dành cho Aten hay không.

    Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Hy Lạp Evangelos Venizelos. Ảnh: Internet.

    Phát biểu tại Hội chợ thương mại quốc tế ở Thesaloniki, Hy Lạp, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Evangelos Venizelos cho biết, gói biện pháp nêu trên bao gồm đánh thuế nhà mới ước tính khoảng 4 euro (5,32 USD)/m2 xây dựng và cắt một tháng lương đối với các quan chức cấp nhà nước, cấp bộ và ngang bộ. Thuế mới sẽ được tính theo hóa đơn tiền điện và được áp dụng trong vòng 2 năm. Ngoài ra, chính phủ sẽ đề nghị Quốc hội thông qua ngân sách nhà nước năm 2012 vào cuối tháng 10 tới và sẽ yêu cầu các chủ sở hữu tàu biển đóng góp tích cực hơn cho những nỗ lực giải quyết khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp. Theo ông Venizelos, áp thuế nhà mới là biện pháp duy nhất có thể áp dụng ngay lập tức và mang lại hiệu quả tức thì vì nó không phụ thuộc vào các cơ chế thu thuế.

    Ngay sau khi khai mạc hội chợ, Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou đã có buổi họp báo, tại đó ông khẳng định nước này đang ở giai đoạn giữa của cuộc chiến chống khủng hoảng nợ công, đồng thời bác bỏ khả năng Hy Lạp tổ chức tổng tuyển cử trước thời hạn. Trước đó, tại châu Âu rộ lên tin đồn Hy Lạp không quyết tâm tuân thủ các cam kết xin cứu trợ vỡ nợ và có thế bị “trục xuất” khỏi Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone). Thừa nhận các cơ chế nhà nước, sự phản đối của các tổ chức công đoàn đối với các kế hoạch “thắt lưng buộc bụng” của chính phủ và một số lợi ích khác đang cản trở những cải cách mà chính phủ dự định tiến hành, song Thủ tướng Papandreou cho rằng các biện pháp bổ sung mới đủ mạnh để Aten đáp ứng mục tiêu cắt giảm thâm hụt ngân sách thời kỳ 2011-2012.

    Phản ứng với gói biện pháp cắt giảm thâm hụt ngân sách mà chính phủ Hy Lạp vừa công bố, Ủy viên Liên minh châu Âu (EU) phụ trách các vấn đề kinh tế và tiền tệ Olli Rehn cho rằng, sắc thuế mới có thể giúp Aten đáp ứng các mục tiêu tài chính. Ông đồng thời hối thúc các nước thành viên Eurozone nhanh chóng thực hiện những cam kết tại hội nghị thượng đỉnh khu vực ngày 21/7 vừa qua, trong đó có cam kết dành cho Hy Lạp gói cứu trợ vỡ nợ thứ hai trị giá 158,6 tỷ euro.

    Ngày 2/9 vừa qua, EC, ECB và IMF đã tạm ngừng cuộc thanh tra kinh tế đối với Hy Lạp sau khi xảy ra tranh cãi về mức độ thâm hụt ngân sách của Hy Lạp và nguyên nhân dẫn đến thâm hụt. Nhóm “bộ ba” dự định hoàn tất đợt thanh tra này vào cuối tháng 9 này.

    TTXVN/Tin tức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Để Khôi Phục Sự Ổn Định Vĩ Mô
  • Thâm Hụt Ngân Sách Và Biện Pháp Tài Trợ
  • Một Số Phương Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 4
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Những Biện Pháp Giáo Dục Hiệu Quả Học Sinh Cá Biệt
  • Ngân Sách Nhà Nước Và Biện Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Tăng Cường Nguồn Thu, Đảm Bảo Nhu Cầu Chi Ngân Sách Nhà Nước Tỉnh An Giang
  • Kịp Thời Đề Ra Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Nào Hiệu Quả Để Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước?
  • Vafi Đề Xuất 5 Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Lời mở đầu

    Ngân sách nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát

    triển kinh tế nước ta mà còn đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới.Vào dịp đầu

    năm chính phủ mỗi nước đều tổ chức một cuộc họp thường niên nhằm tổng kết tài

    chính đã phân bổ chi tiêu trong năm vừa qua,đồng thời báo cáo về tình hình ngân sách

    và phân bổ ngân sách cho các bộ ngành trong năm tới.Tại cuộc họp thường niên này

    việc tăng nguồn thu cho NSNN (chủ yếu dựa vào các chính sách thuế và xuất khẩu)

    cũng được đề cập đến.Dựa vào việc đầu tư-phân bổ-tài chính báo cáo mà chúng ta có

    thể biết được chiến lược phát triển kinh tế trong những năm tới. Thực tế, các cường

    quốc kinh tế trên thế giới đều có một chính sách thu ổn định, đồng thời chi tiêu ngân

    sách hợp lý.

    Ngân sách là công cụ quản lý vĩ mô nên kinh tế. Thông qua công cụ này, Nhà nước

    sẽ tham gia vào việc điều chỉnh một số quan hệ kinh tế cân đối của nền kinh tế như:

    tích luỹ và tiêu dùng, xuất và nhập khẩu, cơ cấu tiêu dùng và điều tiết thu nhập để

    đảm bảo cân bằng.

    Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    hiện nay việc từ bỏ nguyên tắc quản lý trực tiếp theo kiểu “cấp phát và giao nộp” đối

    với khu vực kinh tế quốc doanh và các cơ quan Nhà nước, đã tạo điều kiện cho NSNN

    đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế – xã hội. Thu NSNN nói

    một cách đơn giản chính là công tác lập quỹ NSNN, từ đó NSNN có thể chi cho các

    hoạt động của mình, thực hiện được vai trò của mình. Do đó có thể nói thu NSNN là

    một công tác rất quan trọng, nó quyết định việc thực hiện các vai trò của NSNN nói

    chung cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản chi NSNN nói riêng

    Phần nội dung

    I. Cơ sở lý luận:

    1. Khái niệm của ngân sách nhà nước.

    1.1 Ngân sách nhà nước là gì?

    Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, là một thành

    phần trong hệ thống tài chính, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh

    tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội và được sử dụng như một công cụ thực

    hiện các chức năng của Nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước luôn

    gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và sự xuất hiện của sản xuất hàng hoá.

    Khi nhà nước ra đời, để đảm bảo cho sự tồn tại của mình, Nhà nước đã đặt ra chế độ

    thuế khoá bắt toàn dân phải cống nạp, các khoản thu này hình thành nên quỹ tiền tệ

    của Nhà nước và nó được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

    Thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã

    hội, ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất,

    người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái

    và các lĩnh vực nghiên cứu.

    – Các nhà kinh tế học hiện đại đã dưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về ngân sách

    nhà nước:

    + Các nhà kinh tế Nga quan niệm: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng

    tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.

    + Một cách hiểu tương tự,người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán

    mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của nhà nước trong một năm

    Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển:NSNN là một văn kiện tài

    chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết lập hàng năm

    – Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua

    ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của

    Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được

    thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà

    nước.

    Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát

    triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và

    nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của

    kinh tế hàng hóa – tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của

    ngân sách nhà nước.

    Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân

    sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

    và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn

    vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân.

    1.2 Đặc điểm của NSNN:

    Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể

    hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước

    Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước

    tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định,thường được thực hiện theo nguyên tắc

    không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu

    Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những quan

    hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia,

    lợi ích tổng thể bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác

    trong hoạt động của ngân sách nhà nước

    Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt

    của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó

    được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho

    những mục đích đã định

    Khái niệm ngân sách nhà nước không chỉ biểu hiện các quan hệ sản xuất nhất định,

    mà còn có sự thể hiện vật chất hoá. Sự vật chất hoá các quan hệ ngân sách được biểu

    hiện ở quỹ tiền tệ của Nhà nước. Đằng sau các con số phản ánh khối lượng của ngân

    sách là quá trình phân phối hiện thực. Đó chính là tính hai mặt của phạm trù kinh tế mặt chất lượng và mặt số lượng. Quỹ tiền tệ của Nhà nước – ngân sách nhà nước cũng có những đặc trưng chung như các quỹ tiền tệ khác được tạo lập trên cơ sở các

    quan hệ tài chính, được chia thành nhiều quỹ có tác dụng riêng và chỉ sau đó ngân

    sách mới được chi dùng cho những mục đích đã định trước

    1.3 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường:

    Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá – tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao. Sự vận hành

    của nền kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá

    trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ… đã bộc lộ những ưu thế cũng như

    những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế và khắc phục những khuyết tật đó,

    Nhà nước can thiệp vào quá trình vận hành của nền kinh tế là một đòi hỏi khách quan

    để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Sự can thiệp của Nhà nước vào nền

    kinh tế thị trường là sự can thiệp gián tiếp thông qua các công cụ chủ yếu như: pháp

    luật, kế hoạch, tổ chức, tài chính, tiền tệ… trong đó ngân sách nhà nước được coi là

    công cụ quan trọng nhất của Nhà nước

    Vai trò quan trọng đó của ngân sách nhà nước được thể hiện trên các mặt như sau:

    Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu

    cầu chi tiêu của Nhà nước.

    Đây là vai trò truyền thống của ngân sách nhà nước trong mọi mô hình kinh tế, nó gắn

    chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm vụ của

    mình. Mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước với ngân sách được C.Mác tổng kết như

    sau: “Sức mạnh chuyên chính của Nhà nước được quyết định bởi ngân sách và ngược

    lại”.

    Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

    Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế

    thị trường. Vai trò này được thể hiện trên các mặt như sau:

    Thứ nhất, ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới,

    kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.

    Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải hướng hoạt

    động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạch định, để

    hình thành nên cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định

    và bền vững. Thông qua công cụ là ngân sách nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí để

    Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các

    ngành then chốt, trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và

    phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Việc cấp vốn hình thành

    các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc

    quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Mặt

    khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí ngân sách cũng có thể được sử

    dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ

    cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mối hợp lý hơn. Ngoài ra, bằng việc

    huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai

    trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.

    Thứ hai, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường,

    bình ổn giá cả, chống lạm phát.

    Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động giá cả có nguyên nhân từ sự mất cân đối

    cung cầu. Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí, vay và chính sách chi tiêu của ngân sách nhà

    nước, Nhà nước có thể tác động vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá cả. Đặc

    biệt sự hình thành quỹ dự phòng trong ngân sách nhà nước để đối phó với sự biến

    động của thị trường đóng vai trò quan trọng để bình ổn giá cả. Mặt khác, hoạt động

    thu – chi của ngân sách nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm phát. Lạm

    phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế và chống lạm phát là một nội dung

    quan trọng trong quá trình điều chỉnh thị trường. Nguyên nhân gây ra và thúc đẩy lạm

    phát có nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thu chi tài chính của

    Nhà nước. Do đó, bằng các biện pháp đúng đắn trong quá trình thu-chi của ngân sách

    nhà nước như: thắt chặt và nâng cao hiệu quả các khoản chi tiêu của ngân sách nhà

    nước, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư… Nhà nước có thể hạn chế và

    kiểm soát lạm phát.

    Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và

    các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội.

    Từ năm 1986 nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao

    cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với mục tiêu xây dựng một

    xã hội thịnh vượng, công bằng và văn minh. Nhưng nền kinh tế thị trường với khuyết

    tật vốn có của nó là phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo. Do vậy, để đạt được mục

    tiêu mà Đảng đã đề ra, Nhà nước phải sử dụng công cụ ngân sách để điều tiết thu

    nhập, giảm bớt khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội. Việc điều tiết

    này được thực hiện thông qua hoạt động thu chi ngân sách.

    Thông qua hoạt động thu ngân sách, dưới hình thức kết hợp thuế gián thu và thuế trực

    thu Nhà nước điều tiết bớt một phần thu nhập của tầng lớp có thu nhập cao trong xã

    hội, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm, đảm bảo thu nhập chính đáng của người

    lao động. Mặt khác, thông qua hoạt động chi ngân sách dưới hình thức các khoản cấp

    phát, trợ cấp trong các chính sách về dân số kế hoạch hoá gia đình, về bảo trợ xã hội,

    về việc làm… Nhà nước hỗ trợ để nâng cao đời sống của tầng lớp người nghèo trong

    xã hội.

    Tuy nhiên trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp, việc giải quyết các vấn đề

    xã hội chưa thể thực hiện một cách triệt để, vấn đề này phải thực hiện theo phương

    châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.

    2. Thu NSNN:

    2.1 Khái niệm:

    Là việc nhà nước dùng quền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính

    quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước.

    – Nguồn tài chính tập trung vào NSNN là những khoản thu nhập của nhà nước được

    hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức

    giá trị

    2.2 Đặc điểm:

    Thu ngân sách nhà nước thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà

    nước và các chủ thể khác trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm giải

    quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích kinh tế . Sự phân chia đó là 1 tất yếu quan

    xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức

    năng của Nhà nước

    Thu ngân sách nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm

    trù như giá cả, thu nhập, lãi suất… Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng của nền

    kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP là yếu tố khách quan quyết định mức

    động viên của thu ngân sách nhà nước

    Thu NSNN được thực hiên theo nguyên tắc hoản trả không trực tiếp là chủ yếu

    2.3 Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bao gồm:

    Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu nằm trong hoạch định của Nhà nước

    nhằm cân đối ngân sách. Các khoản này gồm: thuế, lệ phí, lợi tức của Nhà nước, thu

    tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, và các khoản thu khác.

    Thu ngoài cân đối ngân sách hay còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt ngân sách.

    Thu bù đắp thiếu hụt ngân sách thực chất là vay để bù đắp, bao gồm vay trong nước

    và vay nước ngoài. Vay trong nước được thực hiện thông qua việc phát hành công trái

    quốc gia, trái phiếu chính phủ… để huy động tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư.

    Vay nước ngoài được thực hiện thông qua vay nợ hoặc viện trợ Chính phủ, các tổ

    chức tài chính quốc tế.

    2.4 Nội dung kinh tế của thu NSNN:

    2.4.1 Thu thuế

    Thuế là sự đóng góp theo nghĩa vụ đối với nhà nước được quy định bởi pháp luật do

    các pháp nhân và thể nhân thực hiện.

    Thuế mang tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp. Thuế được nhà nước áp đặt

    bằng quyền lực chính trị, được thể chế hoá bằng luật pháp, cho nên mọi tổ chức phải

    chấp hành nghiêm chỉnh, nếu không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước tức

    là phạm luật và sẽ bị xử lý theo pháp luật. Tính bắt buộc của thuế được giải thích bởi

    mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, mọi tổ chức đối với nhà

    nước. Thuế không hoàn trả trực tiếp ngang cho cho người nộp thuế, một phần số thuế

    đã được nộp cho NSNN được hoàn trả một cách gián tiếp cho người nộp thuế dưới

    những hưởng thụ về giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng và an ninh quốc phòng… Tất

    cả mọi công dân đều được hưởng các dịch vụ công cộng đó như nhau cho dù nghĩa vụ

    đóng góp có thể khác nhau.

    Thuế được thiết lập dựa trên nguyên tắc luật định nên mọi sự thay đổi hay bổ sung

    phải được đưa ra để bàn bạc tại cơ quan lập pháp và phải được chính cơ quan này phê

    chuẩn thì mới được áp dụng

    Thuế làm chuyển đổi quyền sở hữu từ sở hữu tập thể và cá thể thánh sở hữu toàn dân.

    Việc chuyển quyền sở hữu này được quyết định bởi chức năng quản lí toàn bộ nền

    kinh tế quốc dân của nhà nước và biểu hiện sự thống nhất về lợi ích giữa nhà nước với

    các thành phần kinh tế, các cá nhân trong xã hội.

    Trong nền kinh tế thị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô

    nền kinh tế, là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của ngân sách nhà nước, góp phần

    điều chỉnh nền kinh tế, kích thích tích luỹ tư bản, định hướng sản xuất và tiêu dùng.

    Thuế là công cụ phân phối lại lợi tức, làm gia tăng trong tiết kiệm tư nhân và đảm bảo

    công bằng trong xã hội

    2.4.2 Lệ phí:

    Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bắt buộc, nhưng có tính chẩt đối giá, nghĩa

    là lệ phí là một khoản tiền mà dân chúng trả cho Nhà nước khi họ hưởng thụ những

    dịch vụ do Nhà nước cung cấp.

    So với thuế, tính pháp lý của lệ phí thấp hơn. Lệ phí do cơ quan hành pháp ban hành,

    mang tính quyền lực của nhà nước, mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp.

    Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bù đắp, mức thu lệ phí được đặt ra trên cơ sở

    đáp ứng yêu cầu bù đắp chi phí của các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Quản lý tốt

    các khoản thu lệ phí có tác dụng tăng thu cho ngân sách nhà nước và giảm bớt gánh

    nặng chi ngân sách trong việc tạo ra các dịch vụ công cộng.

    2.4.3 Thu từ lợi tức cổ phần nhà nước:

    Trong nền kinh tế thị trường, hình thức cấp vốn trực tiếp từ ngân sách cho các doanh

    nghiệp, cho dù đó là doanh nghiệp nhà nước, đã bị thu hẹp. Nhà nước thực hiện đầu

    tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh bằng hình thức mua hoặc góp cổ phần được

    hình thành nên các doanh nghiệp cổ phần mà ở đó nhà nước với tư cách là một cổ

    đông. Khi các doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có lợi nhuận, số lợi nhuận

    đó sẽ được chia cho các cổ đông theo lượng vốn góp và Nhà nước sẽ có một khoản

    thu.

    Trong các doanh nghiệp nhà nước khi hoạt động có lợi nhuận thì một phần lợi nhuận

    đó được huy động vào ngân sách nhà nước thông qua khoản thu về tiền thu sử dụng

    vốn ngân sách nhà nước, và mặt bản chất đây chính là khoản lợi tức thu được từ

    khoản vốn mà nhà nước đã đầu tư. -Thu lợi tức từ cổ phần nhà nước là một nguồn thu

    chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng cơ cấu thu ngân sách các khoản vốn đã đầu tư

    vào nền kinh tế

    2.4.4 Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước:

    Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và một phần mang tính chất phân phối lại.

    Khoản thu này vừa có tác dụng tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa có tác

    dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia. Khoản thu này bao gồm:

    Thu về bán hoặc cho thuê tài nguyên thiên nhiên

    Thu về bán tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng không thuộc nguồn tài

    nguyên như bán hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân, cho nước

    ngoài.

    2.4.5 Thu về từ hợp tác lao động với nước ngoài va thu khác:

    Trong xu hướng mở cửa hội nhập, hợp tác lao động giữa các nước ngày càng diễn ra

    sôi động, việc xuất khẩu lao động của các nước đông dân tạo nên một khoản thu cho

    ngân sách nhà nước.

    Thực chất khoản tiền này là khoản tiền thu hồi của quốc gia đã bỏ ra những chi phí

    ban đầu để bảo vệ, nuôi dưỡng, rèn luyện, đào tạo người lao động, đồng thời là khoản

    tiền mà người lao động trích ra từ tiền công của mình đóng góp cho tổ quốc.

    Ngoài các khoản thu trên, còn có các khoản thu khác như : thu từ bán tài sản không

    có người nhận, các khoản tiền phạt, tịch thu, các khoản viện trợ không hoàn lại của

    chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

    2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN:

    Thu ngân sách chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội. Trong thực tế,

    mức thu ngân sách ở mỗi nước khác nhau cho dù có những tương đồng về mặt kinh tế,

    xã hội. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ các nhân tố ảnh hưởng sau đây:

    GDP bình quân đầu người: là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng và phát

    triển của một quốc gia, khả năng tiết kiệm, tiêu dung và đầu tư của một nước. GDP

    bình quân đầu người là nhân tố khách quan quyết định mức thu ngân sách nhà nước,

    vì vậy khi ấn định mức thu ngân sách, Nhà nước cần căn cứ vào chỉ tiêu này.

    -Khi GDP/người cao – dẫn đến thu ngân sách cao

    -Khi GDP/Người thấp – dẫn đến thu ngân sách nhà nước thấp

    Khả năng xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên: Đối với các nước có nguồn tài

    nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu

    lớn cho ngân sách nhà nước. Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến số thu của ngân

    sách

    Tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế: là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển

    kinh tế. Tỉ suất doanh lợi là tỉ số giữa kết quả thu đươc trên tổng chi phi bỏ ra. Tỉ suất

    doanh lợi trong nền kinh tế càng lớn thì thu NSNN càng lớn. Do vậy, khi xác định tỷ

    suất thu ngân sách cần căn cứ vào tỉ suất doanh lợi của nền kin tế để đảm bảo việc

    huy động của ngân sách nhà nước không gây khó khăn về mặt tài chính cho các chủ

    thể trong xã hội.

    Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: phụ thuộc vào các yếu tố: quy mô

    tổ chức bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh

    Trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định các

    sắc thuế, không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động viên

    của ngân sách nhà nước phải thích hợp, đảm bảo

    kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu.

    Đối tượng tính thuế: đối tượng ít có sự biến động.

    Ý nghĩa thực hiện nguyên tắc:tạo thuận lợi cho việc kế hoạch hóa ngân sách nhà

    nước, tạo điều kiện kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất

    kinh doanh.

    2.6.2 Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng:

    Thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với người chịu thuế, không

    phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế.

    Việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế.

    Để đảm bảo đươc nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc

    thuế trực thu với sắc thuế gián thu.

    2.6.3 Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:

    Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế

    phải rõ ràng cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế… Các từ

    ngữ được sử dụng của văn bản thông thường, dễ hiểu, không chứa đựng nhiều hàm ý

    để tất cả mọi người đều hiểu được và chấp hành giống nhau.

    Giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tinh trang lách luật, trốn

    lậu thuế.

    2.6.4 Nguyên tắc đơn giản:

    Nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định

    rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế.

    Tạo điều kiện thuận lợi cho viêc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những

    hiện tượng tiêu cực trong thu thuế.

    II. Thực trạng thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay:

    Việc thực hiện hàng loạt biện pháp tài khóa và tiền tệ chặt chẽ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngày

    24/2/2011 của Chính phủ đã mang lại nhiều tác động tích cực đến bình ổn nền kinh tế trong năm

    2012 song cũng có những tác động phụ, ảnh hưởng tới thu ngân sách nhà nước.Khái quát về tình

    hình thu ngân sách nhà nước năm 2012,đề xuất giải pháp 2013

    Thu ngân sách năm 2012

    Năm 2012 được đánh giá là một trong những năm mà nhiệm vụ thu ngân sách nhà

    nước (NSNN) gặp nhiều khó khăn nhất. Ngành Tài chính đã thực hiện chủ trương:

    “Giảm thuế, nuôi dưỡng nguồn thu để tăng thu” thông qua việc đề xuất Chính phủ

    ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó

    khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Với việc triển khai Nghị quyết

    13/NQ-CP, NSNN giảm thu 1,2% dự toán tổng thu cả năm 2012 và tổng giá trị thực

    tế doanh nghiệp (DN) được hưởng tương đương 1% GDP dự tính so với quy mô xấp

    xỉ 10% GDP của gói kích thích kinh tế năm 2009.

    Số liệu thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, đến hết tháng 11/2012, ngành Thuế đã xử

    lý miễn, giảm, gia hạn tiền thuế theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ cho

    khoảng 457.500 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền khoảng

    19.025 tỷ đồng; trong đó: Thực hiện miễn và gia hạn tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT)

    đối với khoảng 216.450 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền

    khoảng 11.160 tỷ đồng; Thực hiện miễn, giảm và gia hạn tiền thuế thu nhập doanh

    nghiệp (TNDN) đối với khoảng 203.550 lượt DN, với số tiền khoảng 4.940 tỷ đồng;

    Gia hạn tiền sử dụng đất cho trên 340 DN, với số tiền gần 2.470 tỷ đồng; giảm 50%

    tiền thuê đất năm 2012 cho khoảng 3.610 DN, với số tiền 445 tỷ đồng; Miễn thuế

    môn bài năm 2012 cho 33.510 hộ đánh bắt hải sản và hộ làm muối, với số tiền khoảng

    10 tỷ đồng…

    Cùng với các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN thì hàng loạt các biện pháp

    cải thiện và chống thất thu NSNN cũng được triển khai như: cải cách thủ tục hành

    chính; thường xuyên đôn đốc kịp thời người nộp thuế; tích cực thanh tra, kiểm tra

    thuế; chống gian lận thuế, nhất là chống chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI…

    Hàng loạt giải pháp nói trên đã mang lại kết quả tích cực cho thu NSNN năm 2012.

    Tính đến 31/12/2012, tổng thu NSNN cả nước đạt 741.500 tỷ đồng, tức vượt 1.000 tỷ

    đồng so với dự toán kế hoạch là 740.500 tỷ đồng. Thu từ dầu thô ước đạt ước đạt

    128,7% so với dự toán – tăng 1,6% so với thực hiện năm 2011, đạt khoảng 112.000 tỷ

    đồng. Thu NSNN từ các hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa ước đạt 467.200 tỷ

    đồng, đạt 96,4 % dự toán và tăng 10,7 % so với số thực hiện năm 2011. Tuy nhiên,

    thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu theo ước tính chỉ đạt khoảng 82 %

    dự toán và thu từ đất đai ước tính chỉ đạt hơn 65 % dự toán thu. Số thu này cũng phản

    ánh đúng tình trạng kinh tế năm 2012.

    Tình trạng “đóng băng” của thị trường bất động sản đã tác động mạnh đến thu NSNN

    từ đất đai, đặc biệt là thu ở các địa phương có số thu từ đất đai lớn như Hà Nội, TP.

    Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Hầu hết các địa phương đều không đạt dự toán thu NSNN từ

    đất như Đà Nẵng năm 2012 chỉ đạt 37,1% dự toán thu từ đất.

    Đánh giá về tình hình thu NSNN năm 2012, có thể rút ra một vài bài học:

    Một là, sự chỉ đạo điều hành kịp thời với những thay đổi của tình hình kinh tế đóng

    vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi dự toán NSNN. Chủ trương giảm

    thuế để tăng thu NSNN của Chính phủ với Nghị quyết 13/NQ-CP là lý do quan trọng

    giải thích cho sự thành công của năm tài khóa 2012.

    Hai là, ngay trong bối cảnh khó khăn kinh tế thì việc tăng cường kiểm tra, giám sát

    trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế;

    triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số

    nợ thuế mới cần đặc biệt được quan tâm

    Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn, số thu cân đối ngân

    sách dự kiến 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà đất

    dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và từ

    dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 %

    GDP.

    Ba là, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu ngân sách, thường xuyên kiểm tra, rà soát để nắm

    bắt kịp thời số lượng, tình trạng hoạt động của DN, hộ kinh doanh trên địa bàn để đưa

    vào diện quản lý. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách,

    chú trọng việc thanh tra đối với các chuyên đề như: chuyển giá, thương mại điện tử,

    kinh doanh qua mạng, hoàn thuế, hộ kinh doanh cá thể; thanh tra đối với các DN lớn,

    DN có vốn đầu tư nước ngoài.

    Bốn là, đẩy mạnh áp dụng các biện pháp thu nợ và cưỡng chế nợ thuế nhằm hạn chế

    nợ mới phát sinh, động viên kịp thời nguồn lực cho NSNN.

    Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm cắt giảm chi phí

    tuân thủ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để DN phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh

    triển khai thực hiện các đề án thuộc Chiến lược phát triển hệ thống thuế giai đoạn

    2011-2020, đảm bảo lộ trình và yêu cầu đã đề ra.

    Một số giải pháp thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2013

    Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn thì số thu cân đối ngân

    sách dự kiến là 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà

    đất dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và

    từ dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 %

    GDP.

    Phân tích tình hình kinh tế và dự toán NSNN năm 2013, có thể thấy việc thực hiện thu

    NSNN có một số thuận lợi như sau:

    Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ có thể thoát ra khỏi giai đoạn suy giảm vào

    giữa năm 2013, góp phần làm tăng thu ngân sách. Năm 2013, hệ số ICOR theo mục

    tiêu giảm (từ gần 6,7 lần xuống 5,5 lần), do tỷ lệ vốn đầu tư/GDP giảm xuống (30%

    so với 33,5%), do tốc độ tăng trưởng GDP cao lên (5,5% so với 5,03%); tốc độ tăng

    năng suất lao động cũng cao lên (năm 2012 tăng gần 2,3%, mục tiêu năm 2013 tăng

    lên 2,7%). Theo ước tính, nếu GDP năm 2013 tăng trưởng đạt 5,5 – 6% thì tăng thu

    NSNN có thể tăng từ 9-10% so với thực hiện năm 2012, tức là đạt mức theo dự toán.

    Thứ hai, các DN và cả nền kinh tế được kỳ vọng sẽ từng bước hồi phục khi lạm phát

    được kiểm soát và lãi suất cho vay giảm đi. Các biện pháp hỗ trợ DN qua miễn, giảm

    thuế sẽ từng bước có tác dụng khôi phục lại hoạt động của DN. Điều này góp phần

    vào việc tăng nguồn thu cho NSNN. Hơn nữa, do lạm phát năm 2012 thấp nên việc

    lập dự toán thu theo số danh nghĩa cho năm 2013 cũng không bị thổi phồng như đã

    xảy ra với dự toán năm 2012. Nói cách khác là dự toán thu NSNN năm 2013 sẽ sát

    với thực tiễn hơn.

    Tuy nhiên, thực hiện dự toán thu NSNN năm 2013 cũng sẽ đối mặt với những thách

    thức không nhỏ:

    Thứ nhất, rủi ro của các yếu tố bên ngoài có thể tác động xấu đến tăng trưởng làm

    giảm nguồn thu NSNN.

    Kinh tế Việt Nam hiện nay đang phụ thuộc khá lớn vào tình hình biến động của kinh

    tế thế giới (độ mở của nền kinh tế, tính theo quy mô ngoại thương/ GDP trong giai

    đoạn gần đây lên đến 150%). Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào xuất

    khẩu khi kinh tế khu vực EU và Mỹ khó khăn thì kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng.

    Theo dự báo của IMF vào tháng 12/2012 thì kinh tế thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 3,6%

    trong năm 2013 và nhóm các nước phát triển chỉ tăng trưởng ở mức 1,6 %.

    Thứ hai, nguồn thu giảm do chính sách miễn giảm thuế của Chính phủ:

    Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013, tháo gỡ khó khăn

    cho DN trong đó có gia hạn thời hạn nộp thuế, miễn, giảm thuế TNDN. Việc áp dụng

    thuế thu nhập cá nhân mới với sự thay đổi về ngưỡng chiết trừ gia cảnh và thang thu

    nhập chịu thuế dự kiến sẽ làm giảm thu NSNN. Thu thuế xuất nhập khẩu cũng có thể

    giảm đi khi Việt Nam tiếp tục cắt giảm thuế suất theo cam kết gia nhập Tổ chức

    Thương mại Thế giới (WTO) và hoạt động xuất nhập khẩu bị tác động của suy giảm

    tăng trưởng kinh tế.

    Thứ ba, rủi ro kinh tế khiến một số nguồn thu khó đạt dự toán

    Việc giải quyết nợ xấu trong hệ thống các ngân hàng thương mại và của hệ thống DN

    sẽ đòi hỏi chi phí không nhỏ. Về ngắn hạn, các chính sách này có thể làm giảm nguồn

    thu từ thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân.

    Một trong những nguồn thu quan trọng là thu NSNN từ dầu thô cũng sẽ khó tăng khi

    dự báo giá dầu năm 2013 sẽ ít có biến động mạnh, thậm chí có thể giảm đi nếu tình

    hình khu vực Trung Đông ổn định.

    Thị trường bất động sản chưa khởi sắc sẽ làm nguồn thu từ đất đai tiếp tục khó đạt

    mục tiêu đặt ra. Theo dự toán, thu NSNN từ đất đai năm 2013 tăng 7,7 % so với dự

    toán 2012, song trong bối cảnh hiện nay và thực tế tình hình năm 2013 thì cũng sẽ

    không dễ thực hiện được số thu này.

    III.Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam

    trong giai đoạn hiện nay:

    1.Nguyên nhân gây thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam:

    Thất thu ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự

    cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thất thu ngân sách nhà nước gồm

    các nguyên nhân chính sau:

    1.1 Thất thu thuế nhà nước:

    Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các

    nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy

    nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ

    hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho

    ngân sách nhà nước. lấy ví dụ:lượng thuốc lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của

    đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến

    sự phát triển kinh tế.

    Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp

    có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc miễn thuế,

    giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm

    hụt ngân sách nhà nước.

    1.2 Đầu tư công kém hiệu quả:

    Trong năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài

    nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc

    gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư

    dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi

    công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí

    nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên

    nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.

    1.3 Cần đấu thầu dự án sử dụng đất:

    Bên cạnh đó, nền hành chính công – dịch vụ của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính sự

    kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng.

    1.4 Nhà nước huy động vốn để kích cầu:

    Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi

    ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế

    phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ

    ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.

    Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và

    được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. -Vì vậy, khi các địa phương

    vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận

    hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo

    dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng

    thẳng về ngân sách.Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc

    yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.

    1.6 Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn:

    Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn

    hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do

    sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự

    hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách

    rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy

    nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi

    vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ

    nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối

    cùng là gây ra lạm phát.

    1.7 Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn đươck sử dụng như

    một công cụ trong chính sách tài khoá để kích thích sự tang trưởng kinh tế:

    Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số

    thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng

    ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội

    cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau.

    Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ

    động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân

    nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho

    các dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền

    kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không

    2. Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong

    giai đoạn hiện nay.

    Giải pháp giảm thất thu ngân sách nhà nước nhờ tổ chức bộ máy thu nộp:

    -Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống thất thu do trốn, lậu thì sẽ

    là nhân tố tích cực làm giảm tỉ xuất thu ngân sách nhà nước mà vẫn đảm bảo nhu cầu

    chi tiêu của NSNN.

    -Chúng ta cần tập trung cho giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh đó,

    cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và có chính sách đầu tư

    phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ.

    -Cần phải đưa nguồn thu từ trái phiếu Chính phủ vào trong ngân sách để có những

    tính toán và phân bổ cho phù hợp hơn.

    -Chính phủ cần siết chặt chi tiêu ngân sách, tập trung vốn hoàn thành những dự án,

    công trình dở dang, hạn chế khởi công dự án mới, nhất là những dự án có tổng mức

    đầu tư lớn.

    Vấn đề nợ công của nước ta hiện nay và giải pháp cho vấn đề nợ công để tránh thất thu

    ngân sách nhà nước.

    -Công khai và minh bạch hóa các khoản nợ nhà nứơc của các tập đoàn và đảm bảo

    nợ công trong mức an toàn.

    -Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nợ công, kiểm soát nợ quốc gia ở ngưỡng an

    toàn bằng việc tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý về vốn ODA, vay ưu đãi, phát

    hành trái phiếu, quản lý phòng ngừa rủi ro…; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay; thu

    thập, báo cáo, công khai các chỉ tiêu giám sát an toàn nợ; xây dựng quy chế quản lý

    rủi ro.

    Chống thất thu ngân sách nhà nước- nhìn từ hoạt động kiểm tra sau thông qua:

    -Trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài nguyên quốc gia tăng thu cho

    ngân sách, nhà nước cần phải dành kinh phí thỏa đáng cho để nuôi dưỡng, tái tạo và

    phát triển các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt và phá hủy tài sản, tài nguyên

    vì mục đích trước mắt.

    -Chính sách thuế phải vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa

    khuyến khích tích tụ vốn cho doanh nghiệp và dân cư.

    -Chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước phải được đặt trên cơ

    sở thu nhập và mức sống của dân.

    -Dùng ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp quan trọng trong

    những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới.

    -Nhà nước cần có chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi người tiết kiệm tiêu dùng,

    tinh giản bộ máy, cải cách hành chính để tích lũy vốn chi cho đầu tư

    TÊN : LÊ HỒNG NHUNG

    MSSV :1154020712

    LỚP

    :11DTDN4

    ĐỀ BÀI: Ngân sách nhà nước và biện pháp tăng thu ngân sách nhà

    nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Tăng Hiệu Quả Trong Thu Nsnn
  • Bài Tập Lý Thuyết Thường Gặp Về Amin (Có Lời Giải Chi Tiết)
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Giáo Viên Sáng Tạo Trong Tổ Chức Hoạt Động Cho Trẻ 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Giúp Trẻ 3
  • Dịch Vụ Số Hóa Tài Liệu Chất Lượng, Uy Tín
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100