Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Quyết Vấn Nạn Dân Số Già
  • Già Hóa Dân Số Tại Nhật
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu Tại Việt Nam
  • Biến Đổi Khí Hậu Và Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Giải Pháp Kinh Doanh Hiệu Quả Thời Khủng Hoảng (Phần 1)
  • Tổng quan dân số Nhật

    Nhật Bản là nước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới

    Nhật Bản là một trong những quốc gia có tuổi thọ dân số trung bình cao nhất trên thế giới. Tại Nhật có hơn 58.000 người trên 100 tuổi làm cho đất nước này đứng đầu trên thế giới về số người sống thọ trên 80 tuổi. Sự trường thọ của những người Nhật Bản là do chế độ ăn uống lành mạnh, chuyên tâm tập luyện thể dục thể thao, cùng điều kiện sống trong lành, sạch sẽ.

    https://www.dkn.tv/suc-khoe/diem-danh-15-quoc-gia-co-tuoi-tho-cao-nhat-the-gioi-noi-dung-dau-dang-o-nhiem-khong-khi-nghiem-trong.html

    Phân bố độ tuổi của Nhật hiện nay

    Số liệu dân số của Nhật Bản theo độ tuổi (ước lượng):

    • 16.585.533 thanh thiếu niên < 15 tuổi (8.515.836 nam / 8.070.960 nữ)

    • 80.886.544 người từ 15 – 64 tuổi (40.787.040 nam / 40.099.504 nữ)

    https://danso.org/nhat-ban/

    Đặc điểm dân số Nhật Bản

    Độ tuổi lao động giảm dần

    Một trong những đặc điểm dân số của người dân Nhật đó là những người trong độ tuổi lao động giảm dần. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là do vấn đề già hóa dân số ở Nhật Bản. Vấn đề độ tuổi lao động giảm dần dẫn đến hệ lụy đó là tạo thành gánh nặng cho nền kinh tế khiến cho nước Nhật phải đau đầu giải quyết vấn đề này. Nguyên nhân già hóa dân số ở Nhật Bản là do số người cao tuổi đang ngày càng tăng.

    Tỷ lệ dân số phụ thuộc theo độ tuổi cao

    • Tổng tỷ lệ của dân số phụ thuộc tại Nhật Bản vào năm 2022 đó là 68,3%.

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc:

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc là tỷ lệ của những người dưới độ tuổi lao động <15 tuổi so với lực lượng lao động ở một quốc gia nào đó.

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc tại Nhật Bản hiện nay là 21,5%.

    • Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc

    • Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc tại Nhật Bản là 46,8%.

    https://danso.org/nhat-ban/

    Tình trạng người cao tuổi chưa được nghỉ hưu

    Với vấn đề dân số già hóa ở Nhật dẫn đến nhiều hậu quả già hóa dân số ở Nhật đòi hỏi chính phủ nhật cần có các hành động triệt để, lâu dài. Mới đây thì chính phủ Nhật đã đề xuất dự thảo với mục tiêu đưa Nhật Bản nơi những người lao động từ 65 tuổi sẽ được khuyến khích nhằm giữ gìn sức khỏe, tiếp tục làm việc để giảm áp lực về lương hưu. Cùng theo dự thảo mới này thì cho phép người dân được trì hoãn thời điểm nghỉ hưu tới 70 tuổi và chính phủ cũng khuyến khích họ tiếp tục làm việc khi đã nghỉ hưu khi sức khỏe cho phép. Hiện nay độ tuổi nghỉ hưu chính thức ở Nhật là 65 tuổi nhưng thực tế các doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp Nhà nước bắt đầu để lao động cao tuổi có quyền được chọn thời điểm nghỉ hưu từ 60 – 70 tuổi.

    Giải pháp

    Định hướng phát triển với quy mô dân số tầm trung

    Giải pháp già hóa dân số ở Nhật Bản đang được đất nước Nhật thực hiện đó là định hướng phát triển với dân số tầm trung. Định hướng này góp phần làm giảm dân số già ở Nhật.

    Tăng tỷ lệ sinh

    Một giải pháp nữa để khắc phục vấn đề già hóa dân số đó là tăng tỷ lệ sinh.Việc tăng tỷ lệ sinh ở Nhật cũng khiến cho dân số cân bằng hơn. Và hiện tại Nhật Bản đang tích cực thực hiện giải pháp này.

    Phụ nữ và người già tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động

    Vấn đề già hóa dân số ở Nhật đang tạo gánh nặng cho nền kinh tế vì vậy giải pháp được đưa ra đó là những phụ nữ và người già phải tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động để giảm bớt gánh nặng này.

    Nâng cao năng suất lao động

    Hiện một giải pháp nữa đang được Nhật Bản tích cực thực hiện góp phần giải quyết vấn đề già hóa dân số đó là nâng cao năng suất lao động. Việc nâng cao năng suất lao động sẽ giúp tạo ra nhiều của cải hơn bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn lao động.

    Thu hút lao động nước ngoài

    Một giải pháp nữa cho nền kinh tế khi thiếu hụt nguồn nhân lực đó là thu hút lao động từ nước ngoài. Hiện nay thì Nhật Bản đang ngày càng có nhiều chính sách để giúp thu hút những người lao động từ nước ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nào Để Ngăn Chặn Phá Rừng?
  • Hoạt Động Đại Biểu Quốc Hội
  • Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Đốt Rừng Làm Nương Rẫy
  • Trẻ Không Chịu Bú Bình Và Lời Khuyên Để Con Phát Triển Khỏe Mạnh
  • Giải Pháp Thông Minh Cho Bé Không Chịu Bú Bình
  • Già Hóa Dân Số Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Hàn Quốc: Báo Động Tình Trạng Già Hóa Dân Số
  • Hà Nội Triển Khai Các Biện Pháp Đảm Bảo Atgt Phục Vụ Apec
  • Triển Khai Các Biện Pháp Bảo Vệ An Ninh Mạng Là Bảo Vệ Quyền Lợi Người Sử Dụng Mạng
  • Một Số Biện Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Trường
  • Chuyên Đề Những Biện Pháp Cơ Bản Phấn Đấu Hạ Giá Thành Sản Phẩm Ở Xí Nghiệp Xây Lắp Điện
  • Qua các phương tiện truyền thông, được biết vấn đề già hóa dân số ở Nhật rất nhiều nhưng khi tận mắt nhìn thấy người già lao động ở Nhật Bản, tôi mới cảm nhận sâu sắc thực tế này. Đây cũng là bài học cho Việt Nam khi tận dụng thời kỳ “dân số vàng” và nâng cao chất lượng dân số.

    Người già có thể làm mọi việc

    Lái xe phục vụ đoàn nhà báo chúng tôi là bác tài xế Sato, năm nay đã 70 tuổi. Ít ai nhận ra độ tuổi thực của bác nếu không được giới thiệu bởi trông bác rất khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Lái xe cho chúng tôi suốt một tuần lễ, đi từ thành thị đến nông thôn, qua bao nhiêu đèo dốc rừng núi, nhất là chặng đường đến núi Phú Sĩ nhưng bác vẫn bận áo trắng sơ-vin, giày tất trắng, đặc biệt là nụ cười hiền hậu. Như mọi tài xế ở Nhật Bản, đến bữa, bác Sato ăn cơm ở nơi khác và đúng giờ thì có mặt ở xe, nhanh nhẹn sắp xếp vali cho khách.

    Dọc chuyến hành trình, chúng tôi còn nhìn thấy rất nhiều người già đang làm việc ở Tokyo, Kyoto, Nagayo, Chi ba…Người thì làm lao công ở công viên, chùa chiền, người thì làm bảo vệ cho các cửa hàng, cửa hiệu, nhiều người là tài xế xe buýt, phần lớn là các cụ ông. Họ mặc trang phục chỉnh tề, tươm tất, phong thái như người trẻ.

    Nguyễn Hữu Quân – hướng dẫn viên của Vietravel, người có nhiều năm sống ở Nhật Bản, cho chúng tôi biết: Do chất lượng cuộc sống tốt nên người già ở Nhật sống rất lâu và họ sống rất độc lập, không lệ thuộc con cái. Thường thì họ sống với nhau hoặc sống một mình, đi làm như người trẻ, ăn các thức ăn nhiều chất dinh dưỡng và ăn rất khỏe. Con cái họ, vì áp lực công việc nên cũng ít khi về thăm cha mẹ.

    Dọc đường đến núi Phú Sĩ, nhìn thấy nhiều ngôi nhà nhỏ bỏ hoang, chị bạn đồng nghiệp hỏi và được Quân giải thích: Những người già đã sống biệt lập ở đó, có khi mất rồi hàng xóm, con cái mới biết. Cũng có những đứa con mấy năm không về thăm cha mẹ nên không ít người già đã sống trong cô đơn. Nước Nhật văn minh và hiện đại thuộc hàng đầu thế giới, nơi con người như cỗ máy làm việc suốt ngày đêm, đến giấc ngủ cũng khó trọn vẹn, vì vậy về phương diện nào đó, người già không khỏi thiếu thốn về mặt tình cảm.

    Chăm lo gìn giữ môi trường sống

    Người già ở Nhật Bản cũng là những người mẫu mực trong công việc và trong hành vi ứng xử với môi trường. Chính họ đã truyền đạt cho con cháu tư tưởng “dọn rác cũng là dọn sạch tâm hồn mình” theo thuyết thần đạo nên đời nối đời, người Nhật không ai vứt rác ra đường. Họ coi rác là tài nguyên, nếu có mẩu rác nào ngay lập tức nhặt lên đưa vào nhà và phân loại.

    Cùng với các quyết sách của Chính phủ, đi đâu trên đất nước Nhật Bản cũng khó tìm thấy một mẩu rác. Tôi đã nhìn thấy một cụ già quét rác ở Hoàng Cung Tokyo. Cụ cặm cụi làm việc, tỉ mẩn, chỉn chu, không để ý gì đến xung quanh. Một cụ già khác ở chùa cổ Tokyo thì cẩn thận tỉa từng cành cây, nhổ từng bụi cỏ. Chính vì vậy, Nhật Bản dù có nhiều địa chỉ tâm linh, di tích danh thắng với hàng ngàn du khách viếng thăm nhưng tuyệt nhiên không một mẩu rác.

    Đặc biệt, tôi để ý, như bao người trẻ khác, bác tài xế Sato không hề hút thuốc lá lúc chờ khách, nói năng rất nhỏ nhẹ. Đây cũng là hình ảnh mà tôi nhìn thấy ở bãi đỗ xe của thành cổ Osaka: Khi chờ khách, các bác tài xế già (có bác còn già hơn cả bác Sato, râu tóc bạc trắng) thường tranh thủ lấy báo ra đọc.

    Giải pháp với già hóa dân số

    Dân số của Nhật Bản đạt 127.162.625 người vào ngày 26/04/2019 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. Theo CNN, Nhật Bản cũng là quốc gia “siêu già” với hơn 20% dân số ở độ tuổi từ 65 trở lên. Năm 2022, dân số của Nhật đạt 124 triệu người, nhưng được dự báo sẽ giảm xuống chỉ còn khoảng 88 triệu người vào năm 2065. Để có thêm nguồn lực lao động, những năm qua, Nhật Bản đã có nhiều chính sách thu hút số lượng lờn lao động trẻ đến Nhật làm việc và Việt Nam là một trong số đó.

    Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến thời điểm tháng 6/2018, người Việt Nam sống và làm việc tại Nhật Bản là 291.494 người, tăng 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2022 là 124.820 người. Với số lượng này thì Việt Nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Người Việt Nam (trong đó có Hà Tĩnh) sang Nhật làm đủ thứ nghề, từ lao động phổ thông trong các nhà máy đến phục vụ trong các nhà hàng, khách sạn, cửa hàng cửa hiệu. Lao động Việt Nam chất lượng cao rất ít ở Nhật.

    Du học sinh Việt Nam cũng khá đông, thường các em đi làm thêm công việc phụ bán hàng tại các trung tâm mua sắm, phục vụ lễ tân, nấu nướng trong các nhà hàng, khách sạn. Thu nhập đủ để trang trải các chi phí học tập. Chúng tôi đã gặp các em trong các trung tâm mua sắm ở Tokyo, trong các khách sạn ở Nagayo, Kyoto…

    Đang là quốc gia ở thời kỳ “dân số vàng”, Việt Nam cần tận dụng cơ hội này để tạo ra nguồn lực lao động chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo đó, cần tạo cơ chế thông thoáng cho các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam để tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người trẻ. Nhà nước cũng cần có chính sách thu hút nhân tài, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch để tăng năng suất lao động, cải thiện thu nhập cho người lao động.

    Giáo dục ý thức, đào tạo kiến thức, kỹ năng lao động, làm tốt công tác hướng nghiệp cho người trẻ để họ có thể yên tâm ở lại làm việc và cống hiến ngay trên đất nước mình là vô cũng cần thiết. Bên cạnh đó, cần có chính sách chăm sóc sức khỏe cho người dân, nhất là người cao tuổi để họ sống vui, sống khỏe, sống có ích, đóng góp sức mình xây dựng đất nước.

    Bùi Minh Huệ

    Các tin đã đưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sức Ép Dân Số Già Ở Nhật Bản
  • Bảng Kiểm Điểm Đảng Viên, Cá Nhân
  • Luận Văn Tiểu Luận Ô Nhiễm Môi Trường Ở Đắk Lắk
  • Kế Hoạch Cá Nhân Khắc Phục Hạn Chế, Khuyết Điểm Sau Kiểm Điểm Tự Phê Bình Và Phê Bình Năm 2022
  • Một Số Phương Hướng Khắc Phục Trong Việc Vận Dụng Nguyên Tắc Nhân Dân Tham Gia Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Sức Ép Dân Số Già Ở Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Già Hóa Dân Số Nhật Bản
  • Hàn Quốc: Báo Động Tình Trạng Già Hóa Dân Số
  • Hà Nội Triển Khai Các Biện Pháp Đảm Bảo Atgt Phục Vụ Apec
  • Triển Khai Các Biện Pháp Bảo Vệ An Ninh Mạng Là Bảo Vệ Quyền Lợi Người Sử Dụng Mạng
  • Một Số Biện Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Trường
  • Hãng tin Kyodo dẫn thông báo mới đây của Chính phủ Nhật Bản cho biết, tính đến tháng 9 này, số người từ 65 tuổi trở lên ở xứ sở mặt trời mọc đạt mức cao kỷ lục, 36,17 triệu, tăng 300.000 người so với cùng thời điểm năm ngoái. Còn theo số liệu của Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản, người cao tuổi hiện chiếm 28,7% tổng dân số nước này, tăng 0,3% so với năm ngoái. Trong số người trên 65 tuổi, có 15,73 triệu người là nam giới và 20,44 triệu người là nữ giới. Bộ này nhấn mạnh, tỷ lệ người cao tuổi trên tổng dân số của Nhật Bản đang ở mức cao nhất thế giới. Viện nghiên cứu Dân số và An sinh xã hội quốc gia Nhật Bản dự báo, đến năm 2040, số người cao tuổi ở nước này có thể chiếm tới 35,3% tổng dân số cả nước.

    Người già ở Nhật Bản tập thể dục với tạ gỗ. Ảnh: Reuters

    Già hóa dân số không phải là vấn đề mới mẻ tại xứ sở mặt trời mọc. Tuy nhiên, những số liệu trên cho thấy, Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới, đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số ngày càng trầm trọng do tuổi thọ trung bình của người dân tăng cao cùng tỷ lệ sinh suy giảm. Dữ liệu của Chính phủ Nhật Bản hồi tháng 7 vừa qua chỉ ra rằng, trung bình một người phụ nữ ở nước này sống tới 87,45 năm, còn tuổi thọ trung bình của đàn ông Nhật là 81,41 tuổi. Gần đây, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản cho biết, số người từ 100 tuổi trở lên ở xứ sở mặt trời mọc đã lần đầu tiên vượt ngưỡng 80.000 người kể từ khi nước này bắt đầu thống kê vào năm 1963. Các chuyên gia về sức khỏe nhận định, người Nhật Bản tuổi thọ cao là do họ có chế độ ăn uống lành mạnh, chăm luyện tập thể dục-thể thao cùng môi trường sống trong lành. Tuy nhiên, trong khi tuổi thọ của người dân ngày càng tăng, Nhật Bản phải chứng kiến tỷ lệ sinh giảm mạnh. Kết quả điều tra của Bộ Nội vụ Nhật Bản cho thấy số trẻ em nước này sinh ra trong năm 2022 là 866.908 trẻ. Đây là mức thấp nhất và là lần đầu tiên trong lịch sử thống kê, số trẻ em sinh ra ở Nhật Bản giảm xuống dưới mức 900.000 trẻ. Sự chênh lệch giữa tuổi thọ cao và tỷ lệ sinh thấp khiến cho cơ cấu dân số ở Nhật Bản mất cân bằng.

    Tốc độ già hóa nhanh chóng khiến Nhật Bản rơi vào tình trạng thiếu hụt lao động nghiêm trọng. Để tháo gỡ vấn đề nan giải này, Tokyo đang coi nâng tuổi nghỉ hưu là một trong những giải pháp tối ưu. Chính phủ Nhật Bản đã thông qua dự luật kêu gọi các doanh nghiệp cho phép người lao động làm việc đến 70 tuổi. Dự luật này có hiệu lực từ tháng 4-2021. Ngoài ra, thu hút lao động nước ngoài cũng là một biện pháp giúp Nhật Bản giải quyết tình trạng khan hiếm lao động ở một số ngành nghề cần nhiều sức khỏe mà người cao tuổi không đáp ứng được.

    Bên cạnh việc ứng phó với thách thức thiếu hụt lao động, trước sức ép từ dân số già, Chính phủ Nhật Bản đang thúc đẩy tăng tỷ lệ sinh đẻ tại nước này thông qua chương trình trợ cấp để khuyến khích giới trẻ ở Nhật Bản kết hôn và sinh con. Từ tháng 4-2021, các cặp đôi mới cưới ở Nhật Bản có thể được nhận khoản trợ cấp lên tới 600.000 yên (5.700USD) để trang trải tiền thuê nhà và các chi phí khác khi bắt đầu cuộc sống mới. Điều kiện để nhận trợ cấp là cả chồng và vợ đều dưới 40 tuổi tại thời điểm đăng ký kết hôn và có tổng thu nhập dưới 5,4 triệu yên. Theo khảo sát do Viện nghiên cứu Dân số và An sinh xã hội quốc gia Nhật Bản thực hiện, 17,8% phụ nữ và 29,1% nam giới Nhật Bản độc thân từ 25 đến 34 tuổi cho biết lý do họ chưa kết hôn là vì tài chính. Trong khi đó, tài chính cũng là trở ngại lớn nhất khiến các cặp vợ chồng ngại sinh con dù Chính phủ Nhật Bản đã miễn học phí đối với giáo dục mầm non từ năm 2022. “Tài chính chắc chắn là một mối bận tâm hàng đầu đối với các cặp vợ chồng. Nhiều cặp vợ chồng dừng lại sau khi có một đứa con vì họ không đủ khả năng nuôi thêm một đứa nữa”, cô Emiko ở thị trấn Nozawa Onsen, tỉnh Nagano của Nhật Bản cho biết.

    Trên thực tế, nỗ lực ứng phó với tình trạng già hóa dân số của Nhật Bản đang gặp rào cản lớn do diễn biến của đại dịch Covid-19. Theo tiến sĩ Hideo Kumano của Viện nghiên cứu Dai-ichi Life, đại dịch Covid-19 gây thêm trở ngại cho các nhà hoạch định chính sách trong việc khuyến khích người dân xây dựng gia đình. Ông Hideo Kumano nhận xét: “Việc khả năng tài chính bị hạn chế do mất việc làm sẽ khiến gia tăng số lượng người trẻ tuổi tránh kết hôn và sinh con trong thời gian tới”.

    LÂM ANH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảng Kiểm Điểm Đảng Viên, Cá Nhân
  • Luận Văn Tiểu Luận Ô Nhiễm Môi Trường Ở Đắk Lắk
  • Kế Hoạch Cá Nhân Khắc Phục Hạn Chế, Khuyết Điểm Sau Kiểm Điểm Tự Phê Bình Và Phê Bình Năm 2022
  • Một Số Phương Hướng Khắc Phục Trong Việc Vận Dụng Nguyên Tắc Nhân Dân Tham Gia Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Già Hóa Dân Số Và Một Số Giải Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Các Nước Phát Triển
  • Chủ Động Nhiều Giải Pháp Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Đối Mặt Với Già Hóa Dân Số Và Các Giải Pháp
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Chủ đề: Già hóa dân số (GHDS)

    I. Một số khái niệm

    II. Tình hình già

    hóa dân số trên

    thế giới

    III. Tình hình già

    hóa dân số ở Việt

    Nam

    1. Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi

    2. Cơ cấu xã hội

    I. Một số khái

    niệm

    3. Tháp dân số

    4.Già hóa dân số

    5. Tác động của già hóa dân số

    + Độ tuổi theo khoảng cách đều nhau, thông thường trong dân số học,

    người ta nghiên cứu cơ cấu theo tuổi với khoảng cách đều 5 năm.

    3. Tháp dân số

    * Là một loại biểu đồ biểu diễn thành phần nam, nữ

    theo các độ tuổi ở một thời điểm nhất định.

    * Tháp được xây dựng theo các lớp tuổi cách nhau 1

    năm, 5 năm, 10 năm.

    * Tháp sẽ có dạng khác nhau tùy theo đặc trưng của

    mức độ sinh, chết và chuyển cư.

    * Do dân số các nước khác nhau nên tháp dân số cũng

    khác nhau. Tuy nhiên người ta phân biệt được 3 kiểu

    (dạng) tháp dân số cơ bản đó là:

    Hình 1. Các kiểu tháp dân số cơ bản (Nguồn kiemtailieu.com)

    Kiểu mở

    rộng

    – Đây là tháp dân số trẻ.

    – Tháp có hình dạng đáy rộng, càng lên

    cao càng hẹp lại nhanh.

    – Đây là kiểu kết cấu dân số của các nước

    chậm phát triển có dân số trẻ và tăng nhanh

    Tỷ xuất sinh cao,tỷ lệ người già thấp, tuổi thọ trung bình

    không cao.

    Kiểu thu

    hẹp

    – Đây là kiểu tháp dân số trưởng thành.

    – Thể hiện tỷ suất sinh thấp, tỷ lệ trẻ em

    thấp hơn kiểu mở rộng và đang giảm, tỷ lệ

    chết thấp, tuổi thọ TB cao, số người trong

    độ tuổi lao động nhiều.

    – Đây là kiểu tháp chuyển từ dân số trẻ sang

    dân số già.

    4. Già hóa dân số

    – Theo quy ước của Liên Hợp Quốc, một quốc gia có tỷ lệ người

    từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% trở lên hoặc tỷ lệ người từ 65 tuổi

    trở lên chiếm từ 7% trở lên thì được gọi là quốc gia “già hóa dân

    số”.

    ” Già hóa dân số là một quá trình mà tỷ lệ người trưởng thành và

    người cao tuổi tăng lên trong cơ cấu dân số, trong khi tỷ lệ trẻ em

    và vị thành niên giảm đi, quá trình này dẫn tới tăng tuổi trung vị

    của dân số ”.

    5. Tác động của già hóa dân số

    a. Thuận lợi

    * Nâng cao tuổi thọ là một trong những thành tựu vĩ

    đại nhất của loài người.

    * Người già có nhiều kinh nghiệm sản xuất, có công lao

    to lớn trong các cuộc kháng chiến của dân tộc..

    * Hạn chế tệ nạn xã hội.

    * Người lớn tuổi được xem là trụ cột, là”chất kết dính”

    giữa các thế hệ trong gia đình…

    Suy giảm tăng trưởng

    kinh tế quốc gia

    Là gánh nặng của xã

    hội

    .

    Tạo áp lực lớn cho

    chính phủ

    II. Vấn đề già hóa dân số

    trên thế giới

    – Vào thập kỉ đầu của TK XXI, ở hầu

    hết các quốc gia diển ra sự thay đổi

    nhân khẩu học dần dần từ dân số

    trẻ sang dân số già hơn.

    – Già hóa dân số đang diễn ra trên

    tất cả các khu vực và các quốc gia

    với các mức độ khác nhau.

    – Các nước phát triển quá trình già

    hóa dân số diễn ra sớm do có nền

    kinh tế phát triển sớm, khoa học kĩ

    thuật tiên tiến, đời sống vật chất cao,

    – Già hóa dân số đang tăng nhanh ở các nước đang phát triển

    kể cả các nước có nhóm dân số trẻ đông đảo.đang gia tăng

    nhanh nhất ở các nước đang phátó nhóm dân số trẻ đông đảo.

    nhóm dân số trẻ đông đảo.

    Biểu đồ thể hiện số người từ 60 tuổi trở lên giai đoạn 1950- 2050

    Hiện tại

    Dự báo ( trước 2030)

    Nhật Bản

    25,8%

    32,3 %

    Đức

    21,1%

    27,9%

    Ý

    21%

    25,5%

    Pháp

    18,3%

    23,4%

    Tây Ban Nha

    17,6%

    22%

    Anh

    17,5%

    21,3%

    Canada

    17,3%

    24,9%

    Ukraine

    15,9%

    22%

    Ba Lan

    15%

    23,1%

    Mỹ

    14,5%

    20,3%

    Nguồn: Theo số liệu từ Cục điều tra dân số của Mỹ (8/2014)

    – Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinh

    nhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có gần 58 triệu

    người tròn 60 tuổi.

    – Tuổi thọ trung bình đã gia tăng đáng kể trên toàn thế giới.

    – Hiện nay, có tới 33 quốc gia đạt được tuổi thọ trung bình trên

    80 tuổi; trong khi đó 5 năm trước đây, chỉ có 19 quốc gia đạt con

    số này.

    Giai đoạn

    Các nước phát triển

    Các nước đang phát triển

    2010- 2022

    78 tuổi

    68 tuổi

    Dự kiến 2045- 2050

    83 tuổi

    74 tuổi

    – Nhật Bản là quốc gia duy nhất có trên 30% dân số già, nhưng

    đến năm 2050, dự tính sẽ có 64 nước có trên 30% dân số già

    như Nhật Bản.

    – Người cao tuổi trên thế giới ngày càng tăng về cả tỷ lệ và số

    tuyệt đối.

    Thế giới

    Năm

    Các nước phát triển

    Các nước đang phát

    triển

    Số lượng (triệu

    người)

    Số lượng (triệu

    người)

    8,2

    85

    11,7

    110

    6,4

    606

    10

    232

    19,4

    374

    7,7

    1964

    21,1

    395

    33,5

    19,3

    19,3

    Số lượng (triệu

    người)

    1950

    205

    Tình hình già hóa dân số thế giới ( Nguồn:kiemtailieu.com)

    * Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên.

    Đến năm 2012, số người cao tuổi tăng lên đến gần 810 triệu

    người. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ người trong vòng gần

    10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người.

    Năm

    1950

    1975

    2000

    2025

    2050

    Số dân

    (triệu)

    2.500

    3.900

    6.080

    8.011

    9.150

    205

    350

    606

    1.193

    1.964

    Tỉ lệ người

    cao tuổi (%)

    8,2

    9,1

    10

    14,9

    21,1

     Tình trạng “già hóa dân số” ở

    nhiều nước phát triển đang đặt

    ra nhu cầu xem xét lại giới hạn

    độ tuổi lao động tích cực của

    người cao tuổi.

     Các nước đang phát triển cần

    đáp ứng nhu cầu giáo dục, chăm

    sóc sức khỏe cho thế hệ trẻ, sức

    khỏe sinh sản vị thành niên.

     Các quốc gia cần có giải pháp

    thiết thực đối với người già về

    sức khỏe, vật chất và tinh thần

    trước sự già hóa của dân số.

    III. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam

    1. Hiện trạng GHDS ở Việt Nam

    – Nước ta là một nước có cơ cấu dân số trẻ (2005).

    Nhóm tuổi

    1979

    1989

    1999

    2005

    0- 1

    42,5

    38,9

    33,6

    27,0

    15- 59

    50,4

    53,2

    58,3

    64,0

    7,1

    7,9

    8,1

    9,0

    Tổng (%)

    100

    100

    100

    100

    Cơ cấu dân số Việt Nam theo nhóm tuổi giai đoạn 1979- 2005

    – Tuy nhiên do quá trình giảm sinh tương đối nhanh trong những

    năm qua tỷ trọng dân số trẻ đã có xu hướng giảm mạnh và tỷ

    trọng dân số già đã tăng lên từ 7,1% năm 1979 lên 9% vào năm

    2005.

    – Năm 2009, Tổng cục Thống kê

    dự báo đến 2022 nước ta mới

    bước vào giai đoạn già hóa dân

    số. – Nhưng chỉ 2 năm sau dự báo

    này đã trở nên lạc hậu.

    – Năm 2011, Việt Nam chính thức

    bước vào giai đoạn già hóa dân

    số. Tốc độ già hóa dân số của

    nước ta nhanh hàng đầu châu Á

    và cũng thuộc diện nhanh nhất

    thế giới.

    Biểu đồ thể hiện tỉ lệ người già của nước ta ngày càng tăng giai đoạn

    2010- 2014.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Già Hoá Dân Số: Giải Pháp Chính Sách Đối Với Già Hoá Dân Số Tại Châu Á
  • Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số?
  • Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Để Đảm Bảo Sản Xuất Nông Nghiệp Bền Vững Ở Tây Nguyên
  • Ðồng Bộ Các Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Một Số Biện Pháp Giảm Thiểu Và Thích Ứng Với Bđkh
  • Dân Số Nhật Bản Đang Già Hóa, Người Nhật Đang Có Giải Pháp Tăng Dân Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Nhật Bản Trước Vấn Đề Dân Số Già
  • Vật Lộn Với Dân Số Già, Nhật Cảnh Báo Các Nước Trước Khi Quá Muộn
  • Già Hóa Dân Số Đe Dọa Tương Lai Của Hàn Quốc
  • Đề Án Chăm Sóc Sức Khỏe Người Cao Tuổi
  • Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Dân số Nhật Bản Ở giai đoạn hiện nay đang dần già hóa, Nhật Bản đang có các giải pháp cùng cải thiện tình trạng trên.

    Theo tổng hợp từ kết quả điều tra của Doanh nghiệp tương trợ giải quyết vấn đề giảm sút tỷ lệ sinh có văn phòng tại Tokyo Nhật Bản đã ban bố ngày 30/5 cho thấy, có 81,1% người Nhật Bản muốn có trên 2 con, tăng hơn 80% so cùng năm 2022.

    Tuy nhiên, có 70% người được hỏi tỏ ra hơi ngập ngừng bởi họ chỉ sinh con thứ hai khi chọn được nhà trẻ cùng Tiêu chí kinh tế cho phép.

    Đây là kết quả cuộc cuộc khảo sát được thực hiện hồi cuối tháng 4 vừa qua thông qua mạng internet, cuộc thăm dò thực hành thăm dò với 3.000 người đã thành thân trên toàn Nhật Bản. Khi được hỏi về số lượng con cái tuyệt vời (không hệ trọng đến những Kế hoạch sinh con trong thực tế), thì đã có 47,8% muốn sinh hai đứa con và 29,3% muốn sinh 3 đứa con. Tỷ lệ số người muốn có trên hai con đạt mức cao nhất kể từ cuộc điều tra năm 2013.

    Tìm hiểu thêm về thông tin xuất khẩu lao động Nhật Bản, thông tin này chỉ dành cho những ai muôn đi sang nước Nhật làm việc để kiếm thu nhập cao

    Có 73,5 % người được hỏi “những cạnh tranh lúc có người con thứ 2 hoặc thứ 3” thì 84,4% là do kinh tế cùng 43% là bởi vì tuổi tác. và thời khắc đó có 40% người Nhật trả lời chỉ muốn có một con giả dụ như thường tìm được trường mầm non.

    Chủ tịch điều hành Akiyama Kai chia sẻ : “Kinh tế tiến triển rẻ làm sự mong muốn có con tăng cao. phải lên chương trình xã hội pha môi trường thuận lợi cho việc nuôi dạy con”. Nhật Bản là một trong những nước có tỷ lệ người già cao nhất thế giới, hiện tượng không đủ nguồn lao động, không đủ các làm việc trẻ nhỏ càng ngày trở thành mối lo ngại với Nhật Bản.

    Thông tin này được công ty xuất khẩu lao động uy tín tại tphcm cung cấp, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn hiểu rõ hơn về tình hình nước Nhật Bản nói chung và dân số nước Nhật Bản riêng hiện nay.

    Rate this post

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chăm Sóc Người Cao Tuổi
  • Chính Sách An Sinh Xã Hội Đối Với Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam
  • Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam: Một Góc Nhìn Khác
  • Từ Xu Hướng Già Hóa Dân Số Nhanh Ở Việt Nam Cơ Hội Và Thách Thức
  • Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “già” Rất Nhanh
  • Già Hóa Dân Số Tại Nhật

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu Tại Việt Nam
  • Biến Đổi Khí Hậu Và Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Giải Pháp Kinh Doanh Hiệu Quả Thời Khủng Hoảng (Phần 1)
  • Giải Pháp Phát Triển & Kinh Doanh Online Cho Doanh Nghiệp
  • Giải Pháp Hiệu Quả Cho Những Ý Tưởng Kinh Doanh Ít Vốn
  • Vòng xoáy suy giảm dân số tại Nhật Bản đang quay nhanh hơn khi số phụ nữ ở vào độ tuổi sinh đẻ ngày càng giảm.

    Vòng xoáy suy giảm dân số tại Nhật Bản đang quay nhanh hơn khi số phụ nữ ở vào độ tuổi sinh đẻ ngày càng giảm. Trong tháng 5/2014, một báo cáo đã dự đoán rằng đến năm 2040, sẽ có ít nhất 500 thị trấn trên khắp cả nước sẽ biến mất khi nhiều phụ nữ trẻ tuổi di cư đến các thành phố lớn.

    Lực lượng lao động đã bắt đầu thu hẹp lại, làm giảm tăng trưởng trong tương lại. Trong những năm gần đây, chính phủ đã bắt tay vào thực hiện hàng loạt các đề án khuyến khích sinh đẻ, bao gồm cả phát hành cuốn “Cẩm nang phụ nữ” để giáo dục phụ nữ trẻ về các thời điểm dễ và khó mang thai trong thời kỳ sinh nở của họ. Chính phủ cũng tổ chức nhiều sự kiện mai mối để kết nối các cặp đôi với nhau.

    Lý do chính dẫn đến tỷ lệ sinh của Nhật Bản ngày càng thấp là do tỷ lệ kết hôn của người dân nước này giảm dần theo từng năm. Ngày càng có ít người muốn kết hôn, và họ kết hôn ngày càng muộn hơn. Ít nhất một phần ba phụ nữ trẻ muốn trở thành những bà nội trợ toàn thời gian và vẫn đang tìm kiếm người đàn ông có đủ tiềm lực tài chính để gánh vác một gia đình truyền thống.

    Trong những giai đoạn kinh tế ổn định hơn, những người ở trong độ tuổi kết hôn thường có việc làm ổn định trong hệ thống “việc làm trọn đời” đặc trưng của quốc gia Đông Á này. Giờ đây, nhiều người phải làm các công việc tạm thời hoặc bán thời gian khi nền kinh tế đang biến động theo từng ngày. Đối với phụ nữ Nhật Bản, họ từ chối hôn nhân và sinh con do văn hóa doanh nghiệp kiểu cũ của Nhật, trong khi dịch vụ chăm sóc trẻ em vẫn còn thiếu hụt buộc họ phải từ bỏ sự nghiệp của mình.

    Cuối cùng, những người trẻ tuổi đang bị bó buộc với các quy chuẩn xã hội. Chỉ có khoảng 2% trẻ em được sinh ra mà cha mẹ của chúng không kết hôn (con số này ở hầu hết các nước phát triển là 30-50%). Điều này có nghĩa là khi tỷ lệ kết hôn giảm thì tỷ lệ sinh cũng giảm. Ngay cả đối với những người đã lập gia đình, chi phí nuôi dạy trẻ tăng cao cũng khiến nhiều bậc cha mẹ quyết định chỉ sinh một con.

    Rất may là cho dù chính phủ khó có thể can thiệp trực tiếp vào việc tăng tỷ lệ sinh, chính sách thị trường lao động đang dần được cải cách hứa hẹn sẽ đem lại hiệu quả trong dài hạn. Nếu các công ty có nhiều chính sách ưu đãi hơn đối với các nhân viên trẻ, đồng thời giảm bớt đặc quyền của những người lao động khác, thì các cặp vợ chồng trẻ sẽ có một cơ sở ổn định hơn để kết hôn và xây dựng tổ ấm. Cho đến nay, chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe đã nhiều lần đưa vấn đề này ra bàn luận trong các chương trình nghị sự, song vẫn trì hoãn việc thực hiện chúng. Thay vào đó, ông Abe đang đưa ra các chính sách giúp phụ nữ vừa duy trì được sự nghiệp vừa có thể sinh con.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Quyết Vấn Nạn Dân Số Già
  • Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản
  • Giải Pháp Nào Để Ngăn Chặn Phá Rừng?
  • Hoạt Động Đại Biểu Quốc Hội
  • Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Đốt Rừng Làm Nương Rẫy
  • Thực Trạng Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản Và Những Ảnh Hưởng Đến Kinh Tế, Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Vấn & Tuyển Sinh Du Học Nhật Bản
  • Bài Toán “Chăm Sóc Người Cao Tuổi, Thích Ứng Với Già Hóa Dân Số”
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Để Phòng Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống Và Những Biểu Hiện “tự Diễn Biến”, “tự Chuyển Hóa” Của Mỗi Cán Bộ Đảng Viên
  • Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Trong Các Loại Hình Chi Bộ Ở Đảng Bộ Khối Cơ Quan Và Doanh Nghiệp Tỉnh
  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Và Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Xã hội già, xã hội siêu già là gì?

    Những thuật ngữ như xã hội già hóa, xã hội già hay xã hội siêu già đều đang được sử dụng trên thế giới. Tuy nhiên chúng lại chưa có một định nghĩa chính xác mang tính quốc tế.

    Cụm từ “xã hội già hóa” được sử dụng trong báo cáo liên hợp quốc vào năm 1956. Chính phủ Nhật Bản dựa theo tiêu chuẩn các nước phát triển phương Tây bấy giờ để giả định trên 7% là “dân số già hóa”. Bắt nguồn từ đó, tỉ lệ già hóa được cho là thước đo chung cho cộng đồng quốc tế. 

    Độ tuổi từ 0-14 tuổi được gọi là thiếu niên, từ 15-64 tuổi là độ tuổi lao động, trên 65 tuổi là người cao tuổi. Khi đó, tỉ lệ già hóa là tỉ lệ phần trăm của người cao tuổi trong tổng dân số. Người ta dựa theo tỉ lệ này để phân biệt và định nghĩa:

    Tỉ lệ già hóa vượt 7% sẽ được gọi là xã hội già hóa, trên 14% là xã hội già, và trên 21% gọi là xã hội siêu già.

    Mặc dù không có một định nghĩa chính xác, các cụm từ trên được quy định để phân biệt dễ hiểu tình trạng già hóa của một xã hội.

    Dựa theo quy chuẩn trên, Nhật Bản vào thời điểm năm 2022 với tỉ lệ già hóa chạm mức 28.1%, đã bước vào xã hội siêu già.

    Độ tuổi từ 0-14 tuổi được gọi là thiếu niên, từ 15-64 tuổi là độ tuổi lao động, trên 65 tuổi là người cao tuổi. Tỉ lệ già hóa là phần trăm người cao tuổi trong tổng dân số.

    Một xã hội khi tỉ lệ già hóa vượt 7% sẽ được gọi là xã hội già hóa, trên 14% là xã hội già, và trên 21% là xã hội siêu già.

    Tình trạnh già hóa dân số ở Nhật đã vượt qua và bước vào xã hội siêu già hóa vào năm 2022, với tỉ lệ già hóa là 28.1%

     Nguyên nhân chính và diễn biến tình trạng xã hội già ở Nhật Bản

    Từ 25 năm trước Nhật Bản đã tiến vào xã hội già, với tỉ lệ người cao tuổi 14.6%, vượt mức 14% vào năm 1995. Và tỉ lệ này vào năm 2010 là 23%, trên mức 21%, bước tiếp vào xã hội siêu già.

    Năm 2022, tỉ lệ người cao tuổi trong bối cảnh già hóa này là 28.1%, gần 30% tổng dân số.

    Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng này.

    Thứ nhất, do sự phát triển của y học và thay đổi của cuộc sống, tuổi thọ trung bình ngày càng tăng lên. Nhật Bản năm 2022 có tuổi thọ trung bình của nam giới là 81.09 và của nữ giới là 87.26

    Cùng với sự gia tăng của lớp dân số trên 65 tuổi, số lượng người tử vong cũng có xu hướng tăng. Tuy nhiên, Age-adjusted Mortality Rate (tạm dịch: tỉ suất tử hiệu chỉnh cơ cấu tuổi) (tức tỉ lệ tử vong điều chỉnh cơ cấu độ tuổi) lại có xu hướng giảm.

    Một nguyên nhân khác là do sự gia tăng hiện tượng giảm tỉ lệ sinh.

    Số lượng trẻ em sinh ra đạt mức cao nhất trong cuộc bùng bổ sinh sản (baby boom) lần thứ hai vào những năm 1970, sau đó có xu hướng giảm. Năm 2022, con số này là 940 nghìn người, tỉ suất sinh thô (số lượng trẻ em sinh ra trong 1000 dân) là 7.6. Năm 2022 là năm đầu tiên số trẻ em sinh ra trong năm giảm xuống dưới 1 triệu trẻ, và đến giờ tình trạng giảm thiểu dân số này vẫn đang tiếp tục diễn biến.

    Ngoài ra, tổng tỉ suất sinh* kể từ sau cuộc bùng nổ sinh sản lần thứ nhất đã hạ xuống, vào năm 1947 vẫn là 4.32, giảm xuống mức thấp nhất vào năm 2005 là 1.26, và đến thời điểm năm 2022 vẫn duy trì ở con số khiêm tốn 1.43

    Tổng tỉ suất sinh* = tổng các tỉ lệ sinh theo độ tuổi của nữ giới từ 15 đến 59 tuổi, tương ứng với số lượng trẻ em mỗi người phụ nữ sinh ra trong cuộc đời chia theo tỉ suất sinh độ tuổi trong mỗi năm.

    Nhật Bản từ 25 năm trước đã bước vào xã hội già, tiến tới xã hội siêu già năm 2010 với tỉ lệ già hóa đạt 23%, vượt mốc 21%

    Bên cạnh sự kéo dài tuổi thọ trung bình do tiến bộ y học, thì số lượng trẻ em sinh ra giảm, hay sự giảm tỉ lệ sinh được chỉ ra là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng già hóa dân số gia tăng.

     Những ảnh hưởng của già hóa dân số ở Nhật 

    “Tăng trưởng kinh tế” và “Chế độ phúc lợi xã hội” đang trở thành 2 vấn đề lớn gây ra bởi hiện tượng già hóa.

    Tăng trưởng kinh tế bị chi phối bởi lực lượng lao động, song nguồn dân số này lại đang giảm thiểu nhanh chóng do sự gia tăng của già hóa và giảm tỉ lệ sinh.

    Các chế độ phúc lợi xã hội như tiền lương hưu hay điều dưỡng cũng chịu sự tác động của lực lượng lao động. Dân số lao động giảm, số lượng người già tăng, kết quả là tỉ lệ phần trăm số người lao động trong tổng dân số giảm.

    Ngoài ra, lực lượng lao động giảm cũng khiến thị trường nội địa bị thu hẹp, sức hấp dẫn đầu tư giảm. Tiềm năng tăng trưởng trong nhiều lĩnh vực, tiêu biểu là kinh tế cũng giảm sút theo. Chính vì vậy gần đây Nhật Bản đã mở của để các bạn đi du học Nhật Bảnxuất khẩu lao động Nhật Bản với thị trường Việt Nam nhều hơn

    Một ảnh hưởng khác tới chế độ phúc lợi xã hội, là sự gia tăng gánh nặng lên mỗi cá nhân do dân số già hóa. Số người chăm sóc cho một người cao tuổi là 11.2 người vào năm 1960, 7.4 người năm 1980, và giảm còn 2.4 người năm 2004.

    Nếu tình trạng này cứ tiếp tục diễn biến, đến năm 2060, sẽ chỉ còn khoảng 1 người để hỗ trợ cho mỗi người cao tuổi. Sự cân bằng giữa sự gánh nặng và trợ cấp trong phúc lợi xã hội (tiêu biểu là chi phí y tế, phí điều dưỡng) sẽ sụp đổ.

    Hiện tượng già hóa dân số gia tăng phát sinh các vấn đề lớn về tăng trưởng kinh tế và chế độ phúc lợi xã hội.

    Do già hóa dân số và giảm tỉ lệ sinh, lực lượng lao động giảm, dẫn tới sự trì trệ của tăng trưởng kinh tế.

    Nguồn tham khảo https://gooddo.jp/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản Và Những Hệ Luỵ Của Nó
  • Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “Già” Rất Nhanh
  • Bản Chất Xung Đột Lao Động Và Cách Khắc Phục
  • Những Phương Pháp Giải Quyết Xung Đột Nơi Công Sở Mà Nhà Quản Lý Cần Biết
  • Chi Phí Đại Diện Thực Tiễn Và Giải Pháp
  • Kinh Tế Nhật Bản Trước Vấn Đề Dân Số Già

    --- Bài mới hơn ---

  • Vật Lộn Với Dân Số Già, Nhật Cảnh Báo Các Nước Trước Khi Quá Muộn
  • Già Hóa Dân Số Đe Dọa Tương Lai Của Hàn Quốc
  • Đề Án Chăm Sóc Sức Khỏe Người Cao Tuổi
  • Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Ứng Phó Với Thực Trạng “già Hóa Dân Số”
  • BNEWS Dân số giảm và ngày càng già hóa đang khiến Nhật Bản rơi vào tình trạng thiếu lao động trầm trọng, cùng với đó nhiều địa phương việc duy trì dịch vụ hành chính đang trở nên khó khăn bởi dân số quá ít.

    Trước tình trạng trên, các nhà nghiên cứu cảnh báo cơ quan hành chính địa phương của Nhật Bản sẽ không thể duy trì được chức năng hỗ trợ cuộc sống của người dân và hoạt động sản xuất. Gánh nặng đối với người dân các địa phương của Nhật Bản sẽ ngày càng tăng.

    Các trường học nhiều khả năng phải gộp lại do không đủ lượng học sinh cần thiết, các tuyến đường sắt, xe buýt phải đóng cửa, nhiều gói chính sách miễn phí cũng phải giảm bớt.

    Nhật Bản đang duy trì hai cấp hành chính quận, huyện thị xã và cấp tỉnh tại các địa phương. Tuy nhiên, nếu dân số giảm nhanh chóng, cấp hành chính này sẽ khó có thể duy trì tại tất cả các địa phương.

    Mô hình các khu vực liên kết gồm những quận, huyện, thị xã gần nhau, đặt trung tâm tại các đô thị có dân số trên 200.000 người đang là hướng đi được đề xuất tại Nhật Bản.

    Thành công của chính sách kinh tế Abenomics trong tương lai có thể nói đang phụ thuộc nhiều vào chính sách nhập cư. Không có chính sách nhập cư phù hợp, tình trạng thiếu lao động sẽ cản trở sự phát triển bền vững của kinh tế Nhật Bản.

    Theo tạp chí “The Diplomat”, chính quyền ông Abe đang phải vật lộn với khả năng có thể thiếu hụt tới 7,9 triệu lao động vào năm 2030, cùng với chi phí an sinh xã hội gia tăng do tình trạng dân số già.

    Để duy trì dân số ở mức 100 triệu, theo lý thuyết, Nhật Bản phải chấp nhận một con số khổng lồ khoảng 200.000 người nhập cư mỗi năm, và tỷ lệ sinh phải nâng từ mức 1,42 thành 2,07 vào năm 2030.

    Mục tiêu thu hút 500.000 lao động nước ngoài vào năm 2025 được ông Abe đưa ra, đồng nghĩa với việc trong vòng 7 năm, mỗi năm Nhật Bản sẽ tiếp nhận trung bình 71.430 lao động.

    Thực hiện mục tiêu trên, ông Abe đã có hai điều chỉnh lớn trong quy định về lao động nước ngoài.

    Thứ nhất, đó là việc bổ sung thị thực lao động mới cho năm lĩnh vực như nông nghiệp, xây dựng, chăm sóc người cao tuổi…, dự kiến có hiệu lực từ tháng 4/2019. Ông Abe đã đưa ra gợi ý về chính sách mới này vào tháng Hai năm nay.

    Thứ hai, cho phép gia hạn thị thực của lao động nước ngoài thêm 2 năm, sau khi kết thúc thời gian lao động 3 năm. Như vậy, một lao động nước ngoài tại Nhật Bản có thể kéo dài thời gian lên tới 5 năm.

    Các nhà kinh tế Nhật Bản từ lâu đã tìm cách đẩy mạnh thu hút lao động nhập cư vào nước này. Tuy nhiên, điều này đã gặp nhiều trở ngại bởi đây là vấn đề chính trị nhạy cảm xuất phát từ các nỗi sợ hãi như tội phạm gia tăng, sự phản ứng dữ dội của người dân giống như ở các nước châu Âu.

    Kế hoạch thu hút lao động mới nhất mà ông Abe tuyên bố là một sự thay đổi đáng kể cách thức tiếp nhận lao động nước ngoài của Nhật Bản.

    Tuy nhiên, rõ ràng đây chỉ là giải pháp tạm thời bởi những lao động dù được gia hạn thị thực lên tới 5 năm, nhưng cuối cùng họ vẫn phải trở về nhà.

    Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình vào năm 2014, ông Abe cho biết Nhật Bản không chấp nhận chính sách nhập cư giống như Mỹ, tức lao động được ở lâu dài.

    Giáo sư Toru Shinoda, một chuyên gia về lao động tại Đại học Waseda ở Tokyo, cho rằng đề xuất mở rộng lực lượng lao động nước ngoài là một hướng đi đúng trong việc đảm bảo tương lai của đất nước, nhưng chính sách đã bị hiểu sai bởi một nguyên tắc huyền thoại của nước này đó là tính đồng nhất dân tộc.

    Ông Shinoda cho biết trước Chiến tranh thế giới thứ II, trong lịch sử, Nhật Bản đã từng chấp nhận khoảng 1 triệu người nhập cư và đưa 100.000 người nước này định cư khắp thế giới.

    Sáng kiến về “Phụ nữ” được ông Abe công bố vào năm 2022 với mục tiêu ban đầu đầy tham vọng là đưa tỷ lệ nữ chiếm 30% các vị trí lãnh đạo trong mọi lĩnh vực vào năm 2022.

    Tuy nhiên, tại các doanh nghiệp đây là mục tiêu không thực tế, vì vậy đã phải giảm xuống còn 15% vào năm 2025.

    Giáo sư đại học Waseda cũng cho rằng cùng với sự nổi lên của Trung Quốc và Đông Nam Á, Nhật Bản phải thực tế hơn và nhìn nhận thẳng thắn vấn đề là nước này cần lao động nước ngoài hơn là lao động nước ngoài cần Nhật Bản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dân Số Nhật Bản Đang Già Hóa, Người Nhật Đang Có Giải Pháp Tăng Dân Số
  • Chăm Sóc Người Cao Tuổi
  • Chính Sách An Sinh Xã Hội Đối Với Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam
  • Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam: Một Góc Nhìn Khác
  • Từ Xu Hướng Già Hóa Dân Số Nhanh Ở Việt Nam Cơ Hội Và Thách Thức
  • Nhật Bản: Hệ Lụy Từ Cơ Cấu Dân Số Già

    --- Bài mới hơn ---

  • Phó Thủ Tướng Thường Trực Chính Phủ Trương Hòa Bình Yêu Cầu::tăng Cường Siết Chặt Các Biện Pháp Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • Tăng Cường Siết Chặt Các Biện Pháp Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • Cao Bằng: Triển Khai Đồng Bộ Các Biện Pháp Đảm Bảo Trật Tự Atgt
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông Đường Thủy Nội Địa
  • Hiện Trạng Và Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông Đường Thủy Nội Địa
  • (Toquoc)-Dân số già đang đe dọa nghiêm trọng tốc độ phát triển kinh tế, ổn định an ninh xã hội và vị thế Nhật Bản trên trường quốc tế.

    Cùng với nhiều nhân tố khác, tốc độ tăng trưởng dân số và tiến bộ khoa học kỹ thuật là hai yếu tố quan trọng hàng đầu chi phối tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong đó, tiến bộ khoa học công nghệ lại phụ thuộc vào trình độ con người, do đó nhân lực chính là vấn đề then chốt. Hiện nay, Trung Quốc đã chính thức vượt Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Những dự báo cho rằng, Bắc Kinh sẽ vượt Washington, trở thành nền kinh tế số 1 thế giới vào năm 2030 đang hiện hữu ngày càng rõ nét khi nước này sở hữu lực lượng lao động dồi dào và trình độ tay nghề ngày càng được cải thiện.

    Trái ngược với sự gia tăng dân số nhanh chóng của Trung Quốc và Ấn Độ, vấn đề dân số giảm, người già chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong cơ cấu dân số đang là thách thức đe dọa tốc độ phát triển kinh tế và xã hội Nhật Bản. Dân số nước này đạt kỷ lục 127.770.000 người năm 2004. Tuy nhiên, theo dự báo của Viện Nghiên cứu Quốc gia về Dân số và An ninh Xã hội Nhật Bản, đến năm 2055, dân số nước này sẽ giảm xuống chỉ còn 90 triệu người. Tuổi bình quân của người Nhật hiện nay là 45, dự kiến sẽ tăng lên 55 vào năm 2055. Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động so với người hết tuổi lao động ở nước này giảm từ 10:1 năm 1960, xuống còn 3:1 hiện nay, và sẽ chỉ còn 1:1 vào năm 2055.

    Hệ lụy

    Dân số già kéo theo một loạt vấn đề, đe dọa tốc độ phát triển kinh tế, an ninh trật tự xã hội cũng như vị thế Nhật Bản trên trường quốc tế.

    Trong những năm tới, công tác y tế và chăm sóc người già sẽ là vấn đề ngày càng nan giải đối với các nhà hoạch định chính sách xứ sở mặt trời mọc. Dù rô-bốt sẽ được sử dụng nhiều hơn trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe hay dịch vụ tại nhà, Nhật Bản vẫn thiếu hụt đội ngũ chăm sóc y tế bởi số lượng người già ngày càng lớn, kéo theo nhu cầu ngày càng nhiều. Cùng với người chăm sóc, Nhật Bản sẽ phải trang trải ngày càng nhiều để hiện đại hóa hệ thống bệnh viện, trại dưỡng lão cũng như thuốc men để đảm bảo cuộc sống cho những người này.

    Giải pháp

    Giới phân tích cho rằng, để giảm bớt khó khăn cho bài toán dân số hiện nay, Chính phủ Nhật Bản cần thực hiện các biện pháp sau:

    Thế Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Địa Lý Lớp 10 Chuyên Đề Cơ Cấu Dân Số (Phần 1)
  • Kích Hoạt Các Sự Kiện Kích Cầu Tiêu Dùng
  • Định Hướng Xuất Khẩu Làm Khó Chính Sách Kích Cầu Tiêu Dùng Nội Địa
  • Quảng Ninh Phát Động Triển Khai Các Biện Pháp Kích Cầu Du Lịch
  • Chính Phủ Đang Kích Cung Nhiều Hơn Kích Cầu?
  • Vấn Đề Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản Và Những Hệ Luỵ Của Nó

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản Và Những Ảnh Hưởng Đến Kinh Tế, Xã Hội
  • Tư Vấn & Tuyển Sinh Du Học Nhật Bản
  • Bài Toán “Chăm Sóc Người Cao Tuổi, Thích Ứng Với Già Hóa Dân Số”
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Để Phòng Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống Và Những Biểu Hiện “tự Diễn Biến”, “tự Chuyển Hóa” Của Mỗi Cán Bộ Đảng Viên
  • Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Trong Các Loại Hình Chi Bộ Ở Đảng Bộ Khối Cơ Quan Và Doanh Nghiệp Tỉnh
  •  

    1. Tình trạng già hoá dân số ở Nhật Bản

     

     

    Theo số liệu thống kê mới nhất của Liên Hợp Quốc, dân số hiện tại của Nhật Bản là 126.557.647 người. Dân số Nhật chiếm 1,63% dân số thế giới. 

    Trong năm 2022 này, người ta dự kiến rằng dân số Nhật Bản sẽ giảm 425.657 người. Gia tăng dân số tự nhiên được dự báo là âm, vì số lượng người sinh ra sẽ ít hơn số lượng người chết:

    – Có 2.530 trẻ em được sinh ra trung bình mỗi ngày.

    – 3.762 người chết trung bình mỗi ngày.

    – 66 người di cư trung bình mỗi ngày.

    Vậy ước tính dân số Nhật Bản sẽ giảm trung bình 1.166 người mỗi ngày trong năm 2022. 

    Hiện tại số người từ 65 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao ở Nhật, trong khi đó số người trong độ tuổi từ 14 trở xuống tiếp tục có xu hướng giảm mạnh. Vấn đề này đã diễn ra ở Nhật Bản khá lâu và ngày càng nghiêm trọng.

     

    2. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng già hoá dân số ở Nhật bản

     

    – Nguyên nhân hàng đầu đó là do thiếu ổn định về kinh tế: Tuy Nhật Bản là một nước có nền kinh tế hàng đầu, tỷ lệ người dân thất nghiệp khá thấp. Nhưng gần đây tỷ lệ công việc không ổn định càng nhiều, cộng với áp lực toàn cầu hoá bắt buộc các doanh nghiệp phải cắt giảm bớt nguồn nhân sự. Vì thế nhiều bạn trẻ rơi vào tình trạng thất nghiệp và không có khả năng nghĩ đến việc lập gia đình. 

     

     

    – Tỷ lệ không muốn kết hôn tăng: Trước đây tỷ lệ kết hôn và sinh con trước tuổi 30 khá là cao. Nhưng hiện tại tỷ lệ này đã suy giảm. Càng lúc càng có nhiều người không muốn kết hôn, cho nên đây chính là một trong những nguyên nhân khiến cho tỷ lệ trẻ em giảm mạnh trong những năm gần đây.

    – Kết hôn muộn và sinh muộn: Hiện tại có rất nhiều bạn mong muốn kết hôn muộn, bởi vì các bạn điều mong muốn phải có được sự nghiệp và kinh tế ổn định. Chính điều đó đã dẫn đến kết hôn và sinh con muộn, thì dẫn đến tỷ lệ sinh con thứ 2 và thứ 3 rất thấp.

     

    3. Những ảnh hưởng của vấn đề già hoá dân số đối với nhật Bản

     

     

    – Kinh tế suy giảm: Chính Phủ Nhật Bản phải sử dụng nhiều ngân sách cho các chương trình phúc lợi xã hội, chính điều này đã làm cho cơ cấu tài chính quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng. 

    – Lỗ hổng giữa các thế hệ ngày càng gia tăng: Do nhiều người già có ảnh hưởng lớn trong các lĩnh vực chính trị nên chính sách quốc gia sẽ chú ý nhiều hơn tới các chương trình phúc lợi xã hội như y tế, lương hưu… Điều này đã làm dấy lên làn sóng phản đối từ các thế hệ trẻ, đe dọa đến sự thống nhất vốn có trong xã hội Nhật Bản.

    – Địa vị trên quốc tế suy giảm.

     

    4. Những giải pháp nhằm giải quyết tình trạng già hoá dân số và cải thiện nền kinh tế

     

     

    – Gia tăng tỷ lệ sinh nở ở Nhật Bản: Giới trẻ ở Nhật hiện tại đang có xu hướng kết hôn muộn, bởi vì không đủ điều kiện kinh tế. Vậy trước hết để gia tăng tỷ lệ sinh nở, Nhật Bản cần giải quyết vấn đề việc làm cho các bạn trẻ, nhằm cải thiện cuộc sống từ đó gia tăng độ tuổi kết hôn. 

    – Nhật Bản cần gia tăng xây dựng các hệ thống y tế, dịch vụ chăm sóc cho trẻ em, thay vì cứ chú trọng quá nhiều cho người cao tuổi. 

    – Có nhiều biện pháp giúp phụ nữ và người già tham gia vào quá trình lao động thông qua việc cải thiện môi trường làm việc và môi trường xã hội. 

    – Phải có những biện pháp nhằm thu hút nguồn lao động nước ngoài đến làm việc và cống hiến. Nếu thu hút được đội ngũ tri thức trình độ cao, Nhật Bản sẽ có nhiều chương trình thúc đẩy kinh tế cũng như các lĩnh vực khác, và khi đó vị thế của Nhật Bản trên trường quốc tế cũng được cải thiện với những đóng góp xứng đáng.

     

    Không chỉ riêng gì Nhật Bản mà các nước khác trên thế giới cũng đang dần dần rơi vào tình trạng già hoá dân số này. Các nước càng đẩy mạnh thêm nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng này xảy ra. Mong rằng bài viết này đã cập nhật cho các bạn được những thông tin hữu ích. 

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “Già” Rất Nhanh
  • Bản Chất Xung Đột Lao Động Và Cách Khắc Phục
  • Những Phương Pháp Giải Quyết Xung Đột Nơi Công Sở Mà Nhà Quản Lý Cần Biết
  • Chi Phí Đại Diện Thực Tiễn Và Giải Pháp
  • Giải Pháp Đối Với Vấn Đề Đại Diện (Agency Problem) Trong Doanh Nghiệp
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100