Top 5 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Hạn Chế Việc Gia Tăng Dân Số Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Tốc Độ Gia Tăng Dân Số Đã Được Khống Chế

Bà Đỗ Thị Hồng, Phó vụ trưởng Vụ Truyền thông giáo dục (Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế) phát biểu tại Hội nghị.

Sáng 30/12, tại TP.Hội An (tỉnh Quảng Nam), Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Hội nghị cung cấp thông tin cho các nhà báo, cán bộ truyền thông cấp tỉnh về dân số và phát triển.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã nghe các chuyên gia chia sẻ, quán triệt về 03 chuyên đề: Một số nội dung chính của Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030; kỹ năng viết bài, đưa tin các nội dung về dân số và phát triển trong Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030; Kỹ năng truyền thông chuyển đổi hành vi về dân số và phát triển trong Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030.

Theo Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1679/QĐ-TTg, ngày 22/11/2019: Mục tiêu tổng quát của Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 là “Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng; phân bổ dân số hợp lý và nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững”.

Chiến lược Dân số Việt Nam lần này cũng đặt ra 8 mục tiêu cụ thể đến năm 2030. Trong đó, có một số mục tiêu quan trọng như: Duy trì mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con; quy mô dân số 104 triệu người), giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn, thành thị, miền núi và đồng bằng; 50% số tỉnh đạt mức sinh thay thế; mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại, phòng tránh vô sinh và hỗ trợ sinh sản; giảm 2/3 số vị thành niên, thanh niên có thai ngoài ý muốn.

Đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, phấn đấu duy trì cơ cấu tuổi ở mức hợp lý: Tỉ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; tỉ lệ người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%; tỉ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 49%.

Nâng cao chất lượng dân số với tỉ lệ cặp nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 90%; giảm 50% số cặp tảo hôn, giảm 60% số cặp hôn nhân cận huyết thống; 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam đạt 168,5 cm, nữ đạt 157,5 cm; chỉ số phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á….

Theo bà Đỗ Thị Hồng, Phó vụ trưởng Vụ Truyền thông giáo dục (Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế), sau 58 năm, với sự vào cuộc và chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương xuống cơ sở cùng với sự phối hợp của các bộ, ban, ngành đoàn thể, các tổ chức quốc tế và các nhà báo, phóng viên, cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống làm công tác dân số, công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế, hiện nay dân số nước ta là 96,2 triệu người, Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế trung bình mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con từ năm 2006, sớm 10 năm so với mục tiêu đề ra và tiếp tục duy trì cho đến nay; cơ cấu dân số chuyển dịch tích cực, dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh, nước ta bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007; chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt, tuổi thọ trung bình đạt 73,6 tuổi, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người; tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em giảm mạnh; tầm vóc, thể lực người Việt Nam có bước cải thiện; dân số đã có sự phân bố hợp lý hơn, gắn với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; nhận thức về dân số – kế hoạch hóa gia đình của các cấp, các ngành và toàn dân có bước đột phá; mỗi cặp vợ chồng có 2 con đã trở thành chuẩn mực, lan tỏa, thấm sâu trong toàn xã hội; dịch vụ dân số – kế hoạch hóa gia đình được mở rộng”- bà Đỗ Thị Hồng cho biết.

Tuy nhiên, cũng theo bà Hồng, trước yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở hiện tại và tương lai, công tác dân số đặt trong mối quan hệ với kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh với nhiều khó khăn, thách thức như: mức sinh giữa các vùng có chênh lệch khá lớn (TP Hồ Chí Minh là 1,39 con, Hà Tĩnh là 2,83 con), tạo nguy cơ tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng và khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư. Xu thế mức sinh giảm xuống quá thấp đã xuất hiện ở nhiều khu vực. Mất cân bằng giới tính khi sinh tăng nhanh, đã ở mức nghiêm trọng (111,5 bé trai/100 bé gái). Lợi thế dân số vàng chưa được tận dụng tốt. Già hóa dân số diễn ra với tốc độ mau lẹ, song các giải pháp thích ứng chưa được triển khai. Chất lượng dân số còn nhiều hạn chế. Quản lý dân cư phân tán, lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội hiện đại./.

Giải Pháp Vấn Đề Gia Tăng Dân Số

Giải Pháp Vấn Đề Gia Tăng Dân Số, Đề Tài Giải Pháp Tăng Doanh Thu, Giải Pháp Tăng Cường Công Tác Tư Tưởng Của Đảng, Nhiệm Vụ Giải Pháp Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Đối Ngoại, Chỉ Thị Về Việc Tăng Cường Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Học Đường Trong Cơ Sở Giáo Dục, Mot So Giai Phap Ket Hop Phat Trien Kinh Te-xa Hoi Voi Tang Cuong An Ninh Quoc Phong, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2020 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2020 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chính Nhằm Kiện Toàn Hệ Thống Bảo Tàng Trong Phạm Vi Cả Nước, Giải Pháp Hoàn Thiện The Chế Gan Ket Tang Truong Kinh Kinh Tế, Cơ Cấu Xã Hội Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp Tầng Lớp Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin Về Cơ Cấu Xã Hội – Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp, Tầng Lớp Tron, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin Về Cơ Cấu Xã Hội – Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp, Tầng Lớp Tron, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Pháp Hành Trì Đức Bồ Tát Địa Tạng, Biện Pháp Tăng Cươ, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Vũ Mai Phương, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 2) Pdf, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 1), Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 1) Pdf, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80, Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩap; Văn Hóa Nền Tảng, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay. , Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Phân Tích Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 Tập 1, Mẫu Bản Giải Trình Tăng Vốn Đầu Tư, Chỉ Thị Số 26 Của Bộ Chính Trị Về Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Các Cơ Quan Bảo Về Pháp L, Chỉ Thị Số 26 Của Bộ Chính Trị Về Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Các Cơ Quan Bảo Về Pháp L, Các Đồng Chí Hẫy Trình Bày Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Tron Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn H, Su Swagatam Song Lyricscan Thiey Bien Phap Tang Cuong Quang, Hãy Giải Thích Bản Chất Của Dự Trữ Quốc Gia Vì Sao Việt Nam Phải Tăng Quy Mô , Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai , Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai, Nhiệm Vụ Và Giai Pháp Xây Dựng Đẳn Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Tăng Trưởng Kinh Tế Việt Nam Giai Đoạn 2010- 2019, Hãy Phân Tích Sự Khác Nhau Giữa Các Tầng Lớp Giai Cấp Trong Xã Hội, Vì Sao Phải Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Và Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế Của Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay? P, Vì Sao Phải Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Và Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế Của Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay? P, Nội Dung Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Mối Quan Hệ Xã Hội Cuối, ông Chí Cho Biết Các Biện Pháp Tăng Cương Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình, Đông Chí Cho Biết Các Biện Pháp Tăng Cương Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tìn, Những Bien Pháp Tăng Cường Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mói, Đồng Chí Cho Biếtcác Biện Pháp Tăng Cường Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình, Biện Pháp Tăng Cường Mối Quan Hệ Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở, Bản Mô Tả Giải Pháp Hữu ích, Giải Pháp, Giai Phap Co Ban, Giải Pháp Hữu ích, Bản Mô Tả Giải Pháp Dự Thi, Giải Pháp Khu Vực Phòng Thủ, Giải Pháp Đại Hội Đảng 8, Bản Mô Tả Giải Pháp Skkn, Yêu Cầu Giải Pháp Nâng Cao, Đơn Đăng Ký Giải Pháp Hữu ích, Thủ Tục Đăng Ký Giải Pháp Hữu ích, Giải Pháp Cho Vinfast, Giải Pháp E Marketing, Sự Cần Thiết Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân Trong Tình Hình Mới, Những Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hôi Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hì, Bien Phap Tang Cương Quan Lý Các Moi Quan He Quan Nhan Tring Tinh Hinh Moi, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Những Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sơ, Những Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sơ, Những Biện Pháp Tu Táp Tăng Chiều Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở, Những Biện Pháp Tu Táp Tăng Chiều Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở , Nêu Yêu Cầu, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Môi Quan Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hì, Yêu Câu Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình, Nêu Yêu Cầu, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Môi Quan Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hì, Yêu Câu Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình , êu Yêu Cầu, Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Môi Quan Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Tình Hìn, Đồng Chí Cho Biết Các Biện Pháp Tăng Cường Quản Lý Các Mối Quan Hệ Xã Hội Của Quân Nhân ở Đơn Vị Cơ, Giải Pháp Quản Lý Môi Trường, Nhiệm Vụ, Giải Pháp Về Bảo Vệ Môi Trường, Phương Pháp Giải Bài Toán Hỗn Hợp, Giải Pháp Xây Dựng Đoàn Kết Nội Bộ, Giải Pháp Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Đáp án Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh, Phương Pháp Giải Toán 8, Giải Pháp Marketing Online, Giải Pháp Sẵn Sàng Đối Phó Của Hội Chữ Thập Đỏ, Giải Pháp Với Khách Hàng, Cac Giai Phap An Ninh Quoc Gia, 7 Giải Pháp Nghị Quyết 36, Bài Giải Phương Pháp Tính, Giai Phap Nang Cao Y Duc Cua Can Bo Nghanh Y Te, Phương Pháp Giải Bài Tập ăn Mòn Kim Loại, Mục Tiêu, Giải Pháp Vấn Đề Tôn Giáo, Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh,

Giải Pháp Vấn Đề Gia Tăng Dân Số, Đề Tài Giải Pháp Tăng Doanh Thu, Giải Pháp Tăng Cường Công Tác Tư Tưởng Của Đảng, Nhiệm Vụ Giải Pháp Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Đối Ngoại, Chỉ Thị Về Việc Tăng Cường Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Học Đường Trong Cơ Sở Giáo Dục, Mot So Giai Phap Ket Hop Phat Trien Kinh Te-xa Hoi Voi Tang Cuong An Ninh Quoc Phong, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2020 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2020 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chính Nhằm Kiện Toàn Hệ Thống Bảo Tàng Trong Phạm Vi Cả Nước, Giải Pháp Hoàn Thiện The Chế Gan Ket Tang Truong Kinh Kinh Tế, Cơ Cấu Xã Hội Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp Tầng Lớp Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin Về Cơ Cấu Xã Hội – Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp, Tầng Lớp Tron, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lênin Về Cơ Cấu Xã Hội – Giai Cấp Và Liên Minh Giai Cấp, Tầng Lớp Tron, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Pháp Hành Trì Đức Bồ Tát Địa Tạng, Biện Pháp Tăng Cươ, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Vũ Mai Phương, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 2) Pdf, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 1), Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 1) Pdf, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80, Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩap; Văn Hóa Nền Tảng, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay. , Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Phân Tích Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 Tập 1, Mẫu Bản Giải Trình Tăng Vốn Đầu Tư, Chỉ Thị Số 26 Của Bộ Chính Trị Về Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Các Cơ Quan Bảo Về Pháp L, Chỉ Thị Số 26 Của Bộ Chính Trị Về Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Các Cơ Quan Bảo Về Pháp L, Các Đồng Chí Hẫy Trình Bày Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Tron Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn H, Su Swagatam Song Lyricscan Thiey Bien Phap Tang Cuong Quang, Hãy Giải Thích Bản Chất Của Dự Trữ Quốc Gia Vì Sao Việt Nam Phải Tăng Quy Mô , Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai , Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai, Nhiệm Vụ Và Giai Pháp Xây Dựng Đẳn Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Tăng Trưởng Kinh Tế Việt Nam Giai Đoạn 2010- 2019, Hãy Phân Tích Sự Khác Nhau Giữa Các Tầng Lớp Giai Cấp Trong Xã Hội, Vì Sao Phải Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Và Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế Của Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay? P, Vì Sao Phải Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Và Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế Của Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay? P,

Sự Gia Tăng Dân Số Châu Á

Hình ảnh những đoàn tàu chật kín người cả trong lẫn ngoài khá phổ biến ở Ấn Độ (Ảnh: Business Insider)

Tốc độ tăng trưởng dân số của khu vực châu Á luôn ở mức cao, con số này tăng lên gấp 4 lần trong vòng 1 thế kỷ qua. Tăng trưởng dân số trong tương lai phụ thuộc nhiều vào khả năng sinh sản. Mức sinh toàn cầu được dự báo sẽ giảm từ 2,5 trẻ/phụ nữ trong gian đoạn 2010-2015 xuống còn 2,4 trẻ/phụ nữ vào giai đoạn 2025-2030 và còn 2,0 trẻ/phụ nữ vào giai đoạn 2095-2100. Tuy nhiên, đối với các nước có mức sinh cao thì không có sự chắc chắn trong việc dự báo mức sinh. Ở những nước này, người phụ nữ có trung bình 5 con trở lên trong suốt cuộc đời của họ. Trong số 21 quốc gia có khả năng sinh sản cao, có 19 quốc gia thuộc khu vực châu Phi và 2 quốc gia ở châu Á.

Mặc dù, châu Á có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng sinh học, nhưng sự gia tăng dân số nhanh dẫn đến sự thiếu hụt nguồn lực, đồng thời phá hủy những nguồn tài nguyên hiện có. Theo dự báo, dân số châu Á sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao trong một thời gian dài, điều này sẽ tiếp tục gây áp lực lên các nguồn lực. Dựa trên các ước tính hiện tại, đến năm 2050, dân số sẽ tăng ở hầu hết các quốc gia trong khu vực châu Á, ngoại trừ ở Nhật Bản và Kazakhstan. Một số quốc gia bao gồm Afghanistan, Nepal và Pakistan sẽ tăng gấp đôi về dân số trong thời gian này, trong khi Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia và các quốc gia khác có tỷ lệ tăng trưởng cao đặc biệt. Tuy nhiên, nhiều quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng dân số thuộc nhóm cao lại là những quốc gia có thu nhập thuộc nhóm thấp, các nước này ít có khả năng xử lý được những áp lực về tài nguyên và các nguồn lực.

Người Trung Quốc chen chúc trong một hồ bơi (Ảnh: Business Insider).

Nam Á là khu vực đông dân nhất châu Á, với các quốc gia đông dân điển hình như Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Không có khu vực nào trên thế giới có những vấn đề về dân số nghiêm trọng như những nước ở khu vực này. Sự sụt giảm mức sinh ở Sri Lanka, Pakistan và Ấn Độ gần đây chỉ mang lại sự cải thiện không đáng kể, vì số dân hiện tại của các quốc gia này vẫn tiếp tục gia tăng. Áp lực về dân số bắt đầu hiện hữu ở khu vực Nam Á từ những thập niên sau cai trị của đế quốc Anh. Khu vực này cần có những biện pháp để cải thiện chất lượng y tế công cộng, nâng cao năng suất nông nghiệp, xây dựng luật pháp và trật tự xã hội, giảm tần suất và mức độ nghiêm trọng của nạn đói, giảm tỷ lệ tử vong và đồng thời tăng tuổi thọ.

Cấu trúc nhân khẩu học của các quốc gia Nam Á được mô tả bằng hình ảnh kim tự tháp tuổi và giới tính của Ấn Độ, trong đó nhóm tuổi trẻ là lớn nhất. Gần 40% dân số khu vực này dưới 15 tuổi (đối với các quốc gia Nepal và Bangladesh, con số này lần lượt là 42% và 45%). Cấu trúc tuổi này gây áp lực lên việc cung cấp các dịch vụ giáo dục, thực phẩm, bệnh viện và nhà ở cho thanh thiếu niên, tiêu tốn một phần lớn ngân sách quốc gia. Việc xem xét các kim tự tháp dân số đặc biệt hữu ích trong việc đánh giá các xu hướng trong tương lai.

Khi dân số trẻ chuyển sang khung tuổi trưởng thành (có nghĩa là di chuyển vào nhóm tuổi lao động), các chương trình phúc lợi xã hội sẽ còn đối mặt với nhiều áp lực hơn. Các vấn đề như thất nghiệp, thiếu lương thực, mù chữ và điều kiện sống thấp tại các quốc gia này sẽ còn trầm trọng hơn. Tình trạng hiện nay đã rất nghiêm trọng, tuy nhiên, dự báo trong tương lai thậm chí còn tồi tệ hơn.

Dân số đông đi kèm với tình trạng nghèo đói (Ảnh: Reuters).

Nhìn chung, phần đông số dân trong độ tuổi lao động ở châu Á làm việc trong điều kiện khan hiếm nguồn lực, công nghệ lạc hậu và môi trường không an toàn. Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng lao động kém hiệu quả. Ví dụ, trên một trang trại điển hình hoặc một văn phòng nhà nước, có đến 5 hay nhiều lao động sẵn sàng làm công việc mà chỉ 2 người có thể thực hiện dễ dàng. Trong các nhà máy, nhiều hoạt động được xử lý thủ công bởi nhân công giá rẻ. Tuy nhiên, hàng triệu người vẫn thất nghiệp.

Tại Indonesia, các chuyên gia nhân khẩu học đã cảnh báo về thời kỳ bùng nổ dân số sắp diễn ra. Nếu sự gia tăng dân số tiếp tục với nhịp độ cao thì Indonesia sẽ phải đối mặt với những vấn đề tồi tệ như tình trạng thiếu nhà ở, nước và lương thực, sự tàn phá thiên nhiên. Trong nhiều năm gần đây, quốc gia này đã phải nhập khẩu thực phẩm cơ bản bởi không đủ ruộng đất trồng lương thực.

Một vấn đề về dân số khác mà các quốc gia châu Á đặc biệt là khu vực Đông Nam Á đang phải đối diện, đó là tình trạng đô thị hóa nhanh. Trong thập kỷ qua, quá trình đô thị hóa ở nhiều khu vực không thực sự mang lại cho người dân ở đó mức sống tốt hơn. Thậm chí, còn có lo ngại rằng, khu vực Đông Nam Á có thể sẽ bước vào thời kỳ mà đô thị hóa không song hành với tăng trưởng.

Đô thị hóa và tắc đường ở Việt Nam (Ảnh: BizLive).

Dự báo đến năm 2030, dân số đô thị ở khu vực này sẽ tăng thêm khoảng 100 triệu người, đạt mốc 373 triệu. Các đô thị lớn ở Đông Nam Á có thể kể đến như Phnom Penh (Campuchia), Jakarta (Indonesia), Kuala Lumpur (Malaysia), Manila (Philippines), Bangkok (Thái Lan), TP. Hồ Chí Minh (Việt Nam) và Singapore (quốc đảo Singapore). Trong đó, Singapore dẫn đầu về tốc độ đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế trong khu vực, đến mức quốc gia này được xếp vào cùng nhóm với các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nhật Bản, Canada và Australia. Malaysia xếp sau với tốc độ đô thị hóa đạt 75%, tương đương với Hàn Quốc. Indonesia và Thái Lan cùng có tốc độ đô thị hóa là hơn 50%, trong khi Philippines đạt mức 45%.

Tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam mới đạt mức 33,6% trong khi Campuchia chỉ là 20,7%. Những con số này của Việt Nam và Campuchia là khá tương đồng với tốc độ phát triển kinh tế của hai quốc gia. Trong khi một số khu vực tại Đông Nam Á đã được đô thị hóa và phát triển nhanh thì một số khu vực khác vẫn còn chưa theo kịp sự chuyển dịch này. Tại Việt Nam, không khó để nhận ra quá trình đô thị hóa nhanh dẫn đến hàng loạt những vấn đề như ô nhiễm môi trường nước, không khí, giao thông quá tải, thiếu các cơ sở công cộng quan trọng như bệnh viện, trường học…

Dưới những áp lưc do tăng trưởng dân số, các quốc gia châu Á cần có những giải pháp cho các vấn đề nhân khẩu học. Các nước châu Á cũng cần mở rộng phạm vi và lợi ích của các hệ thống bảo trợ xã hội, đặc biệt là các chương trình hỗ trợ hưu trí công. Đây là vấn đề cần được tập trung khắc phục, nhất là đối với các quốc gia có mức độ quản lý, đóng góp và lợi ích phân chia lương hưu không phù hợp, thỏa đáng cho tầng lớp người già, người nghèo như ở Trung Quốc và Thái Lan.

Cải thiện năng suất lao động là điều kiện tiên quyết, tối quan trọng cần được chính phủ các quốc gia khẩn trương đề ra phương án thực hiện. Theo đó, các quốc gia châu Á có thể đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế thông qua cải cách công nghệ và thực hiện chính sách đã được các nền kinh tế phát triển sử dụng, đơn cử là việc tận dụng tối đa sự phát triển và hỗ trợ của máy móc, robot…

Thêm vào đó, các kế hoạch nhằm tăng năng suất lao động cũng được xem là phương pháp tốt để tích lũy được nhiều lợi ích khác nhau. Nhờ đối sách này, các quốc gia như Bangladesh, Ấn Độ… có thể nâng cao năng suất lao động của người dân, để bù đắp và tiếp tục phát triển ổn định trong bối cảnh tỷ lệ sinh giảm.

Hồng Nhung

Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việc Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Ở Lớp Lá

Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ của giáo dục Mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo viên Mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa, tuỳ theo mỗi độ tuổi mà nội dung giáo dục khác nhau. Trẻ ở độ tuổi mầm non là tuổi học nói, những nhu cầu của trẻ thông qua lời nói để đến với người lớn, chính vì thế cung cấp Tiếng việt cho các cháu, nhất là trẻ người dân tộc thiểu số là rất quan trọng. Phần đa các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, nên khi đến lớp các cô giáo của cháu là người kinh cháu không biết tiếng kinh nên trong qúa trình cô giáo giảng dạy bằng tiếng việt thì trẻ rất khó tiếp thu bài giảng cũng như những chỉ dẫn, khẩu lệnh của cô trẻ không hiểu để thực hiện, cháu trở nên nhút nhát, thụ động, thậm chí tự ti, mặc cảm, dẫn đấn khả năng tiếp thu bài rất chậm. Bởi thế nên việc tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề đáng để tất cả chúng ta quan tâm, việc làm này sẽ góp phần vào việc hình thành và phát triển toàn diện cho trẻ.

Bản thân tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy các cháu lớp 5 tuổi của trường mẫu giáo Hoa Thủy Tiên với số lượng trẻ hàng năm của lớp tôi là 35-40 cháu trong đó số trẻ con em dân tộc thiểu số chiếm 90%. Đa số các cháu là người dân tộc ê đê, các cháu lên lớp đều nói bằng tiếng mẹ đẻ, không hiểu được tiếng Việt, vì trình độ dân trí thấp nên bố mẹ các cháu chưa thực sự quan tâm đến việc việc học tập của con em mình, còn các cháu thì vì không hiểu tiếng việt nên các hoạt động trên lớp của giáo viên chưa cảm hóa, thu hút được trẻ đến lớp đầy đủ.

Cùng một môi trường học tập như nhau, cũng bài học đó, lượng kiến thức đó, phương pháp đó sao sự chêng lệch về khả năng tiếp thu của trẻ người kinh và trẻ người dân tộc thiểu số lại cách xa nhau đến vậy? phải chăng là bất đồng ngôn ngữ, là vốn tiếng việt của trẻ dân tộc thiểu số quá ít, bởi vì mọi cử chỉ, hành động của con người đều thông qua ngôn ngữ để hiểu và làm theo nhưng chính vì trẻ không hiểu nên không biết để làm theo.

Đứng trước thực trạng đó tôi rất băn khoăn, lo lắng phần vì ngay từ đầu năm mồi giáo viên đã kí cam kết chất lượng với hiệu trưởng phải thực hiện đúng yêu cầu mục tiêu giáo dục độ tuổi. Trẻ 5 tuổi khi ra lớp một trong những mục tiêu đó là trẻ phải thuộc 29 chữ cái, 10 chữ số thuộc một số bài thơ, biết kể một số câu chuyện … làm thế nào để tất cả các cháu cuối năm học đều đạt được yêu cầu cần đạt theo bộ chuẩn đây? Khi các cháu con em dân tộc thiểu số đến lớp chưa biết nghe, nói và chưa hiểu tiếng kinh? đó là câu hỏi, là nổi lo lắng, băn khoăn mà hàng đêm tôi trăn trở, phần nữa là lương tâm trách nhiệm của người giáo viên tôi không thể hàng ngày đến lớp hết giờ ra về mặc cho các cháu với một hành trang trống rỗng khi ra trường, vậy nên bản thân tôi tự thấy mình cần tìm cách nghiên cứu, chọn lọc một số phương pháp, biện pháp để cho các cháu học sinh dân tộc trong lớp của tôi biết nghe, nói và hiểu tiếng việt. Để các cháu không tự ti,mặc cảm, thích thú đến lớp, vốn tiếng việt được tăng lên, biết giao tiếp băng tiếng việt để từ đó thu hút trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động trong lớp để cuối năm trẻ có một hàng trang vững bước vào lớp 1.

Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp:

*Giải pháp thứ nhất: “Tạo hứng thú cho trẻ đi học chuyên cần ”

Ngay từ đầu năm học tôi lên kế hoạch để duy trì sĩ số học sinh, duy trì tỉ lệ các cháu đi học chuyên cần 97%. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã huy động phụ huynh động viên trẻ đến trường, tuyên truyền cho cha mẹ trẻ về nội dung của các môn học, các hoạt động ở bậc học mẫu giáo nhất là lớp 5-6 tuổi, đó là gốc rễ, nền móng cho các cháu trong chương trình của tiểu học mà gần nhất là lớp 1 trong năm học tới của các cháu.

Phải làm sao để các cháu thực sự thích đến lớp mỗi ngày để các cháu được tiếp thu, được lĩnh hội đầy đủ kiến thức là hành trang theo cháu vào lớp 1. Trong khi các cháu phần đông là năm đầu đi học mẫu giáo lớp 5 tuổi mà không qua lớp mầm, chồi, rồi ngôn ngữ tiếng việt của các cháu thì hạn chế, bố mẹ đưa đến lớp các cháu còn khóc nhè đòi về, cô dỗ cháu không hiểu tiếng kinh, nên không nín. Phụ huynh thì chiều con thấy con khóc thì không muốn cho con học nữa, còn mong muốn con lớn lên có đất, có rẫy làm là được rồi. Trước cách nghĩ đó tôi thật sự rất lo lắng tôi đã tự nhủ mình phải thu hút được các cháu đến lớp đã sau đó rồi tính tiếp, hàng ngày phụ huynh đưa trẻ đến lớp tôi trò chuyện với họ, kể cho họ nghe một số trường hợp các cháu ở trong buôn năm học 2018-2019 đủ tuổi vào lớp 1 mà chưa qua mẫu giáo vào học lớp 1 được một thời gian rồi gia đình đến gặp hiệu trưởng trường mẫu giáo xin gửi vào học mẫu giáo để cho biết chữ cái đã chứ chưa biết chữ cái vào học lớp 1 không theo được các bạn…

Tôi cũng đưa ra một số gương mặt các cháu người dân tộc thiểu số đi học chuyên cần từ lớp 3-4, 4-5 tuổi giờ đang học lớp 5-6 tuổi thì cháu rất mạnh dạn, trong năm học cô cho cháu tham gia các hội thi mà nhà trường tổ chức cháu đạt kết quả cao như cháu H Quy, cháu Hà Thị Gia Như , Hà Thị Linh Đan…….

– Những việc làm đó thật đơn giản nhưng với những trẻ không hiểu tiếng kinh thì với tôi đó lại là một thách thức lớn bởi bản thân tôi là một giáo viên người kinh vậy nên để làm được điều đó tôi đã phải nhờ cô giáo H Trinh (Một đồng nghiệp chủ nhiệm lớp chồi bên cạch lớp tôi) chỉ cho tôi một số tiếng dân tộc như: ‘Nín đi, đừng khóc nữa, học ngoan chiều bố mẹ đón về, muốn đi tiểu con hãy xin cô, lúc vào học không được nói chuyện….” . Những việc làm đó tôi không quên thực hiện thường xuyên xen kẽ một cách sáng tạo đi kèm những lời nói, việc làm đó ngoài tình yêu thương trẻ như con cháu của mình rồi thì cần phải mày mò làm thêm đồ dùng đồ chơi lạ mắt, bữa thì những con bướm, con trâu làm từ lá cây, bữa thì mua bột cho trẻ cùng cô nặn bánh, bữa thì thiết kế trang phục cho trẻ làm người mẫu để cô đo đo, cắt cắt để cố tình cho trẻ đứng đợi cô mà quên đi sự nhút nhát e dè.

Cứ thế và kết quả thật đáng ghi nhận là các cháu sau 2 tuần đến lớp đã không khóc nữa, qua trò chuyện với phụ huynh tôi được biết trẻ về nhà không còn sợ phải đến lớp như trước nữa mà cháu thích thú khi bố, mẹ chuẩn bị chở đi học, không còn đòi quà bánh trước khi vào lớp, đến lớp cháu biết chào cô đi cất đồ dùng cá nhân đúng chỗ và vào chơi cùng các bạn một cách hòa đồng.

* Giải pháp thư hai: “ Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua các môn học”

Đầu năm học tôi lên kế hoạch năm, tháng và đặc biệt là cụ thể vào kế hoạch tuần những nội dung tăng cường tiếng việt cho trẻ qua các môn học cụ thể tôi có kế hoạch hàng ngày từ thứ 2 đến thứ 6 mỗi ngày tôi tăng cường cho trẻ 3-4 từ mới đồng thời trẻ được ôn luyện lại vốn từ cũ một cách thường xuyên.

Khi tổ chức hoạt động tôi đã mời các cháu người đồng bào tham gia vào các hoạt động. Nhưng kết quả chưa được như mong đợi, so với trước đây trẻ đã nghe và hiêu cô giáo nói và làm theo yêu cầu của cô giáo nhưng vẫn còn bỡ ngỡ, chưa thật tự tin, mạnh dạn.

: Xây dựng kế hoạch tuần có nội dung tăng cường tiếng việt cụ thể

KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG TRONG TUẦN

– Đón trẻ vào lớp, hướng dẫn trẻ cất đồ dùng cá nhân,trò chuyện với bố mẹ trẻ về tình hình của cháu khi ở nhà.

– Trò chuyện với trẻ về GĐ có những ai, mọi người trong GĐ làm gì?….

– Dạo chơi hít thở không khí trong lành.

– Trò chuyện về quang cảnh, khí hậu, dự báo thời tiết.

– Ôn cũ hoặc gợi mới

* Mục đích: Rèn luyện phản xạ nhanh, khéo léo

* Chuẩn bị: Vẽ 3 vòng tròn rộng giữa lớp làm nhà của gấu mũ 3 màu trắng, đen, vàng

* Cách chơi: Cô qui định vòng tròn 1 là nhà của gấu trắng,vòng 2 là nhà của gấu đen, vòng 3 là nhà của gấu vàng

– Chia trẻ thành 3 nhóm, mỗi nhóm đội một loại mũ khác màu phân biệt gấu trắng, gấu vàng, gấu đen.

– Nghe nhạc các chú gấu đi chơi,bò qua cổng, qua hầm khi có hiệu lệnh trời mưa các chú gấu về đúng nhà của mình.

– TCDG: Nu na nu nống

+ Mục đích: Trẻ dân tộc thiểu số được luyện đọc, biết chơi cùng nhau, củng cố thêm kĩ năng đếm, phân biệt bên phải, bên trái,ở giữa…và phát triển ngôn ngữ.

– Chơi tự do với đồ chơi đã chuẩn bị sẵn.

– Góc phân vai: Gia đình: Bố mẹ và con.

* Chuẩn bị: Một số đồ dùng như: Giày dép, túi ba lô, mũ, kính đeo mắt, đồ dùng nấu ăn, đồ dùng bán hàng.(tiềng dân tộc để gọi tên đồ dùng)

* Hoạt động: Trẻ đóng vai bố mẹ đưa các con đi chơi, tổ chức chơi vui vẻ, trẻ xưng hô lễ phép. Bố mẹ chăm sóc các con, đi mua thực phẩm, nấu ăn, mang theo 1 số thức ăn nhẹ.

– Góc xây dựng: Xây nhà cho bé.

* Chuẩn bị: Các khối gỗ, cổng, hộp giấy… để xây nhà, cây cối, hoa…

* Hoạt động: Trẻ biết xếp chồng các hộp giấy, khối gỗ để xây nhà, xung quanh có trồng cây xanh, có chuồng nuôi một số con vật như gà vịt….

– Góc học tập: Ôn chữ cái chữ số đã học, chơi lô tô.

* Chuẩn bị: . Vở bài tập chưa thực hiện xong. Nhóm chữ cái chữ số đã học.

* Hoạt động: Ôn chữ cái chữ số đã học, trẻ làm tiếp vở chưa xong

– Ôn kiến thức buổi sáng, làm quen kiến thức mới.

– Trò chơi học tập: “Đoán xem đó là ai”.

– Vệ sinh, nêu gương, bình cờ, trả trẻ.

+ Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua môn học môi trường xung quanh:

Tôi nắm được tâm lí của trẻ là thích tìm tòi khám phá, thích những cái mới lạ và trực quan hình ảnh, trực quan hành động chiếm ưu thế ở trẻ nên ngay trong môn khám phá tùy vào từng đề tài tôi chuẩn bị tranh ảnh sinh động đẹp mắt, đa dạng để thu hút trẻ tập trung chú ý kết hợp cho trẻ đọc từ dưới tranh, đồ dùng, tôi ưu tiên những cháu dân tộc được đọc trước, cho các cháu đọc theo từ, tôi tăng cường và cho trẻ nói theo tôi câu có từ.

– Và không chỉ gợi ý cho các cháu bằng lời, tôi đã hành động để các cháu nắm vững cách : Thường xuyên tổ chức theo nhóm, theo tổ, xen kẽ các cháu người Kinh và các cháu đồng bào dân tộc. Hay những giờ sinh hoạt ngoài trời, giờ vui chơi, nói chuyện với trẻ bằng tình cảm chân tình và gần gũi.Ví dụ như: ” bạn H Sinh mới cắt tóc phải không, đẹp quá nhỉ, ai đưa cháu đi cắt tóc đó, bạn Y Dư sáng đi học quần áo, đầu tóc thật gọn gàng đẹp thật đấy phải không các bạn…” Những lần quan tâm hỏi han trẻ tôi trerất thích thú, gần gũi, tôi xoa đầu âu yếm trẻ. Để trẻ cảm nhận được tình thương yêu của cô giáo đối với mình.

– Những buổi sinh hoạt cuối tuần tôi thường đưa ra những tấm gương các bạn chăm phát biểu, sáng tạo, nói tiếng kinh giỏi…Để thúc đẩy sự cố gắng , phấn đấu hơn của các cháu trong thời gian tới, tạo cho trẻ vui tươi, mạnh dạn, tự tin, tôi luôn gần gũi trò chuyện cùng trẻ không rầy la khi cháu làm sai. Mà ngược lại tôi luôn tôn trọng, yêu thương cháu. Không phân biệt đối xử bất công bằng với trẻ. Thường xuyên để ý giao tiếp và tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các hoạt động.

Các hoạt động cô giáo sử dụng tiếng kinh trẻ không hiểu thì giáo viên sử dụng cả hai thứ tiếng hoặc vừa nói vừa cho trẻ nhìn, chỉ vào sự vật.

+ Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua môn học Làm quen chữ cái:

Sau mỗi tiết học làm quen chữ cái tôi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi với chữ cái như trẻ nói từ có chứa chữ cái đã học thi đua tìm, nói tên các bạn trong lớp ví dụ học chữ e,ê trẻ tìm tên bạn lê, bạn sen…và không chỉ là tên các bạn mà những đồ dùng, những bức tranh, những món đồ chơi có tên chứa chữ cái tôi đều khai thác để cho trẻ được luyện đọc vừa tăng cường cho trẻ phát âm chữ cái để ghi nhớ chữ cái tôi còn có mục đích cho trẻ được luyện âm tiếng việt và hơn nữa qua đó trẻ có ý thức thi đua và làm sôi nổi hơn các hoat động. Với đặc điểm của trẻ mầm non là học qua chơi, chơi mà học nên tôi luôn có gắng chuyển thể các bài học sang hình thức vui chơi để trẻ được: thứ nhất là nhẹ nhàng không áp lực, thứ 2 là huy động được tính tích cực, hứng thú tự giác của trẻ. Tôi thường cho trẻ chơi các trò chơi với chữ cái như: trò chơi bánh xe chữ cái (vòng quay kì diệu)., nối chữ cái trong từ về chữ cái tương ứng, xếp chữ cái bằng hội hạt, nặn chữ cái, gắn chữ cái lên đồ dùng có tên chứa chữ cái theo yêu cầu của cô…ví dụ: gắn chữ u lên cái xích đu,chữ e lên tranh em bé, chữ a lên mái nhà… bên cạnh đó tô thường cho trẻ được trải nghiệm thực tế như cho trẻ đi dao chơi tham quan tìm chữ cái trong các bảng hiệu, cổng thôn… thiết nghĩ trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều với đồ dùng đồ chơi, tiếp xúc thực tế ngoài xã hội sẽ giúp trẻ ghi nhớ chữ cái một cách sâu sắc hơn, tập phát âm Tiếng việt một cách chính xác hơn. Chính những việc làm đó đã góp phần không nhỏ vào việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ.

Vd: Tôi cho trẻ đi thăm nhà văn hóa cộng đồng tôi giait thích cho trẻ hiểu đó là nơi sinh hoạt văn hoa, văn nghệ của tất cả mọi người trong buôn vào những dịp lễ, cho trẻ nhận biết, tự hào về buôn làng của mình và tôi không quên cho trẻ nhận biết, tìm chữ cái đã học trong những bảng hiệu, những dòng chữ trong nhà văn hóa, vô tình những lần trẻ theo bố mẹ đến sinh hoạt văn nhóa, văn nghệ trẻ khoe với bố me, với các bạn là trẻ đã biết được các chưc cái trên dòng chữ kia…

Qua một thời gian thực hiện lớp tôi tiến bộ rõ rệt, cháu hứng thú trong học tập, nhiều cháu thuộc chữ cái và phát âm chuẩn chữ cái khi đã được làm quen.

+ Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua môn học làm quen văn học:

Muốn trẻ giao tiếp, tiếp thu được kiến thức cô giáo truyền thụ trước hết thì trẻ phải nghe hiểu được yêu cầu của cô giáo nên việc giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống là vấn đề cần thiết. đối với trẻ 5 tuổi môn văn học là môi trường, là cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nhiều nhân vật trong thơ, chuyện…qua tên các nhân vật trẻ được gọi tên, được đọc, được thể hiện lời thoại…và được phát triển ngôn ngữ, với đặc điểm tình hình trẻ lớp tôi phần đông là học sinh người dân tộc thiểu số nên mỗi lúc lên kế hoạch tôi đã chú ý tới việc lựa chọn những bài thơ, câu chuyện không quá dài, nội dung dễ hiểu,nhân vật gần gũi với trẻ vì vốn từ cũng như thời gian tập trung chú ý của các cháu không được như những trẻ người kinh, khi lên tiết tôi luôn tạo tình huống bất ngờ để thu hút trẻ trẻ tập trung chú ý, khơi gợi ở trẻ tính tò mò dể tạo tâm thế cho trẻ trước khi vào học. trước lúc vào giờ học tôi trò chuyện dẫn dắt trẻ bằng những câu hỏi gần gũi, thân thiện vào bài một cách nhẹ nhàng không gây áp lực cho trẻ, trong quá trình đọc, kể tôi thường dừng lại trực tiếp ở những câu, từ khó để giải thích cho trẻ hiểu ngay trong quá trình tôi đọc một cách kịp thời, kết hợp tranh, ảnh, đồ dùng trực quan để giải thích là một cách làm tôi thấy rất hiệu quả, ngoài ra tôi không quên phối hợp các động tác minh họa đơn giản phù hợp, và tôi cho trẻ thực hiện động tác minh họa cùng với cô nhằm lôi cuốn, khích lệ trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu, từng lời của cô mà không bị mệt mỏi, uể oải, có thể nói đó là chất xúc tác, tiếp sức cho các cháu một cách hiệu quả.

Vd: khi tôi kể chuyện cáo, thỏ gà trống cho cacvs cháu nghe đến những lời thoại các nhân vật tôi cho trẻ nói theo như “gâu gâu cáo ở đâu”của bầy chó,cúc cù cu cu cu của anh gà trống… tôi cho trẻ nói và làm điệu bộ và trẻ đã rất thích. Khi đã lôi cuốn được sự chú ý của trẻ tôi tiến hành các công việc tiếp theo và không quên gọi những cháu dân tộc đọc từ, đọc câu với nhiều hình thức như là tôi đố trẻ, nhờ trẻ, gợi ý cho trẻ, cho các cháu thi đua, cho trẻ nói tiếp…và tất nhiên là sử dụng những câu từ gần gũi, cụ thể để giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn gọn để trẻ có thể tiếp thu một cách nhẹ nhàng sau đó tôi cho trẻ nói tên nhân vật trong thơ, chuyện qua tranh ảnh, và không quên khuyến khích trẻ bằng những món quà hay những tràng pháo tay động viên, bởi thế nên học sinh lớp tôi ngày càng mạnh dạn, tự tin, ham thích học thơ, kể chuyện và nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh, qua những việc làm đó học sinh dân tộc của lớp tôi so với trước vốn từ được tăng lên rất nhiều, trẻ nghe, hiểu được lời của cô, nắm được yêu cầu của bài và tôi nghĩ mình đã gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước.

* Giải pháp thư ba: “ Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua hoạt động vui chơi”

Hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo, không thể thiếu ở lứa tuổi mầm non. Nhận thức được điều đó, bản thân tôi luôn thực hiện tốt nhiệm vụ năm học mà nghành đề ra. Ngoài việc dạy và học thì hoạt động vui chơi luôn diến ra trong các ngày trẻ được đến lớp, tôi luôn sáng tạo làm nhiều đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động vui chơi của trẻ. Bởi vì đối với trẻ những món dồ chơi mới mẻ, lạ mắt là điểm đến, là động lực thu hút trẻ nhiều nhất và qua hoạt động vui chơi này phát huy cho trẻ tính mạnh dạn, tự tin trước đám đông. Trẻ thể hiện hết cái tôi của mình trẻ biết và độc lập trong suy nghĩ và dám khẳng định chính bản thân mình và đó cũng là cơ hội giúp trẻ được tăng cường tiếng việt, trong khi các cháu chơi thì trẻ vô tư thể hiện hết những gì trẻ biết, trẻ có và cô giáo qua đó phát hiện được khả năng của trẻ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để thuận tiện trong việc phát triển các lĩnh vực khác ở trẻ. Nhờ sự tích cực hứng thú trong hoat động vui chơi mà trong năm học này chúng tôi đã đạt được những thành tích đáng kể về chiến lược tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc.

Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp hàng ngày của trẻ không chỉ là trong quá trình học mà ngay cả khi trẻ vui chơi thì ngôn ngữ giúp trẻ phân, nhận vai chơi, thể hiện vai chơi của mình trong quá trình chơi. Vui chơi là trẻ được tái tại lại những hành động, việc làm lời nói của người lớn ở môi trường xã hội bên ngoài vào trong các góc chơi của trẻ, ở đây thành phần trẻ được thể hiện, giao tiếp rất đa dạng và phong phú nên chính ở môi trường này ngôn ngữ của trẻ được cung cấp nhiều hơn, trẻ được thoải mái thể hiện mình qua vai chơi. Tận dụng thời gian này tôi đã thực hiện ý đồ tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc bằng cách: tôi làm nhiều đồ chơi ở các góc tạo môi trường mới lá, đẹp mắt thu hút sự hứng thú của trẻ, cho trẻ được tự chọn góc chơi, vai chơi, lúc trẻ chọn vai chơi tôi luôn gợi ý cho trẻ đổi vai hàng ngày để tất cả trẻ đều có cơ hội vào vai các thành viên trong xã hội hôm nay bé là bác sĩ, mai bé làm bệnh nhân, ngày kia là người đầu bếp, chúng tôi khi cháu H Sinh về chơi ở góc phân vai làm cô bán hàng lần đầu khi chơi tôi trực tiếp làm người đi mua hàng đến cữa hàng tôi chào bác H Sinh hôm nay cửa hàng có bán những thứ gì? Tất nhiên là lúc đầu cháu sẽ e dè thì tôi gợi ý cho trẻ cầm các món hàng lên và nói tên các món hàng đó bằng 2 thứ tiếng vừa tiếng kinh và tiếng dân tộc, những lần sau tôi gợi ý rủ các bạn khác đi chợ và hỏi mua những món đồ theo nhu cầu…giải thích cho trẻ những từ (mua, bán, trả tiền…) kèm theo những hàng động mô phỏng cụ thể cho trẻ hiểu từ tiếng việt và cho trẻ nói theo.

Đến góc xây dựng cũng như những góc chơi khác tôi hỏi cháu Y Dư hôm nay bác thợ xây gì?( xây nhà cho gia đình ở) vật liệu, dụng cụ xây dựng có những gì?(viên gạch, cái bay, cái thước, …) cho cháu cầm viên gạch và đọc nói từ viên gạch, cái bay…những lầnchơi sau tôi cho trẻ tập nói cả câu dài hơn và cứ như vậy tôi ghé đến các góc chơi khác xin tham gia chơi với trẻ vài phút để tìm hiểu nhận ra điểm mạnh và hạn chế của từng trẻ và qua đó tôi thực hiện công việc tăng cường tiếng việt cho những trẻ thiếu hụt tiếng việt, nhắc nhở, khuyến khích, hướng dẫn các cháu giao tiếp với bạn chơi bằng tiếng việt. Khi trẻ đã hòa nhịp được với các bạn, các cháu dân tộc đã tự tin, mạnh dạn tôi không cần nhập vai chơi với trẻ nữa mà gợi ý để trẻ giao lưu với nhau liên kết với các nhóm chơi khác để trẻ mạnh dạn, tự tin trao đổi trong lúc chơi cùng bạn, khi trẻ tham gia các góc chơi là thế giới người lớn được trẻ tái tạo lại trong trò chơi của trẻ tất cả mối quan hệ, giao tiếp của xã hội được trẻ thể hiện hơn nữa hoạt động vui chơi của trẻ là hoạt động diễn ra thường xuyên trong quá trình trẻ đến lớp nên đây chính là thời điểm tốt nhất để trẻ được tiếp thu, tăng cường vốn từ tiếng việt với phương châm “Mưa dầm thấm lâu” song hành với việc trẻ chơi tôi kết hợp tăng cường tiếng việt cho trẻ, với trẻ đây là lúc trẻ thoải mái thể hiện bản thân, thể hiện vốn có của mình, với cô đây là thời điểm thuận lợi để nắm bắt tình hình, thực tế sử dụng ngôn ngữ của các cháu nên việc cung cấp ngôn ngữ ở hoạt động vui chơi rất hiệu quả.

* Giải pháp thư tư: “ Tăng cường tiếng việt cho ở mọi lúc, mọi nơi”

* Giải pháp thư năm: “ Kết hợp với phụ huynh để tăng cường tiếng việt cho trẻ”

Bên cạnh sự nỗ lực chung sức của cô và trẻ khi trẻ ở lớp, ở trường, chúng ta phải phối kết hợp với phụ huynh khi trẻ về nhà bởi vì khi về nhà đa số trẻ được sinh hoạt trong môi trường giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, qua các buổi thăm nhà phụ huynh học sinh tôi thấy rằng người gia và phụ nữ trong mỗi gia đình người thiểu số ít khi biết nói tiếng kinh, mọi nhu cầu, hoạt động trong gia đình họ sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp mà hàng ngày thời gian đến lớp của trẻ cô giáo khó khăn lắm mới cho trẻ nói vài từ tiếng việt bập bẹ trong khi thời gian trẻ về nhà thì bố mẹ ông bà chú bác lại sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách đại trà, đó cũng là cái khó khăn tôi gặp phải, để đẩy ùi khó khăn này tôi phải tranh thủ thời gian buổi tối đến nhà gặp gỡ phụ huynh, tận dung những buổi sinh hoạt cộng đồng để tuyên truyền đến các bậc phụ huynh.

Đồng ý là mỗi chúng ta phải nhớ cội nguồn, tôn vinh bản sắc vùng miền, những cần phải đảm bảo được cái chung để đáp ứng với nhu cầu học tập của thế hệ trẻ. tôi đã tuyên truyền tới phụ huynh tầm quan trọng của việc nghe, hiểu và giao tiếp bằng tiếng phổ thông, tôi trò chuyện giải thích với phụ huynh rằng các cháu nhà mình đến lớp không được mạnh dạn như những cháu người kinh, vì cháu nói tiếng kinh không thành thạo, nên những bài giảng của cô cháu nghe không hiểu được hết các yêu cầu nên kho cô hỏi trẻ chưa trả lời được, chưa làm được bài tập theo yêu cầu của cô nếu các cháu biết nói, nghe hiểu thành thạo tiếng kinh thì các cháu cũng học rất giỏi…vậy nên rất mong phụ huynh tạo điều kiện, môi trường cho trẻ được giao tiếp bằng tiếng kinh, khi ở lớp cô đã cho cháu nghe, nói tiếng kinh thì về nhà phụ huynh nên sử dụng tiếng kinh để giao tiếp với cháu, kềm cặp cháu các môn hoạc chữ cái, số, cho cháu đọc thơ, kể chuyện, khuyến khích cháu hát để rèn luyện cách phát âm cho cháu như thế cháu đến lớp cháu sẽ nghe cô giáo giảng bài và biết trả lời thành thạo các câu hỏi của cô, tiếp thu bài một cách dễ dàng, học giỏi hơn trong cấp học mầm non và cũng là tiền đề tốt cho các cấp học sau này và đúng như mong muốn của tôi phụ huynh đã biết quan tâm đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng việt ở nhà cho trẻ nhiều hơn.không những thế mà phụ huynh còn tuyrn truyền tới những người khác trong buôn qua những dịp gặp gỡ nhau bên những ché rượu cần, họ khoe nhau những thành tích con em mình đạt được mad cứ cuối tuần, cuối tháng tôi vẫn báo cáo về cho phụ huynh những tiến bộ của con em họ việc làm đó của tôi đã mang lại hiệu quả cao hiện nay trẻ dân tộc thiểu số lớp tôi nói tiếng kinh lưu loát, biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói, không còn trẻ nói câu không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, trẻ mạnh dạn giao lưu cùng cô giáo, cùng bạn bè và mọi người xung quanh.

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo chỉ thị của bộ chính trị là việc làm mà chi bộ, ban giám hiệu trương tôi luôn chỉ đạo sát sao tới đảng viên,giáo viên trường.

Tôi nhận thấy rằng đây chính là một tài sản vô giá của dân tộc và là cơ sở bền vững cho mỗi người Đảng viên, cán bộ giáo viên học tập và noi theo. Tuyệt đối không vi phạm đạo đức nhà giáo, luôn luôn là tấm gương sáng cho các cháu noi theo ” Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người“. Bỏi vì lẽ đó, tôi tự nhủ rằng mình phải làm gì để chuẩn bị cho các cháu một hàng trang tốt nhất khi bước vào lớp 1. Nhất là những cháu dân tộc thiểu số, cuối năm học nhận biết, phát âm chuẩn 29 chữ cái, 10 chữ số, biết nói tiếng phổ thông thành thạo, đạt được các yêu cầu phát triển 5 lĩnh vực, đảm bảo chất lượng cuối năm để từ cái nền móng cơ ban đó các cháu sẵn sàng tiến bước vào cấp học tiếp theo. Và bản thân cũng góp phần nhỏ vào sự thành công của nhà trường, vào sự nghiệp giáo dục mầm non của xã nhà, tiến lên đáp ứng nhu cầu hiện tại. Với bao khó khăn vất vả khi trường lớp ở xa trung tâm đa số là người dân tộc tại chỗ, trình độ nhận thức của người dân chưa cao, kinh tế bà con còn nghèo nàn, lạc hậu, phụ huynh học sinh còn coi nhẹ ngành học mầm non các cháu đi học không đều, đến lớp còn khóc nhè, ngôn ngữ giao tiếp còn hạn chế, trẻ chư hòa đồng với bạn, nhút nhát rụt rè nên trẻ không dám thể hiện mình, đến lớp trẻ thụ động cũng chính vì ngôn ngữ thứ 2 của trẻ còn quá ít ỏi, Cơ sở vật chất quá nghèo nàn thiếu thốn, giáo viên nhà xa đi lại rất vất vả.

Nhưng trong một thời gian ngắn, với sự quan tâm của ban giám hiệu, chính quyền địa phương, và nhất là với sự sự băn khoăn, lo lắng trước sự thiếu hụt, thiệt thòi của các cháu đã thúc đẩy sự nổ lực, tận tâm của bản thân một lòng tâm huyết với nghề cho đến nay lớp là 1chúng tôi đã đi vào ổn định. Các cháu đã đi học chuyên cần, đến lớp hòa đồng với các bạn, thể hiện tốt cái tôi của mình, chất lượng các môn học đối với các cháu tăng lên rõ rệt qua bảng theo dõi đánh giá hàng tháng. Cho đến thời điểm này đã có trên 95% cháu nhận biết nhanh và phát âm đúng chữ cái Tiếng việt đã được học. 96% cháu biết cách tô các nét cơ bản và tô đúng quy trình. 97% cháu hiểu được ngôn ngữ Tiếng việt, biết dùng ngôn ngữ Tiếng việt để diễn đạt thành câu có nghĩa, trẻ nói lưu loát bằng ngôn ngữ Tiếng việt. Ngoài việc học trẻ đã mạnh dạn tự tin khi giao tiếp với cô giáo, với bạn bè lúc ở nhà cũng như lúc mọi nơi.

Kết quả theo dõi sau khi áp dụng các phương pháp, biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ của lớp tôi thì kết quả về 5 lĩnh vực phát triển cuối tháng 12 của lớp tôi cụ thể như sau:

– Tỉ lệ phần trăm của năm mặt phát triển tăng lên rõ rêt, nhất là về lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, thẩm mĩ, phát triển ình cảm xã hội…

Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện, hổ trợ kinh phí để giáo viên làm đồ dùng, đồ chơi, trang trí các góc đẹp mắt thu hút sự chú ý của trẻ cũng như sự nhìn nhận của phụ huynh để càng ngày càng tin tưởng vào giáo viên và cũng từ đó phụ huynh đã nhận thức rõ việc đưa con em đến trường là cần thiết vậy nên tỷ lệ huy động trẻ đi học 98%..

Học kì I lớp luôn đứng đầu trong các phong trào về nề nếp thói quen của trẻ, duy trì sĩ số, phong trào làm đồ dùng trang trí lớp, và đặc biệt là không còn tình trạng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học theo bố mẹ đi nương đi rẫy theo thời vụ như những năm học trước vẫn thường diễn ra. Phụ huynh nhiệt tình trong việc tạo môi trường tiếp xúc cho trẻ, để trẻ được giao lưu với các bạn, nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường tiếng việt cho trẻ.cụ thể là những buổi tập văn nghệ các bậc cha mẹ trẻ rất nhiệt tình bớt thời gian chở các cháu đến lớp tập, nhìn thấy con em của họ được hát, múa họ rất vui và tự hào.

Khi các cháu đến lớp vệ sinh rất sạch sẽ, biết chào hỏi, thưa gởi lễ phép, các hoạt động trẻ hứng thú tham gia và tạo mối quan hệ hòa đồng, đoàn kết trong lớp. các cháu manh dạn giao lưu, tham gia tích cực vào các giờ học, như tham gia kể chuyện, đoạc thơ, biểu diễn văn nghệ…

Vận dụng một số biện pháp giúp tăng cường tiếng việt cho các cháu học sinh con em dân tộc thiểu số tạo cho trẻ sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp giúp cho trẻ sử dụng tiếng việt một cách thành thạo bản thân tôi đã nghiên cứu những nội và áp dụng linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động vui chơi, học tập,mọi lúc mọi nơi phù hợp với hoàn cảnh thực tế tình hình của lớp, của địa phương.giáo viên luôn tạo tình cảm cho trẻ giao lưu trò chuyện với cô,với bạn nghe hiểu lời nói của cô, của bạn. tăng cường công tác làm đồ dùng đồ chơi đẹp, tạo ra môi trường mới lạ để thu hút trẻ tham gia vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ thực sự hứng thú, thực hiện thông qua các hoạt động ở lớp và mọi lúc mọi nơi. Với vốn kinh nghiệm tích luỹ ít ỏi về việc tăng cường tiếng việt ấy tôi đã áp dụng và có hiệu quả cao, tại lớp của mình. Tôi tin rằng cuối năm học này 97% trẻ dân tộc thiểu số nói được tiếng việt thàng thạo.

Xác định mục tiêu nhận ra tầm quan trọng trong việc phát triển nhân cách của trẻ trong trường Mẫu Giáo để giúp trẻ nghe hiểu tiếng việt, Phải coi trọng những hành động, suy nghĩ của trẻ dù là nhỏ nhất và luôn đạt câu hỏi ” Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu” lên hàng đầu. Tạo được nề nếp hoạt động thường xuyên, liên tục, mang tính tự giác, tự nguyện cao, và quyết tâm thực hiện không ngại khó khăn.

Luôn luôn làm tốt công tác tham mưu, công tác xã hội hoá giáo dục để toàn xã hội chung tay xây dựng trường học ngày càng đi lên.