Top 7 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Môn Toán Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Môn Toán

Học sinh yếu kém về toán là những học sinh có kết quả học tập toán thường xuyên dưới trung bình. Việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng cần thiết ở những học sinh này thường đòi hỏi nhiều công sức và thời gian so với những học sinh khác.

Sự yếu kém toán có những biểu hiện nhiều hình, nhiều vẻ, nhưng nhìn chung thường có 5 đặc điểm:

Giáo viên cần nắm vững 5 đặc điểm này để có thể giúp đỡ học sinh yếu kém một cách có hiệu quả. Việc giúp đỡ học sinh yếu kém cần được thực hiện ngay cả trong những tiết học đồng loạt, bằng những biện pháp phân hóa nội tại thích hợp. Về nguyên tắc đó là phương hướng chủ yếu khắc phục tình trạng yếu kém trong học toán.

Bên cạnh việc nâng cao hiệu suất giờ lên lớp, giáo viên cần có tách riêng nhóm học sinh yếu kém toán (ngoài giờ chính khóa). Bài viết này chỉ trình bày hình thức giúp đỡ này.

Mục đích việc giúp đỡ tách riêng nhóm học sinh yếu kém toán là làm cho diện này theo kịp yêu cầu chung của những tiết học trên lớp và có thể hòa vào việc dạy học đồng loạt.

Nội dung giúp đỡ nhóm học sinh yếu kém nên nhằm vào những phương hướng sau:

Việc học tập có kết quả trong một tiết học thường đòi hỏi những tiền đề nhất định về trình độ kiến thức, kĩ năng sẵn có của học sinh. Thế nhưng với học sinh yếu kém nhiều khi chưa có đủ những tiền đề này và giáo viên phải giúp các em tạo tiền đề xuất phát cho những tiết trên lớp.

Đối với diện học sinh yếu kém, trong hai hình thức tái hiện: tái hiện tường minh và tái hiện ẩn tàng, nên dùng nhiều hình thức thứ nhất, tức là nói rõ kiến thức, kĩ năng cần ôn luyện là nhằm chuẩn bị cho việc học nội dung nào trong buổi học chính khóa sắp tới. Làm như vậy là để tăng cường hiệu lực hướng đích và gợi động cơ, nâng cao ý thức trách nhiệm của học sinh đối với bài học.

Kiến thức có nhiều “lỗ hổng” là một “bệnh” phổ biến của học sinh yếu kém toán. Việc tạo tiền đề xuất phát cũng chính là nhằm lấp lỗ hổng kiến thức và kĩ năng, nhưng chỉ để phục vụ cho một nội dung sắp học. Còn trong mục này, việc “lỗ hổng” kiến thức, kĩ năng được đề cập một cách tổng quát, không phụ thuộc ý đồ chuẩn bị cho một bài học cụ thể nào.

Thông qua quá trình học lý thuyết và làm bài tập của học sinh, giáo viên cũng cần tập cho học sinh, kể cả học sinh yếu kém có ý thức tự phát hiện những lỗ hổng của bản thân mình và biết cách tự lấp những lỗ hổng đó.

Với những lỗ hổng kiến thức (quên) thì cần tra cứu sách vở, tài liệu và ghi lại nhiều lần ra nháp, sổ tay.

Với những lỗ hổng kĩ năng thì cần luyện tập nhiều, giải nhiều bài tập cùng loại.

Đối với học sinh yếu kém, giáo viên nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng và tăng cường luyện tập vừa sức.

Trong những tiết học đồng loạt, việc luyện tập được thực hiện theo trình độ chung, nhiều khi không phù hợp với khả năng học sinh yếu kém. Vì vậy khi làm việc riêng với nhóm học sinh yếu kém, cần dành thời gian để các em tăng cường luyện tập vừa sức mình. Và lưu ý những điều sau đây:

Đảm bảo học sinh hiểu đầu bài tập: Học sinh yếu kém nhiều khi vấp ngay từ bước đầu tiên, không hiểu bài toán nói gì đó đó không thể tiếp tục quá trình giải toán. Vì vậy, giáo viên nên lưu ý giúp các em hiểu rõ đầu bài, nắm được cái gì đã cho, cái gì cần tìm/cần chứng minh, tạo điều kiện cho các em vượt qua sự vấp váp đầu tiên đó.

Gia tăng số lượng bài tập cùng thể loại và mức độ: Để hiểu một kiến thức, rèn luyện một kĩ năng nào đó, học sinh yếu kém cần những bài tập cùng thể loại và mức độ với số lượng nhiều hơn so với các em khá giỏi và trung bình. Phần gia tăng này được thực hiện trong những tiết làm việc riêng với nhóm học sinh yếu kém toán. Chẳng hạn giáo viên có thể ra cho học sinh rất nhiều bài tập giải phương trình bậc hai với hệ số mà không sợ “nhàm” như trường hợp học sinh khá giỏi.

Sử dụng những mạch bài tập phân bậc mịn: Việc sử dụng những mạch bài tập phân bậc trong dạy học toán nói chung là đáng làm, riêng với nhóm học sinh yếu kém toán thì cần phân bậc mịn hơn so với trình độ chung, tức là khoảng cách giữa hai bậc liên tiếp không nên quá xa, quá cao. Ta hình dung rằng nhiều bậc của học sinh yếu kém có thể gộp lại thành một bậc cho học sinh trung bình hoặc khá giỏi.

Được bước theo những bậc thang vừa sức với mình, học sinh yếu kém sẽ đỡ bị hẫng, bị hụt, bị ngã từ đó có nhiều khả năng leo hết các nấc thang dành cho họ để chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng mà chương trình yêu cầu. Những nấc thang đầu dù có thấp, những bước chuyển bậc dù có ngắn nhưng khi học sinh thành công sẽ tạo nên một yếu tố tâm lý rất quan trọng: các em sẽ tin vào bản thân, tin vào sức mình, từ đó có đủ nghị lực và quyết tâm vượt qua tình trạng yếu kém.

Yếu về kĩ năng học tập là một tình hình phổ biến của học sinh yếu kém toán. Hơn nữa, có thể nói rằng đó là nguyên nhân của tình trạng yếu kém đối với một bộ phận trong những học sinh diện này. Vì vậy, một trong những biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém là giúp đỡ các em về phương pháp học tập.

nắm được lý thuyết mới làm bài tập

đọc kĩ đầu bài

vẽ hình sáng sủa

viết nháp rõ ràng

Đặc biệt, giáo viên cần đấu tranh kiên trì với những thói quen xấu của học sinh như: chưa học lý thuyết đã lao vào làm bài tập, không đọc kĩ đầu bài trước khi làm bài tập, vẽ hình cẩu thả, viết nháp lộn xộn,…

Tư duy thiếu linh hoạt : Nghe giáo viên phân tích giảng giải, học sinh yếu không biết khái quát, không biết tư duy nên không nhớ trình tự tính toán, giải toán.Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng đều phát triển chậm.Khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, sử dụng ngôn ngữ toán học lúng túng, nhiều chỗ lẫn lộn

Có thể xem mô hình phậc bậc trong Phương pháp dạy học tiết ôn tập Toán#Các hoạt động dạy học ôn tập

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Học Môn Toán

Toán học là một một bộ môn khoa học, được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác và trong thực tế. Nó cũng là một bộ môn mang tính logic. Người học môn toán phải biết cách ứng dụng các kiến thức trong mọi lĩnh vực. Để thực hiện được vấn đề đó thì người học toán phải có một nền tảng về kiến thức nhất định.

Là người thầy giáo giảng dạy môn toán nói chung, các bộ môn khác nói riêng như chúng tôi, chắc chắn rằng ai cũng muốn cho học sinh mình có một kiến thức nhất định. Nhưng trong những năm gần đây là người giảng dạy môn toán ở trường THCS, tôi nhìn thấy có rất nhiều học sinh đạt môn toán ở mức độ là học sinh yếu kém. Không chỉ riêng tôi mà còn có nhiều thầy, cô giáo cũng băn khoăn trong kết quả học tập của những học sinh như thế (học sinh yếu kém về toán là những học sinh có kết quả học toán thường xuyên dưới trung bình)

Tôi nhìn thấy sự yếu kém toán có những biểu hiện nhiều hình nhiều vẻ, nhưng nhìn chung diện học sinh này thường có ba đặc điểm sau đây:

– Nhiều “lỗ hổng” kiến thức, kĩ năng;

– Tiếp thu chậm;

– Phương pháp học tập toán chưa tốt.

Là người thầy giáo giảng dạy môn toán như chúng tôi, tôi thiết nghĩ rằng ai cũng tìm ra một phương pháp để dạy cho những học sinh yếu kém này có kết quả ngày càng cao hơn.

GIÚP ĐỠ HỌC SINH YẾU KÉM HỌC MÔN TOÁN I/ ĐẶT VẤN ĐỀ: Toán học là một một bộ môn khoa học, được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác và trong thực tế. Nó cũng là một bộ môn mang tính logic. Người học môn toán phải biết cách ứng dụng các kiến thức trong mọi lĩnh vực. Để thực hiện được vấn đề đó thì người học toán phải có một nền tảng về kiến thức nhất định. Là người thầy giáo giảng dạy môn toán nói chung, các bộ môn khác nói riêng như chúng tôi, chắc chắn rằng ai cũng muốn cho học sinh mình có một kiến thức nhất định. Nhưng trong những năm gần đây là người giảng dạy môn toán ở trường THCS, tôi nhìn thấy có rất nhiều học sinh đạt môn toán ở mức độ là học sinh yếu kém. Không chỉ riêng tôi mà còn có nhiều thầy, cô giáo cũng băn khoăn trong kết quả học tập của những học sinh như thế (học sinh yếu kém về toán là những học sinh có kết quả học toán thường xuyên dưới trung bình) Tôi nhìn thấy sự yếu kém toán có những biểu hiện nhiều hình nhiều vẻ, nhưng nhìn chung diện học sinh này thường có ba đặc điểm sau đây: Nhiều "lỗ hổng" kiến thức, kĩ năng; Tiếp thu chậm; Phương pháp học tập toán chưa tốt. Là người thầy giáo giảng dạy môn toán như chúng tôi, tôi thiết nghĩ rằng ai cũng tìm ra một phương pháp để dạy cho những học sinh yếu kém này có kết quả ngày càng cao hơn. Việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng cần thiết ở những học sinh này thường đòi hỏi nhiều công sức và thời gian so với những học sinh khác. Do đó, qua những năm giảng dạy ở trường THCS tôi đã đúc kết một số kinh nghiệm để giảng dạy cho học sinh yếu kém như sau: II/ NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: Nội dung giúp đỡ học sinh yếu kém nhằm vào những phương hướng sau đây: 1/ Lấp "lỗ hổng" kiến thức, kĩ năng: Thông qua quá trình học lí thuyết và làm bài tập của trò, thầy giáo cần tập cho học sinh tự phát hiện những "lỗ hổng" của bản thân mình và biết cách tra cứu sách vỡ, tài liệu tự lấp những "lỗ hổng" đó. Bên cạnh đó, giáo viên có thể biết những "lỗ hổng" của học sinh trong những tiết học tiếp theo. Do đó giáo viên phải dùng bản phụ ghi sẵn kiến thức cần nhắc lại cho học sinh. Nghĩa là học sinh đã có sẵn tài liệu để lấp "lỗ hổng" một cách nhanh chống mà không cần thời gian để tra cứu sách vỡ hay tài liệu. Chẳng hạn như dạng toán "phân tích đa thức thành nhân tử bằng phương pháp dùng hằng đẳng thức". Ví dụ 1: Phân tích đa thức x3y6 - y3 thành nhân tử bằng phương pháp dùng hằng đẳng thức. Bài tập trên là vận dụng cả kiến thức và kĩ năng của học sinh, vì lẽ đó giáo viên dùng bản phụ ghi các hằng đẳng thức đáng nhớ rồi cho học sinh nhận dạng bài tập coa thể đưa về hằng đẳng thức nào? Và vận dụng chúng ra làm sau? Bên cạnh bài tập trên còn áp dụng về phép nâng lũy thừa. Ví dụ 2: Tìm ƯCLN(120; 280). Ví dụ 3:. 2/ Tiếp thu chậm: a/ Đối với học sinh học yếu kém thường là tiếp thu kiến thức rất chậm hay phát hiện ra vấn đề cũng sau hơn học sinh khác và khi tiếp thu một vấn đề nào đó cũng cần được lặp đi lặp lài nhiều lần hơn. Vì thế khi dạy một kiến thức mới hay hướng dẫn làm một bài tập nào đó giáo viên cần phải nói chậm, rõ ràng và hướng dẫn cụ thể hoặc nhắc đi nhắc lại hay hướng dẫn nhiều lần. b/ Bên cạnh đó giáo viên cần luyện tập vừa sức cho HS: đối với học sinh ở dạng này, giáo viên cần coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức. Trong những tiết học đồng loạt. Việc thực hiện theo trình độ chung, nhiều khi không phù hợp với học sinh yếu kém. Vì vậy khi ttong tiết phụ đạo, cần dành thời gian để HS tăng cường luyện tập vừa sức mình. Do đó thầy giáo cần chú ý những điều sau đây: - Đảm bảo học sinh hiểu đầu bài tập: Học sinh dạng này thường hay vấp ngay từ bước đầu tiên: không hiểu bài toán nói gì, do đó không thể tiếp tục quá trình giải toán. Vì vậy thầy giáo nên lưu ý giúp HS hiểu rõ đầu bài, nắm được cái gì đã cho, cái gì cần tìm, tạo điều kiện cho các em vượt qua sự vấp ngã đầu tiên đó. + Ví dụ: . - Gia tăng số lượng bài tập cùng thể loại và mức độ: Để hiểu một kiến thức, rèn luyện một kĩ năng nà đó, học sinh yếu kém cần những bài tập cùng thể loại và cùng mức độ với số lượng nhiều hơn học sinh khác. Phần gia tăng này được thực hiện trong những tiết phụ đạo và tiết tự chọn.chẳng hạng iáo viên có thể ra nhiều bài tập tương tự như: + Ví dụ: . 3/ Giúp đỡ học sinh kĩ năng học tập: Yếu về kĩ năng học tập là một tình trạng phổ biến của học sinh yếu kám toán. Hơn nữa, có thể nói rằng đó là nguyên nhân của tình trạng yếu kém đối với một bộ phận trong những học sing diện này. vì vậy một trong những biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém là giúp đỡ các em về phương pháp học tập. III/ KẾT LUẬN; Trong quá trình dạy học môn toán, người giáo viên phải quan tâm đến việc chất lượng của học sinh không một giáo viên nào muốn có học sinh của mình khi học xong chương trình mà múc độ kiến thức chỉ đạt ở dạng yếu kém.

Công Tác Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Có Hiệu Quả

Đề tài: CÔNG TÁC GIÚP ĐỠ HỌC SINH YẾU KÉM CÓ HIỆU QUẢ I. ĐẶT VẤN ĐỀ Vấn đề học sinh yếu kém, không chỉ là nỗi lo của các thầy cô giáo, của ngành giáo dục, mà đó là sự băn khoăn, bức xúc của toàn xã hội. Nguyên nhân dẫn đến hẳn có nhiều, chủ yếu là do các học sinh đó chưa có điều kiện tốt để học tập và một phần cũng do thầy cô giáo dạy chưa tốt chứ không phải do việc học các môn học (với mức độ yêu cầu đạt chuẩn) đòi hỏi học sinh phải có trí thông minh hay năng khiếu đặc biệt nào. Mỗi người giáo viên có trách nhiệm cần phải làm cho học sinh của mình tiếp thu được những kiến thức và kĩ năng tối thiểu mà chương trình và chuẩn kiến thức kĩ năng quy định. Mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt, các em khác nhau về ngoại hình, tính cách và cả khả năng nhận thức trong học tập. Có học sinh tiếp thu bài học nhanh, nhưng cũng có những em tiếp thu bài rất chậm, thậm chí là không hiểu gì thông qua các hoạt động trên lớp. Đó chính là vấn đề mà tôi luôn quan tâm và nó luôn thôi thúc tôi trong suốt quá trình dạy. Được tiếp xúc hàng ngày với các em, đó là điều kiện tốt nhất giúp tôi tìm hiểu rõ về đặc điểm tâm lí của lứa tuổi và đề ra các biện pháp giáo dục thích hợp để rèn cho những em học sinh yếu có thể nắm được bài học và hoà nhập vào hoạt động học trên lớp cùng các bạn. Bên cạnh đó, trong quá trình công tác tại trường Tiểu học Phong Thạnh Tây A, tôi luôn được sự hướng dẫn tận tình của BGH nhà trường, sự hỗ trợ nhiệt tình của tập thể hội đồng sư phạm. Đặc biệt là những khó khăn mà tôi gặp phải trong quá trình công tác luôn được sự chia sẻ và quan tâm của tập thể giáo viên, và ban giám hiệu nhà trường. Bên cạnh sự chia sẻ và hỗ trợ về mặt tinh thần, điều mà tôi tâm đắc nhất trong thời gian công tác tại trường là tôi luôn được học hỏi và chia sẻ nhiều kinh nghiệm mà tập thể giáo viên trong tổ 4+5 nói riêng và các tổ khác nói chung triển khai thực hiện. Mỗi sáng kiến kinh nghiệm mà tập thể đưa ra đều bổ ích để tôi rút ra kinh nghiệm một cách tích cực. 1. Cơ sở lý luận :

1

Ở lứa tuổi học sinh tiểu học tâm sinh lý các em chưa ổn định, đang hình thành và phát triển. Nên trong sự học tập, làm việc hàng ngày các em sẽ ít tập trung chú ý. Ở các em ý thức học tập chưa có, chưa hiểu rõ mục đích của việc học. Các em đi học phần lớn là do sự bắt buộc của gia đình, chỉ một phần nhỏ là ham thích đi học. Do đó ý thức tự giác học tập của các em chưa có, nên các em thiếu sự cần cù, sự cố gắng vượt qua khó khăn để học tập dễ sinh ra lười biếng, ham chơi và dẫn đến học yếu, chán học và bỏ học… Ở lứa tuổi học sinh tiểu học tính tò mò phát triển, các em thường ham thích cái mới, cái lạ. Nếu chúng ta những người làm công tác giáo dục biết quan tâm tạo sự ham thích cho các em trong học tập, trong các hoạt động ở trường, lớp thì mới có động lực thúc đẩy việc học, nâng cao được khả năng tiếp thu, và thực hành các kĩ năng, kĩ xảo mà chúng ta cung cấp cho các em. Từ đó các em học tập có tiến bộ. Ở lứa tuổi học sinh tiểu học tâm sinh lý các em rất hiếu động, hay bắt chước, dễ thích nghi với môi trường sinh hoạt ở trường, lớp. Đây là điều kiện tốt để giáo viên tạo sự hứng thú cho các em. Nếu hàng ngày khi đến trường các em được thầy cô ân cần chỉ bảo. Trong học tập các em được hoạt động nhóm, được làm thí nghiệm, chơi các trò chơi học tập thì các em sẽ ham học hơn từ đó các em sẽ học tập có tiến bộ hơn. 2. Cơ sở thực tiễn : Hiện nay xu hướng của giáo dục là: “Dạy thật – học thật- thi thật” không chạy theo thành tích. Muốn thế học sinh phải hiểu bài, làm được bài, tức là các em không phải là học sinh yếu kém. Muốn vậy thầy cô phải có sự đổi mới không ngừng về phương pháp cũng như hình thức dạy học. Giáo viên phải luôn làm mới mình trước học sinh. Việc dạy học hiện nay không phải cung cấp kiến thức cho học sinh một cách rập khuôn, mà cung cấp cho học sinh các phương pháp học tập để học sinh tự tìm ra kiến thức một cách tích cực. Đối với học sinh yếu kém thì việc học tập, tiếp thu kiến thức của các em là vấn đề rất quan trọng. Do đó chúng ta phải làm như thế nào để các em học 2

%

%

GIOÛI

SL

%

SL

SL

0

0

04 10.5 18 47.4 16 42.1 0

KHAÙ

YEÁU

%

SL

%

SL

SL

%

0

0

0

12 31.5 26 68.5

3

Sau Hội nghị CB- CNVC đầu năm, tôi tiến hành xây dựng kế hoạch phụ đạo HS yếu của lớp, đứng trước thực tế khó khăn trên tôi hết sức lo lắng về hiệu quả của công tác phụ đạo HS yếu. Khi nhận lớp chủ nhiệm, qua 3 tuần thực dạy và kiểm tra chất lượng đầu năm tôi nhận thấy sự yếu kém của học sinh lớp qua những biểu hiện sau đây: a. Có nhiều lỗ hổng kiến thức, kĩ năng: Nhiều em chưa thuộc bảng nhân chia, thậm chí có em không thực hiện được phép tính cộng trừ có nhớ…, đọc chữ còn chậm, thực hành các bài tập Tiếng Việt còn hạn chế, cách đặt câu, viết văn còn lủng củng… b. Tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng chậm : Với cùng một khoảng thời gian hình thành kiến thức mới, trong khi các học sinh khác đã hiểu bài, biết vận dụng kiến thức thì học sinh kém vẫn chưa biết vận dụng để thực hành kĩ năng. Trong khi luyện tập thực hành, các học sinh khác đã hoàn thành hết các bài tập theo chuẩn, có em còn làm hết các bài tập trong sách giáo khoa thì học sinh kém mới chỉ giải được một bài hoặc một hai phần trong bài học… c. Phương pháp học tập chưa tốt: Một số em không thuộc công thức, quy tắc; chưa đọc kĩ yêu cầu để phân biệt cái đã cho và cái phải tìm đã vội bắt tay thực hành; không chịu thử lại sau khi làm tính, luôn tẩy xoá trong bài làm. Nhiều em không chịu làm ra nháp hoặc làm bài nháp cẩu thả gây ra sự lộn xộn nhầm lẫn khi làm bài vào vở. d. Năng lực tư duy yếu: Tư duy thiếu linh hoạt : Nghe giáo viên phân tích giảng giải, học sinh yếu không biết khái quát, không biết tư duy nên không nhớ trình tự để thục hành. Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng đều phát triển chậm. Khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, sử dụng ngôn ngữ lúng túng, nhiều chỗ lẫn lộn. e. Biểu hiện bề ngoài là thái độ thờ ơ đối với học tập, ngại cố gắng, thiếu tự tin, ngay cả khi làm đúng bài tập, giáo viên hỏi cũng lại ngập ngừng không tin mình làm đúng bài tập. Thái độ trong lớp thụ động. Có thể thấy rõ đặc điểm này

4

khi các em thực hành các bài tập hoặc trả lời câu hỏi. Vì vậy kết quả học tập thường xuyên dưới trung bình. 2. Thực trạng và những mâu thuẫn: Trường Tiểu học Phong Thạnh Tây A là trường thuộc vùng nông thôn, dân trí còn thấp, số hộ nghèo còn nhiều. Trong cuộc sống hàng ngày các em còn phải phụ giúp cha mẹ công việc gia đình. Trình độ học sinh trong một lớp không đồng đều số em khá giỏi thì rất ít hầu như không có, em yếu kém thì nhiều. Việc giáo dục con cái phụ huynh thường khoán trắng cho nhà trường. Hoặc là giáo dục không đúng phương pháp làm ảnh hưởng nhiều đến nhân cách của các em. Trong nhiều năm qua có rất nhiều em trong trường học yếu kém, các em không thích đến trường, tới lớp. Nhiều em rất run sợ khi gặp thầy cô, thụ động trong giờ học, thiếu sự ham học, làm cho các em không phát huy hết được khả năng học tập của mình. Việc phụ đạo giúp đỡ học sinh yếu kém tuy đã được giáo viên và nhà trường quan tâm nhưng sự tiến bộ của các em vẫn chưa cao. Trong giảng dạy giáo viên chi tập trung giảng dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng. Dạy chung cho cả lớp chưa có thời gian giúp đỡ học sinh yếu. Còn để học sinh yếu bên lề lớp học, làm cho học sinh yếu càng yếu hơn. Cơ sở vật chất nhà trường đã được bảo đảm chuẩn, nhà trường có đầy đủ đồ dùng dạy học, nhưng việc sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên trong từng tiết dạy chưa thật sự có hiệu quả. 3. Thực trạng của các nguyên nhân yếu kém: Hiện nay học sinh yếu kém của lớp rất nhiều, vậy để học sinh yếu tiến bộ thì trên lớp học sinh phải hiểu bài, và thực hành các kĩ năng được. Muốn vậy giáo viên phải cần phải nhận diện học sinh yếu kém, phát hiện các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém và tìm các biện pháp giúp đỡ các em. a. Về phía học sinh : – Học sinh ham chơi bỏ bê việc học tập.

5

– Bị mất kiến thức do bị bệnh … hoặc do một nguyên nhân nào đó mà học sinh không đi học được… khi học những bài học sau không hiểu từ đó sinh ra chán học, dẫn đến học tập yếu kém. b. Do giáo viên: – Còn một số GV dạy học còn dàn trải và nâng cao kiến thức cho học sinh một cách tùy tiện. – Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh khiến cho học sinh yếu kém không theo kịp. – Một số giáo viên chưa thật sự chịu khó, chưa thật sự “giúp đỡ” các em thoát khỏi yếu kém. Từ đó các em cam chịu, dần dần chấp nhận với sự yếu kém của chính mình không tự vươn lên… c. Về phía phụ huynh: – Do gia đình vì một lí do nào đó (về kinh tế, tình cảm vv…) không quan tâm đến sự học hành của con cái. Phó mặc mọi việc cho nhà trường. Dẫn đến các em không có ý thức tự giác trong học tập. – Do trong gia đình có sự thay đổi lớn như: bố mẹ li dị, hay cãi vã đánh nhau, gia đình tan vỡ vv… Làm cho trẻ bị thay đổi về tâm lí dẫn đến chán học… – Một số cha mẹ quá nuông trìu con cái, quá tin tưởng vào chúng nên học sinh lười học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi hay đi du lịch…) cha mẹ cũng đồng ý cho phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mất dần căn bản…và rồi yếu kém! – Một số nguyên nhân khác… Qua đó cho thấy nguyên nhân làm cho học sinh yếu kém rất đa dạng. Nên việc giúp đỡ cho học sinh yếu kém học tốt hơn cũng rất đa dạng và đầy khó khăn. Để đổi mới phương pháp dạy học sinh yếu kém thì việc đầu tiên giáo viên luôn quan tâm đến việc tạo sự hứng thú cho học sinh trong học tập, tạo sự ham thích trong học tập, ham thích được đi đến trường.

6

7

Việc xác định nguyên nhân là cả một quá trình vô cùng khó khăn và phức tạp nhưng đó chính là điều kiện không thể thiếu để lựa chọn giải pháp giáo dục phù hợp cho từng đối tượng mà tôi đã tìm được nguyên nhân. c. Bước 3: Lựa chọn và ứng dụng các kinh nghiệm, giải pháp giáo dục HS. – Tất cả có 3 nhóm giải pháp chính, nhưng khi lựa chọn và áp dụng thì đó lại là sự đan xen, phối hợp, hỗ trợ cho nhau tùy theo nguyên nhân dẫn đến học yếu của HS. Chính vì vậy giải pháp là từ chính HS mà ra, tức là HS yếu gì? Nguyên nhân từ đâu mà ta đề ra giải pháp thích hợp. Do đó tìm đúng đặc điểm và nguyên nhân dẫn đến học yếu, là yếu tố quyết định cho việc lựa chọn các nhóm giải pháp khắc phục vấn đề học yếu của HS. c.1 . Nhóm giải pháp kích thích thái độ học tập của HS: Đây là nhóm giải pháp mang tính cơ bản và quan trọng nhất nó phù hợp với hầu hết các đối tượng HS, do nhiều nguyên nhân yếu. Thực vậy trong quá trình giảng dạy mỗi giáo viên đều ý thức được rằng “Tác phong học tập có quyết định rất lớn trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của HS.” Sử dụng lời động viên, khen ngợi hợp lí: Là con người, ai cũng thích được khen và cố gắng để xứng đáng với lời khen đó.Trong mỗi chúng ta ai cũng có nhiều kỉ niệm đẹp về một thời đi học, mà có lẽ lời khen của thầy cô là kỉ niệm đẹp nhất và sâu sắc nhất. Chính vì vậy lời khen thật lòng, đúng lúc là phương thuốc, là giải pháp tối ưu nhất để kích thích thái độ học tập của HS. Nhưng cũng cần chú ý khi sử dụng lời khen phải đúng lúc, đúng chỗ và đảm bảo phải xuất phát tự đáy lòng. Biết chọn vào đúng ngay sự cố gắng, đúng năng khiếu, đúng ngay những tiến bộ mà HS vừa cố gắng đạt được, tránh lạm dụng lời khen biến chúng thành lời nói bình thường và trở nên nhàm chán. Sự việc gì cũng khen, một buổi học ai cũng được khen, khen như vậy không gây được xúc cảm với HS, mà trái lại còn làm cho các em cảm thấy bình thường không phát huy được khả năng của HS. c.2. Nhóm giải pháp thực hiện ngay trên giờ dạy và giờ tổ chức phụ đạo: Đây là nhóm giải pháp có ý nghĩa trực tiếp và xác thực trong quá trình phụ đạo HS yếu. Như đã nói ở trên, muốn phụ đạo đạt hiệu quả phải tìm được

8

9

– Các lực lượng xã hội khác: Thường xuyên liên hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể, các tổ chức từ thiện xã hội kịp thời giúp đỡ HS có hoàn cảnh khó khăn, động viên các em an tâm học tập, tránh trường hợp bỏ học do học yếu và gia cảnh quá khó khăn. d. Bước 4: Kiểm tra đánh giá và rút kinh nghiệm: Việc đánh giá năng lực học tập của HS là việc làm thường xuyên và liên tục mà đặc biệt là đối với học sinh yếu còn phải thực hiện nhiều hơn. Chúng ta đánh giá HS không phải chỉ để xếp loại mà chủ yếu là để đánh giá lại phương pháp tổ chức dạy của chúng ta có đạt hiệu quả hay không, nội dung dạy học cho các em học yếu có phù hợp chưa. Từ đó giáo viên có kế hoạch điều chỉnh cho phù hợp. Mặt khác đánh giá còn để giáo viên xác định đúng đối tượng HS yếu và tìm ra được nguyên nhân để giáo dục tốt hơn. 5. Một số biện pháp, lập kế hoạch dạy học sinh yếu kém: * Thống kê, lập kế hoạch dạy học sinh yếu kém: Ngay từ đầu năm học tôi thống kê được số lượng học sinh yếu kém và đã tìm ra những nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém đó ở học sinh. Tôi phân loại học sinh yếu kém theo những nguyên nhân chủ yếu và có kế hoạch giúp đỡ thích hợp với từng học sinh. Bản thân tôi đã xác định được mức độ học sinh yếu kém, như các em yếu môn gì ?… kiến thức gì ?… Tôi đã có một bộ hồ sơ cá nhân để theo dõi từng em học sinh yếu ở lớp mình… biện pháp đã đề ra, sự chuyển biến của học sinh theo từng tháng… * Một số biện pháp dạy học sinh yếu kém: Từ việc phân loại và lập kế hoạch để thực hiện công tác phụ đạo học sinh yếu kém trong lớp, tôi đề ra một số biện pháp như sau: a. Biện pháp dạy học sinh yếu kém bằng tình thương: Để giúp đỡ học sinh yếu kém giáo viên phải biết sử dụng lời nói, cử chỉ, tổ chức các hoạt động dẫn dắt các em vào bài học, giúp các em yêu mến bạn bè, trường lớp, thầy cô…Giáo viên muốn học sinh ham thích học thì trong tiết dạy 10

11

Muốn học sinh học tập có tiến bộ trước hết giáo viên phải biết cách tổ chức để học sinh ham thích học tập. Muốn học sinh ham thích học thì phải tổ chức được tiết học tích cực cho học sinh. Ham thích học và học tích cực là hai yếu tố tác động qua lại với nhau giúp cho học sinh học tập có kết quả tốt, phát huy được khả năng học tập cao nhất. Trong giảng dạy, nên cố gắng làm sao trong giờ học, cho học sinh yếu kém hoạt động càng nhiều càng tốt. Làm sao cho nhiều em được lên bảng, được nói, được làm bài, được thực hành được thể hiện mình. Trong tiết dạy giáo viên nói nhiều thì kiến thức các em tiếp thu được sẽ chẳng bao nhiêu. Nhưng khi cho các em lên bảng tự làm, tự thực hành thì các em mới khắc sâu kiến thức qua đó cũng kích thích sự ham học ở học sinh. Kiến thức nào học sinh yếu có thể làm được thì giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm, không nên để học sinh khá giỏi làm hết. Giáo viên tổ chức trong một tiết học để tất cả các em trong một giờ học đều tham gia tích cực đặc biệt những em học yếu, nhút nhát giáo viên cần cho các em đó tham gia vào một hoạt động tập thể, rồi dần dần cho các em thể hiện một mình. Hay cho một số em nào mạnh dạn, tự tin lên trước rồi sao đó mới cho các em rụt rè, nhút nhát như lên sau. Có như vậy các em yếu lên sau mới bình tĩnh được. c. Biện pháp giao việc cho học sinh yếu kém. Để học sinh yếu kém học tập có kết quả giáo viên cần cho học sinh thấy các em luôn được thầy cô tin tưởng, thương yêu, được làm việc có ích cho trường, lớp thầy cô bằng cách giao việc cho các em làm. Giáo viên thường xuyên tìm những việc nhỏ, thích hợp hàng ngày ở lớp để giao các em làm. Đặc biệt những học sinh yếu lại có tính nhút nhát, rụt rè để các em mạnh dạn, gần gũi thầy cô hơn. Và các em này sẽ rất vui, rất tự hào và cảm thấy mình đã làm việc có ích và từ đó học tập được tốt hơn.

12

13

phương châm “Thà trường có ít học sinh giỏi còn hơn có một học sinh yếu kém” Trong khi dạy cần dành nhiều thời gian tới học sinh yếu để giúp các em hiểu bài, nắm chắc kiến thức tại lớp, lấy lại kiến thức cũ… e. Phương pháp giảm độ khó của câu hỏi phù hợp với học sinh yếu kém. Trong tiết dạy giáo viên nên quan tâm đến các em yếu hay nhút nhát, không dám xung phong lên bảng. Giáo viên phải tìm được câu hỏi dễ để gọi các em trả lời và sau đó cho cả lớp tuyên dương để động viên các em. Phải biết đặt câu hỏi theo từng đối tượng, đối với học sinh yếu tránh tình trạng câu hỏi quá khó, các em khó xác định đúng, sai, suy luận nhiều. Làm cho các em ngập ngừng không mạnh dạn phát biểu. Trong một giờ học giáo viên nên đổi một số câu hỏi trong sách thành những câu hỏi dạng trắc nghiệm, hay câu hỏi có gợi ý để các em yếu kém dễ dàng trả lời. Ngoài ra đối với học sinh yếu giáo viên nên đưa ra những câu hỏi dạng tái hiện lại kiến thức. Đó là những câu hỏi gồm những kiến thức đã học rồi học sinh chỉ nhớ lại và trả lời. Hoặc để giúp học sinh yếu tích cực trong học tập thì giáo viên nên hỏi những câu hỏi mà phần trả lời có sẵn trên sách giáo khoa. VD: như tìm từ, tìm câu văn…trong môn tập đọc. Trong môn toán thì : Bài toán cho biết gì? Hỏi gi?… f. Biện pháp dạy theo trình độ của học sinh: Hiện nay trong một lớp, học sinh có rất nhiều trình độ khác nhau. Ví dụ: học sinh lớp 4 học yếu toán (chỉ có khả năng làm toán ở lớp 2 hoặc lớp 3). Hoặc yếu Tiếng Việt (mức độ đọc, hay viết văn ở mức lớp 2, 3). Đối với những em này chúng ta không thể cho các em học lại lớp dưới. Nhưng nếu dạy theo chương trình lớp 4 thì các em không hiểu bài, không làm được bài sinh ra chán học. Do đó giáo viên khi dạy học ngoài chương trình chung của khối cần phải dạy kiến thức lớp dưới cho từng em để các em hiểu bài dù đó là bài ở lớp dưới. Học sinh học yếu chủ yếu là do các em hụt hẫng kiến thức dẫn đến không hiểu bài. Dù giáo viên có tạo được sự ham thích học tập ở các em nhưng khi

14

không hiểu được bài thì niềm ham thích đó cũng không còn… Mà sự hụt hẫng kiến thức của các em không giống nhau trong từng lớp học. VD: em yếu môn đọc, em yếu môn chính tả, em yếu môn toán… Trong những em yếu môn toán thì sự mất kiến thức cũng không giống nhau, em yếu dạng toán đố, em yếu dạng toán hình… và mức độ yếu cũng khác nhau… Vì vậy khi đã xác định được trình độ ở các em rồi thì giáo viên nên có kế hoạch dạy theo trình độ từng em. Để việc dạy theo trình độ từng em không ảnh hưởng chung cả lớp thì giáo viên nên tiến hành vào tiết ôn luyện hoặc tiết phụ đạo. Hoặc khi giao bài về nhà cho các em. Còn các tiết dạy học chính khóa thì giáo viên nên đến giúp đỡ từng em… g. Biện pháp thư giản (vui chơi) trong các tiết học: Trong học tập có rất nhiều môn học khô khan, nặng về kiến thức như Toán, Tập làm văn, Chính tả vv…Đối với học sinh thường không có hứng thú học những môn này. Như vậy để tạo được sự hứng thú, ham thích việc học ở học sinh yếu giáo viên cần tăng cường các trò chơi, hình thức học tập sinh động trong tiết học. Khi tổ chức một trò chơi thì học sinh yếu sẽ tham gia hết mình và qua trò chơi giáo viên giúp học sinh nắm được kiến thức, hiểu được bài hơn. Ngoài các trò chơi giáo viên cần tổ chức các hình thức học tập sinh động khác để giúp học sinh yếu có hứng thú trong học tập như đóng kịch, phỏng vấn… Trong các tiết ôn tập, tiết phụ đạo thì giáo viên phải tổ chức giờ học sinh động, vui tươi như vậy mới mang được hiệu quả cao. Nhiều hình thức học tập sinh động khi tổ chức không nên cầu kì quá dẫn đến mất thời gian, tốn kém… giáo viên nên chọn các hình thức học tập đơn giản nhưng mang hiệu quả cao… Trong thời gian chuyển tiết giữa các môn học giáo viên cần phải dành từ 5-7 phút cho học sinh vui chơi (chơi trò chơi, múa hát, kể chuyện, đóng kịch, thi đố…). Để tạo cho học sinh những giây phút thư giãn giữa các tiết học, tạo cho các em sự hưng phấn, thoải mái trở lại sau giờ học căng thẳng…Để tổ chức trò chơi và các hình thức học tập sinh động khác giáo viên lưu ý phải để cho học

15

sinh yếu kém tham gia, giáo viên phải chủ động được trong hình thức học tập đó học sinh yếu có thể tham gia ở phần nào. h. Phương pháp tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp : Để giúp đỡ học sinh yếu kém ngoài các tiết học chính khóa, giáo viên cần thông qua các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp. Như tiết sinh hoạt lớp các hoạt động ngoài trời… Trong tiết sinh hoạt lớp giáo viên có thể tổ chức tuyên dương các em học yếu (dù đó là những tiến bộ nhỏ nhất) nhằm làm cho các em có thêm hứng thú trong học tập và để cho các em thấy mọi nổ lực các em luôn được giáo viên và bạn bè đánh giá cao. Giáo viên cần phối hợp với tổng phụ trách đội tổ chức các hội thi giữa các lớp để giúp các em lấy lại kiến thức… Chú ý nội dung thi chỉ dành cho học sinh yếu và câu hỏi đơn giản các em có thể trả lời được. Tránh các cuộc thi chỉ có các em giỏi tham gia… Qua cuộc thi giúp các em ôn lại kiến thức và giúp cho các em yếu ham học hơn. Phối hợp với tổng phụ trách tuyên dương các em yếu kém có tiến bộ qua buổi chào cờ…Hoặc giáo viên có thể tổ chức cho lớp mình hoạt động độc lập. Giáo viên có thể soạn một số câu hỏi (Nội dung câu hỏi là các kiến thức các em chưa nắm bắt được) giao cho các em yếu đại diện cho các tổ về học và tìm hiểu để hôm sau lên thi…Và khi nhận trách nhiệm này các em yếu sẽ cố gắng học để và tìm hiểu để hôm sau lên thi đua với các bạn. Một khi có hình thức thi đua trong các hoạt động sẽ luôn kích thích các em cố gắng và làm những việc hàng ngày các em không làm được… k. Phối hợp với phụ huynh học sinh: Giáo viên phối hợp với phụ huynh trong việc tạo sự ham thích cho học sinh khi đến trường. Hiện nay một số phụ huynh không biết cách giáo dục con cái, thường đánh đập, la mắng khi con em mình mắc phải một lỗi lầm nào đó ở trường lớp (như bị điểm kém, đánh nhau với bạn), làm cho các em sợ sệt, ức chế khả năng học tập, lao động ở các em, giảm đi niềm ham thích học tập. Do đó

16

giáo viên cần trao đổi, hướng dẫn phụ huynh nên tạo điều kiện tốt để cho để con em mình đến trường (bảo đảm thời gian đến trường, sắm dụng cụ học tập, giúp con học ở nhà, cùng vui chơi học tập với con em mình, nhắc nhở con cái giờ học…), khi giáo dục con em nên nhẹ nhàng, cần cho các em hiểu việc đó đúng sai thay vì la mắng trừng phạt. Giáo viên cần hướng cho phụ huynh biết: Đừng cho các em có quá nhiều thời gian tự do một mình mà cha mẹ không biết. Cần liên lạc với giáo viên để biết tình hình của con em mình, như có đến trường không? Có đi lao động không? Có hành vi gì cần sửa chữa vv… Giáo viên và phụ huynh học sinh cần giúp trẻ vượt qua khó khăn để lấy lại kiến thức đã mất, động viên con khi bị điểm kém thì cũng không nên quá chán nản, mà nên tìm ra nguyên nhân để lần sau cố gắng làm bài tốt hơn. Giáo viên thường xuyên thông tin cho phụ huynh có con em học yếu kém để phụ huynh biết. Trao đổi các biện pháp giúp học sinh học ở nhà. 6. Hiệu quả áp dụng: Qua việc thực hiện các biện pháp trên để giúp đỡ học sinh yếu kém. Kết quả cho thấy học sinh ham học hơn, học tập có tiến bộ, năng động trong học tập cũng như sinh hoạt vui chơi. Số lượng học sinh bỏ học giữa chừng vì học yếu, vì chán học không có. Số liệu cụ thể như sau:

%

%

%

%

%

%

%

%

10 26.3 15 39.4 12 31.5 1 0.26 12 31.5 11 28.9 14 36.8 1 0.26

Trong công việc giúp đỡ học sinh học yếu kém trong học tập có tiến bộ, muốn thành công hay không thì khi tổ chức nên thực hiện đến nơi, đến chốn. Không nên đầu voi, đuôi chuột để rồi không có kết quả. 17

III. KẾT LUẬN 1. Kết luận: Khi học sinh học yếu kém không những các em hụt hẫng đi kiến thức mà các em còn mất đi sự tự tin, tính năng động… và điều này ảnh hưởng đến cả cuộc sống sau này của các em. Nhiều em vì học yếu kém mà bỏ học… sau này sẽ không có công ăn việc làm tốt đẹp, năng suất lao động thấp kém ảnh hưởng đến đời sống gia đình… Do đó giúp đỡ học sinh yếu kém học tập có tiến bộ là một công việc rất quan trọng của người giáo viên… Đổi mới phương pháp giáo dục học sinh yếu kém học tập có tiến bộ là một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay. Nó đáp ứng được việc “Học thật thi thật”, việc “chạy theo thành tích” mà ngành giáo dục đang thực hiện. Thật ra bất cứ hoạt động nào của giáo viên trên lớp cũng đều giáo dục cao, đều giúp cho học sinh ham thích học tập và học tập có tiến bộ. Trong một tiết dạy, trong buổi lao động, buổi nói chuyện, một phong trào hoạt động của đội, của nhà trường đều cung cấp kiến thức cho học sinh, đều có thể giúp đỡ học sinh yếu kém tiến bộ hơn. Điều quan trọng là giáo viên có biết cách áp dụng để giúp đỡ học sinh yếu kém hay không? Theo tôi phương pháp hay nhất là chúng ta hãy làm việc hết mình luôn quan tâm đến các em và tự đúc kết lại các kinh nghiệm cho bản thân để năm sau làm tốt hơn năm trước. Việc giúp đỡ học sinh kém học tập có tiến bộ là một công việc lâu dài và tiến hành thường xuyên. Nếu chúng ta chú trọng đến nó sẽ mạng lại lợi ích rất lớn cho công tác giáo dục. 2. Bài học kinh nghiệm : Để việc giúp đỡ học sinh yếu kém có kết quả hơn, theo tôi, chúng ta cần phải tiến hành một số công việc sau: a. Ngay từ đầu năm học, sau khi tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn cần phối hợp phân tích, đánh giá kết quả đạt được của học sinh để đưa ra các dự báo về học sinh yếu kém. Cần phải nhận

18

19

Chinh quyên địa phương, các tổ chức đoàn thể ngoài xã hội thường xuyên quan tâm, hỗ trợ cho những học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn học yếu kém nhiều hơn nữa để giúp các em vươn lên trong học tập. Phong Thạnh Tây, ngày 19 tháng 3 năm 2014 Người viết đề tài

Hồ Văn Lo

20

“Một Số Biện Pháp Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Khắc Phục Khó Khăn Khi Giải Các Bài Toán Điển Hình Ở Lớp 3”

Toán học là một mảng kiến thức xuyên suốt quá trình học toán của học sinh. Nó không chỉ truyền thụ và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo tính toán để giúp các em học tốt môn khác mà còn giúp các em rèn luyện trí thông minh, óc tư duy sáng tạo, khả năng tư duy lô gic, làm việc khoa học. Vì vậy chúng ta cần phải quan tâm tới việc dạy toán ở Tiểu học.

Trong chương trình toán ở Tiểu học cũng như chương trình toán lớp 3 gồm 4 mạch kiến thức cơ bản: Trong đó giải các bài toán có lời văn có vị trí đặc biệt quan trọng. Việc dạy học giải toán giúp học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của con người mới.

Giải toán là một mạch kiến thức cơ bản của toán học nó không chỉ giúp cho học sinh thực hành vận dụng những kiến thức đã học mà còn rèn cho học sinh khả

năng diễn đạt ngôn ngữ qua việc trình bày lời giải một cách rõ ràng, chính xác, khoa học, thông qua việc giải toán có lời văn học sinh được giáo dục nhiều mặt trong đó có ý thức đạo đức.

Ngày nay, trong quá trình dạy học chương trình sách giáo khoa mới đòi hỏi người giáo viên cần vận dụng những phương pháp dạy học mới (Phương pháp dạy học tích cực). Xuất phát từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.

Tuy nhiên trong quá trình dạy học, người giáo viên còn vận dụng phương pháp dạy học truyền thống dẫn đến kết quả giảng dạy chưa đạt yêu cầu làm giảm hứng thú học tập của học sinh. Đây là một khó khăn không nhỏ đối với giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học hiện nay. Đặc biệt là việc giải các bài toán có lời văn của giáo viên còn lúng túng về nhiều mặt, một phần không nhỏ học sinh gặp khó khăn khi giải bài toán còn nhầm lẫn sai sót, trình bày bài giải chưa chính xác, việc hình thành kỹ năng còn chậm, khả năng suy luận kém. Ngoài ra, còn do điều kiện gia đình càng ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập của các em. Vậy làm như thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường Tiểu học ? làm thế nào để nâng cao hứng thú học tập cho học sinh ?…. Hàng loạt câu hỏi đặt ra và nó đã làm cho bao nhiêu thế hệ thầy cô phải trăn trở suy nghĩ. Là một giáo viên đã trực tiếp giảng dạy nhiều năm tôi nhận thấy mình phải có trách nhiệm trong việc giúp đỡ học sinh có được kết quả học tập cao.

Xuất phát từ yêu cầu quan trọng của môn học và tình hình thực tế việc dạy và học Toán như trên, tôi đã đi nghiên cứu đề tài:

“Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3”

2. Mục đích nghiên cứu

– Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của học sinh yếu kém khi học Toán

– Phân tích nguyên nhân của học sinh yếu kém khi học Toán.

– Tập dượt bồi dưỡng nghiên cứu khoa học cho bản thân.

– Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Toán ở Tiểu học.

3. Đối tượng nghiên cứu

Năm học 2016 – 20147tôi được phân công giảng dạy lớp 3A, trường Tiểu học An Bồi – Kiến Xương- Thái Bình nên đối tượng tôi chọn để nghiên cứu là học sinh lớp 3A do tôi chủ nhiệm.

4. Phạm vi nghiên cứu

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu chuẩn chương trình nội dung dạy học các bài toán điển hình ở lớp 3.

– Nghiên cứu chỉ đạo chung về phương pháp giảng dạy môn toán.

– Điều tra những khó khăn mà giáo viên và học sinh thường mắc.

– Đề xuất những biện pháp khắc phục.

6. Phương pháp nghiên cứu

Trong qua trình nghiên cứu tôi có sử dụng một só phương pháp sau:

– Phương pháp gợi mở, vấn đáp.

– Phương pháp giải quyết vấn đề.

– Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.

– Phương pháp luyện tập, thực hành .

– Phương pháp phân tích ngôn ngữ.

7. Những đóng góp mới của đề tài

– Qua nghiên cứu tôi đã đưa ra một số biện pháp và đúc kết được một số kinh nghiệm để giúp học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3.

8. Kế hoạch nghiên cứu

– Tháng 9/ 2016: Lựa chọn tên đăng ký sáng kiến kinh nghiệm

– Tháng 10/ 2016 đến tháng 1/ 2017: Xây dựng đề cương kế hoạch, sưu tầm tài liệu số liệu để xây dựng cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn cho sáng kiến kinh nghiệm, điều tra nghiên cứu thực tế tiến hành thực nghiệm.

– Tháng 2 đến tháng 5 năm 2017: Tiếp tục các biện pháp giáo dục đối tượng, viết nháp sửa thảo văn bản, viết soạn công trình, hoàn thành bản thảo, viết sáng kiến kinh nghiệm.

Phần II: NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1. Vai trò của dạy học giải toán ở Tiểu học nói chung và giải các bài toán có lời văn ở lớp 3 nói riêng

– Dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán và các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú những vấn đề thường gặp trong đời sống.

– Nhờ giải toán học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phần cần thiết vì giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái cần tìm. Trên cơ sở đó chọn được phép tính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán.

– Dạy học giải toán giúp học sinh phát hiện giải quyết vấn đề, tự nhận xét so sánh, phân tích, tổng hợp rút ra quy tắc ở dạng khái quát.

a. Nội dung dạy các bài toán điển hình có nội dung hình học được học thành 4 tiết lý thuyết và 3 tiết thực hành, cụ thể:

+ Chu vi hình chữ nhật, chu vi hình vuông.

+ Diện tích hình chữ nhật, diện tích hình vuông.

+ Tiết 157: Bài toán được giải bằng 2 phép tính chia.

3. Yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt được

a. Bài toán có nội dung hình học

– Biết tính độ dài đường gấp khúc.

– Biết tính chu vi diện tích hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc).

4. Các dạng bài tập

a. Các bài tập có nội dung hình học

– Bài tập về “Nhận biết hình” (nhận dạng hình)

– Bài tập về “xếp ghép hình” chẳng hạn từ 8 hình tam giác bằng nhau xếp thành cac hình như ở trang 71, trang 82 sách toán 3.

Ví dụ: Bài 4 trang 82 – Toán 3.

– Bài tập về ‘Tính chu vi” hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc)

– Bài tập về :Tính diện tích” các hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc)

– Bài tập về “Thực hành” chẳng hạn gấp giấy để tạo thành mép vuông (bài 4 trang 43 sách toán 3) hoặc gấp tờ giấy hình chữ nhật để xác định trung điểm của đoạn thẳng (Bài 2 trang 99 sách toán 3).

– Là một dạng của toán hợp giải bằng hai phép tính. Bài toán được xây dựng từ hai bài toán đơn là ý nghĩa thực tế của phép nhân hoặc phép chia, chẳng hạn:

+ Dạng 1: Bài toán “Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao đó có bao nhiêu ki-lô-gam gạo ?”

Từ cách hiểu trên ta hướng dẫn học sinh giải bằng 2 phép tính, mỗi phép tính ứng với một bài toán đơn tạo thành tương ứng:

Bài giải:

Số ki-lô-gam gạo trong mỗi bao là:

28 : 7 = 4 (kg)

Số ki-lô-gam gạo trong 5 bao là:

4 x 5 = 20 ( kg)

Đáp số: 20 kg

+ Dạng 2: Bài toán “Có 40 kg đường đựng đều trong 8 túi. Hỏi 15 kg đường đựng trong mấy túi như thế ?

Được xây dựng từ hai bài toán đơn: ” Có 40 kg đường đựng đều trong 8 túi. Hỏi mỗi túi đựng bao nhiêu ki-lô-gam đường ?” và bài toán: “Mỗi túi đựng 5 kg đường. Hỏi 15 kg đường đựng trong mấy túi như thế ?

Bài giải:

Số ki-lô-gam đường đựng trong mỗi túi là:

40 : 8 = 5 (túi)

Số túi cần để đựng 15 kg đường là:

15 : 5 = 3 (túi)

Đáp số: 3 túi

5. Phương pháp dạy học giải bài toán điển hình ở lớp 3

– Phương pháp dạy học toán là cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục tiêu dạy học toán.

– Phương pháp dạy học toán là sự vận dụng một cách hợp lý phương phương pháp dạy học theo đặc trưng bộ môn toán mà vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học sau: Phương pháp thực hành luyện tập gợi mở, vấn đáp, giảng giải, minh họa.

II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Những thuận lợi, khó khăn *Thuận lợi

– Cơ sở vật chất nhà trường đảm bảo và phù hợp với lứa tuổi học sinh.

– Nhìn chung các em ngoan, tham gia tích cực các hoạt động của trường của lớp.

– So với trước đây, phụ huynh đã có sự quan tâm hơn đối với việc học tập của con em mình.

– Về phía giáo viên: Hầu hết các thầy cô đều yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề nghiệp, có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao, 100% giáo viên đã đạt chuẩn và trên chuẩn.

* Khó khăn

– Nhiều em chưa được bố mẹ quan tâm, ít chú ý đến việc học tập. Hơn nữa trình độ học vấn của các bậc phụ huynh chưa tiếp cận được với phương pháp học tập theo chương trình đổi mới.

Thực trạng của học sinh hiện nay có thể khẳng định rằng học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng còn yếu về khả năng phân tích, tư duy để giải bài toán có lời văn.

2. Thực trạng việc dạy học giải toán có lời văn của giáo viên

– Muốn học sinh học tập đạt kết quả thì vấn đề đặt ra cần phải đề cập đến là phương pháp giảng dạy, là cách thức tổ chức hoạt động học tập cho học sinh và quan trọng hơn cả là người giáo viên có trình độ kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm giảng dạy…

Để nghiên cứu sáng kiến này tôi đã khảo sát chất lượng học sinh ngay từ đầu năm học có kết quả như sau:

– Qua điều tra thực tế dạy học môn Toán của giáo viên trường Tiểu học An Bồi – Kiến Xương – Thái Bình tôi nhận thấy một thực trạng như sau:

+ Về trình độ giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn. Trong quá trình giảng dạ có nhiều cố gắng đạt mục tiêu bài dạy, có ý thức nâng cao tay nghề.

+ Xong việc vận dụng những kiến thức đã có vào việc giảng dạy còn có nhiều hạn chế, lúng túng, vụng về, thiếu linh hoạt.

+ Năng khiếu sư phạm còn hạn chế dẫn đến việc hướng dẫn học sinh giải bài toán đôi khi còn thiếu chính xác. Kiến thức cơ bản nhiều khi còn bị lãng quên, sự đầu tư vào chuyên môn chưa nhiều dẫn đến chất lượng giờ dạy chưa cao.

VD: Khi hướng dẫn học sinh giải toán, giáo viên chưa khuyến khích học sinh tìm nhiều cách giải khác nhau, chưa cho học sinh thấy được ý nghĩa thực tiễn của nó trong cuộc sống.

+ Một số giáo viên còn chịu ảnh hưởng của phương pháp dạy học truyền thống.

4. Thực trạng việc học giải toán điển hình của học sinh lớp 3

vị hay mắc phải sai lầm như sau:

– Học sinh chưa đọc kỹ đề bài, xác định yêu cầu bài toán chưa đúng, không biết bài toán thuộc loại toán nào dẫn đến việc áp dụng công thức, quy tắc nhầm, lẫn lộn với nhau, kết quả giải toán bị sai.

+ Khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình chữ nhật thì lại áp dụng quy tắc tính chu vi hình vuông và ngược lại khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình vuông thì lại áp dụng quy tắc quy tắc tính chu vi hình chữ nhật.

+ Khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình vuông và chu vi hình chữ nhật thì học sinh yếu, kém không nắm chắc quy tắc để vận dụng quy tắc tính, nhầm giữa tính chu vi hình vuông sang tính diện tích hình vuông, nhầm giữa tính chu vi hình chữ nhật sang tính diện tích hình chữ nhật.

+ Trong bài giải bài toán về chu vi, diện tích các hình (Bài 3 trang 155- Toán 3) khi viết tên đơn vị đo, các em còn bỏ sót, nhầm lẫn. Thông thường kích các cùng đơn vị đo nào thì chu vi có cùng đơn vị đo đó, nhưng với diện tích thì đơn vị đo lại khác. Chẳng hạn: Với hình chữ nhật có chiều dài 9 cm, chiều rộng 6 cm thì đơn vị đo của chu vi là cm, nhưng đơn vị đo của diện tích là cm2. Cụ thể là:

Chu vi hình chữ nhật là:

(9 + 6 ) x 2 = 30 (cm)

Diện tích hình chữ nhật là:

9 x 6 = 54 (cm2)

+ Trong trường hợp số đo các cạnh không cùng đơn vị thì học sinh chưa biết đổi ra cùng đơn vị đo.

VD: Tính diện tích và chu vi hình chữ nhật có chiều dài là 4 dm, chiều rộng là 8 cm.

– Học sinh yếu kém nhận diện hình chậm, không hiểu thuật ngữ toán học, không biết bài đã cho dữ kiện nào để áp dụng vào giải toán. Không nắm được các thao tác giải toán, không biết tư duy bài toán (bằng lời hoặc hình vẽ) nên trình bày sai lời giải, sai bài toán, đáp số sai, thiếu.

– Học sinh yếu còn nhầm khi bài toán cho chu vi hình vuông đi tìm cạnh, học sinh không hiểu bài toán ngược lại áp dụng công thức cạnh hình vuông bằng chu vi chia cho 4.

VD: Bài toán

+ Cho cạnh hình vuông tính chu vi và diện tích, học sinh nhầm giữa hai cách tính nên kết quả bị sai.

+ Cho chiều dài, chiều rộng hình chữ nhật. Tính chu vi, diện tích. Học sinh lại nhầm hai công thức tính dẫn đến kết quả sai.

Dạng 1

+ Bước 1: Rút về đơn vị, tìm giá trị một phần

– Học sinh nhầm khi trả lời chưa rõ ràng

– Sau khi thực hiện phép tính chia ghi danh số sai với câu trả lời

VD: Bài 2 trang 128

“Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao có bao nhiêu ki-lô-gam gạo?”

Học sinh trả lời sai:

Danh số kết quả sau: 28 : 7 = 4 (bao)

Học sinh phải làm đúng là: 28 : 7 = 4 (kg)

Bước 2: Tìm 5 bao có số ki-lô-gam gạo là:

4 x 5 = 20 (kg)

Học sinh hay đặt ngược phép tính là:

5 x 4 = 20 (bao)

Như vậy:

Khi học sinh giải bài toán dạng 1 hay trả lời sai hoặc sai danh số, phép tính sai vì đặt ngược.

Dạng 2:

Bước 1: Tìm giá trị một phần thực hiện phép chia

Bước 2: Biết giá trị một phần thực hiện phép chia để tìm kết quả theo câu hỏi của bài toán.

– Học sinh thường sai: Trả lời sai, ghi danh số nhầm

VD: Bài toán 2 trang 166

Bước 1: tìm giá trị một phần

– Học sinh trả lời sai

3. Một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên

a. Nguyên nhân khách quan

– Do đặc thù tình hình của địa phương là vùng đất nông nghiệp 90% học sinh là con em nông dân trong đó có đến 50% là con nông dân nghèo, điều kiện

kinh tế gia đình eo hẹp dẫn đến điều kiện học tập của các em cũng bị ảnh hưởng rất nhiều.

– Một số gia đình chưa thực sự quan tâm động viên các em kịp thời cũng như tạo điều kiện tốt hơn để các em học tập.

b. Nguyên nhân chủ quan

– Giáo viên: Trong giảng dạy, một số giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học chưa linh hoạt, nhịp độ giảng dạy quá nhanh khiến học sinh yếu, kém không theo kịp. Một số giáo viên còn thiếu tinh thần trách nhiệm với học sinh. Việc đầu tư cho chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, chưa nắm vững yêu cầu về kỹ thuật và kỹ năng của bài toán, chưa quan tâm đến học sinh yếu, kém.

– Học sinh:

+ Sự phát triển nhận thức của một số em còn chậm, không đồng đều, hoạt động tư duy logic kém. Việc lĩnh hội kiến thức ở các lớp trước chưa đầy đủ, còn những lỗ hổng về kiến thức. Một số em có thái độ học tập chưa tốt, ngại cố gắng, thiếu tự tin.

+ Ngoài ra, có em do sức khỏe chưa tốt, gia đình chưa quan tâm đến việc học hành của các em. Một số phụ huynh do không nắm được cách giải toán ở tiểu học nên không hướng dẫn được cho các em hoặc hướng dẫn các em những cách giải toán của bậc Trung học cơ sở.

Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả dạy và học xong đây chỉ là một số nguyên nhân mà trong chương trình công tác và nghiên cứu làm đề tài tôi phát hiện ra. Những nguyên nhân trên tác động lẫn nhau làm giảm hứng thú học tập của học sinh, làm cho cac em thiếu tự tin cố gắng vươn lên dẫn đến kết quả học tập không tốt.

Để khắc phục những tồn tại trên cần phải có biện pháp khắc phục hợp lí.

III. CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Việc dạy học giải toán ở tiểu học là giúp học sinh tự tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm, mô tả quan hệ đó bằng cấu trúc ghép tính cụ thể, thực hiện phép tính, trình bày lời giải bài toán. Giáo viên cần phải tổ chức cho học sinh nắm vững khái niệm toán học, cấu trúc phép tính, các thuật ngữ…Tổ chức cho học sinh thực hiện các bước giải toán. Vậy qua quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài tôi xin đưa ra một số biện pháp sau đây.

1. Trang bị những công thức, quy tắc, kỹ năng giải toán

Học sinh cần nắm chắc quy tắc, công thức tính, các bước tính của một phép tính từ đó mới rèn luyện được kỹ năng tính toán.

Đối với loại toán có nội dung hình học thì khả năng nhận biết các đặc điểm cảu một hình vẽ là rất quan trọng.

Ví dụ: Khi dạy về “Diện tích hình chữ nhật” giáo viên cần cho học sinh nhắc lại đặc điểm của hình chữ nhật thông qua hình vẽ.

+ Khả năng cắt ghép hình tam giác thành hình chữ nhật.

+ Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh nhớ rõ các ký hiệu hình vẽ.

Chẳng hạn, đâu là cạnh chiều dài của hình, đâu là cạnh chiều rộng của hình chữ nhật. Từ đó học sinh biết vận dụng vào giải các bài toán áp dụng trực tiếp quy tắc đã xây dựng để vận dụng tính.

Bài tập VD: Cho hình chữ nhật có cạnh dài là 8cm, cạnh ngắn là 5cm. Tính diện tích hình chữ nhật đó ?

Với bài tập này học sinh chỉ cần vận dụng đúng quy tắc, công thức đã được trang bị là giải được ngay. Cũng có những bài toán đòi hỏi học sinh phải có khả năng tư duy thì mới giải được. Do vậy, giáo viên cần rèn cho các em kỹ năng này.

VD: Bài toán: Cho hình chữ nhật có nửa chu vi là 22cm, cạnh ngắn là 9 cm. Tính diện tích hình chữ nhật đó ?

– Khi giải bài toán không có cùng đơn vị đo thì phải biết đổi ra cùng một đơn vị đo.

VD: Số đo cạnh theo mm, số đo diện tích theo cm2. Vậy phải đổi số đo cạnh ra cm.

– Giáo viên cần lưu ý cho học sinh:

+ Với hình chữ nhật có số đo chu vi là cm, thì đơn vị đo của diện tích là cm2

+ Với hình vuông có số đo chu vi là cm thì đơn vị đo của diện tích hình vuông là cm2.

Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh biết đề bài yêu càu tính cái gì? Bài toán thuộc dạng 1 hay dạng 2 để giải bài toán.

Ví dụ:

+ Bài toán ở dạng 1 thì phải tìm giá trị của một phần là thực hiện phép chia rồi mới tìm được giá trị của nhiruf phần (thực hiện phép tính nhân).

+ Bài toán chia ở dạng 2 thì: Bước 1 cũng phải tìm giá trị một phần (thực hiện phép tính chia) nhưng ở bước 2 thì lại khác với bước 2 ở dạng 1 đó là biết giá trị một phần rồi lại tiếp tục thực hiện phép chia để tìm kết quả theo yêu cầu của bài toán.

*Điều quan trọng chủ yếu khi dạy giải toán là dạy học sinh biết cách giải bài toán (phương pháp giải toán). Giáo viên không được làm thay, không được áp đặt cach giải cần phải tạo cho học sinh tự tìm ra cách giải bài toán tập trung vào 3 bước:

+ Tính toán để biết bài toán cho gì, hỏi gì, yêu cầu gì?

+ Tìm cách giải thông qua việc thiết lập mối quan hệ giữa các dữ kiện của

bài toán (giả thiết) với yêu cầu của bài (kết luận) để tìm ra phép tính tương ứng.

+ Trình bày bài giải, viết câu lời giải, phép tính trung gian và đáp số.

2. Biện pháp hình thành và rèn luyện kĩ năng giải toán điển hình

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của mình, tôi nhận thấy rèn kĩ năng giải toán cho học sinh là một biện pháp không thể thiếu trong qua trình dạy học.

Do đặc điểm của môn toán ở tiểu học được cấu tạo theo kiểu đồng tâm các nội dung được củng cố thường xuyên và được phát triển dần từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó. Sau khi đã lĩnh hội kiến thức, kĩ năng toán học, để định hình vững chắc kiến thức ấy, học sinh cần rèn luyện vận dụng qua các dạng bài tập khác nhau, có yêu cầu cao hơn. Để giải được các bài tập ấy, giáo viên cần hướng dẫn các em tư duy từ cái đã biết để tìm cái chưa biết, rèn cho học sinh óc suy luận, phán đoán và kỹ năng.

– Phân tích đề bài toán: Là một kỹ năng quan trọng nhất

Ví dụ: Bài toán 1

“Một tờ giấy hình chữ nhật có chiều dài 72cm, chiều rộng bằng 1/8 chiều dài. Tính diện tích tờ giấy đó”.

Để giải được bài toán này học sinh cần phải phân tích đề và dựa vào những yếu tố đã biết để giải.

+ Bài toán đã biết chiều dài chưa?

+ Bài toán đã biết chiều rộng chưa?

Vậy để tính được diện tích tờ giấy thì ta phải tính gì trước?

Qua hàng loạt câu hỏi đặt ra để phân tích yêu cầu bài toán, trả lời được các câu hỏi đó, học sinh sẽ làm được bài tập dễ dàng.

Với các kỹ năng đã có của học sinh, giáo viên là người giúp học sinh rèn luyện và phát huy những kỹ năng ấy, cần cho học sinh nắm rõ thuật ngữ toán học”chiều rộng bằng 1/8 chiều dài nghĩa là gì?

Biết phân tích và tóm tắt bài toán bằng cách ghi các dữ kiện đã cho và câu hỏi của bài toán dưới dạng ngắn gọn nhất. Qua tóm tắt học sinh có thể nêu lại được bài toán, từ đó lập kế hoạch giải, do vậy giáo viên cần hướng dẫn:

+ Muốn tính được diện tích tờ giấy ta cần dữ liệu nào? (có chiều dài, có chiều rộng).

+ Tìm chiều rộng bằng cách nào ? Lấy 72 : 8 = 9 (cm)

Như vậy với một số câu hỏi gợi mở mà giáo viên đưa ra, học sinh có thể sẽ tìm cách giải bài toán về những kiến thức đã học để có thể áp dụng được công thức tính.

Giáo viên cũng vận dụng cách hướng dẫn trên, yêu cầu học sinh phân tích kỹ yêu cầu bài toán, xem bài toán thuộc dạng toán 1 hay dạng toán 2. Vận dụng công thức tính đến việc suy luận cho nên việc xác định dạng toán là rất quan trọng.

VD: “Có 45 học sinh xếp thành 9 hàng đều nhau. Hỏi có 60 học sinh thì xếp được bao nhiều hàng như thế ?”.