Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học

--- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Đề Tài Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Lớp 2
  • Đề Tài Một Số Đề Xuất Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs
  • Skkn Lớp 1: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 1 0103004 Doc
  • Giáo dục đạo đức cho học sinh các cấp học nói chung và học sinh Tiểu học nói riêng là một trong những yêu cầu vô cùng quan trọng và cần thiết trong trường Tiểu học.

    Biện pháp thứ nhất: Giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh thông qua hoạt động học trên lớp.

    Chỉ đạo giáo viên giảng dạy các khối lớp thực hiện tốt chương trình Hoạt động giáo dục môn Đạo đức.

    Tổ chức giảng dạy tốt hoạt động thực hành, đặc biệt là hoạt động đóng vai các nhân vật trong từng tình huống theo câu chuyện của bài học. Từ đó nâng cao nhận thức, hiểu biết của học sinh về giá trị đạo đức thông qua tình huống cụ thể.

    các tiết Hoạt động tập thể cuối tuần(Sinh hoạt lớp); các tiết dạy Ngoài giờ lên lớp theo Phân phối chương trình.

    Giáo dục lồng ghép kỹ năng sống, giáo dục đạo đức thông qua các môn học khác.

    Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn đạo đức. Cho học sinh được xem nhiều hoạt cảnh, câu chuyện giáo dục về đạo đức. Tổ chức cho học sinh thực hành liên hệ với thực tế cuộc sống thông qua các bài học. Rèn luyện tốt các phẩm chất cho học sinh

    Biện pháp thứ hai: Giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục Ngoài giờ lên lớp.

    Các em học sinh đến trường không chỉ học tập về kiến thức mà còn được giáo dục và rèn luyện về các năng lực, phẩm chất, về truyền thống đạo đức phù hợp với lứa tuổi của học sinh tiểu học. Thông qua các hoạt động học tập trên lớp thầy cô sẽ hướng dẫn, hỗ trợ, cung cấp cho các em về kiến thức, sẽ bồi dưỡng và rèn luyện cho các em phát triển về các năng lực, phẩm chất, về truyền thống đạo đức dân tộc, về những kinh nghiệm sống, kỹ năng ứng xử cơ bản, đơn trong cuộc sống. Nhưng giáo dục và rèn luyện qua các hoạt động học trên lớp thì chưa đủ để các em học sinh có cơ hội phát huy hết được khả năng của mình. Do đó cần có sự kết hợp giữa các hoạt động học trên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Bởi “Hoạt động ngoài giờ lên lớp” là một trong những nội dung giáo dục toàn diện học sinh. Với mục đích tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp nhằm khắc sâu kiến thức các môn học và các hoạt động giáo dục bằng cách tổ chức ngoài giờ học. Từ đó giúp các em học sinh trang bị toàn diện hơn về kiến thức, kĩ năng, về năng lực, phẩm chất để có thể hòa nhập với xã hội. Do đó để giáo dục đạo đức cho học sinh đạt hiệu quả tốt thông qua hoạt động Ngoài giờ lên lớp cần:

    Tổ chức cho học sinh tham gia tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày lễ lớn trong năm học.

    Tổ chức tốt các buổi lao động, vệ sinh làng bản đặc biệt là các buổi lao động vệ sinh làm sạch, đẹp các công trình văn hóa – lịch sử. Tổ chức các buổi giao lưu với học sinh khuyết tật,…. Phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái;..Từ đó giúp các em hiểu rõ hơn về giá trị đạo đức, truyền thống đạo đức dân tộc.

    Biện pháp thứ 3: Tổ chức cho học sinh tham gia cuộc thi do các cấp tổ chức.

    Biện pháp thứ 4: Thực hiện tốt công tác phối kết hợp với giữa Gia đình- Nhà trường – Xã hội trong công tác giáo dục và rèn luyện học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Tăng Dân Số Có Liên Quan Như Thế Nào Đến Chất Lượng Cuộc Sống? Ở Việt Nam Đã Có Biện Pháp Gì Để Giảm Sự Gia Tăng Dân Số Và Nâng Cao Chất Lượng Cuộc Sống?
  • Nêu Những Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề Gia Tăng Dân Số Hiên Nay?
  • Trách Nhiệm Của Nhà Nước Trong Vấn Đề Giải Quyết Việc Làm
  • 5 Bước Để Nắm Vững Kỹ Năng Giải Quyết Vấn Đề Mà Bạn Cần Biết
  • Tiểu Luận Phân Tích Các Biện Pháp Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Khuyết Tật Trí Tuệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Gd Trẻ Khuyết Tật: Giáo Viên Cần Điều Chỉnh Phù Hợp Với Từng Học Sinh
  • Một Số Kinh Nghiệm Dạy Học Sinh Khuyết Tật Học Hòa Nhập
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp “rèn Học Sinh Yếu Kém”
  • Trường THCS Nguyễn Hữu Cảnh được thành lập ngày 10 tháng 9 năm 1998 theo Quyết định số 29/QĐ.TC của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai.

    Trải qua 14 năm giáo dục-đào tạo, hàng năm đều có những học sinh khuyết tật. Tuy nhiên, sự quản lý-giáo dục-đo tạo và chăm lo cho các đối tượng này chưa thực sự đúng với yêu cầu thực tế của các em.

    Ngày nay theo xu thế phát triển chung của toàn cầu,cả về đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần, nhu cầu học tập ngày một tăng, việc sử dụng ngôn ngữ chung trong giao tiếp là rất cần thiết. Vì thế việc dạy- học cho học sinh khuyết tật “Khuyết tật trí tuệ” là rất quan trọng đối với mọi người.

    Trước tình hình đó, chúng ta, những người trực tiếp quản lý- giảng dạy cần nỗ nực không ngừng để tìm ra một phương pháp giảng dạy thích hợp,nhằm đem lại kết quả cao nhất cho người học. Để làm được điều này thiết nghĩ chúng ta cần phải có những thủ thuật hay còn gọi là phương pháp dạy của thầy và hướng cho người học những định hướng nhất định nào đó.

    PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẨM MỸ TRƯỜNG THCS NGUYỄN HỮU CẢNH Mã số: ................................ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Người thực hiện: Phạm Dục Lĩnh vực nghiên cứu: Quản lý giáo dục 1 Phương pháp dạy học bộ mơn: ............................... 1 Phương pháp giáo dục 1 Lĩnh vực khác: ......................................................... 1 Cĩ đính kèm: 1 Mơ hình 1 Phần mềm 1 Phim ảnh 1 Hiện vật khác Năm học: 2011-2012 SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC THƠNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN Họ và tên: Phạm Dục Ngày tháng năm sinh: 22/12/1975 Nam, nữ: Nam Địa chỉ: Trường THCS Nguyễn Hữu Cảnh- Ấp 1-Lâm San-Cẩm Mỹ-ĐN. Điện thoại:0933773223 (CQ):061.371.3281 (NR); ĐTDĐ:061.371.2526 Fax: E-mail: [email protected] Chức vụ: Hiệu trưởng Đơn vị cơng tác: Trường THCS Nguyễn Hữu Cảnh- Ấp 1-Lâm San-Cẩm Mỹ-Đồng Nai. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO Học vị (hoặc trình độ chuyên mơn, nghiệp vụ) cao nhất: Đại học Năm nhận bằng: 2007 Chuyên ngành đào tạo: Tiếng anh KINH NGHIỆM KHOA HỌC Lĩnh vực chuyên mơn cĩ kinh nghiệm: Quản lý giáo dục Số năm cĩ kinh nghiệm: 11 Các sáng kiến kinh nghiệm đã cĩ trong 5 năm gần đây: Tin học hĩa giáo viên. Ứng dụng Cơng nghệ thơng tin trong soạn giảng. Một số biện pháp nâng cao chất lượng bộ mơn Tiếng anh 9. Một số biện pháp nâng cao chất lượng bộ mơn Tiếng anh 7. Các bước dạy một tiết đọc hiểu. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trường THCS Nguyễn Hữu Cảnh được thành lập ngày 10 tháng 9 năm 1998 theo Quyết định số 29/QĐ.TC của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai. Trải qua 14 năm giáo dục-đào tạo, hàng năm đều cĩ những học sinh khuyết tật. Tuy nhiên, sự quản lý-giáo dục-đào tạo và chăm lo cho các đối tượng này chưa thực sự đúng với yêu cầu thực tế của các em. Ngày nay theo xu thế phát triển chung của toàn cầu,cả về đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần, nhu cầu học tập ngày một tăng, việc sử dụng ngôn ngữ chung trong giao tiếp là rất cần thiết. Vì thế việc dạy- học cho học sinh khuyết tật "Khuyết tật trí tuệ" là rất quan trọng đối với mọi người. Trước tình hình đó, chúng ta, những người trực tiếp quản lý- giảng dạy cần nỗ nực không ngừng để tìm ra một phương pháp giảng dạy thích hợp,nhằm đem lại kết quả cao nhất cho người học. Để làm được điều này thiết nghĩ chúng ta cần phải có những thủ thuật hay còn gọi là phương pháp dạy của thầy và hướng cho người học những định hướng nhất định nào đó. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Cơ sở lý luận Thực hiện Quyết định số 23/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 22 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo "Quy định về giáo dục hịa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật". Ngày 2-3/8/2011 Sở Giáo dục & Đào tạo Đồng nai tổ chức triển khai tập huấn cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục về giáo dục hịa nhập học sinh khuyết tật cấp Trung học cơ sở, Trung học phổ thơng. Ngày 9-10/9/2011 tơi được Phịng Giáo dục &Đào tạo giao nhiệm vụ triển khai chuyên đề số 6 về dạy học hịa nhập học sinh khuyết tật trí tuệ cấp trung học. Quan tâm đến trẻ khuyết tật càng sớm thì khả năng hịa nhập cộng đồng của trẻ càng cao, là bàn đạp để các em vươn lên trong cuộc sống và bớt đi gánh nặng cho xã hội. Đây là vấn đề khơng phải của cá nhân từng gia đình mà địi hỏi phải cĩ sự chung sức của cả cộng đồng thì mới cĩ thể thực hiện được. Theo Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, từ năm 1996, Bộ đã cĩ chủ trương, giải pháp và những chỉ đạo về giáo dục hịa nhập cho trẻ em khuyết tật, khĩ khăn trong cộng đồng. Theo ơng Nguyễn Hải Châu - Phĩ vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học thuộc bộ GDĐT, Giám đốc Chương trình phát triển giáo dục trung học cho hay, Luật Người khuyết tật bắt đầu cĩ hiệu lực từ ngày 1/1/2011 là tiền đề thuận lợi để học sinh khuyết tật thêm nhiều điều kiện hịa nhập cộng đồng. Bắt đầu năm học 2011 - 2012, chương trình được thực hiện trên phạm vi tồn quốc. Sau năm đầu triển khai, Bộ sẽ tổng hợp số liệu chính xác về số lượng trẻ khuyết tật cĩ nhu cầu theo học, dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật. Bên cạnh cơng tác tuyên truyền, biên soạn tài liệu, tập huấn cho giáo viên, gia đình trẻ và cộng đồng trong việc tạo mơi trường giáo dục hịa nhập cho trẻ; Bộ cũng tạo nhiều ưu tiên cho học sinh khuyết tật để trẻ cĩ thể học tập, hịa nhập mơi trường giáo dục bình thường như được nhập học ở độ tuổi cao hơn với độ tuổi qui định, ưu tiên trong tuyển sinh, miễn giảm một số mơn học khơng phù hợp với dạng khuyết tật mà trẻ mắc phải; miễn giảm học phí; xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện và đồ dùng học tập và phương tiện nghe, nĩi bằng ngơn ngữ kí hiệu, chữ nổi Braille Đồng thời, mỗi cấp quản lý giáo dục sẽ phân cơng một chuyên viên phụ trách, quản lý, theo dõi cơng tác giáo dục hịa nhập của từng cấp học để học sinh khuyết tật được hỗ trợ kịp thời nếu gặp vấn đề trong học tập, hịa nhập với nhà trường. Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho rằng: "Tốt hơn hết là để trẻ em cĩ những nhu cầu đặc biệt được giáo dục tại các trường trung học thơng thường, mặc dù cần nhiều hình thức hỗ trợ đặc biệt. Và Bộ GDĐT luơn tạo điều kiện tốt nhất để học sinh khuyết tật được học tập trong mơi trường giáo dục bình thường ấy". Tuy nhiên, phải đến năm 2002 thì chủ trương mới chính thức được triển khai ở cấp tiểu học và sau đĩ là mầm non. Bậc THCS và THPT là bước ngoặt đối với học sinh khuyết tật khi tâm sinh lý cĩ sự thay đổi lớn, áp lực của nhiều mơn học, tiếp xúc cùng lúc với nhiều giáo viên, bạn bè nên vấn đề giáo dục hịa nhập cho trẻ ở cấp học này sẽ vấp phải nhiều vấn đề khĩ khăn hơn. Đến thời điểm hiện tại tồn tỉnh Đồng Nai hiện cĩ gần 700 học sinh khuyết tật các loại. Trường THCS Nguyễn Hữu Cảnh: Năm học 2011-2012 trường cĩ 01 học sinh khuyết tật trí tuệ đã cĩ 02 năm trong cùng cấp ở lại lớp (ở đây tơi chưa đề cập đến điều lệ trường THCS). Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài Giảng dạy cho một học sinh bình thường tiến bộ đã khĩ, dạy cho học sinh khuyết tật khĩ gấp bội phần. Ấy vậy mà những năm gần đây trường tơi đã cĩ những học sinh khuyết tật trí tuệ ra trường như em: Phạm Thành Trung; Trần Đình Nhơn; và, hiện tại đang tiếp tục chuẩn bị cho em Nguyễn Hồng Minh tốt nghiệp THCS năm học 2012-2013. Sau khi được tập huấn, chính bản thân tơi 15 năm trong ngành nhận thấy rằng làm thầy tơi chưa làm trịn trách nhiệm của một người thầy mà bấy lâu nay mình chưa để ý hết phía sau lưng là những học sinh khuyết tật đang ao ước khát vọng. Thực tế trên giảng đường trước đây cĩ mấy ai quan tâm đến số phận ấy! Trong cuộc họp Hội đồng sư phạm nhà trường ngày 09/8/2011 tơi dành riêng 60 phút để triển khai nội dung tập huấn "Giáo dục hịa nhập học sinh khuyết tật" - Đặc biệt nĩi sâu về chuyên đề "Khuyết tật trí tuệ" mà từ những năm học trước cho đến năm học này trường đang giáo dục. Những điều tiên quyết mà giáo viên khi đứng lớp cần phải nắm trong cơng tác giáo dục học sinh hịa nhập: Lý luận giáo dục và dạy học hịa nhập. Quản lý giáo dục hịa nhập cấp trung học. Dạy học hịa nhập học sinh khiếm thị. Dạy học hịa nhập học sinh khiếm thính. Dạy học hịa nhập học sinh khuyết tật học tập cấp trung học. Dạy học hịa nhập học sinh khuyết tật trí tuệ cấp trung học. Các loại hình giáo dục học sinh khuyết tật mà giáo viên cần nắm vững: Giáo dục chuyên biệt; giáo dục hịa nhập; giáo dục hội nhập. Mỗi lớp khơng quá 03 học sinh khuyết tật trong một lớp. Mỗi lớp nếu cĩ 01 học sinh khuyết tật thì biên chế được giảm trừ 05 học sinh bình thường. Riêng lớp 81 năm học 2011-2012 biên chế được giảm trừ 05 học sinh (số học sinh đĩ được nhà trường điều tiết sang các lớp khác). Học sinh khuyết tật được giảm một số mơn học, chương trình học. Học sinh khuyết tật được kiểm tra đề riêng, thi đề riêng, kiến thức kiểm tra và thi nhẹ. Đánh giá tổng thể của học sinh khuyết tật, khơng đánh giá học sinh khuyết tật như học sinh bình thường. Phương pháp trực quan là phương pháp cĩ thể là hiệu quả nhất đối với học sinh khuyết tật trí tuệ. Bài kiểm tra, bài thi: Nhà trường lưu trữ cẩn thận. Chỉ trả cho phụ huynh bản photo của bài kiểm tra, bài thi. Ngay từ đầu năm học tơi trực tiếp phân cơng cho thầy Phĩ hiệu trưởng Ngơ Văn Tồn phụ trách về chỉ đạo cơng tác chuyên mơn cho học sinh khuyết tật trí tuệ Nguyễn Hồng Minh. Giáo viên bộ mơn Ngơ Bá Độ là giáo viên cĩ nhiệt huyết, dạy bộ mơn Lịch Sử trực tiếp hổ trợ giáo viên chủ nhiệm Huỳnh Thị Thương (giáo viên chủ nhiệm em Minh) trong mọi cơng tác học tập, sinh hoạt tại trường của em Nguyễn Hồng Minh. Sắp xếp chỗ ngồi phù hợp với điều kiện thực cĩ tại trường. Học sinh tồn trường phải cùng tay hỗ trợ đối tượng và đặc biệt các bạn cùng lớp. Tuy nhiên, trong điều kiện cơ sở vật chất cịn hạn hẹp khơng thể thực hiện theo yêu cầu chuẩn của quy chuẩn dạy học cho học sinh khuyết tật, chúng tơi trong điều kiện khả năng hiện tại dần dần đáp ứng cho nhu cầu cần thiết nhất đối với học sinh khuyết tật, sẽ khắc phục những hạn chế trong quá trình thực hiện. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI Trong năm học 2011-2012 trường THCS Nguyễn Hữu Cảnh đã bước đầu hình thành được khả năng tiếp nhận dạy học trẻ khuyết tật từ các thành viên. Đối tượng tham gia chương trình giáo dục hịa nhập đã được lên lớp, tiếp cận với cuộc sống, được hướng dẫn kỹ năng sống, cĩ bạn thân và nhĩm bạn thân, được chăm sĩc y tế, được vui chơi tập thể và hồn tồn được phép áp dụng mọi hành động của mình trong trường- lớp (vì tất cả cán bộ giáo viên- cơng nhân viên cũng như 521 bạn đã được nhà trường triển khai, động viên áp dụng kế hoạch trong năm học). Phụ huynh học sinh của em Minh cũng nhận thấy được tính thiết thực của nhà trường trong thực hiện cơng tác giáo dục; cảm thấy giảm bớt phần nào sự mặc cảm khi cĩ một người con cùng hoạt động với xã hội; tự tin hơn trong việc đưa đĩn con mình; phấn khởi hơn khi con được tồn trường đồng cảm, chia sẻ. Tất cả các cán bộ giáo viên- cơng nhân viên trong nhà trường nhận thức đúng đắn trong cơng tác triển khai thực hiện của nhà trường và bước đầu đạt được những kết quả giáo dục tích cực đối với loại hình giáo dục này. Tất cả 521 học sinh cĩ ý thức trong giao tiếp với người khuyết tật nĩi chung và các bạn cùng trường nĩi riêng. Bước đầu hình thành cho các em chuẩn nhận thức đối với những người khiếm hạnh. Kết quả học tập: Em Nguyễn hồng Minh-lớp 81 năm học 2011-2012: Học kỳ I: Học lực: Y Hạnh kiểm: K Học kỳ II: Học lực: Tb Hạnh kiểm: K Cả năm: Học lực: Tb Hạnh kiểm: K ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Năm học đầu tiên thực hiện nên nội dung và hướng dẫn của đề tài chỉ mang tính tham khảo trong ngành và nhận thức cơ bản cho giáo viên- cơng nhân viên cũng như học sinh tại trường. Tuyệt đối tránh tình trạng kỳ thị, phân biệt cấp độ nhận thức. Đề nghị UBND huyện quan tâm sâu hơn đối với Ngành giáo dục về giáo dục học sinh khuyết tật. Đặc biệt ngân sách trên mỗi đầu học sinh của các trường. TÀI LIỆU THAM KHẢO: Tài liệu tập huấn giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục về giáo dục hịa nhập học sinh khuyết tật cấp trung học cơ sở, trung học phổ thơng: quyển 1, 2, 3, 4, 5, 6. Tài liệu hội nghị triển khai kế hoạch giáo dục hịa nhập học sinh khuyết tật cấp trung học cơ sở, trung học phổ thơng. Báo Đồng Nai ngày 07 tháng 12 năm 2011. Báo mới.com-trang tin tức- giáo dục. Báo tuổi trẻ cuối tuần ngày 11 tháng 03 năm 2012. Cổng thơng tin điện tử của người khuyết tật Việt Nam. NGƯỜI THỰC HIỆN Phạm Dục PHỊNG GD-ĐT CẨM MỸ TRƯỜNG THCS NGUYỄN HỮU CẢNH CỘNG HỒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Lâm San., ngày 10 tháng 5 năm 2012 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2011-2012 ----------------- Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giáo dục học sinh khuyết tật trí tuệ Họ và tên tác giả: Phạm Dục. Đơn vị (Tổ): THCS Nguyễn Hữu Cảnh- Cẩm Mỹ. Lĩnh vực: Giáo dục Quản lý giáo dục 1 Phương pháp dạy học bộ mơn: ........................... 1 Phương pháp giáo dục 1 Lĩnh vực khác: .................................................... 1 Tính mới Cĩ giải pháp hồn tồn mới 1 Cĩ giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã cĩ 1 Hiệu quả Hồn tồn mới và đã triển khai áp dụng trong tồn ngành cĩ hiệu quả cao 1 Cĩ tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã cĩ và đã triển khai áp dụng trong tồn ngành cĩ hiệu quả cao 1 Hồn tồn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị cĩ hiệu quả cao 1 Cĩ tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã cĩ và đã triển khai áp dụng tại đơn vị cĩ hiệu quả 1 Khả năng áp dụng - Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách: Tốt 1 Khá 1 Đạt 1 - Đưa ra các giải pháp khuyến nghị cĩ khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc sống: Tốt 1 Khá 1 Đạt 1 - Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc cĩ khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng: Tốt 1 Khá 1 Đạt 1 XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MƠN (Ký tên và ghi rõ họ tên) THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ (Ký tên, ghi rõ họ tên và đĩng dấu)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giúp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Đạt Hiệu Quả
  • ‘các Biện Pháp Giáo Dục Ý Thức Cho Học Sinh Cá Biệt Lớp Chủ Nhiệm 6A3 Skkn 2022 Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Lớp Chủ Nhiệm
  • Điều Kiện Áp Dụng Biện Pháp Đưa Vào Cơ Sở Giáo Dục Bắt Buộc
  • Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Học Sinh Trong Lớp Học
  • Phương Pháp Kỷ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh
  • Skkn Giải Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Để Thu Hút Học Sinh Và Đảm Bảo Duy Trì Sĩ Số Ở Trường Thcs Quang Trung
  • Phương Pháp Kỉ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh Tiểu Học
  • Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Đối Với Học Sinh
  • Trẻ em là những mầm non, tương lai của xã hội, đất nước. Trong nền giáo dục luôn đưa ra những mục tiêu và tạo điều kiện để các bé được phát triển toàn diện. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non thôi là chưa đủ. Vì thế, lên các chương trình giáo dục cao hơn như tiểu học, trung học, đại học…giáo dục kỹ năng sống vẫn tiếp tục được giảng dạy và rèn luyện. Nếu bạn đang tìm kiếm giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học hiệu quả nhất, hãy tham khảo ngay những kiến thức được chia sẻ ngay sau đây.

    Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

    Các bậc phụ huynh, thầy cô giáo nên quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng sống cho bé ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Kỹ năng sống mang tính chất trải nghiệm thực tế rất nhiều, giúp các bé có thể xây dựng cho mình những thói quen, kinh nghiệm để thể hiện khả năng cá nhân, tự lập và tự tin hơn trong mọi việc. Từ đó giúp các trẻ ở độ tuổi tiểu học phát triển tốt cả về nhận thức, tư duy và thể chất.

    Giải pháp giúp học sinh tiểu học rèn luyện kỹ năng sống

    Học sinh tiểu học vẫn chưa hoàn thiện được tư duy và nhận thức của chính mình. Vì thế, trong việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ sẽ còn gặp nhiều khó khăn. Điều đó đòi hỏi người hướng dẫn kỹ năng sống cho bé phải thật nhẫn nại, không ngại những thử thách và sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc từ các bé.

    Hơn nữa, trẻ em là đối tượng giảng dạy rất vất vả, bé sẽ dễ hiểu sai lệch và có hướng đi không đúng đắn nếu không có phương pháp giảng dạy đúng cách. Vì thế, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tiểu học không chỉ cần đến các thầy cô giáo, mà còn là sự hỗ trợ tận tình từ phía các bậc phụ huynh.

    Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học cần phải có phương án phù hợp và triển khai qua từng giai đoạn. Chúng ta cần phải có cái nhìn khách quan, tích cực và thoải mái nhất theo tư duy mở để giúp bé được trải nghiệm nhiều hơn.

    • Các giáo viên cần cố gắng tạo cho bé không gian học tập thú vị, đan xem lý thuyết và thực hành.
    • Tạo cho bé môi trường học tập, giao tiếp tự tin, hòa đồng và biết lắng nghe, quan tâm đến các bạn xung quanh.
    • Giáo dục các bé về vấn đề tự giác, có trách nhiệm và ý thức được việc sắp xếp thời gian biểu sao cho hợp lý.
    • Thay vì cho bé thật nhiều bài tập, nghiêm cấm bé đi chơi thì hãy dung hòa mọi thứ, khuyến khích bé làm tốt bài tập và cho bé vui chơi thỏa thích khi đã hoàn thành công việc.
    • Bố mẹ có thể giúp bé hoàn thiện những kỹ năng của bản thân, biết tự chăm sóc mình, bảo vệ bản thân khỏi những nguy hiểm.
    • Khuyến khích bé tham gia các hoạt động tập thể, ngoại khóa của trường, lớp, địa phương.
    • Giúp bé nhận ra giá trị của của cải, vật chất và giá trị của lao động để từ đó biết quý trọng những gì mình và mọi người làm ra.
    • Tạo cho bé những thói quen tốt trong giao tiếp hàng ngày.
    • Có thưởng, có phạt để bé ý thức hơn về những việc mình làm.mình nói.

    Những kỹ năng sống cần thiết đối với học sinh tiểu học

    Nếu ở độ tuổi mầm non, kỹ năng phục vụ bản thân chỉ đơn giản là biết tựu vệ sinh cá nhân, dọn dẹp phòng, đồ chơi của mình. Thì ở độ tuổi tiểu học, cả thể lực và trí tuệ của bé đều đã phát triển hơn 1 bậc. Vì thế, kỹ năng tự phục vụ bản thân trong giai đoạn này cũng đồi hỏi khó hơn.

    Bố mẹ có thể tập cho bé thói quen tự ăn cơm, tự tắm rửa, tự mặc quần áo. Phụ huynh không nên giám sát và giúp đỡ con ngay từ những bước đầu tiên. Điều bạn cần làm là quan sát, để bé thực hiện xong thì chỉ ra lỗi sai, giúp bé rút kinh nghiệm và ghi nhớ lâu hơn.

    Bố mẹ và thầy cô cũng nên chỉ dẫn và hình thành cho bé thói quen làm việc nhóm, nâng cao tinh thần đồng đội. Đồng thời, người lớn cùng nên dạy bé biết như thế nào là có trách nhiệm với công việc, với bản thân, biết đóng góp ý kiến, lắng nghe và luôn đúng giờ. Thông qua quá trình làm việc nhóm sẽ giúp bé hình thành cho mình những thói quen tốt, biết cách xây dựng và hình thành các mối quan hệ.

    Trẻ em có cách nhìn nhận và nhạy cảm hơn với môi trường mà chúng tiếp xúc hàng ngày. Vì thế, bố mẹ và thầy cô cần có giải pháp để bé quản lý tốt nhất cảm xúc của mình. Chắc chắn là khả năng làm chủ cảm xúc của bé sẽ không được bằng người lớn, tuy nhiên đây cũng là cách giúp bé dần hình thành thói quen kiểm soát cảm xúc sau này.

    Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà học sinh tiểu học cần được thầy cô, cha mẹ giáo dục. Các bé nên được giáo dục giao tiếp bằng lời nói, giao tiếp bằng ngôn ngữ cơ thể tùy các tình huống mà bé gặp phải mỗi ngày.

    Thông thường, các bé ở độ tuổi tiểu học sẽ ý thức hơn được các tình huống nguy hiểm mà mình đang gặp phải so với các các bé mầm non. Tuy nhiên, các bé vẫn sẽ hoảng loạn và lúng túng trong việc xử lý tính huống. Vì thế, nhà trường và phụ huynh cần đưa ra những tình huống tượng trưng cụ thể và đưa ra các giải pháp tốt nhất để bé có thể ghi nhớ, rút ra bài học và ứng dụng thực tế khi cần.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Đề Tài : Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo
  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ 3
  • Những Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Trẻ 5
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học Skkn Ky Nang Song Lieu Doc
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Rèn Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học Ren Kns Doc
  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 3
  • SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỨC PHỔ

    TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 3 PHỔ THẠNH

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG

    SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

    Lĩnh vực: Lĩnh vực khác

    Tên tác giả: Trần Thị Thiểu

    Chức vụ: Giáo viên Tiểu học

    Năm học 2014 – 2022

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    NỘI DUNG

    PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

    PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

    3 -4

    1.1. KĨ NĂNG SỐNG LÀ GÌ?

    1.2. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ CỦA TRẺ

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

    THỰC TRẠNG

    NGUYÊN NHÂN

    CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

    3.1. BÁM SÁT NỘI DUNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG

    9

    SỐNG CHO HỌC SINH

    3.2.THỰC HIỆN TỐT CÁC NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC

    10

    KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

    3.3. PHÁT HUY VAI TRÒ, TÁC DỤNG VÀ HIỆU QUẢ

    CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO

    HỌC SINH

    3.4. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC KĨ NĂNG

    SỐNG

    3.5 . VÍ DỤ MINH HỌA

    CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    3

    CHƯƠNG 5: TIỂU KẾT

    PHẦN 3: KẾT LUẬN

    21 – 22

    PHẦN I:

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, việc đào tạo

    thế hệ trẻ trở thành những người lao động có ích cho xã hội là việc làm cấp bách

    và cần thiết, đòi hỏi sự dày công của người giáo viên, bởi yêu cầu ngày càng cao

    của xã hội. Bản thân là một giáo viên Tiểu học có nhiều năm công tác và giảng

    dạy khối lớp 5 tại trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh với nhiều bức xúc trước học

    sinh chưa có kinh nghiệm kỹ năng sống. Do đó, đòi hỏi người giáo viên phải có

    trình độ, có năng lực phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề, yêu thương tận

    tụy với học sinh, bởi giáo viên đóng vai trò quan trọng vì mọi kiến thức, hành vi ,

    phẩm chất và năng lực được hình thành ở nhà trường, đặc biệt là cấp Tiểu học.

    Hơn nữa giáo viên Tiểu học là người trực tiếp giảng dạy và giáo dục các em học

    sinh, ngoài việc cung cấp kiến thức, văn hoá còn dạy các học sinh tự giải quyết

    được một số vấn đề thiết thực trong cuộc sống hằng ngày như: tự chăm sóc sức

    khỏe, bảo vệ môi trường và phòng chống các tệ nạn xã hội,…để các em chủ

    động, tự tin không phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn mà vẫn có thể tự bảo vệ

    mình.

    Chính vì vậy, người giáo viên ngoài việc trang bị cho học sinh vốn kiến

    thức cơ bản trong học tập, lao động còn phải giáo dục học sinh có kỹ năng sống

    đó là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng

    nhau chung sống.

    Năm học 2014-2015 là năm học tiếp tục thực hiện phong trào thi đua

    “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” việc giáo dục kỹ năng sống

    cho học sinh là một trong những nội dung của phong trào. Vì thế, nhà trường cần

    chú trọng hơn đến nội dung “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”.

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    Để thực hiện tốt giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, nhiệm vụ đầu tiên của

    giáo viên là nghiên cứu và nắm vững đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, xây

    dựng mục tiêu, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp vào hoàn

    cảnh, điều kiện dạy học cụ thể của lớp, của trường và vận dụng một cách linh

    hoạt sáng tạo với nhu cầu, trình độ của học sinh. Với những kinh nghiệm tôi rút

    ra từ thực tiễn sẽ góp phần xây dựng thế hệ học sinh năng động, thân thiện, phát

    triển toàn diện trong nhà trường.Vì vậy tôi đã chọn sáng kiến kinh nghiệm ” Một

    số biện pháp giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học”

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    PHẦN II:

    NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    CHƯƠNG 1

    CƠ SỞ LÝ LUẬN

    Phương pháp giáo dục Phổ thông đang đổi mới theo hướng phát huy tính

    tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, tăng

    cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào

    thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học

    sinh. Nội dung giáo dục kĩ năng sống đã được tích hợp trong một số môn học và

    hoạt động giáo dục. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học còn thông

    qua nhiều chương trình, dự án như: Giáo bảo vệ môi trường, giáo dục phòng

    chống HIV/AIDS, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống tai nạn

    thương tích. Đặc biệt, rèn kĩ năng sống cho học sinh được xác định là một trong

    những nội dung cơ bản của phong trào thi đua ” Xây dựng trường học thân

    thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và đào tạo chỉ đạo.

    Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường là:

    – Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp,

    hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ

    những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và các

    hoạt động hằng ngày.

    – Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và

    phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    – Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống

    tích cực, xây dựng cho các em các hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mục

    tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học.

    1.1. KỸ NĂNG SỐNG LÀ GÌ?

    Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống:

    – Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kỹ năng sống là khả năng để có hành vi

    thích ứng và tích cực , giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước nhu cầu và

    thác thức của cuộc sống hằng ngày.

    – Theo UNICEFF, Kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình

    thành hành vi mới. Các tiếp cận này có sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình

    thành thái độ và kĩ năng.

    – Theo tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO),

    kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:

    Học để biết: gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng

    tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả của việc làm…;

    Học làm người: gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng,

    kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…;

    Học để chung sống: gồm các kỹ năng như giao tiếp, thương lượng, tự

    khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông

    Học để làm: gồm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như: kỹ năng

    đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm..;

    Tóm lại kỹ năng sống rất cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người

    để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.

    1.2. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA TRẺ

    – Trong thực tế cuộc sống cho thấy những trẻ có thể lực yếu thường hay ỷ lại,

    phụ thuộc nhiều vào những người thân trong gia đình những việc làm tự phục vụ

    mà lẽ ra chính trẻ phải tự làm như : rửa chân tay, mặc quần áo,…

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    – Hệ thần kinh của trẻ tiểu học đang trong thời kì phát triển mạnh, đến 9, 10

    tuổi hệ thần kinh của trẻ căn bản được hoàn thiện và bộ óc của các em đang phát

    triển đi dần đến hoàn thiện nên các em dễ bị kích thích. Thầy cô giáo và cha mẹ,

    người thân của các em cần chú ý để giúp trẻ hình thành tính tự chủ, lòng kiên trì,

    sự kìm hãm của bản thân trước những kích thích của hoàn cảnh xung quanh, biết

    giữ gìn trật tự nơi công cộng và trong lớp học. Người lớn không được mắng, doạ

    dẫm, đe nạt các em, vì làm như thế không những bị tổn thương đến tình cảm mà

    còn gây tác hại đến sự phát triển thần kinh và bộ óc của các em.

    – Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học cũng được bắt đầu ngay

    từ những buổi đầu các em đến trường. Nếu không chuẩn bị chu đáo về mặt tâm lí

    cho trẻ trước khi đi học sẽ dẫn đến những tình huống như: đòi theo bố mẹ về nhà,

    không dám nói chuyện với bạn bè, không dám chào hỏi thầy cô, không dám xin

    phép cô khi ra vào lớp,…

    – Học sinh tiểu học thích bắt chước hành vi, cử chỉ, lời nói,… của các nhân

    vật trong phim, của các thầy cô giáo, của những người thân trong gia đình. tính

    bắt chước là con dao “hai lưỡi”, vì trẻ em bắt chước cái tốt cũng nhiều, cái xấu

    cũng nhiều. Chính vì vậy những tính cách hành vi của những người xung quanh

    là môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến tính cách, hành vi, ứng xử của trẻ.

    Các mối quan hệ của trẻ em là: Trẻ em – Gia đình; Trẻ em – Đồ vật; Trẻ em –

    Nhà trường; Trẻ em – Xã hội. Ở tiểu học, uy tín của người thầy giáo, cô giáo các

    quan điểm, niềm tin, toàn bộ những hành vi cử chỉ của thầy, cô thường là những

    mẫu mực cho hành vi của học sinh. Các em thường tin tưởng tuyệt đối ở nơi thầy,

    cô giáo nên chúng thường bắt chước những cử chỉ tác phong của thầy, cô giáo

    mình. Ở trường các em còn được tiếp xúc với bạn bè, với tập thể nhóm bạn, tổ,

    lớp; những hoạt động tập thể cũng ảnh hưởng không ít đến việc hình thành, phát

    triển nhân cách và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

    2.1. THỰC TRẠNG

    Thực trạng ở trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh, một số học sinh còn thiếu

    kỹ năng sống như: thiếu tính tự lập; chưa tự giác, thiếu tự tin trước tập thể, chưa

    biết cách ứng xử phù hợp. Kỹ năng giao tiếp hạn chế, nói trỗng với người lớn,

    thầy cô, gọi bạn bằng mày, tao chúng tôi Để giúp học sinh có kỹ năng sống tốt, tôi đã

    tiến hành khảo sát thực tế một số kỹ năng của các lớp như sau:

     Khảo sát HS lớp 1 A1 phân hiệu trung tâm đầu năm học 2013 – 2014:

    Nội dung khảo sát: Tự mặc quần áo. Tự giác ngồi học bài

    Tự mặc quần áo

    TSHS

    24

    Tự giác ngồi học bài

    Tự mình mặc

    Cần người lớn

    Tự giác không

    Chưa tự giác,

    quần áo

    giúp mặc quần

    cần nhắc nhở

    bố mẹ phải

    áo

    nhắc nhở nhiều

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    14

    58,3

    10

    41,7

    41,7

    14

    58,3

    %

    10

     Khảo sát lớp 2A 2 phân hiệu trung tâm đầu năm học 2013 – 2014:

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    TSHS

    SL

    %

    SL

    %

    25

    14

    56,0

    11

    44,0

    * Khảo sát lớp 5/3 phân hiệu trung tâm đầu năm học 2013 – 2014:

    * Nội dung khảo sát: ứng xử với bạn khi chơi các trò chơi dân gian tập thể.

    Khảo sát qua quan sát thực tế, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm và tổng phụ trách

    đội đánh giá HS:

    Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể

    Biết cách ứng xử hài hoà khá phù Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi

    hợp

    SL

    22

    Từ thực trạng trên, qua nhiều năm giảng dạy tại trường Tiểu học số 3 Phổ

    Thạnh tôi tìm ra một số nguyên nhân dẫn đến các em học sinh chưa có kỹ năng

    sống tốt là:

    2.2. NGUYÊN NHÂN

    2.2.1.Về phía giáo viên:

    – Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống

    cho học sinh, mà chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức ở sách giáo khoa nên chưa

    chịu khó tìm tòi các hình thức và phương pháp tổ chức cho các hoạt động này

    nên làm mất sự hứng thú của học sinh.

    2.2.2. Về phía học sinh:

    – Học sinh học tập thụ động, chủ yếu chỉ nghe và làm theo thầy cô giáo,

    chưa có tính sáng tạo, tính tự giác chưa cao, lười hoạt động.

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    – Học sinh chỉ có học kiến thức, khả năng ứng phó với các tình huống trong

    cuộc sống kém, thiếu sự tự tin trước đông người.

    – Kỹ năng giao tiếp hạn chế, nói trỗng với người lớn, thầy cô, gọi bạn bằng

    mày, tao,…

    2.2.3. Về phía phụ huynh:

    Đa số phụ huynh cho rằng con em mình chỉ cần học giỏi kiến thức, chỉ

    khuyến khích con em tìm kiến thức mà quên hướng dẫn cho con em mình làm

    tốt hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội và cách ứng xử trong gia đình.

    Một số gia đình phụ huynh giao tiếp trong gia đình còn nhiều hạn chế, xưng

    hô chưa chuẩn mực nên các em bắt chước và xưng hô thiếu thiện cảm.

    Ngoài ra do ảnh hưởng của môi trường sống, các em bắt chước nói tục,

    chưởi thề.

    2.2.4. Về phía nhà trường

    Trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh là một trường thuộc vùng ven biển, điều

    kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ dân trí của người dân chưa cao so với các

    xã ở thị trấn của huyện. Phần lớn người dân làm nghề đánh cá nên thường nói

    tục, chưởi thề do đó ảnh hưởng đến giáo dục của nhà trường. Vì thế trong hoạt

    động chuyên môn dạy và học, Nhà trường thường xuyên nghiên cứu, cải tiến

    nâng cao chất lượng giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh,

    không ngừng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với nội dung chương trình.

    Và đặc biệt chú trọng đến việc “Giáo dục kỹ năng sống” cho học sinh.

    CHƯƠNG 3

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

    Giáo dục kỹ năng sống là điều cần thiết cho mọi người, mọi lứa tuổi. Đặc biệt

    là đối với lứa tuổi học sinh Tiểu học. Giáo dục kỹ năng sống là việc cần được

    tiến hành thường xuyên, liên tục, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, hoàn

    cảnh, hoạt động của từng loại đối tượng cụ thể. Để giáo dục kỹ năng sống cho

    học sinh Tiểu học tôi đã thực hiện các biện pháp sau:

    3.1. BÁM SÁT NỘI DUNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

    Nội dung giáo dục kỹ năng sống ở Tiểu học hết sức đơn giản, gần gũi với

    trẻ em, là những kiến thức tối thiểu để các em có thể tự lập… Và mục đích quan

    trọng nhất là giúp các em tự tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống. Vì vậy khi tổ

    chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cần:

    – Bám sát vào nội dung của giáo dục kỹ năng sống và vận dụng linh hoạt các

    nội dung của giáo dục kỹ năng sống tuỳ theo từng hoạt động giáo dục ngoài giờ

    lên lớp và điều kiện cụ thể của từng môn học.

    – Xác định rõ các nội dung giáo dục kỹ năng sống (xác định rõ các kỹ năng

    sống cần hình thành và phát triển cho học sinh) để tích hợp vào nội dung của hoạt

    động giáo dục.

    – Tạo ra động lực cho học sinh tham gia một cách tích cực vào quá trình hình

    thành kỹ năng sống nói chung và kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết

    định, kỹ năng tự nhận thức về bản thân, kỹ năng ứng phó với cảm xúc…

    3.2. THỰC HIỆN TỐT CÁC NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG

    Kỹ năng sống là tất cả những điều cần thiết chúng ta phải biết để có được

    khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Vì thế

    GV cần nắm rõ 5 nguyên tắc về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. :

    3.2.1. Tương tác:

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    Kỹ năng sống được hình thành tốt trong quá trình học sinh tương tác với

    bạn bè và những người xung quanh. Tạo điều kiện để các em có dịp thể hiện ý

    kiến của mình và xem xét ý kiến của người khác… Do vậy, giáo viên cần tổ chức

    các hoạt động có tính chất tương tác trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên

    lớp để giáo dục kỹ năng sống cho các em.

    3.2.2. Trải nghiệm:

    Kỹ năng sống chỉ được hình thành khi người học trải nghiệm qua thực tế

    và nó có kĩ năng khi các em được làm việc đó. Vì thế giáo viên cần phải có thiết

    kế và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh được hoạt động

    thực, có cơ hội thể hiện ý tưởng, có cơ hội xử lí các tình huống.

    3.2.3. Tiến trình:

    Là một quá trình từ nhận thức – hình thành thái độ – thay đổi hành vi. Do

    vậy giáo dục kỹ năng sống không thể là ngày một ngày hai mà cả một quá trình.

    3.2.4. Thay đổi hành vi:

    Giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực. Giáo dục kỹ năng

    sống thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành

    động của mình.

    3.2.5. Thời gian – môi trường giáo dục:

    Giáo dục giáo dục kỹ năng sống được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi; giáo

    dục trong mọi môi trường như gia đình, nhà trường, xã hội; cần phải tạo điều

    kiện tối đa cho HS tham gia vào các tình huống thật trong cuốc sống.

    Do đó trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

    GV phải đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc của giáo dục.

    3.3. PHÁT HUY VAI TRÒ, TÁC DỤNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG

    GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

    Hoạt động giáo dục kỹ năng sống là hoạt động được tổ chức theo mục tiêu,

    nội dung, chương trình dưới sự hướng dẫn của giáo viên, giúp học sinh thực hiện

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    một cách tự giác, tích cực tri thức thành niềm tin, kiến thức thành hành động,

    biến yêu cầu của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp và của

    cá nhân học sinh, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm tri thức, thái độ, quan điểm

    và hành vi ứng xử của mình trong môi trường an toàn, thân thiện có định hướng

    giáo dục. Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi như :

    kỹ năng giao tiếp ứng xử có văn hoá; kỹ năng tổ chức quản lý và tham gia các

    hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể của hoạt động; kỹ năng tự kiểm tra, đánh

    giá kết quả học tập, rèn luyện; củng cố, phát triển các hành vi, thói quen tốt trong

    học tập, lao động và công tác xã hội. Bồi dưỡng thái độ tự giác tích cực tham gia

    các hoạt động tập thể và hoạt động xã hội; hình thành tình cảm chân thành, niềm

    tin trong sáng với cuộc sống, với quê hương đất nước; có thái độ đúng đắn đối

    với các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Vì vậy cần phát huy tối đa vai trò, tác dụng

    và hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

    3.4. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG

    – Tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng sống vào các môn học, vào các hoạt

    động giáo dục khác.

    – Thường xuyên tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi tập thể lành mạnh,

    chơi các trò chơi dân gian, tổ chức các hoạt động văn nghệ thể thao, qua các hoạt

    động rèn cho học sinh kĩ năng ứng xử với bạn bè, xây dựng tinh thần đoàn kết

    tốt, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hợp tác, kỹ năng quyết định, biết kiềm chế bản

    thân trong khi xử lí các tình huống với bạn bè.

    – Tổ chức các hoạt động lao động vừa sức với học sinh: vệ sinh sân trường,

    lớp học, trồng chăm sóc cây trên sân trường, bồn hoa, vườn trường, ; học sinh

    được rèn một số kỹ năng như: cầm chổi quét, nhặt rác, tưới cây, tỉa lá,…; thông

    qua đó HS biết sử dụng có hiệu quả đồ dùng lao động.

    – Giáo dục học sinh có ý thức xây dựng trường lớp “Xanh – Sạch – Đẹp”

    thường xuyên chăm sóc cây xanh trong trường học.

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    + Lễ phép, kính trọng ông bà, cha mẹ .

    + Vâng lời, giúp đỡ bố mẹ ; nhường nhịn em nhỏ .

    + Biết ứng xử với mọi người trong gia đình, biết nói ” cảm ơn “, ” xin lỗi “,

    ” vâng, ạ, dạ, thưa ” … với cả những người thân thiết trong gia đình, biết dùng từ

    ngữ phù hợp, đúng mực, phù hợp với hoàn cảnh đồng thời phải biết lắng nghe,

    tôn trọng ý kiến mọi người ngay cả khi bất đồng quan điểm, cả khi việc không

    theo ý mình .

    * VÍ DỤ MINH HỌA: Một học sinh không làm bài về nhà, giáo viên

    cần để học sinh nêu được :

    + Lí do vì sao em không làm bài về nhà ?

    Giáo viên cần phối hợp với phụ huynh, yêu cầu bố mẹ học sinh tìm hiểu lí

    do, khuyến khích rằng con có khả năng làm được việc đó hơn là la mắng, đánh

    đập, học sinh sẽ cảm thấy tự tin, có cơ hội được trình bày vấn đề của mình .

    Giáo viên cần định hướng cho học sinh trong giao tiếp hàng ngày:

    + Lời đề nghị khi yêu cầu, mong muốn được giúp đỡ .

    + Lời từ chối khi không đồng ý, không muốn hoặc không thể thực hiện

    đúng yêu cầu của người khác .

    + Lời xin lỗi khi làm phiền, khi mắc lỗi, khi không làm đúng, khi từ chối,

    – Để giao tiếp tế nhị, khéo léo; giáo viên cần định hướng cho học sinh

    biết cách xác định các nhân tố giao tiếp :

    Xác định nhân vật giao tiếp; xác định nội dung giao tiếp; xác định khả năng

    của em ; xác định ngữ cảnh; xác định phương tiện biểu đạt .

    SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

    * VÍ DỤ MINH HỌA: Lời đề nghị yêu cầu muốn được giúp đỡ

    – GV đưa tình huống cụ thể : ” Nhờ một người cùng trang lứa đóng

    giúp cửa sổ khi ngồi học ”

    – Học sinh có thể nêu lên một số ý kiến cá nhân :

    + Bạn có thể đóng giúp tớ cửa sổ được không ?

    (*)

    CHƯƠNG 4

    KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA SÁNG KIẾN:

    TSHS

    24

    Tự giác ngồi học bài ở nhà

    Tự mình mặc

    Cần người lớn

    Tự giác không

    Chưa tự giác,

    quần áo

    giúp mặc quần

    cần nhắc nhở

    bố mẹ phải

    áo

    nhắc nhở nhiều

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    22

    91,7

    2

    8,3

    20

    83,3

    4

    16,7

    TSHS

    * Nội dung khảo sát: ứng xử với bạn khi chơi các trò chơi dân gian tập thể.

    Khảo sát qua quan sát thực tế, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm và tổng phụ trách

    đội đánh giá HS:

    TSHS

    Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể

    Biết cách ứng xử hài hoà khá phù Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi

    hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đbscl Triển Khai Các Biện Pháp Phòng, Chống Xâm Nhập Mặn
  • Nguy Cơ Của Xâm Nhập Mặn
  • Bến Tre: Khẩn Trương Thực Hiện Các Biện Pháp Phòng Chống, Ứng Phó Xâm Nhập Mặn
  • Các Giải Pháp Chống Xâm Thực Trong Máy Bơm Nước Hiệu Quả
  • Tp Hồ Chí Minh: Nhiều Biện Pháp Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh
  • Một Vai Biện Pháp Giáo Duc Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Khuyết Tật Hoà Nhập Ở Trường Tiểu Học Nguyên Bình
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hoà Nhập Trẻ Khuyết Tật Dạng Khuyết Tật Ngôn Ngữ Và Khuyết Tật Trí Tuệ
  • + Hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao (yêu quê hương đất nước, mừng Đảng mừng xuân, nhớ ơn Bác Hồ, hướng về ngày 20/11,). Đây là loại hình hoạt động khá hấp dẫn đối với học sinh Tiểu học, thu hút được nhiều em tham gia. + Hoạt động đền ơn đáp nghĩa như: Áo lụa tặng bà, chăm sóc giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ, viếng và chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, đóng góp vào quỹ xây dựng nhà tình thương, trồng cây nhớ ơn Bác, + Hoạt động "Hội thi thiếu nhi": Hội thi thiếu nhi là đỉnh cao của phong trào thiếu nhi, là kết quả của quá trình phấn đấu, học tập, rèn luyện theo mục tiêu giáo dục toàn diện. Qua hội thi thiếu nhi, các em sẽ đánh giá được kết quả rèn luyện của mình và đó chính là cơ hội, là môi trường để các em trao đổi thêm kinh nghiệm học tập, hoạt động với các bạn của mình. Hội thi thiếu nhi còn là ngày hội của các em, vừa mang tính chất của cuộc thi tài, nên đã tạo được bầu không khí thi đua hào hứng, sôi nổi, hấp dẫn trong các hoạt động. - Tổ chức các hoạt động tập thể trong phạm vi toàn trường tạo điều kiện để các em hình thành các mối quan hệ, gắn bó với nhau vì quyền lợi, danh dự chung, gây niềm vinh dự, tự hào về lớp mình, rất có ý nghĩa và tác dụng sâu sắc đến nhận thức, tình cảm của học sinh. Thực tế hoạt động tập thể của các nhà trường có thể là các hoạt động như: Lao động tập thể, các cuộc thi tài năng, sang kiến của cá nhân, tổ chức giao lưu trong tập thể giữu các khối lớp, ... Mỗi giáo viên cần nhận thức về tác dụng giáo dục của tập thể, biết dựa vào các giai đoạn hình thành và phát triển của tập thể và các nhiệm vụ giáo dục để tìm ra các biện pháp, hình thức tổ chức giáo dục trong tập thể đạt tới hiệu quả giáo dục theo mục tiêu của cấp học. Từ đó nếp sống đạo đức của các em sẽ có chuyển biến tốt, trước hết là tinh thần đoàn kết, ý thức tập thể, biết giúp đỡ nhau trong mọi hoạt động. Qua hoạt động tập thể, lòng nhân ái, tính vị tha, tinh thần dũng cảm, trách nhiệm vì tập thể được thể hiện rõ và chính những hoạt động đó đã đẩy mạnh phong trào học tập của các em hơn. Để các hoạt động nêu trên được thực hiện có hiệu quả góp phần tích cực trong công việc giáo dục đạo đức cho học sinh người giáo viên cần lưu ý: Phát huy vai trò, chức năng của các tổ chức và cá nhân trong nhà trường trong đó giáo viên chủ nhiệm giữ vai trò rất quan trọng. Phối hợp tốt các tổ chức đoàn thể ngoài nhà trường như: Hội cha mẹ học sinh, các cấp chính quyền địa phương trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh. 3) Vận động mọi lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh: Việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là một công việc khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, trong quá trình giáo dục đạo đức học sinh tiếp nhận những tác động từ nhiều phía: Nhà trường - Gia đình - Xã hội. Công tác giáo dục chỉ đạt hiệu quả cao khi phối hợp thống nhất được tác động theo hướng tích cực. Đối với học sinh Tiểu học thì tác động giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội có vai trò quan trọng. Vì vậy, sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong lĩnh vực này có tác dụng to lớn về nhiều mặt đó là: Làm cho các tác động giáo dục đến với học sinh được thực hiện theo những yêu cầu thống nhất; Giúp cho cha mẹ học sinh và giáo viên hiểu đầy đủ hơn về đối tượng giáo dục của mình, nhờ đó đề ra được những biện pháp giáo dục phù hợp; Tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau trong công tác giáo dục. Với ý nghĩa đó, sự kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình, xã hội từ lâu đã được xem là nguyên lý cơ bản của giáo dục. Song làm thế nào để sự kết hợp này đáp ứng được những yêu cầu của công tác giáo dục vẫn đang là vấn đề chưa có lời giải đáp. Ở trường chúng tôi việc kết hợp giáo dục đạo đức cho học sinh giữa nhà trường, gia đình, xã hội đã được thực hiện theo cơ chế phân công - Hợp tác bằng việc làm cụ thể, thiết thực của cha mẹ học sinh, giáo viên và địa phương. Cụ thể là: - Xây dựng quy định nếp sống hằng ngày ở nhà, ở trường, ở địa phương của học sinh làm cơ sở cho việc thống nhất yêu cầu, nội dung giáo dục cũng như việc đánh giá kết quả giáo dục. Nội dung của bản quy định bao gồm các việc làm và các quan hệ hằng ngày của học sinh ở nhà, ở trường, ở địa phương; Nội dung của từng việc làm, yêu cầu cần đạt được khi thực hiện. Các việc làm đó được sắp xếp theo một trật tự nhất định tùy điều kiện cụ thể của gia đình, nhà trường, địa phương và trình độ phát triển của học sinh từng lớp. Quy định này là do giáo viên cùng cha mẹ học sinh xây dựng từ đầu năm học trong phiên họp cha mẹ học sinh đầu năm. Những điều chỉnh cần thiết sẽ được hai bên thông báo kịp thời cho nhau trong suốt năm học. - Xác định những hình thức phối hợp nhằm đảm bảo mối quan hệ thường xuyên giữa gia đình, nhà trường, xã hội. Hình thức trao đổi trực tiếp được thực hiện qua việc giáo viên đến thăm gia đình học sinh, qua các cuộc họp cha mẹ học sinh, qua điện thoại. Những cuộc gặp gỡ, trao đổi trực tiếp nêu trên cho phép được đề cập nhiều vấn đề và đi sâu vào từng trường hợp cụ thể, tạo được mối quan hệ thân mật hiểu biết lẫn nhau giữa giáo viên và cha mẹ học sinh, giúp giáo viên hiểu rõ hoàn cảnh của từng học sinh, nhờ đó đưa ra những lời khuyên phù hợp cho gia đình. Hình thức trao đổi gián tiếp như thông qua sổ liên lạc, qua đại diện hội cha mẹ học sinh hoặc đại diện cộng đồng dân cư nơi gia đình học sinh cư trú. Trong các hình thức này, việc trao đổi qua sổ liên lạc có tính khả thi hơn cả. Song, sổ liên lạc phải được sử dụng một cách thường xuyên khi cần chứ không phải theo định kỳ hàng tháng. Đồng thời, cần cải tiến hoạt động của cha mẹ học sinh. Hội cha mẹ học sinh phải thực sự trở thành lực lượng hỗ trợ đắc lực cho việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình, xã hội. Vì vậy, về mặt tổ chức, bên cạnh ban chấp hành Hội cần có tổ phụ huynh (của lớp) theo địa bàn học sinh cư trú. Tổ trưởng phụ huynh sẽ hoạt động theo tư cách là cầu nối trao đổi thông tin giữa nhà trường và gia đình. Nếu nhà trường, gia đình, xã hội tác động đến học sinh theo cùng hướng trên những quan điểm, nguyên tắc đúng đắn và thống nhất thì việc hình thành chuẩn mực đạo đức cho học sinh sẽ có hiệu quả. Nếu các yếu tố đó tác động lệch hướng đến từng học sinh thì sẽ vô hiệu hóa lẫn nhau, gây ảnh hưởng xấu đến đạo đức của trẻ. Để có được sự thống nhất, tạo ra sự cộng hưởng giữa nhà trường, gia đình, xã hội nhà trường cần trở thành trung tâm văn hóa giáo dục, trở thành nơi chỉ đạo thống nhất tác động của các lực lượng giáo dục. III. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Qua quá trình thực hiện các biện pháp nêu trên vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường tôi thấy các em học sinh có chuyển biến rõ rệt, có ý thức cao trong học tập và rèn luyện, biểu hiện cụ thể như sau: - Xác định được mục đích học tập, chuyên cần, ham học, trung thực trong học tập và đạt kết quả tốt. luôn khiêm tốn và giúp đỡ nhau cùng học tập tiến bộ; mạnh dạn đấu tranh thói lười biếng, ỷ lại, thiếu trung thực trong học tập. - Tham gia đầy đủ và thực hiện tốt các buổi lao động, hoạt động tập thể. Có ý thức thực hành tiết kiệm, quý trọng và bảo vệ tài sản của nhà trường, của lớp học, sẵn sàng tham gia lao động góp phần xây dựng địa phương do nhà trường tổ chức. - Tích cực rèn luyện thân thể và tham gia các buổi thể dục chính khóa và ngoại khóa; luôn giữ vệ sinh cá nhân, giữ sạch đẹp trường lớp. - Thực hiện nếp sống lành mạnh, có văn hóa, có kỷ luật. Sống trung thực, đúng mực trong các mối quan hệ giao tiếp với thầy cô, bạn bè, gia đình và những người xung quanh. *Lớp thực nghiệm 3C Năm học 2014 - 2022 SSHS Chất lượng học lực Chất lượng giáo dục Ghi chú HT % CHT % Đ % CĐ % Khảo sát đầu năm 26 19 73 7 27 20 77 6 33 Kiểm tra cuối HKI 26 25 96 1 4 26 100 * Lớp đối chứng 3B: Năm học 2014 - 2022 SSHS Chất lượng học lực Chất lượng giáo dục Ghi chú HT % CHT % Đ % CĐ % Khảo sát đầu năm 26 18 69 8 31 19 73 7 27 Kiểm tra cuối HKI 26 21 80.7 5 19.3 22 84.6 4 15.4 C. KẾT LUẬN I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM - Phải lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm là linh hồn, là cố vấn tối cao của một lớp, là lực lượng giáo dục nòng cốt của nhà trường. Họ là người trực tiếp tổ chức, quản lý toàn diện các hoạt động giáo dục của một lớp. Cho nên giáo viên chủ nhiệm có tâm huyết với học sinh, theo tôi đó là yếu tố trước hết để có thể cảm hóa, giáo dục học sinh trở thành người tốt. - Nắm vững nguyên nhân dẫn đến dẫn đến hành vi không tốt để xuất hiện biện pháp giáo dục thích hợp với từng loại đối tượng học sinh. Công việc này chẳng khác nào một người thầy thuốc chữa bênh, chuẩn đoán đúng sẽ điều trị có hiệu quả; mà muốn chuẩn đoán đúng, giáo viên chủ nhiệm phải là người hết sức sâu sát, nắm vững đặc diểm, tâm lí học sinh cũng như hoàn cảnh gia đình của các em. - Kết hợp chặt chẽ với gia đình để giáo dục các em. Hầu như những học sinh hư, dù ở mức độ nào cũng đều có nguyên nhân từ phía gia đình. Gia đình là một môi trường, lực lượng giáo dục đầu tiên, trực tiếp, gần gũi, thường xuyên và lâu dài nhất đối với mọi trẻ em. Vì vậy, nhà trường, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với gia đình để tạo môi trường giáo dục thống nhất, đồng bộ đối với học sinh hư. - Xây dựng đôi bạn, nhóm bạn tốt để thường xuyên kèm cặp, uốn nắn kịp thời những hành vi tái phạm của những học sinh hư. Trong biện pháp này, giáo viên chủ nhiệm phải xử lí khéo léo các thông tin mà học sinh trong nhóm phản ánh cho mình, đồng thời giáo dục các em đó có lòng thương yêu, đặt niềm tin vào sự tiến bộ của bạn. Khéo léo sử dụng dư luận tích cực của tập thể để điều chỉnh hành vi sai trái của những học sinh hư. Dư luận tập thể có tác dụng điều chỉnh hành vi của từng thành viên theo yêu cầu của tập thể. Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm cần kịp thời phát hiện dư luận và có biện pháp xử lí thích hợp, giúp học sinh có biểu hiện sai trái tiếp nhận ý kiến của tập thể, tránh sự áp đặt gây nên mặc cảm, tự ti hoặc chống đối ở các em. - Thuyết phục là phương pháp giáo dục nhằm tác động vào ý thức, tình cảm, niềm tin, ý chí của học sinh. Đây là phương pháp có vai trò mở đường cho mọi quá trình giáo dục bất kỳ một phẩm chất, năng lực nào. Đối với việc giáo dục học sinh hư, khi thực hiện phương pháp này cần hết sức tránh nóng vội và cần nắm bắt cụ thể đặc điểm tâm lí, tính cách cũng như hoàn cảnh gia đình, quan hệ bạn bè của đối tượng này để có biện pháp giáo dục. - Phát hiện, động viên kịp thời những tiến bộ dù nhỏ để xây dựng niềm tin ở học sinh. Theo số liệu điều tra, số học sinh có biểu hiện sai trái về đạo đức đã mất hết niềm tin vào bản thân. Vì vậy, việc khích lệ những cố gắng, tiến bộ của các em sẽ có tác dụng như một động lực, một sinh khí mới cho các em phấn đấu. Giáo dục lại đạo đức cần gắn liền với giáo dục lòng say mê học tập. Phần đông học sinh hư đều lười biếng học tập, việc thu hút các em vào hoạt động học tập sẽ dần dần tách các em khỏi những quan hệ xấu và bản thân nội dung các môn học cũng góp phần nâng cao nhận thức giúp các em tự điều chỉnh mình. Tóm lại, kinh nghiệm thành công của thầy cô giáo trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trước hết là phải nghiên cứu, nắm chắc nguyên nhân và đặc điểm tâm sinh lí, khả năng của từng học sinh. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch phù hợp và tổ chức được các lực lượng giáo dục thống nhất tác động. Trong các lực lượng giáo dục đó phải chú ý đúng mức đến sức mạnh đồng bộ của tập thể thầy cô giáo, tập thể học sinh và gia đình học sinh. Phương pháp giáo dục đúng và thích hợp từng học sinh cũng là một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công đối với học sinh yếu đạo đức còn đòi hỏi cao ở nhiều người thầy, cô giáo về mặt uy tín,về thái độ nhiệt tình, về tính kiên trì, lòng độ lượng, bao dung. Đó cũng là những phẩm chất làm nên sức mạnh giáo dục đạo đức đối với học sinh hư. Nguyện vọng thiết tha của đông đảo thầy cô giáo là được hướng dẫn, cung cấp những kinh nghiệm hiện đại để giáo dục tốt phẩm chất đạo đức cho học sinh. Đó cũng chính là yêu cầu cấp bách phải nghiên cứu, tìm ra những giải pháp giáo dục mới, cụ thể, có hiệu quả cao đối với học sinh yếu kém về đạo đức II. KẾT LUẬN Từ chiều sâu lịch sử, dân tộc Việt Nam sớm hình thành một nền đạo đức và luôn có ý thức tu dưỡng, giữ gìn truyền thống đạo đức của dân tộc; luôn xem đạo đức cách mạng là phẩm chất đầu tiên, là cái gốc của mỗi con người. Bác Hồ đã dạy: "Ngươi cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" và Bác hồ cũng chỉ rằng: "Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên". Từ thực tiễn, xây dựng, bảo vệ đất nước, từ những ý kiến chỉ dạy của Bác Hồ cho thấy việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh bậc Tiểu học nói riêng là hết sức cần thiết và quan trọng. Đó là trách nhiệm của mỗi tổ chức xã hội, mọi người, mọi gia đình, đồng thời trách nhiệm nặng nề của ngành giáo dục và đào tạo trong đó vai trò của các trường học rất quan trọng. Giáo dục đạo đức cho học sinh bậc Tiểu học thông qua các hoạt động tập thể, thông qua sự phối hợp với gia đình, nhà trường và xã hội góp phần không nhỏ vào việc hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức cho học sinh. Để hoạt động này có hiệu quả người giáo viên Tiểu học có thể kết hợp nhiều phương pháp, nhiều biện pháp giáo dục. Vì có điều kiện thường xuyên tiếp xúc với các em, người giáo viên tiểu học có cơ hội hiểu biết đầy đủ đặc điểm tâm lí, sinh lí của học sinh, theo dõi được sự phát triển của từng em để có biện pháp giáo dục phù hợp. Để thực hiện được nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học, người giáo viên cần: - Góp phần vào việc xây dựng một bầu không khí lành mạnh (đầy lòng thương yêu, tin cậy, an toàn) trong trường và lớp. - Hiểu về đặc điểm phát triển của trẻ, lựa chọn biện pháp giáo dục với cả lớp và từng học sinh. - Tiến hành giáo dục đạo đức thông qua những tình huống cụ thể. Hết sức tránh lý thuyết và hô hào, trừ những trường hợp đặc biệt. - Tổ chức việc giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài lớp và ngoài giờ, kết hợp chặt chẽ với giáo dục ở lớp. - Sử dụng một cách thận trọng các biện pháp giáo dục đạo đức trực tiếp, vì mỗi phương pháp giáo dục đều có hạn chế riêng của nó. - Chớ quên rằng khi dạy bất kỳ môn học nào, người giáo viên đều làm nhiệm vụ giáo dục giá trị đạo đức. Cần làm cho học sinh hiểu môn học trong tổng thể; nội dung thông tin, phương pháp, những giá trị có trong đó. Trong bối cảnh kinh tế, xã hội hiện nay, khi giáo dục đào tạo trở thành quốc sách hàng đầu, bậc tiểu học trở thành bậc nền tảng, cần nhanh chóng được phổ cập và nâng cao chất lượng, góp phần tích cực đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một trong những mục tiêu cơ bản trong chiến lược giáo dục đào tạo là phát triển nhân cách nguồn nhân lực. Nhân cách đó phải định hướng đúng đắn ngay từ bậc giáo dục tiểu học. Các nhà quản lý giáo dục nắm chắc mục tiêu này để có kế hoạch, biện pháp trong quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục để hình thành nhân cách và giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học. Trong công cuộc đổi mới vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học được đặt ra với yêu cầu bức thiết: - Cần đảm bảo cư xử với học sinh như một chỉnh thể, một nhân cách đang hình thành. Nhà trường cần giáo dục toàn diện, thực hiện tốt các tiêu chuẩn quốc gia đối với một trường Tiểu học. Cần đảm bảo sự bình đẳng cho học sinh để hình thành và phát triển hành vi đạo đức, quan tâm đặc biệt đến những học sinh đang gặp những khó khăn bất lợi. Cần có những định hướng đúng đắn cho sự hình thành và phát triển hành vi đạo đức tiếp theo của học sinh sau bậc tiểu học. - Tổ chức ngày hội truyền thống với nhiều hoạt động phong phú thu hút 100% học sinh tham gia. Tổ chức tốt việc thực hiện các chủ điểm giáo dục học sinh theo từng khối lớp nhằm rèn luyện nếp sống đạo đức cho các em. - Tạo điều kiện cho Đội Thiếu niên tiền phong tổ chức các hoạt động tập thể (chào cờ đầu tuần, múa hát tập thể, các hoạt động ngoài giờ lên lớp). Làm tốt công tác giáo dục ý thức tiết kiệm, lòng từ thiện, đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn. - Giáo viên tự rèn luyện phong cách đạo đức, gương mẫu trước học sinh, phải là tấm gương sáng về mọi mặt để học sinh noi theo. Giảng dạy tốt các tiết Đạo đức theo hướng tích cực. Tăng cường giáo dục tình cảm, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội để có thể trực tiếp hoặc gián tiếp làm nền tảng cho việc giáo dục đạo đức cho học sinh. Với yêu cầu trên, nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội cần nhận thức đầy đủ và có trách nhiệm cùng với các nhà quản lý giáo dục tiến hành các hoạt động giáo dục thiết thực nhằm phát triển năng lực toàn diện cho học sinh. Bình, ngày 27 háng 3 năm 2022 Duyệt BGH Người thực hiện Nguyễn Duy Tuấn Nhận xét, đánh giá của Thủ trưởng đơn vị .. .. . . . . . . . .. . Nhận xét, đánh giá của Hội Đồng Sáng Kiến Huyện .. .. . . . . . . . .. .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học Có Hiệu Quả
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Trường Tiểu Học.
  • Tham Luận: Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Môn Mt
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lương Gdthcs
  • 6 Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Soạn Giảng
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học Có Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh
  • Một Vai Biện Pháp Giáo Duc Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Khuyết Tật Hoà Nhập Ở Trường Tiểu Học Nguyên Bình
  • Một số biện pháp Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học có hiệu quả Giáo dục đạo đức cho học sinh là công việc được đặc biệt coi trọng. Bác Hồ đã dạy: "Dạy cũng như học phải chú trọng cả tài lẫn đức". Việc dạy học và nâng cao chất lượng đạo đức cho học sinh là đòi hỏi phải thường xuyên và cấp bách của công tác giáo dục hiện nay. Hiện nay đảng ta đã chủ trương bậc tiểu học là bậc phổ cập, bất kỳ người công dân nào, dù công tác, lao động ở lĩnh vực nào trong xã hội đều phải trải qua nhà trường tiểu học. Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng: những dấu ấn trường tiểu học có ấn tượng sâu sắc đến cả cuộc đời học sinh. chính vì vậy việc giáo dục đạo đức ở tiểu học đã được tất cả các nước trên thế giới coi trọng và tiến hành dạy ngay từ lớp 1. Giáo dục đạo đức trong trường tiểu học rất quan trọng. Việc dạy đạo đức hiện nay còn thiên về dạy chữ. Vậy làm thế này để vừa kết hợp dạy chữ với dạy người. đó là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên tiểu học giúp học sinh phát triển thành những con người toàn diện. Trong những năm qua, để làm tốt việc giáo dục đạo đức cho học sinh chúng tôi thử để nghị một số giải pháp sau: Về phía giáo viên: Học sinh tiểu học là những thực thể hồn nhiên, tâm hồn trong sáng, sẵn sàng tiếp thu sự giáo dục của nhà trường. đối với các em giáo viên là thần tượng, là lí tưởng của các em. điều thầy cô nói là chuẩn mực, còn hơn những điêu cha mẹ dặn dò. Các em đến trường để học, học văn hóa, học cách sống, học cách học vì vậy người giáo viên phải luôn trau dồi đạo đức cho mình, phải luôn học hỏi để nâng cao kiến thức, mẫu mực về mọi mặt mới mong là tấm gương sáng cho các em noi theo.Tấm gương bao giờ cũng hơn lời giáo huấn. Muốn cho các em làm theo, noi theo, đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng rèn luyện về mọi mặt. Làm tốt công tác chủ nhiệm lớp: ngay từ đầu năm học giáo viên phải nắm bắt được điều kiện hoàn cảnh của từng học sinh qua kê khai lý lịch, qua bạn bè, qua giáo viên chủ nhiệm năm học trước để có biện pháp giáo dục hợp lý, phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh của các em. Khi hiểu hoàn cảnh của các em rồi người giáo viên mới gần gũi, gắn bó với các em hơn, các em không mặc cảm, tự ti. Có những em học sinh hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhà ở xa trường, thỉnh thoảng hay đi học muộn, nếu chúng ta không hỏi cặn kẽ lý do em đi muộn mà lại lấy cương vị giáo viên quát nạt, la rầy em thì thật là tội nghiệp. Nếu chúng ta làm tốt công tác chủ nhiệm thì việc học tập và giáo dục đạo đức cho các em thì sẽ rất thuận lợi, học sinh vững niềm tin, yêu trường yêu lớp, coi lớp như tổ ấm gia đình, các em xem cô như người mẹ hiền, đón nhận các em bằng cả tấm lòng, bằng cả tình thương yêu tạo điều kiện để các em phát triển về năng lực, về nhân cách. Xây dựng một tập thể lớp vững manh, đoàn kết giúp đỡ nhau: xây dựng đội ngũ cán bộ lớp phải thật sự gương mẫu, có trách nhiệm, uy tín với lớp để các thành viên trong lớp học tập và noi theo. Một tập thể vững mạnh đoàn kết là một tập thể có đội ngũ ban cán sự lớp vững mạnh. Các em biết phát huy tinh thần tập thể, tự quản, có ý thức xây dựng trường lớp. Một tập thể lớp đoàn két vững mạnh là một tập thể biết yêu thương, giúp đỡ nhau, có lòng nhân ái, có trách nhiệm với trường. ví dụ: trong giờ lao động, dù không có giáo viên, đội ngũ cán bộ lớp cũng đã hướng dẫn cho các em tự giác làm tốt công việc được giao. Học sinh thường hay đi học sớm, 12h30p đã có mặt ở trường, có những em bị trúng gió, các em đã biết lấy dầu xoa, biết xin thuốc cho bạn uống kê ghế cho bạn nằm. hoặc bào cáo phòng y tế nhà trường. Khi lớp có bạn gặp khó khăn là các em hết lòng giúp đỡ, phân công chép bài, giảng lại bài cho bạn nghe. Khi các phong trào trong trường được phát động, các em tham gia một cách nhiệt tình với tinh thần rất cao, nhất là phong trào giúp đỡ bạn nghèo.... Giáo dục đạo đức thông qua hoạt động nội khóa: đây là một yêu cầu không thể thiếu đối với người giáo viên tiểu học, trong nội dung bài học bao giờ cũng có yêu cầu về giáo dục đạo đức, tình cảm, thông qua việc truyền thụ tri thức đầy đủ các môn học, giáo viên truyền thụ cho các em hành vi đạo đức, từ hành vi đạo đức, các em tiếp tục được giáo viên tập cho các em rèn luyện thực hành thói quen đạo đức đó là một cách thường xuyên liên tục. Ví dụ: Trong bài tập đọc: "bàn tay mẹ, ông tôi, quả ngọt cuối mùa......." ngoài kiến thức bài học, học sinh cần nắm đó là sự lao động vất vả, là lòng thương yêu ông bà, cha mẹ đối với con cháu, còn cung cấp cho các em hành vi đạo đức và biết thương yêu ông bà cha mẹ bằng các việc làm cụ thể: giúp mẹ lau nhà, trông em, giúp ông bàb khi tuổi già. Phân môn tự nhiên xã hội: cung cấp và rèn luyện hành vi, thói quen phải biết quan tâm chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau giữa những người trong gia đình, biết yêu quý bảo về cây... các em phải biến hành vi thành thói quen. Phân môn sức khỏe: ngoài kiến thức các em còn phải rèn hành vi biết bảo vệ chăm sóc sức khỏe bản thân (tự mặc ấm khi trời lạnh, ăn chín uống sôi...) và có trách nhiệm với mọi người. Phân môn kể chuyện: học sinh rất thích nghe chuyện giáo viên kể. đây là một loại hình phương tiện rất sinh động, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học, dễ gây được cảm xúc đạo đức mạnh mẽ. Qua những câu chuyện giúp cho việc chuyển tải các hành vi vào ý thức học sinh dễ dàng hơn. thông qua các câu chuyện hình thành cho các em hành vi thói quen làm việc tốt, làm việc thiện. ví dụ truyện "sự tích cây vú sữa": giáo dục các em có tình cảm với mẹ, biết yêu thương mẹ..... chúng ta cần tận dụng các tiết đạo đức trong chương trình. Mỗi bài đạo đức là một chuẩn mực về hành vi đạo đức. Giáo viên hình thành những biểu tượng về hành vi tốt, đúng chuẩn mực qua chuyện kể. Nhờ tình tiết câu chuyện mà gây được các em cảm xúc thẩm mỹ trước các hành vi tốt của nhân vật, từ đó các em bàn luận, ca ngợi và khắc sâu hình tượng đẹp về hành vi và nhân vật-chuyển cảm xúc thẩm mỹ thành cảm xúc đạo đức. Từ chuyện kể dẫn dắt các em vào bài học, từ nắm được nội dung bài học tức là nắm được hành vi đạo đức vừa học và sau mỗi bài học các em có tiết thực hành luyện tập hành vi đạo đức vừa học thành thói quen, các em phân biệt được đúng, sai, thiện-ác, tốt-xấu qua các hình thức bài tập tình huống để rèn luyện thói quen. Ví dụ- dạy bài: "chăm đọc sách và giữ gìn sách" giáo viên phải xác định chuẩn mực hành vi đạo đức ở bài này: chăm đọc sách mới hiểu nhiều, biết rộng học hành tấn tới và phải biết yêu quý giữ gìn sách. Chuẩn mực này có ý nghĩa gì? (giúp các em biết chăm đọc sách vì sách là kho tàng kiến thức). Các em thực hiện chuẩn mực hành vi này như thế nào? ( rèn thói quen chăm đọc sách). Ví dụ bài dạy: " Lễ phép chào hỏi người lớn" (sách đạo đức lớp 1) Giáo viên phải dạy cho học sinh khi chào hỏi phải dứng thẳng, bỏ mũ, nón, mắt nhìn vào người mình chào. Chào đủ nghe , rõ ràng , rồi cho các em tập chào, uồn nắn từng em cho đúng tác phong. Khi các em tới trường, giáo viên phải dạy cho các em, các thao tác hành vi cho đơn giản, cần thiết, cách chào hỏi, khi đưa vật gì cho người trên phải bằng hai tay, khi nói phải đầy đủ câu, không nói trống không, không nói leo, giáo viên phải uốn nắn các em những sai sót dù là nhỏ. Ví dụ khi dạy bài "Chăm làm việc trường việc lớp" giáo viên cho các em thực hành rèn luyện thói quen căm việc trường việc lớp bằng cách tự giác làm có thể giải quyết các bài tập tình uống. Tóm lại thông qua các hoạt động ngoại khóa, giáo viên kết hợp dạy chữ với dạy người để giáo dục các em, bởi vì ở lứa tuổi các em, các em đến trường vừa để học văn hóa, vừa để học cách sống, học cách học, học đạo làm người, học từ cái nhỏ nhất. 5) Giáo dục đại đức thông qua các hoạt động ngoại khóa(các hoạt động ngoài giờ lên lớp) : Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như: vui chơi, giải trí văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, hoạt động từ thiện, các hoạt động xã hội, lao động giúp các em tự khẳng định bản thân. Tạo điều kiện cho các em trước bạn bè, tập thể, các em có ý thức tự giác, kỉ luật, có lòng nhân ái, sự đoàn kết gắn bó. Thông qua các hoạt động này là điều kiện để các em hoàn thiện kiến thức các hành vi đạo đức mà các em đã được học. Giáo viên luôn sưu tầm truyện, tranh ảnh về những tấm gương người tốt, việc tốt, để kể lại cho các em nghe một cách diễn cảm, từng lời nói của thầy cô tác động thấm sâu vào lòng các em thì các em sẽ đáp lại bằng cả tấm lòng. Ví dụ: Trong đợt lũ lụt ở những vùng sâu, vùng xa tôi hay kể cho các em nghe về sự khó khăn thiếu thốn của các bạn cùng tuổi, các em rất buồn và thương các bạn, từ đó các hoạt động từ thiên của lớp các em tham gia rất tốt. Giáo viên chủ nhiêm kết hợp với nhà trường, đội chữ thập đỏ giúp đỡ các em có hoàn cảnh khó khăn giúp các em vượt khó trong học tập để các em thấy được lòng thương yêu chăm sóc, quan tâm của mọi người đối vơi em. Thông qua đó chúng ta cũng giáo dục các em về tấm lòng nhân ái, về trách nhiêm của mọi người đối với nhau. Trong các tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt đội, giáo viên động viên , khuyến khích, tuyên dương những gương tốt để các em học tập, nhắc nhở, giúp đỡ những em chậm tiến. Tóm lại để giáo dục cho học sinh đòi hỏi mỗi giáo viên chúng ta phải có tâm huyết, phải thương yêu học sinh, coi các em như người thân yêu của mình, dìu dắt, uốn nắn các em từ việc nhỏ nhất để lại những ấn tượng tốt đẹp về thầy cô giáo, để thầy cô là tấm gương cho các em noi theo- xây dựng được lòng tin đối với các em, từ đó các em xác định được động cơ học tập, học tập có kiến thức, học để làm người, học để sống vì mọi người. Hà Tĩnh tháng 5/ 2011 Trần Thi Bình Thu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Trường Tiểu Học.
  • Tham Luận: Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Môn Mt
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lương Gdthcs
  • 6 Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Soạn Giảng
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Ở Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Khuyết Tật Hoà Nhập Ở Trường Tiểu Học Nguyên Bình
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hoà Nhập Trẻ Khuyết Tật Dạng Khuyết Tật Ngôn Ngữ Và Khuyết Tật Trí Tuệ
  • Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Trẻ Khuyết Tật Mầm Non
  • Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã Phường Thị Trấn Là Biện Pháp Xử Lý Hành Chính
  • Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH

    TIỂU HỌC

    A. MỞ ĐẦU

    I. Lý do chọn đề tài

    Xã hội càng phát triển con người càng phải hoàn thiện, một con người hoàn thiện

    về nhân cách là con người không chỉ có tài mà cần phải có cả đức. Nhân cách của con

    người muốn được xây dựng và phát triển cần bắt đầu ngay từ khi mới sinh ra và đặc biệt

    là trong giai đoạn ngồi trên ghế nhà trường. Có thể nói, việc hình thành và phát triển các

    phẩm chất đạo đức, tri thức cho thế hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp

    thiết, đây cũng là một trong những nhiệm vụ của nhà trường nói riêng, của ngành giáo

    dục nói chung cần phải thực hiện. Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là một mặt

    của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho trẻ em những tính cách nhất định và bồi

    dưỡng cho các em những quy tắc hành vi thể hiện trong thái độ với bạn bè, gia đình,

    người khác và đối với Nhà nước, Tổ quốc. Đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa

    không chỉ là thành phần quan trọng về cơ bản của giáo dục mà là mục đích của toàn bộ

    công tác giáo dục thế hệ trẻ. Trong giáo dục không những có kiến thức mà phải có đạo

    đức. Vì vậy công tác giáo dục trước tiên phải đặt chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho học

    sinh, coi đó là cái căn bản, cái gốc cho sự phát triển nhân cách. Khi nói đến nhân cách

    của việc học trong chế độ mới chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bây giờ phải học; học để

    yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức”.

    Học để có đạo đức, để hành động có đạo đức, để yêu đạo đức. Đó là một tư tưởng

    lớn của thời đại, một định hướng đúng đắn và quan trọng của nền giáo dục hiện đại.

    Ngày nay, với những thành tựu vĩ đại của cách mạng khoa học và kỹ thuật, con người

    nắm trong tay những tư tưởng và khoa học hết sức hùng hậu, có giá trị và sức sang tạo

    cực kỳ lớn lao đồng thời cũng có sức tàn phá và hủy diệt thật kinh khủng. Bước tiến phi

    thường đó của xã hội loài người đòi hỏi mỗi con người, mỗi dân tộc nhất thiết phải có

    tâm hồn và đạo đức trong sáng của lòng nhân ái.

    Công cuộc đổi mới xã hội hiện nay ở nước ta cũng nhằm tiếp tục nhân đạo hóa

    các quan hệ giữa người và người, giữa người và môi trường sống, làm cho những

    nguyên tắc của nền đạo đức mới được khẳng định trong các chính sách và chủ trương,

    trong các hoạt động và quan hệ xá hội. Đồng thời chính sự nghiệp đổi mới cũng đòi hỏi

    xuất hiện những con người có phẩm chất đạo đức đầy đủ để đưa sự nghiệp đó tiến lên

    đúng hướng và thu được nhiều kết quả. Thái độ đặc biệt coi trọng nhân cách đã được

    Hồ Chủ Tịch dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài

    Trang 1

    làm việc gì cũng khó”. Đức là nền tảng tạo đà cho tài phát triển, tài làm cho đức phát

    triển toàn diện vững chắc làm gia tăng các giá trị xã hội cho mỗi người.

    Người Việt Nam từ xưa đã có biết bao truyền thống tốt đẹp. Truyền thống tôn sư

    trọng đạo được người Việt Nam tôn vinh, người thầy được kính trọng và đề cao. Song,

    do sự du nhập của nhiều nguồn văn hóa không lành mạnh và do cơ chế thị trường kinh

    tế chạy theo lợi nhuận thì việc giáo dục đạo đức có ít nhiều ảnh hưởng. Trước đây trong

    các trường học, hiện tượng vô lễ với giáo viên, nói tục chửi bậy là rất hiếm, ý thức kỷ

    luật của học sinh rất tốt, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái là rất cao. Trong gia

    đình con cháu yêu thương ông bà, cha mẹ:

    “Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

    Song cũng thật đáng buồn là hiện nay chất lượng đạo đức đang bị suy giảm

    xuống trông thấy, trong các nhà trường hiện tượng vô lễ, nói tục chửi bậy tăng lên,

    phong trào học tập đi xuống, hiện tượng lười học, chán học tăng vọt, truyền thống tôn

    sư trọng đạo bị chà đạp. Ngoài xã hội xuất hiện nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội gia tăng và

    tràn lan khắp mọi nơi. Có những gia đình cha mẹ mải chạy theo cơn lốc xoáy của kinh

    tế thị trường, bị cuốn theo tiền tài danh vọng mà quên đi trách nhiệm giáo dục con cái

    và chính sự thiếu quan tâm giáo dục của gia đình làm cho chúng trở thành những đứa

    con bất hiếu,đạo đức bị giảm sút. Trước thực trạng đó đạo đức càng trở nên cần thiết và

    quan trọng. Thế hệ trẻ hôm nay là tương lai của đất nước ngày mai, nếu chỉ chú trọng

    vào giáo dục “trí dục” mà xem nhẹ giáo dục “đức dục” thì xã hội sẽ ra sao. Lúc sinh

    thời Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói:

    “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn

    Phần nhiều do giáo dục mà nên”.

    Chính vì vậy, mọi nhà trường tiến bộ, nhân đạo, dân chủ, hướng về tương lai nhất

    thiết phải coi trọng và ngày càng làm tốt hơn việc bồi dưỡng đạo đức mới cho thế hệ trẻ

    đang lớn lên và tiến hành ngay từ bậc Tiểu học.

    II.Giới hạn đề tài:

    1. Mục đích nghiên cứu: Việc giáo dục đạo đức là vấn đề cấp thiết không

    chỉ ở một quốc gia nào. “Trong tương lai tri thức là quyền lực, giáo dục đạo đức là

    chìa khóa cuối cùng mở cánh cửa vào tương lai”. Đảng và nhà nước ta cũng xác

    định được rằng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là nhiệm vụ quan trọng

    hàng đầu. Để giáo dục đạo đức cho các em nhiệm vụ đó trước hết của các thầy cô

    giáo. Trên cơ sở điều tra chất lượng giáo dục đạo đức đạo đức của trường Tiểu học

    Kim Đồng, từ đó rút ra một số kết luận về tâm lý lứa tuổi điển hình, đề xuất một số

    biện pháp giáo dục đạo đức nhằm nâng cao chất lượng đạo đức cho học sinh của

    trường tiểu học Kim Đồng. Việc tìm hiểu và đánh giá chất lượng đạo đức học sinh

    nhằm giúp giáo viên nắm được tình hình đạo đức của lớp mình, trường mình, nhìn

    Trang 2

    B. NỘI DUNG

    I. THỰC TRẠNG:

    1. Đặc điểm tình hình nhà trường:

    a) Nhà trường:

    Được sự chỉ đạo sát sao của Sở giáo dục, Phòng giáo dục, được sự giúp đỡ

    nhiệt tình có hiệu quả của các cấp các ngành; các bậc phụ huynh học sinh nhiệt tình

    luôn tạo điều kiện tốt nhất để các giáo viên hoàn thành nhiệm vụ năm học.

    b) Giáo viên:

    Phần lớn là những cán bộ giáo viên có thâm niên từ 5 năm trở lên. Tất cả các

    đồng chí giáo viên trong trường đều biểu lộ tình đoàn kết thân ái giúp đỡ lẫn nhau.

    Các đồng chí xuất thân từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau, tuổi đời, tuổi nghề cũng

    có nhiều khác biệt. Cả tập thể ấy mang theo phong tục tập quán của nhiều địa

    phương khác nhau, cá tính, năng lực, sở trường khác nhau nhưng trước yêu cầu của

    cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các đồng chí đã tập hợp thành một khối xây

    Trang 4

    dựng một tổ ấm đoàn kết nhất trí, khắc phục những mặt yếu, phát huy những mặt

    mạnh cùng nhau gánh vác công việc chung để đẩy mạnh công tác giáo dục của nhà

    trường.

    c) Học sinh:

    Toàn trường có 821 học sinh trong đó: Khối 1 có 157em; khối 2 có 205 em;

    khối 3 có 181 em; khối 4 có 142 em; khối 5 có 136 em. Các em hầu hết là con em

    nhân dân lao động ở địa phương xã Đức Liễu và xã Nghĩa Bình. cũng như nhiều

    trường khác, đó là một tập thể nam nữ Thiếu niên Nhi đồng sôi nổi hiếu động, có

    nhiều mặt tốt cần phát huy nhưng cũng không hiếm những mặt xấu tiêu biểu của

    một số học sinh cá biệt. Về chất lượng học tập nhìn chung tất cả các bộ môn đều có

    học sinh yếu kém. Nếu đối chiếu với yêu cầu mới hiện nay đòi hỏi chất lượng ngày

    càng nâng cao thì chưa đạt. Tình trạng học hời hợt, không chú ý nghe giảng, không

    làm bài tập ở nhà là khá phổ biến. Ý thức chấp hành kỷ luật, nội quy của lớp và của

    nhà trường chưa tốt vẫn còn ở rải rác các lớp. Hiện tượng lấy cắp tiền của bạn, của

    gia đình để mua quà, tiêu sài; lấy cắp đồ dùng học tập của bạn vẫn diễn ra hằng

    ngày… Ngoài thời gian học tập và rèn luyện ở trường, các em còn phải lao động

    giúp đỡ gia đình như chăn trâu, chăn vịt,…Đã phải lam lũ lao động vất vả, phương

    pháp học tập, rèn luyện còn lung túng, cha mẹ ít quan tâm đến việc học hành và

    giáo dục con cái nên chất lượng giáo dục thật đáng lo ngại. tình hình này thôi thúc

    nhà trường phải tập trung suy nghĩ cải tiến cách dạy, cách giáo dục học sinh phát

    triển toàn diện đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay.

    2. Chất lượng đạo đức của học sinh hiện nay ở trường tiểu học Kim Đồng:

    Muốn có biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh thì

    phải nắm chắc và đánh giá đúng tình hinh đạo đức của học sinh trường mình. Tôi

    đã dùng nhiều hình thức điều tra như nghiên cứu hồ sơ, học bạ, nghiên cứu dư luận

    của giáo viên, của cha mẹ học sinh và nhân dân địa phương, theo dõi các hoạt động

    của học sinh trên lớp cũng như các buổi sinh hoạt tập thể ngoài trời. Qua điều tra

    tôi thấy nhìn chung các em đều tốt, đều mong muốn xây dựng lớp mình thành lớp

    tốt. Riêng một số em có biểu hiện sai về mặt đạo đức đều rơi vào những em có học

    lực yếu; Số còn lại là do những yếu tố ảnh hưởng bởi những tác động xấu, chưa có

    ý thức phân định và tiếp thu một cách có chọn lọc. Hơn nữa đây cũng là độ tuổi rất

    hiếu động, còn thích ham chơi, ý thức định hướng chưa rõ ràng. Sự thiếu quan tâm

    từ phía gia đình: Cha mẹ vì quá bận rộn không có điều kiện thời gian để chăm sóc

    con cái; không khí gia đình cũng ảnh hưởng rất lớn đến các em như cha mẹ bỏ

    nhau, cha mẹ không hòa thuận khiến các em thiếu thốn tình yêu thương, nghe lời rủ

    rê của những kẻ xấu, xa lánh những người bạn tốt từ đó trở nên hư hỏng. Một số

    em có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện vật chất đầy đủ như các bạn bè khác

    trong lớp mà không vượt lên được hoàn cảnh sinh ra tự ty, co mình lại, không chịu

    nhận sự giúp đỡ từ phía bạn bè và nhà trường. Những em này thường có biểu hiện

    rất đa dạng, có thể xếp thành mấy nhóm như sau:

    Trang 5

    *Ở trường:

    – Thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, chây lười trong học tập, lao động; Học bài,

    làm bài không đầy đủ, quay cóp bài khi làm bài kiểm tra; Ăn mặc lôi thôi bẩn thỉu,

    không tuân thủ theo quy định chung của trường.

    – Thiếu lễ phép với thầy cô giáo; lừa dối thầy cô giáo; xúc phạm cô giáo, thầy

    giáo, thậm chí có em còn chửi thầy giáo, cô giáo…

    – Phá phách tài sản của nhà trường, của bạn; gây gổ đánh nhau với bạn bè

    trong lớp, trong trường, dọa nạt cán bộ lớp, nói tục, chửi bậy, ăn cắp vặt, …

    *Ở ngoài trường:

    – Thiếu lễ phép với cha mẹ, người lớn, nói dối gia đình, mất trật tự làng

    xóm… La cà hàng quán ăn uống bê tha, tiêu tiền lãng phí.

    – Một số học sinh cá biệt có những biểu hiện gần giống hành vi trẻ lang thang

    phạm pháp như: Trộm cắp, đánh nhau, lừa dối gia đình để lấy tiền tiêu sài.

    Tôi cho rằng những em học sinh hư này nếu được giáo dục đúng cách thì sẽ

    trở thành những học sinh ngoan, học giỏi, có ích cho gia đình, nhà trường, xã hội.

    Vì vậy không thể giáo dục các em theo từng phần, từng mặt riêng biệt mà luôn phải

    giáo dục toàn bộ nhân cách.

    II. NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

    Giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh:

    Tuổi học sinh Tiểu học là giai đoạn lĩnh hội các Chuẩn mực đạo đức và quy

    tắc hành vi đạo đức một cách hệ thống. Hơn nữa, nhà trường còn kiểm tra việc thực

    hiện các chuẩn mực đạo đức một cách thường xuyên và có mục đích. Việc giáo dục

    đạo đức cho học sinh không tách rời việc giáo dục nhân cách học sinh và có thể

    thực hiện với nhiều hình thức thích hợp, đa dạng trong đó nổi bật là các hình thức

    sau:

    1) Giáo dục đạo đức thông qua quá trình dạy học:

    Bản thân quá trình dạy học và ngay trong các nhiệm vụ dạy học là nhằm góp

    phần giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh. Tính chất giáo dục của việc dạy

    học đòi hỏi nhà giáo phải khai thác đúng đắn, sâu sắc nội dung các môn học, thông

    qua việc dạy học mà thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục nhằm phát triển các

    phẩm chất đạo đức, hoàn thiện nhân cách học sinh.

    Trước hết phải nói tới quá trình dạy học môn Đạo đức ở trường. Thông qua

    môn học này mà học sinh có được một hệ thống khái niệm, tri thức đạo đức. Nhờ

    đó học sinh có thể hiểu được mục đích hành động, biết được cần phải làm gì, phân

    biệt được “cái tốt và cái xấu”, “cái đạo đức và cái vô đạo đức” v.v… Trên cơ sở đó,

    các em định hướng đúng trong các hiện tượng phong phú và phức tạp ở quanh

    mình và có được tính tự giác trong quá trình học tập. Ở bậc Tiểu học, việc dạy và

    Trang 6

    học môn Đạo Đức với tư cách là môn học cũng có tác dụng đặc biệt; thông qua

    việc dạy học môn Đạo Đức nhằm thực hiện được các nhiệm vụ:

    – Cung cấp cho học sinh các tri thức sơ đẳng về các chuẩn mực đạo đức gắn

    với kinh nghiệm sống, giúp học sinh hình thành, định hướng về giá trị đạo đức, biết

    các nghĩa vụ, trách nhiệm và phân biệt được cái đúng cái sai, cái thiện cái ác. Từ đó

    có nguyện vọng thông qua hoạt động mà đưa các chuẩn mực, các giá trị ấy vào mọi

    lĩnh vực của cuộc sống (phù hợp với trình độ nhận thức, tập quán hành vi đạo đức

    đang hình thành ở mỗi em).

    – Trên cơ sở đó giúp các em tập luyện trong đời sống thực tế, hình thành các

    hành vi, tập quán hành vi lành mạnh, góp phần tạo nên lối sống phù hợp với các

    chuẩn mực đạo đức văn hóa.

    Nếu thực hiện tốt các nhiệm vụ trên chúng ta đã và sẽ đặt được những viên

    gạch hồng đầu tiên trong quá trình giáo dục, bồi dưỡng hình thành cơ sở ban đầu

    của tư cách đạo đức người công dân, người chiến sĩ, những người chủ tương lai của

    đất nước, của dân tộc. Các em cũng hiểu bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình

    trong các mối quan hệ xã hội, đòi hỏi trong giáo lưu, giao tiếp ứng xử phải tuân

    theo các chuẩn mực đạo đức, nhất là trong điều kiện xã hội phát triển nhanh chóng,

    mạnh mẽ và phức tạp trong cơ chế thị trường. Cụ thể là:

    + Các quan hệ với gia đình (cha mẹ, ông bà, anh chị em);

    + Quan hệ với nhà trường (thầy cô giáo, bạn bè);

    + Quan hệ với cộng đồng (làng xóm, đoàn thể, xã hội);

    + Thái độ và quan hệ với lao động, với công việc hàng ngày;

    + Thái độ và quan hệ với tài sản công cộng, với môi trường, với các di sản

    văn hóa, với thiên nhiên, …;

    + Ý thức về nghĩa vụ đối với Tổ quốc, đối với dân tộc;

    + Ý thức đối với trách nhiệm bổn phận, lợi ích chính đáng của bản thân, …

    Ngoài môn Đạo đức, tất cả các môn học khác ở Tiểu học, đặc biệt là môn

    Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội, môn Toán đều có khả năng tiềm tàng, nếu được

    khai thác tốt, đúng hướng, nhằm vào việc giáo dục đạo đức. Chẳng hạn ở môn

    Tiếng Việt qua các câu chuyện kể, các bài văn, bài thơ có nội dung phong phú, sinh

    động ca ngợi vẻ đẹp của đất nước, ca ngợi văn hóa, các tập quán truyền thống tốt

    đẹp của đất nước, của dân tộc nếu được khai thác, tiến hành đúng đắn sẽ mở rộng

    được kiến thức về đạo đức, về truyền thống văn hóa, về kinh nghiệm, lối sống

    mang tính dân gian, phản ánh bản sắc đạo đức của dân tộc. Tất cả sẽ giáo dục, bồi

    dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc và kể cả các

    chuẩn mực sơ giản trong giao tiếp, ứng xử về đạo đức …

    Trang 7

    Khi hướng dẫn học sinh học bài, làm bài nhờ vận dụng đúng các nguyên tắc

    và phương pháp giáo dục và dạy học sẽ giúp học sinh đi từ mức độ dễ đến khó, từ

    đơn giản đến phức tạp và nâng cao dần,… sẽ tập luyện cho học sinh thói quen vượt

    khó khăn hoàn thành nhiệm vụ học tập, bước đầu hoàn thành các phẩm chất ý chí,

    các nét tính cách, lòng yêu chân lý, yêu văn hóa khoa học. Cũng nhờ vậy mà tầm

    mắt của các em ngày càng mở rộng, càng phong phú thêm, góp phần làm cho kiến

    thức đạo đức, thái độ đạo đức về cuộc sống, vốn sống, kinh nghiệm sống của các

    em phát triển dần.

    Trong quá trình học tập cùng nhau các mối quạn hệ về lợi ích giữa cá nhân

    với tập thể sẽ hình thành tinh thần đoàn kết gắn bó với nhau vì lợi ích chung cũng

    sẽ phát triển nâng cao dần. Hơn thế nữa do được giáo dục tốt, được gia đình quan

    tâm theo dõi, chăm sóc hàng ngày, học sinh dần dần sẽ ý thức được mối quan hệ

    giữa cá nhân với tư cách là con cái, là học sinh với lợi ích của gia đình và bản thân.

    Tất cả sẽ là cơ sở để xây dựng nên ý thức của học sinh về nghĩa vụ, trách nhiệm, về

    bổn phận với mọi người, với gia đình và xa hơn nữa là với xã hội. Khi hoàn thành

    tốt các nhiệm vụ học tập, phù hợp với sự mong đợi của gia đình, của xã hội, các em

    sẽ được đánh giá, khen thưởng, sẽ hình thành được những tình cảm trong sáng, tích

    cực phù hợp với lứa tuổi học đường.

    Tất nhiên đều cần và có thể bồi dưỡng cho các em thông qua việc dạy môn

    Đạo đức và quá trình dạy học nói chung ở Tiểu học. Các quan hệ nêu trên đòi hỏi

    phải có sự phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội nhằm vào mục tiêu

    chung: Bồi dưỡng, hình thành nhân cách của người công dân tương lai từ trong nhà

    trường Tiểu học.

    2) Giáo dục đạo đức thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp:

    – Tổ chức các buổi sinh hoạt dưới cờ vào mỗi thứ hai hàng tuần, biểu dương

    các tập thể, cá nhân, uốn nắn những thiếu sót và giới thiệu, định hướng những nội

    dung cần giáo dục cho học sinh.

    – Tổ chức tốt các ngày chủ điểm trong năm học gắn với kỷ niệm các ngày lễ

    lớn của dân tộc; thông qua đó giáo dục truyền thống cách mạng, long tự hào dân

    tộc, ý chí quật cường và tình yêu quê hương đất nước cho học sinh. Thông thường

    mỗi tháng trong năm học đều có ngày lễ lớn chẳng hạn: Kỷ niệm cách mạng tháng

    Tám và Quốc khánh 2/9 . Ngày 15/10: Bác Hồ gửi lá thư cuối cùng cho ngành giáo

    dục – Đào tạo trước khi Bác ra đi, đồng thời cũng là ngày anh Nguyễn Văn Trỗi hy

    sinh. Ngày 20/10: Thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. 20/11: Ngày nhà giáo

    Việt Nam. 22/12: Ngày thành Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày quốc phòng toàn

    dân. 03/02: Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. 08/3: Ngày Quốc tế phụ nữ

    và khởi nghĩa Hai Bà Trưng. 26/3: Ngày thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ

    Chí Minh. 10/3 âm lịch (thường vào tháng 4 dương lịch): Ngày giỗ Tổ Hùng

    Vương. 30/4: Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. 19/5: Kỷ niệm ngày

    sinh của Hồ Chủ Tịch. 01/6: Ngày Quốc tế Thiếu nhi. 27/7: Ngày thương binh liệt

    Trang 8

    + Hoạt động “Hội thi thiếu nhi”: Hội thi thiếu nhi là đỉnh cao của phong trào

    thiếu nhi, là kết quả của quá trình phấn đấu, học tập, rèn luyện theo mục tiêu giáo

    dục toàn diện. Qua hội thi thiếu nhi, các em sẽ đánh giá được kết quả rèn luyện của

    mình và đó chính là cơ hội, là môi trường để các em trao đổi thêm kinh nghiệm học

    tập, hoạt động với các bạn của mình. Hội thi thiếu nhi còn là ngày hội của các em,

    vừa mang tính chất của cuộc thi tài, nên đã tạo được bầu không khí thi đua hào

    hứng, sôi nổi, hấp dẫn trong các hoạt động.

    – Tổ chức các hoạt động tập thể trong phạm vi toàn trường tạo điều kiện để

    các em hình thành các mối quan hệ, gắn bó với nhau vì quyền lợi, danh dự chung,

    gây niềm vinh dự, tự hào về lớp mình, rất có ý nghĩa và tác dụng sâu sắc đến nhận

    thức, tình cảm của học sinh. Thực tế hoạt động tập thể của các nhà trường có thể là

    các hoạt động như: Lao động tập thể, các cuộc thi tài năng, sang kiến của cá nhân,

    tổ chức giao lưu trong tập thể giữu các khối lớp, … Mỗi giáo viên cần nhận thức về

    tác dụng giáo dục của tập thể, biết dựa vào các giai đoạn hình thành và phát triển

    của tập thể và các nhiệm vụ giáo dục để tìm ra các biện pháp, hình thức tổ chức

    giáo dục trong tập thể đạt tới hiệu quả giáo dục theo mục tiêu của cấp học. Từ đó

    nếp sống đạo đức của các em sẽ có chuyển biến tốt, trước hết là tinh thần đoàn kết,

    ý thức tập thể, biết giúp đỡ nhau trong mọi hoạt động. Qua hoạt động tập thể, lòng

    nhân ái, tính vị tha, tinh thần dũng cảm, trách nhiệm vì tập thể được thể hiện rõ và

    chính những hoạt động đó đã đẩy mạnh phong trào học tập của các em hơn.

    Để các hoạt động nêu trên được thực hiện có hiệu quả góp phần tích cực

    trong công việc giáo dục đạo đức cho học sinh người giáo viên cần lưu ý: Phát huy

    vai trò, chức năng của các tổ chức và cá nhân trong nhà trường trong đó giáo viên

    chủ nhiệm giữ vai trò rất quan trọng. Phối hợp tốt các tổ chức đoàn thể ngoài nhà

    trường như: Hội cha mẹ học sinh, các cấp chính quyền địa phương trong việc giáo

    dục đạo đức cho học sinh.

    3) Vận động mọi lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh:

    Việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là một

    công việc khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, trong quá trình giáo dục đạo đức học sinh

    tiếp nhận những tác động từ nhiều phía: Nhà trường – Gia đình – Xã hội. Công tác

    giáo dục chỉ đạt hiệu quả cao khi phối hợp thống nhất được tác động theo hướng

    tích cực. Đối với học sinh Tiểu học thì tác động giáo dục của nhà trường, gia đình,

    xã hội có vai trò quan trọng. Vì vậy, sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình,

    xã hội trong lĩnh vực này có tác dụng to lớn về nhiều mặt đó là: Làm cho các tác

    động giáo dục đến với học sinh được thực hiện theo những yêu cầu thống nhất;

    Giúp cho cha mẹ học sinh và giáo viên hiểu đầy đủ hơn về đối tượng giáo dục của

    mình, nhờ đó đề ra được những biện pháp giáo dục phù hợp; Tạo ra sự hỗ trợ lẫn

    nhau trong công tác giáo dục. Với ý nghĩa đó, sự kết hợp giáo dục giữa nhà trường,

    gia đình, xã hội từ lâu đã được xem là nguyên lý cơ bản của giáo dục. Song làm thế

    nào để sự kết hợp này đáp ứng được những yêu cầu của công tác giáo dục vẫn đang

    Trang 10

    SSHS

    2013 – 2014

    Khảo sát đầu năm

    Kiểm tra cuối HKI

    Ghi

    Ghi

    chú

    * Lớp đối chứng 3B:

    Năm học 2014 – SSHS

    2015

    Khảo sát đầu năm

    26

    chú

    Kiểm tra cuối HKI

    26

    21

    80.7

    5

    19.3

    22

    84.6

    4

    15.4

    – Thuyết phục là phương pháp giáo dục nhằm tác động vào ý thức, tình cảm,

    niềm tin, ý chí của học sinh. Đây là phương pháp có vai trò mở đường cho mọi quá

    trình giáo dục bất kỳ một phẩm chất, năng lực nào. Đối với việc giáo dục học sinh

    hư, khi thực hiện phương pháp này cần hết sức tránh nóng vội và cần nắm bắt cụ

    thể đặc điểm tâm lí, tính cách cũng như hoàn cảnh gia đình, quan hệ bạn bè của đối

    tượng này để có biện pháp giáo dục.

    – Phát hiện, động viên kịp thời những tiến bộ dù nhỏ để xây dựng niềm tin ở

    học sinh. Theo số liệu điều tra, số học sinh có biểu hiện sai trái về đạo đức đã mất

    hết niềm tin vào bản thân. Vì vậy, việc khích lệ những cố gắng, tiến bộ của các em

    sẽ có tác dụng như một động lực, một sinh khí mới cho các em phấn đấu. Giáo dục

    lại đạo đức cần gắn liền với giáo dục lòng say mê học tập. Phần đông học sinh hư

    đều lười biếng học tập, việc thu hút các em vào hoạt động học tập sẽ dần dần tách

    các em khỏi những quan hệ xấu và bản thân nội dung các môn học cũng góp phần

    nâng cao nhận thức giúp các em tự điều chỉnh mình.

    Tóm lại, kinh nghiệm thành công của thầy cô giáo trong việc giáo dục đạo

    đức cho học sinh trước hết là phải nghiên cứu, nắm chắc nguyên nhân và đặc điểm

    tâm sinh lí, khả năng của từng học sinh. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch phù hợp

    và tổ chức được các lực lượng giáo dục thống nhất tác động. Trong các lực lượng

    giáo dục đó phải chú ý đúng mức đến sức mạnh đồng bộ của tập thể thầy cô giáo,

    tập thể học sinh và gia đình học sinh. Phương pháp giáo dục đúng và thích hợp

    từng học sinh cũng là một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công đối với học sinh

    yếu đạo đức còn đòi hỏi cao ở nhiều người thầy, cô giáo về mặt uy tín,về thái độ

    nhiệt tình, về tính kiên trì, lòng độ lượng, bao dung. Đó cũng là những phẩm chất

    làm nên sức mạnh giáo dục đạo đức đối với học sinh hư. Nguyện vọng thiết tha của

    đông đảo thầy cô giáo là được hướng dẫn, cung cấp những kinh nghiệm hiện đại để

    giáo dục tốt phẩm chất đạo đức cho học sinh. Đó cũng chính là yêu cầu cấp bách

    phải nghiên cứu, tìm ra những giải pháp giáo dục mới, cụ thể, có hiệu quả cao đối

    với học sinh yếu kém về đạo đức

    II. KẾT LUẬN

    Từ chiều sâu lịch sử, dân tộc Việt Nam sớm hình thành một nền đạo đức và

    luôn có ý thức tu dưỡng, giữ gìn truyền thống đạo đức của dân tộc; luôn xem đạo

    đức cách mạng là phẩm chất đầu tiên, là cái gốc của mỗi con người. Bác Hồ đã

    dạy: “Ngươi cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy

    cũng không lãnh đạo được nhân dân” và Bác hồ cũng chỉ rằng: “Hiền dữ phải đâu

    là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Từ thực tiễn, xây dựng, bảo vệ đất

    nước, từ những ý kiến chỉ dạy của Bác Hồ cho thấy việc giáo dục đạo đức cho thế

    hệ trẻ nói chung, cho học sinh bậc Tiểu học nói riêng là hết sức cần thiết và quan

    trọng. Đó là trách nhiệm của mỗi tổ chức xã hội, mọi người, mọi gia đình, đồng

    thời trách nhiệm nặng nề của ngành giáo dục và đào tạo trong đó vai trò của các

    trường học rất quan trọng. Giáo dục đạo đức cho học sinh bậc Tiểu học thông qua

    Trang 14

    phải định hướng đúng đắn ngay từ bậc giáo dục tiểu học. Các nhà quản lý giáo dục

    nắm chắc mục tiêu này để có kế hoạch, biện pháp trong quá trình tổ chức thực hiện

    các hoạt động giáo dục để hình thành nhân cách và giáo dục đạo đức cho học sinh

    Tiểu học. Trong công cuộc đổi mới vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

    được đặt ra với yêu cầu bức thiết:

    – Cần đảm bảo cư xử với học sinh như một chỉnh thể, một nhân cách đang

    hình thành. Nhà trường cần giáo dục toàn diện, thực hiện tốt các tiêu chuẩn quốc

    gia đối với một trường Tiểu học. Cần đảm bảo sự bình đẳng cho học sinh để hình

    thành và phát triển hành vi đạo đức, quan tâm đặc biệt đến những học sinh đang

    gặp những khó khăn bất lợi. Cần có những định hướng đúng đắn cho sự hình thành

    và phát triển hành vi đạo đức tiếp theo của học sinh sau bậc tiểu học.

    – Tổ chức ngày hội truyền thống với nhiều hoạt động phong phú thu hút

    100% học sinh tham gia. Tổ chức tốt việc thực hiện các chủ điểm giáo dục học sinh

    theo từng khối lớp nhằm rèn luyện nếp sống đạo đức cho các em.

    – Tạo điều kiện cho Đội Thiếu niên tiền phong tổ chức các hoạt động tập thể

    (chào cờ đầu tuần, múa hát tập thể, các hoạt động ngoài giờ lên lớp…). Làm tốt

    công tác giáo dục ý thức tiết kiệm, lòng từ thiện, đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ

    nguồn.

    – Giáo viên tự rèn luyện phong cách đạo đức, gương mẫu trước học sinh, phải

    là tấm gương sáng về mọi mặt để học sinh noi theo. Giảng dạy tốt các tiết Đạo đức

    theo hướng tích cực. Tăng cường giáo dục tình cảm, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình,

    nhà trường, xã hội để có thể trực tiếp hoặc gián tiếp làm nền tảng cho việc giáo dục

    đạo đức cho học sinh.

    Với yêu cầu trên, nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội cần nhận thức đầy đủ

    và có trách nhiệm cùng với các nhà quản lý giáo dục tiến hành các hoạt động giáo

    dục thiết thực nhằm phát triển năng lực toàn diện cho học sinh.

    Đức Liễu, ngày 27 háng 3 năm 2022

    Duyệt BGH

    Người thực hiện

    Nguyễn thị Liên

    Trang 16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Vai Biện Pháp Giáo Duc Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học Có Hiệu Quả
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Trường Tiểu Học.
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Học Sinh Trong Lớp Học
  • Phương Pháp Kỷ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh
  • Skkn Giải Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Để Thu Hút Học Sinh Và Đảm Bảo Duy Trì Sĩ Số Ở Trường Thcs Quang Trung
  • Phương Pháp Kỉ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh Tiểu Học
  • Hiện nay, nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy cho học sinh ở các trường, dưới nhiều hình thức khác nhau. Chương trình hành động … đã đặt ra trách nhiệm phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp và kỹ năng sống cần được coi như một nội dung của chất lượng giáo dục. Do vậy ở trường đã tập huấn cho giáo viên dạy lồng ghép vào một số môn học nhằm trang bị những năng lực cần thiết cho các em.

    Từ ngôi nhà này lại đưa chúng ta trở về với chiến khu, nơi đó chủ nhân của ngôi nhà sàn đơn sơ vách nứa không con mà có triệu con. Nhân dân ta gọi Người là Bác. Cả dời Người là của nước non, thấm nhuần lời dạy của Bác “Trẻ em như búp trên cành” Gia đình – nhà trường – xã hội phải có trách nhiệm chăm sóc, bồi dưỡng, bảo vệ để những búp non ấy nở hoa tươi thắm. Có trách nhiệm đối với thế hệ tương lai. Vì vậy khi đến lớp, phải tạo cho các em không khí thoải mái, gần gũi, thân mật như những người thân trong gia đình, giúp cho các em không bị áp lực phải đi học.

    Mỗi người hãy áp dụng câu nói: ” Hãy mỉm cười trong cuộc sống. Nụ cười của bạn mang lại hạnh phúc cho người xung quanh và do đó cũng mang hạnh phúc cho chính bạn”. Do đó khi nhận danh sách lớp việc đầu tiên là giáo viên phải đọc kỹ để nhớ tên các em. Vì ai cũng muốn mình quan trọng đối với người khác, được người khác quan tâm, tôn trọng khi nghe cô tươi cười gọi tên mình các em rất vui và sẽ để lại ấn tượng sâu sắc.

    Tranh thủ những lúc ra chơi giáo viên cùng tâm sự, hỏi han về hoàn cảnh gia đình của các em, lấy số điện thoại để tiện cho việc liên lạc. Chọn những học sinh năng động, nhiệt tình và có lực học tốt để bầu ban cán sự lớp, phân công từng việc cụ thể, phù hợpvới từng em nhằm đưa tập thể lớp ngày càng đi lên. Hàng ngày giáo viên theo dõi, kiểm tra, nhắc nhở với vai trò vừa là cha, là mẹ, là anh, là chị, là người bạn tốt của các em.

    Thực tế cho thấy, có khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của con người, có nhận thức đúng chưa chắc đã có hành vi đúng.

    VD: Nhiều người biết hút thuốc có hại cho sức khỏe, có thể dẫn đến ung thư vòm họng, ung thư phổi nhưng họ vẫn hút thuốc. Có những người là luật sư, công an…có hiểu biết rất rõ về pháp luật nhưng họ vẫn vi phạm pháp luật. Đó chính là họ thiếu kỹ năng sống.

    Có thể nói kỹ năng sống là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có kỹ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những thử thách, họ luôn yêu đời, luôn thành công, luôn làm chủ cuộc sống của mình. Do đó giáo dục các kỹ năng sống cho học sinh là việc làm cấp thiết, làm ngay và làm lâu dài.

    – Kỹ năng tự nhận thức: Là tự nhìn nhận tự đánh giá về bản thân về cơ thể, tư tưởng, sở thích, tình cảm, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân. Quan tâm và ý thức được mình đang làm gì, kể cả những lúc bản thân thấy căng thẳng. Là kỹ năng sống rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp, cảm thông với người khác. Từ đó có những quyết định, lựa chọn đúng, phù hợp với điều kiện gia đình và xã hội. Ngược lại nhận thức không đúng về bản thân có thể dẫn đến những hạn chế, sai lầm trong giao tiếp và cuộc sống.

    Nằm trong chăn Lan vờ ngủ và em đã nhận thức ra. Lan cảm thấy ân hận vì đã làm mẹ phải buồn, thấy mình quá ích kỷ, anh trai luôn nhường nhịn thương yêu mình. Cuối cùng Lan nói với mẹ ” Con không thích chiếc áo ấy nữa. Mẹ hãy để tiền mua áo ấm cho cả hai anh em”

    Vệ sinh môi trường là được Bác Hồ coi là một trong những công việc quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho mọi người nhất là đối với thế hệ trẻ. Có sức khỏe mới lao động tốt, có sức khỏe mới học tập tốt. Hơn lúc nào hết những lời dạy của Bác về vệ sinh môi trường hôm nay chúng ta cần tự nhận thức tốt hơn, cần học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Dạy các em 5 điều Bác Hồ dạy chính là dạy trẻ có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, biết yêu thiên nhiên, biết kính trọng mọi người, yêu Tổ Quốc, yêu lao động… Nhờ đó mà các em sẽ phòng được một số bệnh về đường hô hấp, bệnh giun sán… tiết kiệm điện, tiết kiệm nước và thực hiện tốt phong trào vở sạch chữ đẹp, phong trào môi trường xanh – sạch – đẹp, đây cũng là một trong những tiêu chí trong phong trào xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực.

    Hiện nay đất nước ta đang đứng trước những thách thức lớn, xu thế toàn cầu hóa ngày một phát triển và lan nhanh. Đòi hỏi giáo viên phải hiểu sâu sắc đặc thù của từng môn học nhằm đúc rút được những kỹ năng sống sát thực để dạy tốt môn học đó.

    – Kỹ năng xác định giá trị: Là những gì con người cho là quan trọng, có ý nghĩa đối với bản thân. Giá trị có thể là vật chất, tinh thần, nó không thể bất biến mà nó có thể thay đổi theo thời gian, theo sự trưởng thành của con người.

    Ví dụ: Trong bài “Người mẹ”

    Khi thần chết cướp đi đứa con của mình. Bà quyết tâm đi tìm con. Bà ôm ghì bụi gai và máu nhỏ xuống từng giọt đậm. Bà khóc cho đến khi đôi mắt rớt xuống hồ. Vì con bà có thể hy sinh tất cả.

    Gia đình là trường học đầu tiên của trẻ, nếu gia đình giáo dục các em kỹ năng sống tốt, các em sẽ được thừa hưởng những điều đó. Các em sẽ luôn ý thức được việc học của mình. Có học tập ở nhà tốt thì lên lớp các em sẽ hiểu bài nhanh, tiết học trở nên nhẹ nhàng. Cuối mỗi buổi học phải nhắc các em về nhà phải rửa chân tay sạch sẽ rồi mới ăn cơm trưa, sau đó ngủ một lúc, thức dậy để đi học. Nếu các em thường xuyên làm như vậy sẽ tạo được thói quen tốt trong học tập và trong rèn luyện. Đúng với điều Bác nói:

    “Hiền dữ đâu phải là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”

    Khi đi học về quần áo, mũ treo lên móc, theo quy định của mình, để không mất thời gian tìm kiếm sau mỗi lần sử dụng. Đồng thời cần giúp đỡ cha mẹ sắp xếp đồ dùng cá nhân, đồ dùng của gia đình mình, làm những việc vừa với sức của mình sao cho gọn gàng, ngăn nắp. Như vậy có ý thức tốt ngay từ nhỏ có lợi cho các em khi học các lớp sau. Có câu: “Cái tháp cao nào cũng xây từ mặt đất”

    – Kỹ năng kiểm soát cảm xúc: Là khả năng con người nhận thức rõ cảm súc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được cảm súc đối với bản thân và người khác như thế nào. Biết điều chỉnh cảm súc một cách phù hợp, góp phần giảm bớt căng thẳng, giúp giao tiếp hiệu quả hơn.

    Ví dụ: Trong bài “Trận bóng dưới lòng đường”

    Quang sút bóng mạch và đập vào đầu một cụ già. Quang sợ tái cả người, cậu bé vừa chạy theo chiếc xích lô vừa mếu máo: Ông ơi…cụ ơi…! Cháu xin lỗi cụ. Quang rất ân hận trước tai nạn do mình gây ra.

    – Kỹ năng ứng phó với căng thẳng: Trong cuộc sống con người thường gặp những tình huống gây căng thẳng cho bản thân. Tuy nhiên có những tình huống gây căng thẳng cho người này nhưng lại không gây căng thẳng cho người khác và ngược lại. Giáo dục học sinh ứng phó với căng thẳng là rất quan trọng các em có thể ứng phó tích cực, không làm tổn hại đến sức khỏe, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp, không ảnh hưởng đến các bạn xung quanh.

    Ví dụ: Khi gọi học sinh lên bảng. Một số học sinh thì cảm thấy rất thích. Một số bạn cảm thấy run, tuy ở nhà có học bài nhưng lên bảng lại không trả lời được. Không riêng gì học sinh mà kể cả người lớn cũng vậy lúc đứng trước đông người cảm thấy lúng túng khi trình bày một vấn đề nào đó.

    – Kỹ năng thể hiện sự cảm thông: Tiếng Việt có nhiệm vụ rèn cho học sinh 4 kỹ năng: nghe – nói – đọc – viết. Hướng tới và giáo dục các em tình yêu quê hương xứ sở, yêu con người, biết cái thiện, cái đẹp làm cho tâm hồn phong phú và cuộc sống bay bổng hơn, các em biết cảm thông trước những hoàn cảnh khó khăn. Nhất là trong giai đoạn công nghệ thông tin phát triển mạnh các em càng cần đọc nhiều để nắm bắt và hiểu rõ mọi việc. Biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác để hiểu rõ cảm súc của người khác và thông cảm với hoàn cảnh của họ. Kĩ năng này tăng cường hiệu quả trong giao tiếp, ứng xử với người khác. Đặc biệt trong bối cảnh xã hội văn hóa đa sắc tộc càng cần sự thân thiện, gần gũi với những người cần sự giúp đỡ.

    ái đối với những người tàn tật, giúp đỡ những bạn nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, có ý thức vươn lên trong học tập.

    Kỹ năng hợp tác và đảm nhận trách nhiệm: Là cùng chung làm một việc, giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau để đạt được kết quả cao nhất.

    Ví dụ: Trong bài tập đọc ” Hai bà Trưng”: Vì yêu nước thương dân, căm thù quân giặc tàn bạo đã giết hại ông Thi Sách và gây bao tội ác với nhân dân. Hai Bà mặc giáp phục thật đẹp, bước lên bành voi rất oai phong. Đoàn quân rùng rùng lên đường, giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiên mộc cuồn cuộn trào lên theo bóng voi ẩn hiện của Hai Bà. Bao đời nay nhân ta tôn kính Hai Bà Trưng vì Hai Bà là người lãnh đạo nhân dân giải phóng đất nước, là hai vị anh hùng chống giặc ngoại xâm đầu tiên trong lịch sử nước nhà.

    Khi các em hoạt động nhóm: Cả nhóm đều đồng lòng, hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau tạo sức mạnh vế trí tuệ, tinh thần, thể chất, vượt qua những khó khăn thì sẽ đạt được mục tiêu mà mình mong muốn.

    Ngoài việc ôn lại, khắc sâu các kiến thức, kỹ năng đã học. Qua đó rèn luyện tính cách mạnh dạn, tự tin, rèn kỹ năng quyết định lựa chọn ngôn ngữ nói và khả năng trình bày ý kiến của mình một cách tự nhiên, rõ ràng, mạch lạc.

    Cách chơi: Giáo viên hướng dẫn cho cả lớp cách làm phóng viên để đều có thể thay nhau làm phóng viên.

    Cách chào mọi người:

    Cách cầm micrô

    Người được phỏng vấn: Lắng nghe, bình tĩnh, tự tin, lựa chọn cách trả lời sao cho thông minh nhất .

    Kỹ năng quản lý thời gian: Giúp các em biết sắp xếp công việc một cách hợp lý. Hàng ngày em ngủ dậy, đi học, học bài, làm việc giúp gia đình vào lúc nào phù hợp nhất.

    Qua việc học tập hàng ngày của các em, tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh để kịp thời nắm bắt nhắc nhở, đôn đốc học sinh học tập ở lớp cũng như ở nhà.

    Trước hết người lớn phải gương mẫu, tôn trọng, đối xử công bằng với các em, tạo điều kiện cho con em mình học tập và vui chơi. Động viên, tạo cơ hội để con cái nói lên ý thích của mình, hỗ trợ để con mình thực hiện được sở thích đó.

    Ví dụ: Con thích vẽ. Phụ huynh mua đủ màu và giấy vẽ cho con.

    Nhắc nhở, hướng dẫn, kiểm tra con học và làm bài tập.

    Chuẩn bị sách vở và đồ dùng học tập theo thời khóa biểu.

    Biết giữ vệ sinh cá nhân, giữ vệ sinh nơi công cộng.

    Biết cách ăn uống, chào hỏi, giữ gìn đồ dùng trong gia đình

    Giáo dục con ý thức gọn gàng, ngăn nắp.

    Giáo viên đối với học sinh:

    Trẻ em rất hiếu động thường hay bắt chước. Nên giáo viên phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm, cái chính là để các em nhìn thấy những việc giáo viên đã nói, đã làm, do đó tấm gương thực tế là rất quan trọng.

    Người giáo viên luôn rèn luyện tác phong gương mẫu giờ nào việc nấy tạo ấn tượng tốt cho học sinh. “Sự gương mẫu của người thầy giáo là tia sáng mặt trời thuận lợi nhất đối với sự phát triển tâm hồn non trẻ mà không có gì thay thế được”. Đồng thời biết định hướng, biết tổ chức, biết khai thác, biết phát huy năng khiếu, sự sáng tạo của họa sinh, phải dạy thật, dạy đúng chương trình, đủ tiết, tìm tòi phương pháp phù hợp, chuẩn bị nội dung, đồ dùng học tập không dạy theo thành tích mà dạy để học sinh nắm được kiến thức một cách hiệu quả nhất.

    Trong 15 phút sinh hoạt đầu giờ giáo viên hướng dẫn cán sự lớp kiểm tra từ việc học bài cũ, chuẩn bị sách vở, vệ sinh cá nhân, vệ sinh lớp học…Cái chính là rèn cho các em tinh thần tự quản, tinh thần tập thể, tính chủ động, sáng tạo, mạnh dạn tự tin trong mọi hoạt động. Có như vậy mới phát huy tác dụng trong việc rèn các em vào nề nếp học tập.

    Trong các buổi sinh hoạt chi bộ được nghe đồng chí bí thư quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng, mọi quy định của ngành, của trường đề ra. Bản thân tôi, các đồng chí khác trong chi bộ luôn học hỏi để bổ sung vào vốn kinh nghiệm của mình và triển khai để mọi người cùng thực hiện.

    Kết hợp với giáo viên bộ môn:

    Kết hợp với các đoàn thể khác:

    Trong các buổi chào cờ đầu tuần được thầy tổng phụ trách, Ban giám hiệu tuyên dương, nhắc nhở những việc đã làm được, chưa làm được trong tuần vừa qua và triển khai kế hoạch thời gian tới các em chú ý lắng nghe tiếp thu và tiến bộ.

    Giáo dục ngoài giờ lên lớp: Đây là hình thức “Học mà chơi – chơi mà học”. Phải xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm tạo sự thân mật giữa nhà trường với học sinh, tạo sự thân mật giữa giáo viên và học sinh, qua đó giáo viên phải nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, sở thích của các em như vậy thì công việc mới hiệu quả được. Nhà trường, giáo viên, phụ huynh và cả học sinh rất phấn khởi.

    Nhà trường cần tổ chức các hoạt động vui chơi như: Tham gia thi giao lưu Tiếng Việt, diễn văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhằm khuyến khích sự mạnh dạn, tự tin, sự sáng tạo, lòng yêu thiên nhiên môi trường, yêu quê hương, đất nước, biết bảo vệ tài sản của nhà trường, của cộng đồng và tài sản của bản thân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài : Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo
  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ 3
  • Những Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Trẻ 5
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ
  • Giáo Dục Giúp Trẻ Tự Kỷ Hòa Nhập Xã Hội
  • Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Khuyết Tật Trí Tuệ
  • Gd Trẻ Khuyết Tật: Giáo Viên Cần Điều Chỉnh Phù Hợp Với Từng Học Sinh
  • Một Số Kinh Nghiệm Dạy Học Sinh Khuyết Tật Học Hòa Nhập
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém
  • Những phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học

    8 phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học

    Học sinh cá biệt là gì?

    Học sinh cá biệt (HSCB) chỉ những học sinh hoang nghịch thường gây gỗ đánh nhau, bỏ giờ, trốn học, không chấp hành nội qui nhà trường … thêm vào đó là sự lôi kéo của bạn bè về phía mình nhằm thỏa mãn cá tính hoặc thỏa mản nhu cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế về hoàn cảnh của bản thân mình. Đó là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nó dễ bị lôi cuốn làm cho học sinh dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu dẫn đến tình trạng bỏ học giữa chừng và có nguy cơ phạm tội là nỗi day dứt của nhà trường, gia đình và xã hội.

    Rất nhiều yếu tố làm cho HS trở thành HSCB, nhưng chúng ta chỉ đề cập đến một số nguyên nhân tác động trực tiếp đến HS, làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm không lành mạnh làm ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và làm hạn chế đến năng lực học tập của các em.

    Xã hội phát triển theo cơ chế thị trường nó kéo theo một bộ phận không lành mạnh khác như dịch vụ giải trí không lành mạnh, phim ảnh bạo lực, tình cảm lứa đôi quá mức. Hiện nay, do sự quản lí không chặt chẽ của nhà nước, các dịch vụ bi a, internet, karaoke … được tổ chức gần trường học, lôi cuốn, hấp dẫn các em vào các trò chơi vô bổ. Các em lao vào các trò chơi đó dẫn đến bỏ giờ trốn học và những vi phạm khác. Đồng thời các kênh truyền hình chiếu một số bộ phim có mang những hình ảnh bạo lực làm cho các em dễ dàng bắt chước. Ngoài ra những tụ điểm ăn chơi hàng ngày nhan nhản, làm cho các em không tự chủ, tham gia không có ý thức dần dần tiêm nhiễm và trở thành HS hư.

    Thời gian HS học tập, sinh hoạt ở trường đều có sự quản lí hướng dẫn của GVCN, GVBM, cán bộ lớp, nhà trường, đó là điều kiện để các em học tập tốt và rèn luyện nhân cách. Nhưng phần lớn thời gian các em sinh hoạt là ở gia đình: tự học, lao động, vui chơi. Với thời gian đó đối với hầu hết HS đều có thời khóa biểu học tập ở nhà, ý thức được việc học tập ở nhà là thời gian giúp các em ghi nhớ lại bài cũ, luyện tập và nghiên cứu bài mới, chuẩn bị cho ngày học hôm sau, đồng thời tham gia giúp đỡ công việc gia đình. Đó là những HS thực sự tự giác trong học tập và được sự quản lí giáo dục của gia đình. Nếu các em chưa ý thức được việc học tập, đồng thời gia đình không quan tâm và không tạo điều kiện thì việc học tập của các em không đến nơi đến chốn, chất lượng bị ảnh hưởng, các em học tập yếu, thua bạn bè dẫn đến chán học, bỏ học.

    Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở tiểu học hiệu quả

    1. Không nên có cái nhìn kì thị với các em

    Đây là điều đầu tiên mà các thầy cô cần nắm rõ khi giáo dục các học sinh cá biệt. Là người giáo viên, chúng ta không nên có cái nhìn kì thị, thái độ khó chịu, ghét bỏ, coi thường hay mắng nhiếc học sinh cá biệt trước lớp. Không nên cố gắng dò xét chỉ để tìm thấy lỗi, hay thấy những mặt xấu của các em. Không nên gọi các em là học sinh cá biệt nhiều lần, đặc biệt là trước lớp, trước mặt người khác, đồng thời cũng đừng tách các em ra khỏi lớp hay cô lập các em trước lớp. Vì những điều này chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề mà thôi. Các thầy cô cũng nên biết rằng, ở độ tuổi tiểu học, các em vẫn chưa hình thành được nhân cách của mình, các em chỉ là những học sinh chưa ngoan và cần được giáo dục. Vậy nên, đừng kì thị các em vì các em luôn cần ta giúp đỡ.

    2. Quan tâm và gần gũi hơn với các em

    Cái gì cũng có lý do của nó, không phải tự dưng khi sinh ra con người ta cũng đều trở nên xấu xa cả. Và đối với trường hợp của các em học sinh cá biệt cũng vậy, chắc chắn là vì nhiều yếu tố tác động nên mới khiến các em như thế. Các thầy cô cần tìm hiểu nguyên nhân, để từ đó đưa ra cách tiếp cận phù hợp cũng như có sự quan tâm và gần gũi hơn vì thấu hiểu về những chuyện mà các em gặp phải. Để thực hiện tốt điều này, chúng ta có thể chia học sinh cá biệt thành các nhóm sau:

    Cá biệt – học lực yếu, vì các em bị mất kiến thức căn bản ở lớp dưới

    Cá biệt – học yếu do các em được bố mẹ nuông chiều, ham chơi, lười học, không học bài, bị bạn xấu rủ rê sa đà

    Cá biệt – học yếu do hoàn cảnh gia đình khó khăn

    Cá biệt – học yếu do cha mẹ li hôn, thiếu thốn tình cảm gia đình

    Tóm lại, các thầy cô cần có sự quan tâm gần gũi, tìm hiểu rõ về các học sinh cá biệt. Vì đa số các em đều rất cần một điểm tựa tinh thần tin cậy để có thể bộc bạch, sẻ chia, cũng như tâm sự những khó khăn, những nỗi niềm riêng tư thầm kín. Thầy cô sẽ trở thành người bạn lớn của các em, luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu. Người GVCN nên biết lắng nghe những tâm sự của các em và cũng nên giữ kín những tâm sự đó để các em tin tưởng mà bộc bạch. Hãy nhìn các em bằng ánh mắt của người cha, sự nhân từ của người mẹ, sự gần gũi, cảm thông của những người anh người chị, sự thân thiết của những người bạn.

    3. Nhẹ nhàng phân tích những ưu khuyết điểm của các em

    Thầy cô hãy nhẹ nhàng phân tích những ưu khuyết điểm, những đúng, sai trong nhận thức cũng như hành động của các em, để từ đó giúp các em nhận ra lỗi lầm của bản thân và tạo cho các em cơ hội, thiện chí sửa chữa, không tái phạm. Tuyệt đối không la mắng chửi bới các em, đừng biến lớp học trở thành “địa ngục” đối với các em học sinh cá biệt, đừng biến những giờ sinh hoạt hay giờ ra chơi thành một giờ “tổng sỉ vả” đối với các em, đừng để các học sinh nghĩ rằng cứ gặp thầy cô là lại sẽ bị la mắng, trách phạt, truy tội. Điều này rất dễ gây ra những tâm lý tiêu cực và khiến các em tệ hơn lúc trước. Khi cần, chúng ta có thể gặp riêng các em để nhắc nhở, trao đổi.

    4. Tìm ra điểm mạnh để giúp các em phát huy nó

    Là một giáo viên chủ nhiệm, chúng ta đừng bao giờ để bụng những lỗi lầm của học sinh, đừng vội nhìn thấy hiện tượng mà đánh giá học sinh của mình chưa tốt. Dù là học sinh cá biệt và có khó giáo dục đến đâu đi chăng nữa thì bên trong các em vẫn luôn tiềm ẩn những nhân tố, những phẩm chất tích cực. Chúng ta hãy cố phát hiện ra những ưu điểm ẩn sâu trong mỗi em. Có thể là chính các em cũng không biết mình có những ưu điểm đó, vậy nên nếu có phương pháp đúng chúng ta hãy khơi gợi để làm thức tỉnh, khôi phục niềm tin cho các em để các em thấy rằng mình không hề kém cỏi, không phải là “thứ bỏ đi”, để từ đó vứt bỏ được sự tự ti, mặc cảm trong các em và chủ động hội nhập với các bạn trong lớp. Ngoài ra, điều này cũng sẽ giúp các em phát huy được điểm mạnh của mình, góp phần vào xây dựng tập thể vững mạnh, dần hình thành phẩm chất tự tin, kiên định trước tập thể cũng như khẳng định được khả năng của bản thân.

    5. Tin tưởng vào sự nỗ lực của các em

    Các thầy cô hãy nhìn nhận vấn đề theo hướng tích cực, đừng nghiêm trọng hoá vấn đề mà hãy tạo cho các em một lối thoát, một cơ hội để bản thân có thể tự sửa chữa, xin đừng “mổ một con gà bằng một cái búa”. Hãy tin tưởng chờ đợi sự chuyển biến từ các em. Chúng ta không nên nóng vội, vì thầy cô càng nóng vội thì sẽ càng tạo áp lực lên các em, khiến các em càng bối rối, càng sa vào đối phó. Đồng thời, hãy trân trọng những tiến bộ của các em dù chỉ là chuyện nhỏ nhất, bởi đó là cả một sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của các em. Đừng tiết kiệm lời khen, các thầy cô hãy biểu dương các em trước tập thể lớp, vì đối với các em một lời động viên, khen ngợi còn có giá trị hơn rất nhiều lần so với những bản kiểm điểm.

    6. Thầy cô hãy cố gắng điềm tĩnh, biết tự kiềm chế

    Bản thân người thầy, người cô nào trong công tác chủ nhiệm cũng cần phải biết kiềm chế những cơn nóng giận của mình khi có học sinh vi phạm. Hãy luôn bình tĩnh trong mọi tình huống cho dù xấu nhất. Chắc chắn rằng sẽ có nhiều giáo viên bị stress khi chủ nhiệm phải một lớp học mà có quá nhiều học sinh cá biệt, ngày nào cũng bị thầy cô giám thi “kể tội” học trò của mình…Trong những tình huống như thế này, các thầy cô hãy cố gắng điềm tĩnh, biết tự kiềm chế vì học sinh cá biệt thực sự là một “thử thách” lớn đối với đức tính điềm tĩnh, tự kìm chế của bất cứ giáo viên nào. Chúng ta không nên nóng vội, không nên quá khắt khe hay xử lí mạnh tay bằng những hình thức kỉ luật nặng nề, không nên thành kiến với các em học sinh cá biệt, cũng như đừng nhắc đi nhắc lại nhiều lần lỗi vi phạm của các em, vì điều này sẽ dễ dẫn đến sự chai lì.

    7. Giáo dục theo cách mềm dẻo linh hoạt – nhưng lời nói phải đi đôi với việc làm

    Trong công tác chủ nhiệm, các thầy cô phải kiên quyết cứng rắn, lời nói phải đi đôi với việc làm. Tuyệt đối đừng hứa suông, một khi đã nói thì phải kiên quyết thực hiện cho bằng được, biết không làm được thì kiên quyết không nói. Chúng ta hãy vận dụng một cách linh hoạt theo phương châm “lạt mềm buộc chặt”, “mềm nắn rắn buông”.

    8. Phối hợp chặt chẽ với gia đình

    Điều quan trọng trong công tác chủ nhiệm là giáo viên cần phối hợp một cách chặt chẽ với phụ huynh học sinh trong quá trình giáo dục các em. Lưu ý rằng: khi tiếp xúc với phụ huynh học sinh cá biệt cần tránh cho họ sự tổn thương cần thiết. Thường thì những học sinh cá biệt sẽ hoàn cảnh sống đặc biệt, do gia đình mâu thuẫn, cha mẹ hay cãi vã, hoặc là do các em thiếu thốn tình cảm, thiếu sự quan tâm cũng như chăm sóc từ cha mẹ và cũng có thể là do cha mẹ quá nuông chiều… với muôn ngàn lí do khác.

    Mặt khác, cha mẹ luôn coi con cái của mình là thứ quý giá nhất, cho dù chúng hư hỏng, khó dạy bảo đến đâu… Cho nên khi nghe tin có giáo viên đến nhà thăm, hay điện thoại báo tin là bản thân họ lại không muốn tiếp, không muốn nghe. Và nếu có tiếp hay nghe điện thoại của thầy cô thì cũng với thái độ bực dọc, thậm chí là bất cần, vì mấy ai thích nghe người khác kể tội con mình. Vì vậy, khi tiếp xúc với phụ huynh, giáo viên nên đặt vị trí của mình vào trong suy nghĩ, tình cảm của cha mẹ các em để phân tích, lí giải thiệt hơn. Hãy cố gắng tìm hiểu những khó khăn của các bậc phụ huynh trong việc quản lí, cũng như dạy dỗ con em mình để cùng nhau tìm biện pháp giáo dục tốt nhất.

    Một số biện pháp nhằm giáo dục HSCB

    Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường

    Để cho HS nắm bắt được việc đánh giá xếp loại hạnh kiểm (HK) tức là những chuẩn mực các em đạt được trong quá trình rèn luyện hạnh kiểm của mình, nhà trường cần phải thông báo cho các em biết được các mức độ xếp loại HK (tốt, khá, trung bình, yếu). Hiểu được thì các em sẽ tránh được vi phạm mà các em mắc phải, để rồi các em khỏi phải bị xếp loại HK yếu, khỏi phải liệt vào danh sách HSCB.

    Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt lớp

    Ngoài việc giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường, giờ sinh hoạt lớp (SHL) cũng rất quan trọng trong vấn đề này. Bởi vì thông qua giờ SHL, GVCN, CB lớp kịp thời uốn nắn những sai trái khuyết điểm của HS khi bị vi phạm, lấy tình cảm bạn bè, lấy nghĩa thầy trò làm cho các em thấy được khuyết điểm của mình. Đồng thời với sự chân thành của GVCN, HS trong lớp, HS khi vi phạm sẽ sớm nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa.

    Trong khi giáo dục các em, GVCN không nên nặng về kiểm điểm, phê bình, mà phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến các em làm cho các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong nội qui, trong qui định xếp loại làm cho các em thấy được việc vi phạm ở mức độ nào và nêu ra hướng cho các em khắc phục.

    Kết hợp với Hội Phụ huynh (PH) HS

    Hội PHHS là cầu nối giữa nhà trường, GVCN với gia đình HS. Tổ chức Hội ngoài việc giúp nhà trường xây dựng cơ sở vật chất còn góp phần cùng nhà trường giáo dục HSCB. Thường trực Hội PHHS giúp cho nhà trường, GVCN bằng cách tác động với PH để giáo dục HS từ chỗ bỏ học, trốn học đến đi học chuyên cần và học tập nghiêm túc. Mặt khác, TT Hội PHHS đã tác động đến gia đình các em để cha mẹ các em quan tâm và có trách nhiệm đối với con cái của họ hơn, từ đó sẽ hạn chế được HS hoang nghịch.

    Phối hợp với các Đoàn thể và các lực lượng khác trong xã hội

    Hiện nay ở nhiều địa phương đã hình thành các khu dân cư, thôn văn hóa. Đó là điều kiện tốt để các Đoàn thể cùng với nhà trường, qua đó giáo dục HS. Các Đoàn thể, chính quyền địa phương giúp cho các thành viên xây dựng gia đình văn hóa, hạn chế tình trạng cha mẹ bỏ mặc con cái đi làm ăn, những mối bất hòa trong gia đình dần dần chấm dứt, từ đó cha mẹ sẽ có điều kiện chăm sóc giáo dục con cái tốt hơn.

    Phương pháp kết bạn

    Thường lứa tuổi HS dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu nhưng cũng dễ tiếp thu những điều hay lẽ phải, dễ hòa mình vào những trò chơi có tính tập thể, tính giáo dục cao. Do đó GVCN nên phân công một nhóm bạn tốt, cùng hoàn cảnh, cùng sở thích, uớc mơ để sinh hoạt, học tập với đối tượng này dần dần lôi kéo các em hòa nhập vào các cuộc chơi bổ ích, từ đó xóa bỏ các mặc cảm là HS hư để rồi cùng với các thành viên trong lớp xây dựng tập thể vững mạnh.

    Mặt khác, thông qua nhóm bạn tốt, GVCN giao cho HSCB thực hiện một số công việc, tạo những điều kiện để những HS này hoàn thành và động viên khích lệ các em để các em xóa những tự ti, mặc cảm là HSCB để hòa mình với bạn bè. Ngoài ra có thể vận động gia đình của nhóm bạn tốt tham gia vào việc giúp đỡ những HS này bằng cách tạo cho các em tâm lý xem gia đình của bạn như gia đình mình, tạo điều kiện cho các em cùng tham gia học tập với con em mình để tách dần ra khỏi nhóm bạn chưa ngoan. Việc làm này cả là một cố gắng trong đó vai trò của GVCN rất quan trọng và sự tham gia của Hội PHHS là rất cần thiết.

    Phương pháp “lạt mềm buộc chặt”

    Tuổi mới lớn thì nghịch phá là chuyện khó tránh khỏi. Những biện pháp mạnh như kỷ luật hay lớn tiếng trách mắng, la rầy HS đôi khi sẽ không có tác dụng bằng sự mềm mỏng, kiên nhẫn. Ai cũng muốn mình là học sinh ngoan, giỏi nhưng vì lý do về gia đình, về tâm sinh lý và rất nhiều nguyên nhân khác dẫn đển những hành động tiêu cực của một vài bạn học sinh. Trước hết, thầy cô nên tìm hiểu rõ nguyên nhân và dùng sự mềm mỏng để cảm hóa học sinh của mình.

    Kết hợp kỷ luật và tình thương

    Đừng vì một vài biểu hiện nhất thời của học sinh mà gán ghép cho các em cái tên “học sinh cá biệt”. Bên cạnh đó, thầy cô giáo cũng cần chú ý đến tâm lý lứa tuổi của các em bởi “giai đoạn cấp 2, cấp 3 là giai đoạn khá nhạy cảm và có những rối loạn của tuổi dậy thì. Đôi khi những phản ứng nổi loạn là do các em không kiềm chế, kiểm soát được”.

    Cố PGS-TS Văn Như Cương, hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh – Hà Nội đã từng nói rằng, thầy cô phải uốn nắn, định hướng ngay khi các em mắc những lỗi nhỏ để tránh dẫn đến việc xảy ra chuyện lớn rồi buộc lòng phải dùng biện pháp kỷ luật học sinh.

    PGS Văn Như Cương chia sẻ: “Kỷ luật là một hình thức giáo dục, không chỉ giáo dục học sinh vi phạm mà còn răn đe các em khác nữa. Tuy nhiên, kỷ luật là hình thức giáo dục cuối cùng bắt buộc phải dùng đến”.

    Giáo dục là một hoạt động đặc biệt bởi sản phẩm tạo ra là con người. Vì vậy vẫn nên dùng đến kỷ luật nhưng là kỷ luật kết hợp với tình yêu thương. Có như vậy thì người thầy mới không khắc những vết thương lên tinh thần của người học trò về sau này. Đừng làm các em học sinh rơi vào trạng thái thấy mình là kẻ cá biệt và cô độc trong lớp rồi nảy sinh những phản ứng tiêu cực như sợ hãi, tự ti. Mục đích của việc làm này là”giơ cao đánh khẽ” và với mong muốn giúp học sinh có kỷ luật tốt hơn. Đây có phải là cách tốt nhất để răn đe, giáo dục học sinh khi vi phạm, nhất là học sinh đang trong độ tuổi hình thành phát triển tâm lý.

    Phần lớn ngày nay, thời gian của các em học sinh ở trường nhiều hơn ở nhà. Trong trường, có thầy cô giáo dạy dỗ còn về nhà thì cha mẹ lo đi làm nên sẽ không thể dành thời gian nhiều để bảo ban các em.

    Vậy liệu khi đuổi học, có phải là gián tiếp đưa học sinh ra ngoài xã hội nhiều cạm bẫy, đẩy học sinh đến gần với những tệ nạn xã hội này không? Trong khi có nhiều cách có thể xử lý được như cảnh cáo trước toàn trường, đưa học sinh đó vào một nhóm giáo dục đặc biệt tại trường.

    Chắc hẳn chúng ta ai cũng nhớ hai câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn / Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Chính vì vậy, mỗi khi dùng biện pháp mạnh với học sinh phạm khuyết điểm, những người có trách nhiệm nên cân nhắc hết sức kỹ lưỡng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Đạt Hiệu Quả
  • ‘các Biện Pháp Giáo Dục Ý Thức Cho Học Sinh Cá Biệt Lớp Chủ Nhiệm 6A3 Skkn 2022 Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Lớp Chủ Nhiệm
  • Điều Kiện Áp Dụng Biện Pháp Đưa Vào Cơ Sở Giáo Dục Bắt Buộc
  • Phân Tích Hành Vi Vi Phạm Trong Thời Gian Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Các Vấn Đề Về Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Học Sinh
  • Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Trẻ Mầm Non Thông Qua Các Hoạt Động Khám Phá
  • Rút Kinh Nghiệm Việc Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Mới
  • Thuận Lợi Và Khó Khăn Trong Công Tác Giáo Dục Trẻ Mầm Non
  • Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non
  • Như chúng ta đã biết trong những năm gần đây giáo dục khá thành công trong việc đào tạo và có những thành tích tốt trong công tác giảng daỵ Nhưng bên cạnh đó giáo dục thẩm mỹ cho học sinh Tiểu học vẫn chưa được triển khai mạnh. Ở các trường hiện nay đã tiến hành giáo dục thẩm mỹ cho học sinh thông qua các môn học như âm nhạc, mỹ thuật, giáo dục công dân. Tuy nhiên các môn học này hầu như đã có một hệ thống chương trình chuẩn mực như quy định về cách vẽ, cách phổ nhạc, thanh âm, cách sống và giáo dục đạo đức chính vì thế việc các em có đem vào thực tế để áp dụng hay không lại là một vấn đề khác. 

    Các khái niệm cơ bản

    Thẩm mỹ là cảm quan về cái đẹp, sự thưởng thức và hiểu biết về cái đẹp.

    Giáo dục thẩm mỹ là hướng dẫn, truyền thụ cho người học có nhận thức đúng đắn và tương đối về cái đẹp nói chung và cái đẹp về nghệ thuật nói riêng về nền văn hóa văn minh, các công trình, các trường phái nghệ thuật.

    Theo quan điểm giáo dục thì giáo dục thẩm mỹ thì quá trình bồi dưỡng cho học sinh sự hiểu biết, cảm thụ đánh giá đúng về cái đẹp trong nghệ thuật và trong cuộc sống. Từ đó có cơ sở để phát huy khả năng sáng tạo và biết nhìn nhận mọi thứ đúng với giá trị của nó.

    Thực trạng về giáo dục thẩm mỹ ở trường Tiểu học 

    Hiện nay việc các em học sinh có thái độ sống vô tâm, vô cảm trước những cái đẹp cái tốt của cuộc sống rất nhiều. Nguyên nhân chính là do các em chưa được sự đào tạo chuyên sâu nào về giáo dục thẩm mỹ. Các năng khiếu nghề thuật của các em cũng chưa được khám phá và phát huy.

    Đa phần lứa tuổi Tiểu học các em ai cũng đều có những ước muốn, khát khao chinh phục, khám phá, sáng tạo nên cái đẹp, và phát triển những giá trị thẩm mỹ. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận học sinh vẫn còn có nhận thức, hành động lệch lạc, phản thẩm mỹ, đi ngược lại mục tiêu giáo dục mà xã hội đang hướng tới.

    Ở độ tuổi này các em dù chưa thực sự trở thành người lớn nhưng có những chuyển biến mạnh mẽ và thay đổi về tâm sinh lý, đặc biệt là việc hình thành và phát triển của sự tự ý thức. Từ đó hình thành nên những tri giác, cảm nhận về đặc điểm cơ thể, cử chỉ, thái độ, cách hành xử, nghĩa là các em bước đầu quan tâm đến yếu tố thẩm mỹ của bản thân và của thế giới xung quanh.

    Ngay tại trường học việc thực hiện trang phục, lễ phục và nghi thức học đường như đồng phục, bảng tên, sinh hoạt trong giờ học… đúng quy định cũng là những biểu hiện của việc các em đã bộc lộ xu hướng vươn đến sự thẩm mỹ cho bản thân mình 

    Lợi ích của việc giáo dục thẩm mỹ 

    Giúp định hướng thẩm mỹ cho các em học sinh để rèn luyện kỹ năng tỉ mĩ biết phân định đẹp xấu và có cái nhìn chân, thiện, mĩ với mọi thứ xung quanh mình.

    Ngoài ra giáo dục thẩm mỹ còn giúp khai thác tài năng và khơi dậy những mong muốn của bản thân mỗi học sinh giúp các em có nhận thức đúng đắn về sở thích , đam mê của mình chứ không phải đi theo trào lưu số đông hoặc sự tán dương qua loa của bạn bè.

    Thực tế có rất nhiều trường hợp các em có cái nhìn sai lệch về cái đẹp nên chọn những trang phục, phụ kiện hoặc cách sống không phù hợp với bản thân vì vậy giáo dục thẩm mỹ chính là yếu tố cần thiết để giúp các em theo đuổi những cái đẹp thuộc về mình .

    Mặc khác, khi được giáo dục thẩm mỹ đúng cách sẽ giúp các em biết tôn trọng những nét đẹp văn hóa, các giá trị sống của xã hội và tự hòa về bản sắc dân tộc. Qua đó giúp các em có nền tảng tích cực để có thể hội nhập chủ động thay vì bị lôi kéo ảnh hưởng với những văn hóa không phù hợp.

    Vai trò của giáo dục thẩm mỹ 

    Giáo dục thẩm mỹ là một trong những bộ phận của giáo dục toàn diện.

    Đồng thời đóng vai trò hỗ trợ trong việc rèn luyện các kỹ năng sống của học sinh góp phần tạo nên sự hài hòa về thái độ sống và nhận thức mọi thứ về cái đẹp theo huynh hướng phát triển toàn diện, cuộc sống trở nên vui tươi và sáng tạo hơn, kích thích sự phát triển của học sinh và trao dồi tình cảm giữa các em với mọi người xung quanh.

    Nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ

    Bồi dưỡng cho học sinh nhu cầu và khả năng sáng tạo cái đẹp biết cách thưởng thức cái đẹp và muốn tạo ra những cái đẹp tích cực trong học tập và cuộc sống.

    Bồi dưỡng tình cảm tức là giúp các em biết rung cảm thẩm mỹ trước những cái đẹp nhất định. Rèn luyện tình cảm và hướng đến những cái đẹp toàn diện trong cuộc sống.

    Phát triển năng lực thẩm mỹ của học sinh, phát huy các năng khiếu sở trường mang tính nghệ thuật để đào tạo ra những nhân tài và tạo điều kiện phù hợp để bé học tập và phát huy năng lực bản thân, sống đúng với nhận thức trong cuộc sống phong phú và đa dạng của mình.

    Nội dung của giáo dục thẩm mỹ 

    Giáo dục tình yêu quê hương, đất nước lòng thương người tính đoàn kết và lòng bái ái với đồng bào, biết thương yêu mọi người và giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn hoạn nạn.

    Giáo dục tình cảm yêu thương gắn kết giữa các thành viên trong gia đình.

    Giáo dục cách ứng xử đối với mọi người xung quanh.

    Giáo dục tình yêu lao động và trân trọng thành quả lao động của người khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chú Trọng Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Học Sinh
  • Chương Trình Môn Giáo Dục Thể Chất Cấp Tiểu Học 2022
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan Ở Lớp 2 Trường Tiểu Học Thạch Lâm 2
  • Đề Tài Kinh Nghiệm “Giáo Dục Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Giữ Gìn Một Số Nét Văn Hóa Truyền Thốn Dân Tộc Thông Qua Các Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp Trong Trường Ptdt Nội Trú”
  • Skkn Một Số Biện Pháp Phát Triển Thể Chất Cho Trẻ 5
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100