Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Môn Vật Lí Của Bộ Gd&đt

--- Bài mới hơn ---

  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt Mới
  • Chương Trình Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Có Gì Mới?
  • Giáo Dục Hướng Nghiệp Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt: Tránh Khuynh Hướng Thiên Về Toán Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả
  • Chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật lí

    Vật lí học là ngành khoa học nghiên cứu các dạng vận động đơn giản, tổng quát nhất của vật chất và tương tác giữa chúng.

    Trong nhà trường phổ thông, giáo dục vật lí được thực hiện ở cả ba cấp học với các mức độ khác nhau.

    Ở giai đoạn giáo dục cơ bản (cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở), nội dung giáo dục vật lí được đề cập trong các môn học: Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2, lớp 3); Khoa học (lớp 4, lớp 5); Khoa học tự nhiên (từ lớp 6 đến lớp 9).

    Chương trình môn Vật lí lựa chọn phát triển những vấn đề cốt lõi thiết thực nhất, đồng thời chú trọng đến các vấn đề mang tính ứng dụng cao là cơ sở của nhiều ngành kĩ thuật, khoa học và công nghệ.

    Thí nghiệm, thực hành đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành khái niệm, quy luật, định luật vật lí. Vì vậy, Chương trình môn Vật lí chú trọng rèn luyện cho học sinh khả năng tìm hiểu các thuộc tính của đối tượng vật lí thông qua các nội dung thí nghiệm, thực hành dưới các góc độ khác nhau.

    Chương trình môn Vật lí coi trọng việc rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống; vừa bảo đảm phát triển năng lực vật lí – biểu hiện của năng lực khoa học tự nhiên, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp của học sinh.

    Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, giúp học sinh hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung được quy định trong Chương trình tổng thể.Giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực vật lí, với các biểu hiện sau: III. MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH

    1. 2.

    a) Có được những kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường;

    b) Vận dụng được một số kĩ năng tiến trình khoa học để khám phá, giải quyết vấn đề dưới góc độ vật lí;

    c) Vận dụng được một số kiến thức, kĩ năng trong thực tiễn, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường;

    d) Nhận biết được năng lực, sở trường của bản thân, định hướng được nghề nghiệp và có kế hoạch học tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu của định hướng nghề nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Đặc Điểm Của Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông
  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Môn Vật Lý
  • Nhân Lực Trình Độ Cao: Nặng Lý Thuyết, Yếu Thực Hành
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Sinh Vên Đại Học Hà Tĩnh
  • Biện Pháp Chăm Sóc Trẻ Mầm Non Tốt Nhất Hiện Nay
  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Môn Vật Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Đặc Điểm Của Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông
  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Môn Vật Lí Của Bộ Gd&đt
  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt Mới
  • Chương Trình Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Có Gì Mới?
  • Giáo Dục Hướng Nghiệp Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Lộ trình dạy môn Vật lí theo chương trình giáo dục phổ thông mới

    Chương trình môn Vật lý mới ở phổ thông sẽ coi trọng đánh giá khả năng đề xuất các phương án thí nghiệm và các kỹ năng thực hành. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lý mới nhất.

    Môn Vật lý trong Chương trình GDPT mới

    1. Điểm mới Chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lý

    Tích hợp ở giai đoạn giáo dục cơ bản, phân hóa ở trung học phổ thông

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục vật lý được phân bố ở cả ba cấp học với các mức độ khác nhau, thông qua các môn học: Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2 và lớp 3); Khoa học (lớp 4 và lớp 5); Khoa học tự nhiên (Trung học cơ sở); Vật lý (trung học phổ thông).

    Ở trung học phổ thông, Vật lý là môn học thuộc nhóm môn Khoa học tự nhiên, được lựa chọn theo nguyện vọng của học sinh. Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp này, môn Vật lý giúp học sinh tiếp tục phát triển các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, củng cố các phẩm chất, kỹ năng cốt lõi, tạo điều kiện để học sinh bước đầu nhận biết đúng năng lực, sở trường của bản thân, có thái độ tích cực đối với môn học.

    Chú ý thích đáng đến việc phát triển năng lực thông qua thực hành

    Bên cạnh việc sử dụng các mô hình vật lý và toán học, chương trình chú trọng thích đáng đến việc hình thành năng lực tìm tòi khám phá các thuộc tính của đối tượng vật lý thông qua các nội dung thí nghiệm, thực hành dưới các góc độ khác nhau.

    Chương trình coi trọng việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tri thức vật lý vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống; vừa bảo đảm phát triển năng lực trên nền tảng những năng lực chung và Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng vào một số ngành nghề cụ thể.

    Đổi mới phương pháp giáo dục là yếu tố quyết định để phát triển năng lực học sinh

    Các phương pháp giáo dục của môn Vật lý góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học, nhằm hình thành Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lý (Năng lực vật lý) cũng như góp phần hình thành các phẩm chất và năng lực chung được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

    Đánh giá kết quả giáo dục là hoạt động xem xét, so sánh mức độ đạt được của mỗi học sinh theo yêu cầu cần đạt của môn học, tìm ra nguyên nhân, dự đoán năng lực phát triển còn tiềm ẩn ở học sinh. Đánh giá là một bộ phận hợp thành quan trọng của quá trình giáo dục. Nó cho phép thu thập các thông tin về chất lượng học tập của học sinh, nhằm tạo các cơ hội và thúc đẩy quá trình học tập của học sinh. Vì vậy, việc đánh giá kết quả giáo dục học sinh phải xuất phát từ mục tiêu giáo dục của môn học.

    Có tính đến các đối tượng và khu vực khác nhau

    Trong nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá phát triển năng lực học sinh, chương trình tạo điều kiện để chú trọng tập trung đánh giá các thành phần của năng lực vật lý. Bên cạnh đánh giá kiến thức, coi trọng đánh giá khả năng đề xuất các phương án thí nghiệm và các kỹ năng thực hành vật lý. Do hình thức trắc nghiệm khách quan không phù hợp cho đánh giá kỹ năng thực hành nên chương trình quan tâm hợp lý đến việc sử dụng cách đánh giá qua các sản phẩm thực hành của học sinh (ví dụ sản phẩm của các dự án học tập) cũng như các đánh giá mang tính tích hợp (ví dụ STEM).

    Chương trình có cấu trúc nội dung cũng như yêu cầu cần đạt về cơ bản là giống nhau cho tất cả các vùng, miền. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện những kỹ năng cơ bản trong tìm tòi, khám phá đối tượng vật lý, giáo viên có thể chủ động tổ chức cho học sinh hoạt động trải nghiệm và thực hành một số nội dung mang sắc thái riêng của địa phương mình.

    CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MÔN VẬT LÍ

    2. Nội dung Chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lý

    MỤC LỤC

    (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT

    ngày 26 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

    I. ĐẶC ĐIỂM MÔN HỌC…………………………………………………………………………………………. 3

    II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH…………………………………………………………. 4

    III. MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH …………………………………………………………………………….. 5

    IV. YÊU CẦU CẦN ĐẠT…………………………………………………………………………………………….5

    V. NỘI DUNG GIÁO DỤC ……………………………………………………………………………………….. 8

    LỚP 10 …………………………………………………………………………………………………………………. 9

    CÁC CHUYÊN ĐỀ LỚP 10……………………………………………………………………………………….15

    LỚP 11 ………………………………………………………………………………………………………………….17

    CÁC CHUYÊN ĐỀ LỚP 11……………………………………………………………………………………….22

    LỚP 12 …………………………………………………………………………………………………………………24

    CÁC CHUYÊN ĐỀ LỚP 12……………………………………………………………………………………….28

    VI. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ……………………………………………………………………………….31

    VII. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC…………………………………………………………………………33

    Nội dung chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật lý I. ĐẶC ĐIỂM MÔN HỌC

    VIII. GIẢI THÍCH VÀ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH……………………………….34

    Vật lí học là ngành khoa học nghiên cứu các dạng vận động đơn giản, tổng quát nhất của vật chất và tương tác giữa chúng.

    Trong nhà trường phổ thông, giáo dục vật lí được thực hiện ở cả ba cấp học với các mức độ khác nhau.

    Ở giai đoạn giáo dục cơ bản (cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở), nội dung giáo dục vật lí được đề cập trong các môn học: Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2, lớp 3); Khoa học (lớp 4, lớp 5); Khoa học tự nhiên (từ lớp 6 đến lớp 9).

    Thí nghiệm, thực hành đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành khái niệm, quy luật, định luật vật lí. Vì vậy, Chương trình môn Vật lí chú trọng rèn luyện cho học sinh khả năng tìm hiểu các thuộc tính của đối tượng vật lí thông qua các nội dung thí nghiệm, thực hành dưới các góc độ khác nhau.

    Chương trình môn Vật lí coi trọng việc rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống; vừa bảo đảm phát triển năng lực vật lí – biểu hiện của năng lực khoa học tự nhiên, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp của học sinh.

    II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

    Thông qua Chương trình môn Vật lí, học sinh hình thành và phát triển được thế giới quan khoa học; rèn luyện được sự tự tin, trung thực, khách quan; cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên; yêu thiên nhiên, tự hào về thiên nhiên của quê hương, đất nước; tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, trân trọng, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; đồng thời hình thành và phát triển được các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo.

    Chương trình môn Vật lí quán triệt đầy đủ các quy định cơ bản được nêu trong Chương trình tổng thể, về quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt, kế hoạch giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả, điều kiện thực hiện và phát triển chương trình; định hướng xây dựng chương trình các môn học và hoạt động giáo dục; đồng thời nhấn mạnh một số quan điểm sau:

    1. Chương trình môn Vật lí một mặt kế thừa và phát huy ưu điểm của chương trình hiện hành và mặt khác, tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình môn học của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, đồng thời tiếp cận những thành tựu của khoa học giáo dục và khoa học vật lí phù hợp với trình độ nhận thức và tâm, sinh lí lứa tuổi của học sinh, có tính đến điều kiện kinh tế và xã hội Việt Nam.

    III. MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH

    4. Các phương pháp giáo dục của môn Vật lí góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học, nhằm hình thành, phát triển năng lực vật lí cũng như góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực chung được quy định trong Chương trình tổng thể.

    1. Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, giúp học sinh hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung được quy định trong Chương trình tổng thể.

    2. Giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực vật lí, với các biểu hiện sau:

    a) Có được những kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường;

    b) Vận dụng được một số kĩ năng tiến trình khoa học để khám phá, giải quyết vấn đề dưới góc độ vật lí;

    c) Vận dụng được một số kiến thức, kĩ năng trong thực tiễn, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường;

    IV. YÊU CẦU CẦN ĐẠT

    d) Nhận biết được năng lực, sở trường của bản thân, định hướng được nghề nghiệp và có kế hoạch học tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu của định hướng nghề nghiệp.

    1. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực chung

    Môn Vật lí góp phần thực hiện các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định trong Chương trình tổng thể.

    2. Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù

    Môn Vật lí hình thành và phát triển ở học sinh năng lực vật lí, với những biểu hiện cụ thể sau đây:

    a) Nhận thức vật lí

    – Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí.

    – Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ.

    – Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học.

    – So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá trình vật lí theo các tiêu chí khác nhau.

    – Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình.

    – Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân.

    b) Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí

    Tìm hiểu được một số hiện tượng, quá trình vật lí đơn giản, gần gũi trong đời sống và trong thế giới tự nhiên theo tiến trình; sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận; biểu hiện cụ thể là:

    – Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu.

    – Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu); lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu.

    – Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết.

    – Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp.

    c) Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học

    Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học trong một số trường hợp đơn giản, bước đầu sử dụng toán học như một ngôn ngữ và công cụ để giải quyết được vấn đề; biểu hiện cụ thể là:

    – Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn.

    – Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn.

    – Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới.

    – Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững.

    2. Nội dung và yêu cầu cần đạt ở từng lớp LỚP 10

    1. Nội dung khái quát

    CÁC CHUYÊN ĐỀ LỚP 10

    Sơ lược về sự phát triển của vật lí học

    + Nêu được sơ lược sự ra đời và những thành tựu ban đầu của vật lí thực nghiệm.

    + Nêu được sơ lược vai trò của cơ học Newton đối với sự phát triển của Vật lí học.

    + Liệt kê được một số nhánh nghiên cứu chính của vật lí cổ điển.

    + Nêu được sự khủng hoảng của vật lí cuối thế kỉ XIX, tiền đề cho sự ra đời của vật lí hiện đại.

    + Liệt kê được một số lĩnh vực chính của vật lí hiện đại.

    Vật lí với giáo dục bảo vệ môi trường

    + Tác động của việc sử dụng năng lượng hiện nay đối với môi trường, kinh tế và khí hậu Việt Nam.

    + Sơ lược về các chất ô nhiễm trong nhiên liệu hoá thạch, mưa axit, năng lượng hạt nhân, sự suy giảm tầng ozon, sự biến đổi khí hậu.

    + Phân loại năng lượng hoá thạch và năng lượng tái tạo.

    + Vai trò của năng lượng tái tạo.

    + Một số công nghệ cơ bản để thu được năng lượng tái tạo.

    LỚP 11

    CÁC CHUYÊN ĐỀ LỚP 11

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Lực Trình Độ Cao: Nặng Lý Thuyết, Yếu Thực Hành
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Sinh Vên Đại Học Hà Tĩnh
  • Biện Pháp Chăm Sóc Trẻ Mầm Non Tốt Nhất Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Phát Triển Giáo Dục Mầm Non
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non
  • Chương Trình Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Có Gì Mới?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Hướng Nghiệp Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt: Tránh Khuynh Hướng Thiên Về Toán Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Trong Trường Tiểu Học
  • Tích hợp ở giai đoạn giáo dục cơ bản, phân hóa ở THPT

    Theo chúng tôi Nguyễn Văn Khánh, Chủ biên chương trình môn Vật lý, chương trình mônVật lý được phân bố ở cả ba cấp học với các mức độ khác nhau, thông qua các môn học: Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2 và lớp 3); Khoa học (lớp 4 và lớp 5); Khoa học tự nhiên (Trung học cơ sở); Vật lý (trung học phổ thông).

    Các phương pháp giáo dục của môn Vật lý góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học, nhằm hình thành năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lý (năng lực vật lý) cũng như góp phần hình thành các phẩm chất và năng lực chung được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

    Chương trình coi trọng việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tri thức vật lý vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống; vừa bảo đảm phát triển năng lực trên nền tảng những năng lực chung và năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng vào một số ngành nghề cụ thể.

    Sách giáo khoa phải thể hiện được tinh thần đổi mới

    Trong nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá phát triển năng lực học sinh, chương trình tạo điều kiện để chú trọng tập trung đánh giá các thành phần của năng lực vật lý. Bên cạnh đánh giá kiến thức, coi trọng đánh giá khả năng đề xuất các phương án thí nghiệm, các kỹ năng thực hành và năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn.

    Do hình thức trắc nghiệm khách quan không phù hợp cho đánh giá kỹ năng thực hành nên chương trình quan tâm hợp lý đến việc sử dụng cách đánh giá qua các sản phẩm thực hành của học sinh (ví dụ sản phẩm của các dự án học tập) cũng như các đánh giá mang tính tích hợp (ví dụ STEM).

    Chương trình có cấu trúc nội dung cũng như yêu cầu cần đạt về cơ bản là giống nhau cho tất cả các vùng, miền. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện những kỹ năng cơ bản trong tìm tòi, khám phá đối tượng vật lý, giáo viên có thể chủ động tổ chức cho học sinh hoạt động trải nghiệm và thực hành một số nội dung mang sắc thái riêng của địa phương mình.

    Chương trình có định hướng phát triển năng lực và định hướng dạy học phân hóa. Do vậy, sách giáo khoa phải được biên soạn có cấu trúc thể hiện rõ yêu cầu cần đạt ở những mức độ khác nhau (theo thang nhận thức và mức độ kỹ năng) hướng tới phát triển phẩm chất và năng lực đã được đề cập trong chương trình và phải tạo cho người dạy thuận tiện trong việc tổ chức dạy học cho các đối tượng khác nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt Mới
  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Môn Vật Lí Của Bộ Gd&đt
  • 8 Đặc Điểm Của Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông
  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Môn Vật Lý
  • Nhân Lực Trình Độ Cao: Nặng Lý Thuyết, Yếu Thực Hành
  • 8 Đặc Điểm Của Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Môn Vật Lí Của Bộ Gd&đt
  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt Mới
  • Chương Trình Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Có Gì Mới?
  • Giáo Dục Hướng Nghiệp Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt: Tránh Khuynh Hướng Thiên Về Toán Học
  • Trong nhà trường phổ thông, môn Vật lý giúp học sinh có được những tri thức phổ thông cốt lõi của Vật lý học và ứng dụng của chúng trong cuộc sống. Cụ thể, chương trình môn Vật lý được định hướng xây dựng với 8 đặc điểm cơ bản.

    Tích hợp ở giai đoạn giáo dục cơ bản, phân hóa ở trung học phổ thông

    Trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục vật lý được phân bố ở cả ba cấp học với các mức độ khác nhau, thông qua các môn học: Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2 và lớp 3); Khoa học (lớp 4 và lớp 5); Khoa học tự nhiên (Trung học cơ sở); Vật lý (trung học phổ thông).

    Ở trung học phổ thông, Vật lý là môn học thuộc nhóm môn Khoa học tự nhiên, được lựa chọn theo nguyện vọng của học sinh. Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp này, môn Vật lý giúp học sinh tiếp tục phát triển các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, củng cố các phẩm chất, kỹ năng cốt lõi, tạo điều kiện để học sinh bước đầu nhận biết đúng năng lực, sở trường của bản thân, có thái độ tích cực đối với môn học.

    Chú ý thích đáng đến việc phát triển năng lực thông qua thực hành

    Bên cạnh việc sử dụng các mô hình vật lý và toán học, chương trình chú trọng thích đáng đến việc hình thành năng lực tìm tòi khám phá các thuộc tính của đối tượng vật lý thông qua các nội dung thí nghiệm, thực hành dưới các góc độ khác nhau.

    Chương trình coi trọng việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tri thức vật lý vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống; vừa bảo đảm phát triển năng lực trên nền tảng những năng lực chung và Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng vào một số ngành nghề cụ thể.

    Đổi mới phương pháp giáo dục là yếu tố quyết định để phát triển năng lực học sinh

    Các phương pháp giáo dục của môn Vật lý góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học, nhằm hình thành Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lý (Năng lực vật lý) cũng như góp phần hình thành các phẩm chất và năng lực chung được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

    Đánh giá kết quả giáo dục là hoạt động xem xét, so sánh mức độ đạt được của mỗi học sinh theo yêu cầu cần đạt của môn học, tìm ra nguyên nhân, dự đoán năng lực phát triển còn tiềm ẩn ở học sinh. Đánh giá là một bộ phận hợp thành quan trọng của quá trình giáo dục. Nó cho phép thu thập các thông tin về chất lượng học tập của học sinh, nhằm tạo các cơ hội và thúc đẩy quá trình học tập của học sinh. Vì vậy, việc đánh giá kết quả giáo dục học sinh phải xuất phát từ mục tiêu giáo dục của môn học.

    Có tính đến các đối tượng và khu vực khác nhau

    Trong nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá phát triển năng lực học sinh, chương trình tạo điều kiện để chú trọng tập trung đánh giá các thành phần của năng lực vật lý. Bên cạnh đánh giá kiến thức, coi trọng đánh giá khả năng đề xuất các phương án thí nghiệm và các kỹ năng thực hành vật lý. Do hình thức trắc nghiệm khách quan không phù hợp cho đánh giá kỹ năng thực hành nên chương trình quan tâm hợp lý đến việc sử dụng cách đánh giá qua các sản phẩm thực hành của học sinh (ví dụ sản phẩm của các dự án học tập) cũng như các đánh giá mang tính tích hợp (ví dụ STEM).

    Chương trình có cấu trúc nội dung cũng như yêu cầu cần đạt về cơ bản là giống nhau cho tất cả các vùng, miền. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện những kỹ năng cơ bản trong tìm tòi, khám phá đối tượng vật lý, giáo viên có thể chủ động tổ chức cho học sinh hoạt động trải nghiệm và thực hành một số nội dung mang sắc thái riêng của địa phương mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Môn Vật Lý
  • Nhân Lực Trình Độ Cao: Nặng Lý Thuyết, Yếu Thực Hành
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Sinh Vên Đại Học Hà Tĩnh
  • Biện Pháp Chăm Sóc Trẻ Mầm Non Tốt Nhất Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Phát Triển Giáo Dục Mầm Non
  • Định Hướng Xây Dựng Chương Trình Giáo Dục Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Các Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Cho Học Sinh Trường Tiểu Học Thị Trấn Cẩm Thủy
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Để Thực Hiện Tốt Tiết Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp Ở Khối 6
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Phẩm Chất Cho Học Sinh Lớp 5 Tại Trường Tiểu Học Quảng Tâm
  • Một Số Giải Pháp Cơ Bản Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Quản Lý, Giáo Dục, Rèn Luyện Kỷ Luật Đối Với …
  • Giáo Dục, Rèn Luyện Đội Ngũ Đảng Viên Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Thứ năm – 10/08/2017 01:09

    •  
    •  
    •  

    Trong thời đại ngày nay, thế giới đang có sự biến đổi sâu sắc về mọi mặt. Thành quả của các cuộc cách mạng công nghiệp, nhất là cuộc cách mạng lần thứ tư, đang mang lại những cơ hội phát triển nhanh chóng và cũng đặt ra những thách thức không nhỏ, nhất là đối với các nước còn chậm phát triển. Mặt khác, môi trường sống tự nhiên cũng như xã hội của con người đang biến đổi nhanh chóng.

    logo HVL anh nen

    Chúng ta đang chứng kiến những biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống trên phạm vi toàn thế giới, mà Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt; ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trầm trọng; chính trị, xã hội đang có nhiều biến động. Đứng trước những thách thức của thời đại, không có con đường phát triển nào tốt hơn là con đường nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội để bảo đảm phát triển bền vững. Thách thức của thời đại buộc phải đổi mới giáo dục, đó là nhu cầu cấp thiết và là xu thế tất yếu toàn cầu.

    Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thông qua Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Mục tiêu đổi mới được quy định rõ trong Nghị quyết 88/2014/ QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của moi học sinh”.

    Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, “chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của người học, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp người học phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới” [2].

    Chúng ta đều biết rằng, mục tiêu tối thượng của giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng là phát triển năng lực của con người. Biểu hiện của năng lực là kỹ năng giải quyết một tình huống có ý nghĩa, chứ không phải ở việc tiếp thụ một lượng tri thức rời rạc. Để có thể “góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh” thì việc dạy học tích hợp là một cách thức rất hữu hiệu. Vì thế, tuân theo xu thế phát triển của giáo dục thế giới và điều kiện Việt Nam, bên cạnh việc sử dụng những cách thức giáo dục khác, chương trình giáo dục phổ thông mới đã có những bước đi ban đầu về dạy học tích hợp.

    Là một chương trình môn học của Chương trình giáo dục phổ thông, ^ chương trình môn Vật lý quán triệt đầy đủ quan điểm phát triển, đồng thời góp phần đắc lực vào việc thực hiện các mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông dưới góc độ vật lý.

    Nội dung giáo dục vật lý được phân bố ở cả hai giai đoạn giáo dục, với các mức độ khác nhau. Ở giai đoạn giáo dục cơ bản được thực hiện qua môn Tìm hiểu tự nhiên (cấp Tiểu học) và môn Khoa học tự nhiên (cấp Trung học cơ sở). Ở giai đoạn giáo dục hướng nghiệp được thực hiện qua môn Vật lý (cấp Trung học phổ thông).

    Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, thông qua môn Khoa học tự nhiên, giáo dục vật lý giúp học sinh hình thành một cách có hệ thống các khái niệm, nguyên lý cơ bản của thế giới tự nhiên, góp phần vào việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của học sinh, làm nền tảng cho việc học tập ở các mức độ tiếp

    theo hoặc có thể áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Ngoài việc góp phần cùng với các môn học khác để phát triển các năng lực chung, môn học này còn nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực chuyên môn: i) nhận thức kiến thức khoa học tự nhiên, ii) tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên, iii) vận dụng kiến thức khoa học tự nhiên vào thực tiễn, iv) ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường.

    Bên cạnh việc chú trọng xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, chương trình môn học cũng tính đến điều kiện cơ sở trang thiết bị và đặc biệt là tính đặc thù của đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở nên việc tích hợp được thực hiện sao cho các mạch nội dung được cấu trúc một cách khoa học, đồng thời đảm bảo thuận tiện cho việc tổ chức dạy học. Vì thế, chương trình đã được thiết kế để có thể soạn sách giáo khoa, hay bài giảng của giáo viên được thuận tiện cho mỗi phân môn Vật lý, Hóa học và Sinh học.

    Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, ở cả ba lớp: 10, 11 và 12, Vật lý là môn học độc lập, được học sinh lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp, sở thích và năng lực của bản thân. Nội dung môn học được thiết kế thành các bài học và các chuyên đề để vừa bảo đảm phát triển tri thức và kỹ năng thực hành trên nền tảng những năng lực chung và năng lực tìm hiểu tự nhiên đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng vào một số ngành nghề cụ thể.

    Chương trình môn Vật lý Trung học phổ thông góp phần giúp học sinh củng cố vững chắc các phẩm chất, kỹ năng phổ thông cốt lõi, hoàn thiện dần các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, tạo điều kiện để học sinh bước đầu nhận biết đúng năng lực, sở trường của bản thân, có thái độ tích cực đối với môn học. Trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho học sinh trong giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình lựa chọn phát triển những vấn đề thiết thực nhất, mang tính ứng dụng cao đối với học sinh trong việc định hướng ngành nghề sau khi hoàn thành Trung học phổ thông.

    Chương trình môn Vật lý Trung học phổ thông một mặt kế thừa và phát huy ưu điểm của chương trình hiện hành và mặt khác, tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình môn học của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, đồng thời tiếp cận được với những thành tựu của khoa học giáo dục và khoa học Vật lý phù hợp với trình độ nhận thức và tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh phổ thông.

    Chương trình môn Vật lý Trung học phổ thông gắn lý thuyết với thực hành, gắn nội dung môn học với thực tiễn nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tri thức vật lý vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống.

    Do những yêu cầu khách quan nói trên nên cấu trúc nội dung chương trình môn Vật lý có những thay đổi so với cấu trúc chương trình môn Vật lý hiện hành.

    Chương trình môn Vật lý Trung học phổ thông chú trọng đến việc đổi mới phương pháp giáo dục, nhằm góp phần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh học môn Vật lý.

    Như chúng ta đã biết, mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đạt chuẩn của chương trình và sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, hoạt động quản lý và phát triển chương trình, nhằm bảo đảm sự tiến bộ của từng học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục.

    Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong chương trình tổng thể và chương trình môn học. Phạm vi đánh giá bao gồm toàn bộ các môn học mà học sinh học. Đối tượng đánh giá là sản phẩm và quá trình học tập, rèn luyện của học sinh.

    Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kỳ ở cơ sở giáo dục, các kỳ đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương và các kỳ đánh giá quốc tế. Kết quả các môn học tự chọn được sử dụng cho đánh giá kết quả học tập chung của học sinh trong từng năm học và trong cả quá trình học tập.

    Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa trên kết quả đánh giá của giáo viên, của phụ huynh học sinh, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong nhóm, trong lớp.

    Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Việc đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương do tổ chức kiểm định chất lượng cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức để phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học, phát triển chương trình và nâng cao chất lượng giáo dục.

    Phương thức đánh giá bảo đảm độ tin cậy, khách quan, phù hợp với từng lứa tuổi, từng cấp học, không gây áp lực lên học sinh, hạn chế tốn kém cho ngân sách nhà nước, gia đình học sinh và xã hội.

    Ở Việt Nam, sự thành bại của một chương trình giáo dục phụ thuộc rất mạnh vào việc quan niệm và tổ chức các “kỳ thi”. Chính các “kỳ thi” hiểu không đúng đã góp phần làm méo mó các mục tiêu của kiểm tra, đánh giá trong giáo dục ở nước ta. Nếu không trả lại đúng ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá thì các đổi mới trong giáo dục rất khó đạt được mục tiêu mong muốn.

     

    Tác giả bài viết: PGS. TS Nguyễn Văn Khánh

    Nguồn tin: Hội Vật Lý

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mẫu Giáo 3
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Giúp Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quảgiáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thcs
  • Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thpt: Việc Làm Cần Thiết
  • Giáo Dục Hướng Nghiệp Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt: Tránh Khuynh Hướng Thiên Về Toán Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Trong Trường Tiểu Học
  • Các Giải Pháp Để Đột Phá Giáo Dục Nghề Nghiệp Trong Năm 2021
  • Trong Chương trình GDPT mới, GDHN có vai trò quan trọng trong hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp cho học sinh và được tích hợp trong một số môn học, hoạt động giáo dục:

    1. Công nghệ

    Giáo dục công nghệ phổ thông chuẩn bị cho học sinh học tập và làm việc hiệu quả trong môi trường công nghệ ở gia đình, nhà trường và xã hội; hình thành và phát triển các thành phần năng lực công nghệ: nhận thức, giao tiếp, sử dụng, đánh giá công nghệ và thiết kế kỹ thuật; chuẩn bị cho học sinh tri thức, kĩ năng nền tảng để lựa chọn ngành nghề thuộc các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Giáo dục hướng nghiệp trong môn Công nghệ được triển khai chủ yếu ở các lớp cuối cấp THCS và toàn bộ giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.

    – Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, môn Công nghệ trang bị cho học sinh tri thức nền tảng và các năng lực cốt lõi phù hợp với sự lựa chọn ngành nghề thuộc một trong hai định hướng công nghiệp hoặc nông nghiệp sau khi tốt nghiệp THPT.

    2. Môn Tin học

    Trong bối cảnh của cuộc cách mạng 4.0, có nhiều ngành nghề và việc làm mới xuất hiện đòi hỏi kiến thức, kỹ năng tin học chuyên sâu. Môn Tin học có cơ hội góp phần giúp học sinh định hướng nghề nghiệp tương lai hoặc ra đời khởi nghiệp, lập nghiệp trong lĩnh vực tin học. Do vậy, Chương trình môn Tin học rất coi trọng giáo dục hướng nghiệp.

    3. Môn Giáo dục công dân

    Giáo dục hướng nghiệp cũng thể hiện rõ trong môn Giáo dục công dân, Giáo dục kinh tế và pháp luật.

    4. Môn Nghệ thuật

    Môn Nghệ thuật là một môn học ghép, gồm hai môn là Âm nhạc và Mỹ thuật.

    – Từ lớp 1 đến lớp 9, bên cạnh việc hình thành và phát triển các năng lực âm nhạc cơ bản, thông qua các hoạt động học tập âm nhạc đa dạng và phong phú như hát, đọc nhạc, nghe nhạc, chơi nhạc cụ và thưởng thức âm nhạc, học sinh còn được tạo điều kiện để nhận ra sở trường và phát huy năng khiếu âm nhạc của bản thân và bước đầu có ý thức về nghề nghiệp.

    – Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, Chương trình môn Âm nhạc giúp học sinh nâng cao năng lực âm nhạc và kĩ năng thực hành, mở rộng hiểu biết về âm nhạc trong mối tương quan với các yếu tố lịch sử, văn hoá và xã hội; giúp học sinh phát huy tiềm năng hoạt động âm nhạc, có định hướng nghề nghiệp phù hợp với khả năng của bản thân…

    4.2. Mỹ thuật

    Trong môn Mỹ thuật, nội dung giáo dục hướng nghiệp được thực hiện qua mạch Mỹ thuật ứng dụng. Ở cấp tiểu học, chương trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu và làm các sản phẩm thủ công, như đồ chơi, đồ dùng học tập, đồ dùng cá nhân, đồ lưu niệm, đồ gia dụng, đồ trang trí nội thất bằng vật liệu sẵn có; thông qua đó, giúp học sinh làm quen với các nghề thủ công phổ biến ở địa phương, góp phần giáo dục hướng nghiệp.

    Ở cấp THCS, chương trình lớp 8, lớp 9, mỗi lớp dành khoảng 10% tổng thời lượng của chương trình cho nội dung giáo dục hướng nghiệp.

    Nội dung hoạt động hướng nghiệp gồm:

    – Tìm hiểu nghề nghiệp (Ý nghĩa, đặc điểm và yêu cầu của nghề. Tìm hiểu yêu cầu về an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp. Tìm hiểu thị trường lao động);

    – Hoạt động rèn luyện phẩm chất, năng lực phù hợp với định hướng nghề nghiệp (Tự đánh giá sự phù hợp của bản thân với định hướng nghề nghiệp. Rèn luyện phẩm chất và năng lực phù hợp với định hướng nghề nghiệp);

    – Hoạt động lựa chọn hướng nghề nghiệp và lập kế hoạch học tập theo định hướng nghề nghiệp (Tìm hiểu hệ thống trường trung cấp, cao đẳng, đại học và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác của địa phương, Trung ương. Tham vấn ý kiến của thầy cô, người thân và chuyên gia về định hướng nghề nghiệp. Lựa chọn cơ sở đào tạo trong tương lai và lập kế hoạch học tập phù hợp với định hướng nghề nghiệp).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương Trình Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Có Gì Mới?
  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt Mới
  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Môn Vật Lí Của Bộ Gd&đt
  • 8 Đặc Điểm Của Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông
  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Môn Vật Lý
  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương Trình Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Có Gì Mới?
  • Giáo Dục Hướng Nghiệp Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Môn Vật Lý Trong Chương Trình Gdpt: Tránh Khuynh Hướng Thiên Về Toán Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp
  • GD&TĐ – Với những mục tiêu chương trình đặt ra, trong đó có mục tiêu định hướng nghề nghiệp, phương pháp giáo dục của chương trình (CT) môn Vật lý cũng đồng thời có những điểm mới đáng chú ý.

    Tăng cường thực hành và công tác định hướng nghề được thể hiện rõ

    Mục tiêu định hướng nghề nghiệp xuyên suốt 3 cấp học

    PGS.TS Nguyễn Văn Khánh – Chủ biên CT môn Vật lý – cho biết: Một trong những mục tiêu của CT môn Vật lý là giúp HS nhận biết được năng lực, sở trường của bản thân, định hướng được nghề nghiệp và có kế hoạch học tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu của định hướng nghề nghiệp. Mục tiêu này được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ CT môn Vật lý từ nội dung, kế hoạch dạy học đến kiểm tra, đánh giá, dưới các góc độ khác nhau.

    Trong số các chuyên đề học tập, một số chuyên đề nhằm định hướng ngành nghề cho HS. Với các ngành nghề chưa có điều kiện cho HS thực hành (vì trang thiết bị phổ thông chưa đáp ứng được), có thể dùng học liệu đa phương tiện để giới thiệu một số quy trình công nghệ và tạo điều kiện để HS tham quan các cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại.

    Trong dạy học, sử dụng các phương pháp dạy học (PPDH) tích cực giúp HS vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết được một số vấn đề trong thực tiễn. Trong kiểm tra, đánh giá, chú trọng kiểm tra đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn. Qua đó, tạo điều kiện cho việc giáo dục hướng nghiệp gắn với thực tiễn địa phương một cách hiệu quả.

    Định hướng phương pháp giáo dục phẩm chất, phát triển năng lực chung

    PGS Nguyễn Văn Khánh đưa ra một số điểm đáng chú ý trong định hướng giáo dục của môn Vật lý, cụ thể: Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; tránh áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học. Phát triển khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng vật lý để phát hiện, giải quyết các vấn đề trong thực tiễn; khuyến khích, tạo điều kiện cho HS được trải nghiệm, sáng tạo trên cơ sở tổ chức cho HS tham gia các hoạt động học tập, tìm hiểu, vận dụng.

    Nói về phương pháp giáo dục cụ thể để phát triển các năng lực chung trong môn Vật lý, theo PGS Nguyễn Văn Khánh, môn Vật lý góp phần đắc lực vào hình thành, phát triển thế giới quan khoa học cho HS, tạo cơ hội để HS cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên qua hệ thống các quy luật Vật lý; đồng thời giáo dục HS trách nhiệm công dân trong tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, biết trân trọng, giữ gìn, bảo vệ, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Tình yêu thiên nhiên chính là một trong những biểu hiện của tình yêu quê hương, đất nước.

    Trong học tập thực hành, thí nghiệm, khi thực hiện các hoạt động tìm hiểu khoa học, ngoài học được kiến thức khoa học, rèn luyện được các kỹ năng, HS cũng được rèn luyện, phát triển nhiều đức tính như cẩn thận, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm…

      Giờ thực hành Vật lý tại Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng (Đà Nẵng)

    Trong môn Vật lý, năng lực tự chủ, tự học được hình thành, phát triển thông qua hoạt động thực hành, làm dự án, thiết kế và thực hiện các phép đo xác định đại lượng vật lý; đặc biệt là trong thực hiện hoạt động tìm hiểu khoa học, khả năng tự chủ, tự học, tự nghiên cứu được củng cố vững chắc. Định hướng tự lực, tích cực, chủ động trong phương pháp giáo dục môn Vật lý là những nhân tố góp phần đắc lực vào việc hình thành, phát triển năng lực tự chủ, tự học cho người học.

    Năng lực giao tiếp, hợp tác là năng lực mà môn Vật lý có nhiều lợi thế trong hình thành, phát triển. Trong môn Vật lý, HS thường xuyên phải thực hiện các dự án học tập, các bài thực hành, thực tập theo nhóm. Khi thực hiện nhiệm vụ học tập này, HS được trao đổi, trình bày, chia sẻ ý tưởng, nội dung học tập. Đó là cơ hội tốt để HS có thể hình thành, phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác.

    Giải quyết vấn đề và sáng tạo là một đặc thù của việc tìm hiểu khoa học. Một trong những nội dung giáo dục của môn Vật lý là tìm hiểu khoa học. Vì thế, trong hình thành, phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, Vật lý là một trong số môn học có nhiều lợi thế. Năng lực chung này được thể hiện trong đề xuất vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lý.

    Trong CT giáo dục vật lý phổ thông, phát triển năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên được nhấn mạnh, xuyên suốt từ tiểu học đến THPT và được hiện thực hoá thông qua các mạch thực hành, trải nghiệm với các mức độ khác nhau. Năng lực này cũng được hình thành, phát triển thông qua vận dụng kiến thức, kỹ năng vật lý để giải quyết các vấn đề thực tiễn.

    Lưu ý phương pháp giáo dục cụ thể phát triển năng lực vật lý

    Để phát triển thành phần năng lực nhận thức vật lý, PGS Nguyễn Văn Khánh cho rằng, GV cần chú ý tạo cho HS cơ hội huy động những hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có để tham gia hình thành kiến thức mới. Chú ý tổ chức các hoạt động, trong đó HS có thể diễn đạt hiểu biết bằng cách riêng, so sánh, phân loại, hệ thống hoá kiến thức, kỹ năng; vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được học để giải thích các sự vật, hiện tượng hay giải quyết vấn đề đơn giản; qua đó, kết nối được kiến thức, kỹ năng mới với vốn kiến thức, kỹ năng đã có.

    Để phát triển thành phần năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lý, GV cần tạo điều kiện để HS đưa ra câu hỏi, vấn đề cần tìm hiểu; tạo cho HS cơ hội tham gia quá trình hình thành kiến thức mới, đề xuất và kiểm tra dự đoán, giả thuyết; thu thập bằng chứng, phân tích, xử lý để rút ra kết luận, đánh giá kết quả thu được. GV cần vận dụng một số phương pháp, hình thức dạy học có ưu thế phát triển thành phần năng lực này như: Thực nghiệm, điều tra, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dự án… HS có thể tự tìm các bằng chứng để kiểm tra các dự đoán, các giả thuyết qua việc thực hiện thí nghiệm, thực hành hoặc tìm kiếm, thu thập thông tin qua sách, báo, Internet, điều tra; phân tích, xử lý thông tin để kiểm tra dự đoán.

    Để phát triển thành phần năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng về vật lý, GV cần chú ý tạo cơ hội cho HS đề xuất hoặc tiếp cận với các tình huống thực tiễn. HS được đọc, giải thích, trình bày thông tin về vấn đề thực tiễn cần giải quyết, trong đó kiến thức, kỹ năng vật lý có thể được sử dụng để giải thích và đưa ra giải pháp. Cần quan tâm rèn luyện các kỹ năng thành tố của năng lực giải quyết vấn đề cho HS: Phát hiện vấn đề; chuyển vấn đề thành dạng có thể giải quyết bằng vận dụng kiến thức vật lý; lập kế hoạch nghiên cứu; giải quyết vấn đề; đánh giá kết quả giải quyết vấn đề; nêu giải pháp khắc phục hoặc cải tiến.

    GV cần vận dụng một số phương pháp, hình thức dạy học có ưu thế phát triển thành phần năng lực này như: Dạy học giải quyết vấn đề, thực nghiệm, dạy học dự án… Cần quan tâm sử dụng các vấn đề, tình huống thực tiễn trong đó HS phải phân tích, chuyển đổi sang mô hình vật lý để giải thích các sự vật, hiện tượng, các nguyên tắc hoạt động của các thiết bị ứng dụng vật lý. Cần tạo cho HS những cơ hội để liên hệ, vận dụng phối hợp kiến thức, kỹ năng từ các lĩnh vực khác nhau trong môn học cũng như với các môn học khác.

    Bài 3: Đặc thù trong đánh giá và điều kiện thực hiện

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Môn Vật Lí Của Bộ Gd&đt
  • 8 Đặc Điểm Của Môn Vật Lý Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông
  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Môn Vật Lý
  • Nhân Lực Trình Độ Cao: Nặng Lý Thuyết, Yếu Thực Hành
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Sinh Vên Đại Học Hà Tĩnh
  • Giáo Dục Stem Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Đẩy Mạnh Triển Khai Giáo Dục Stem Tại Việt Nam
  • Lạng Sơn Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện
  • Nghiệm Thu Đề Tài: “một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Giáo Dục Trung Học Cơ Sở Các Xã Biên Giới Tỉnh Lạng Sơn Đến Năm 2025, Tầm Nhìn Đến Năm 2030”
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Giáo Dục Thcs Tại Các Xã Biên Giới
  • Giáo Dục Lạng Sơn: Gỡ Khó Để Phát Triển
  • Theo chúng tôi Lê Huy Hoàng, thành viên Ban Phát triển CT GDPT Tổng thể, Chủ biên CT môn Công nghệ cho biết, ở cấp độ chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục STEM vừa mang nghĩa thúc đẩy giáo dục các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, vừa thể hiện phương pháp tiếp cận liên môn, phát triển năng lực và phẩm chất người học.

    Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, giáo dục STEM đã được chú trọng thông qua các biểu hiện: Chương trình giáo dục phổ thông mới có đầy đủ các môn học STEM. Đó là các môn Toán học; Khoa học tự nhiên; Công nghệ; Tin học.

    Vị trí, vai trò của giáo dục tin học và giáo dục công nghệ trong chương trình giáo dục phổ thông mới đã được nâng cao rõ rệt. Điều này không chỉ thể hiện rõ tư tưởng giáo dục STEM mà còn là sự điều chỉnh kịp thời của giáo dục phổ thông trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

    Hội thảo thu hút sự quan tâm của nhiều chuyên gia giáo dục, nhà quản lí và các trường phổ thông.

    Ngoài ra, các chuyên đề dạy học về giáo dục STEM ở lớp 11, 12 dự kiến là các hoạt động trải nghiệm dưới hình thức câu lạc bộ nghiên cứu khoa học, trong đó có các hoạt động nghiên cứu STEM; Tính mở của chương trình cho phép một số nội dung giáo dục STEM có thể được xây dựng thông qua chương trình địa phương, kế hoạch giáo dục nhà trường; qua những chương trình, hoạt động STEM được triển khai, tổ chức thông qua hoạt động xã hội hóa giáo dục.

    Tuy nhiên, để triển khai thực tiễn thì theo PGS. Hoàng cần các điều kiện về cơ sở vật chất như Phòng học bộ môn; hình thành hệ thống các không gian sáng chế (Makerspaces); Về con người: Phải được chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy công nghệ; Kết nối các nhà khoa học ở các trường Đại học, Cao đẳng với các hoạt động giáo dục STEM ở trường phổ thông.

    Trao đổi thêm với các chuyên gia, GS. TSKH Đỗ Đức Thái, thành viên Ban Phát triển CT GDPT tổng thể, Chủ biên CT môn Toán cho biết, khi áp dụng STEM, chúng ta được nhiều thứ.

    Thứ nhất, giáo dục STEM là phương thức giáo dục tích hợp theo cách tiếp cận liên môn (interdisciplinary) và thông qua thực hành, ứng dụng. Thay vì dạy bốn môn học như các đối tượng tách biệt và rời rạc, STEM kết hợp chúng thành một mô hình học tập gắn kết dựa trên các ứng dụng thực tế. Qua đó, học sinh vừa học được kiến thức khoa học, vừa học được cách vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn.

    Thứ ba, giáo dục STEM đề cao một phong cách học tập mới cho người học, đó là phong cách học tập sáng tạo. Đặt người học vào vai trò của một nhà phát minh, người học sẽ phải hiểu thực chất của các kiến thức được trang bị; phải biết cách mở rộng kiến thức; phải biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với tình huống có vấn đề mà người học đang phải giải quyết.

    Các trường học mong muốn gì?

    Là đơn vị đào tạo giáo viên, thầy Lê Xuân Quang, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho rằng, con đường giáo dục STEM cho học sinh trong chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ có một số lưu ý. Cụ thể, giáo dục STEM thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cần hướng tới việc cung cấp cho học sinh các tình huống, bối cảnh đa dạng và phong phú đòi hỏi sự phát triển, vận dụng nhiều tri thức kĩ năng, cho phép học sinh tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề theo các cách khác nhau nhằm đạt được kết quả tốt hơn; cung cấp cho học sinh cơ hội sáng tạo, dám nghĩ, dám làm.

    GS. TSKH Đỗ Đức Thái tham gia trao đổi tại Hội thảo.

    “Với nội dung, kết cấu của chương trình tổng thể có thể thấy giáo dục STEM sẽ có nhiều không gian, thời gian để triển khai. Về bản chất giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ là một cách tiếp cận liên ngành trong dạy học các môn Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán nhằm tạo cơ hội cho học sinh kết nối những kiến thức được học với những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. Giúp học sinh có thể đưa ra các giải pháp sáng tạo khi có cơ hội áp dụng những kiến thức được học, giúp học snih có những suy nghĩ rộng hơn về những tình huống hay vấn đề nhất định” thầy Quang cho hay.

    Theo bà Phạm Thị Minh An, Hiệu trưởng Trường Olympia (Hà Nội), sau 2 năm câu lạc bộ STEM được triển khai tại trường đã mang lại nhiều kết quả tốt. Hoạt động hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học thu được thành quả đáng khích lệ. Năm học 2021-2017 có 10 đề tài tham gia vòng chung kết và tham gia trưng bày, báo cáo sản phẩm thuộc nhiều lĩnh vực STEM.

    “Qua những năm đầu triển khai, đội ngũ giáo viên của trường đã tích lũy ít nhiều kinh nghiệm về dạy học theo định hướng STEM. Song song với đó, các giáo viên cũng rất tích cực chia sẻ kinh nghiệm và tập huấn lẫn nhau để nâng cao năng lực và nhân rộng các hoạt động này. Sự tham gia của học sinh trong các giờ học được tổ chức theo định hướng STEM cũng cho thấy sự hứng thú, tích cực và chủ động hơn. Nhờ đó hiệu quả học tập được nâng cao” bà An cho biết.

    Ngoài ra, cần tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ từ các cấp lãnh đạo, trường đại học, Viện nghiên cứu, trung tâm giáo dục STEM….và các đơn vị bạn. Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học.

    Đại diện Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định cũng đề nghị, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần hỗ trợ nguồn sách khoa học về STEM cho cả giáo viên và học sinh. Tăng cường đào tạo với chuyên gia nước ngoài có kinh nghiệm về STEM cho giáo viên. Có cơ chế ghi nhận cho giáo viên và học sinh có kĩ năng, kiến thức, đóng góp trong lĩnh vực…

    Sau một ngày, Hội thảo đã lắng nghe nhiều ý kiến để tiếp tục hoàn thiện nội dung, hình thức của giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Stem Tại Việt Nam: Công Cụ Và Phương Thức
  • Xu Hướng Giáo Dục Stem Trong Cuộc Cách Mạng 4.0
  • Khắc Phục Rào Cản Để Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Stem
  • Giáo Dục Stem Trong Trường Phổ Thông: Linh Hoạt Để Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • 4 Lí Do Giáo Dục Stem Được Nhắc Nhiều Nhưng Chưa Triển Khai Rộng Ở Việt Nam
  • Chương Trình Môn Giáo Dục Thể Chất Cấp Tiểu Học 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Chú Trọng Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Học Sinh
  • Các Vấn Đề Về Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Học Sinh
  • Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Trẻ Mầm Non Thông Qua Các Hoạt Động Khám Phá
  • Rút Kinh Nghiệm Việc Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Mới
  • Vị trí, vai trò & mục tiêu của môn Giáo dục thể chất

    Giáo dục thể chất (GDTC) có vai trò vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và góp phần nâng cao chất lượng xã hội. Tại Việt Nam, GDTC được coi là một môn học bắt buộc trong hệ thống giáo dục quốc dân, là thành tố quan trọng trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện đức – trí – thể – mỹ.

    Mục tiêu

    • Giúp học sinh có cuộc sống khỏe mạnh cả về thể chất và tinh thần, hình thành và hoàn thiện các năng lực thể chất thông qua việc trang bị kiến thức, kĩ năng về bảo vệ và quản lí sức khỏe, thường xuyên tập luyện phù hợp với bản thân, biết cách thích ứng với các điều kiện sống.
    • Nâng cao tính tự giác, chủ động rèn luyện, bảo đảm sức khỏe trong học tập và rèn luyện
    • Giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần, từng bước góp phần phát triển toàn diện con người mới.

    Đặc điểm của chương trình GDTC (2018) cấp tiểu học theo định hướng phát triển năng lực

    Về quan điểm xây dựng

    • Chương trình GDTC dựa trên nền tảng lí luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu của khoa học thể dục thể thao và khoa học sư phậm hiện đại, trong đó có các kết quả nghiên cứu về giáo dục học, tâm lí học, sinh lí học, phương pháp GDTC và huấn luyện thể thao; kinh nghiệm xây dựng chương trình môn GDTC của Việt Nam và các nước có nền giáo dục tiên tiến; kết quả phân tích thực tiễn giáo dục, điều kiện kinh tế – xã hội Việt Nam và sự đa dạng của học sinh.
    • Bảo đảm phù hợp tâm – sinh lí lứa tuổi và quy luật phát triển thể chất của học sinh, phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục; vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với đặc điểm của môn học, hỗ trợ việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.
    • Chương trình GDTC có tính mở, tạo điều kiện cho học sinh được lựa chọn, đồng thời tạo điều kiện để nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp.

    Mục tiêu

    Phát triển năng lực thể chất, bao gồm 03 năng lực thành phần:

    • Nâng lực chăm sóc sức khỏe
    • Năng lực vận động cơ bản
    • Năng lực hoạt động thể dục thể thao

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan Ở Lớp 2 Trường Tiểu Học Thạch Lâm 2
  • Đề Tài Kinh Nghiệm “Giáo Dục Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Giữ Gìn Một Số Nét Văn Hóa Truyền Thốn Dân Tộc Thông Qua Các Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp Trong Trường Ptdt Nội Trú”
  • Skkn Một Số Biện Pháp Phát Triển Thể Chất Cho Trẻ 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: “Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 4
  • 7 Giải Pháp Đột Phá Trong Giáo Dục Nghề Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Bến Tre: Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Nghề Nghiệp
  • Bình Dương: Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Giục Nghề Nghiệp
  • Thanh Hóa: Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Miền Núi
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Dân Tộc, Miền Núi Từ Những Giải Pháp Căn Cơ
  • Giải Pháp Căn Bản Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Dân Tộc
  • * 2021 được xem là năm thành công đối với GDNN. Ông có thể điểm lại những dấu ấn nổi bật của công tác GDNN trong năm qua?

    *Gắn kết đào tạo với doanh nghiệp là hoạt động trọng tâm. Năm 2021 ngành đã đẩy mạnh các chương trình ký kết hợp tác với doanh nghiệp, ông đánh giá thế nào về kết quả của hoạt động này?

    – Năm 2021, nhiều chính sách, pháp luật về GDNN tiếp tục được hoàn thiện, tạo hành lang, cơ chế cho đổi mới nâng cao chất lượng GDNN. Nổi bật là một số chính sách, quy định được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục sửa đổi và Bộ luật Lao động (sửa đổi)…Tổ chức thành công Diễn đàn quốc gia “Nâng tầm kỹ năng lao động Việt Nam” – Skilling up Việt Nam; hội thảo quốc gia VEC 2021 “Phát triển giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng và hội nhập quốc tế”. Tham gia kỳ thi tay nghề thế giới lần thứ 45 năm 2021 được tổ chức từ ngày 16 đến 28/8/2019 tại Kazan Liên bang Nga. Kết quả, đoàn Việt Nam lần đầu tiên giành 1 Huy chương Bạc và được trao 8 Chứng chỉ nghề xuất sắc. Năm 2021, chất lượng GDNN tăng 13 bậc theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF); tuyển sinh đạt 2.338 nghìn người, đạt 103,5% kế hoạch năm, bằng 105,8% so với năm 2021; trong đó: trình độ cao đẳng, trung cấp khoảng 568 nghìn người; trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác khoảng 1.770 nghìn người. Đây là năm thứ 3 liên tiếp kể từ khi hệ thống GDNN được thống nhất quản lý về Bộ LĐ-TB&XH, ngành đạt vượt chỉ tiêu về tuyển sinh. Trên 85% học sinh, sinh viên tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng có việc làm, có trường, có nghề đạt tỷ lệ 100% với mức thu nhập từ 7 – 10 triệu đồng/tháng…Truyền thông GDNN lan tỏa tích cực, thu hút ngày càng nhiều người học và sự quan tâm của doanh nghiệp, của xã hội; ứng dụng CNTT trong quản lý và kết nối doanh nghiệp được tăng cường.Hội thi thiết bị đào tạo tự làm lần thứ 6 năm 2021 diễn ra từ 8 đến 12/9/2019 tại thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên – Huế). Có 58 tỉnh, thành phố trên cả nước tham gia Hội thi, với 396 thiết bị của 216 cơ sở GDNN… Hội thi được đánh giá đạt tiêu chuẩn của một “sản phẩm” theo đúng nghĩa sản phẩm thương mại có thể sản xuất đại trà và bán ra thị trường…Triển khai thành công chương trình đào tạo chất lượng cao với 12 chương trình đào tạo chuyển giao từ Úc. Tiếp cận các chương trình đào tạo tiên tiến trên thế giới là một trong nhiều nội dung góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN. Sinh viên sau tốt nghiệp được cấp 2 bằng của Việt Nam và của Úc có đủ năng lực làm việc tại các doanh nghiệp FDI, hoặc tham gia vào các chương trình xuất khẩu lao động kỹ sư hoặc liên thông lên đại học ở nước ngoài…Tăng cường hợp tác quốc tế cũng là một trong nhiều nhiệm vụ trọng tâm của ngành GDNN. Việc tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia có hệ thống GDNN tiên tiến, nghiên cứu vận dụng có chọn lọc các mô hình đào tạo nghề từ các quốc gia đó vào điều kiện thực tế tại Việt Nam là hướng đi đúng đắn của ngành GDNN trước yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế…

    *Năm 2021, ngành sẽ thực hiện những giải pháp đột phá nào để tiếp tục phát triển GDNN?

    – Có thể nói chuyển biến rõ nét nhất trong công tác tuyển sinh những năm qua là sự thay đổi trong nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, địa phương và của toàn xã hội về vấn đề học nghề, lập nghiệp, qua đó tác động đến công tác tuyển sinh của các trường TC, CĐ trong hệ thống chúng tôi nhiên, công tác tuyển sinh trong năm qua cũng còn gặp khó khăn, đó là: Tuyển sinh trình độ đại học khá dễ (số lượng các trường ĐH lớn, chỉ tiêu tuyển sinh ngày càng tăng, điểm chuẩn hạ thấp, thời gian tuyển sinh kéo dài cả năm nên thu hút phần lớn học sinh tốt nghiệp THPT vào học đại học) tạo áp lực cho cơ sở GDNN trong công tác tuyển sinh; nhiều địa phương quá tập trung đầu tư cho học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT, tốt nghiệp THPT vào đại học; đầu tư cho GDNN còn hạn chế; công tác hướng nghiệp, phân luồng trong các trường THCS, THPT chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chưa cao; chất lượng đầu vào của học sinh vào GDNN mặc dù đã có nhiều thay đổi nhưng nhìn chung còn thấp; năng lực đào tạo của một số cơ sở GDNN còn hạn chế, cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành chưa được chú trọng đầu tư; có những cơ sở GDNN chưa hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp trong quá trình tuyển sinh, tổ chức đào tạo, giới thiệu việc làm cho HSSV sau tốt nghiệp.Để thực hiện tốt công tác tuyển sinh trong thời gian tới, Tổng cục GDNN đã chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể sau: Tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông về GDNN; tổ chức tốt công tác tuyển sinh tại các địa phương, cơ sở GDNN; gắn kết tuyển sinh, đào tạo với thị trường lao động, việc làm; hoàn thiện chính sách pháp luật về GDNN, tạo thuận lợi cho công tác tuyển sinh, đào tạo…

    *Xin trân trọng cảm ơn Tổng cục trưởng, chúc ngành GDNN năm mới tiếp tục gặt hái nhiều thành công!

    – Để tiếp tục phát triển GDNN, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và xã hội theo hướng bền vững, hội nhập, Tổng cục GDNN, Bộ LĐ-TB&XH triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Cụ thể: Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng nhất là các điều kiện về chương trình, về nhà giáo, cán bộ quản lý; về cơ sở vật chất, thiết bị phù hợp với đặc thù Việt Nam và tiếp cận các nước trong ASEAN-4 và các nước phát triển trong nhóm G20; gắn kết GDNN với thị trường lao động, việc làm bền vững và tăng cường sự tham gia của hiệp hội nghề nghiệp, doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động trong hoạt động GDNN; nâng cao chất lượng hoạt động dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực, việc làm và nhu cầu đào tạo; trao quyền tự chủ cho các cơ sở GDNN gắn với trách nhiệm giải trình, đánh giá độc lập, sự kiểm soát của nhà nước, giám sát của xã hội; đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về GDNN, trong đó tập trung hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về GDNN; xây dựng các chiến lược, chương trình, đề án phát triển GDNN; hoàn thiện quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN, theo đó rà soát, sắp xếp cơ sở GDNN theo hướng chuẩn hóa, giảm đầu mối, tăng quy mô tuyển sinh và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động; phát triển hệ thống quản lý và bảo đảm chất lượng GDNN, triển khai mô hình quản lý, quản trị nhà trường theo hướng hiện đại, tinh gọn, chuyên nghiệp, ứng dụng công nghệ thông tin; nâng cao năng lực về quản lý và bảo đảm chất lượng; phát triển hệ thống đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động….

    Thiều Văn Lý (thực hiện)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cổng Tổng Cục Giáo Dục Nghề Nghiệp
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Nghề Nghiệp Ở Quảng Ninh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Âm Nhạc
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Đối Với Trẻ Ở Trường Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100