Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Yếu Kém Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Like | Photomarathonasia.com

Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Yếu

Một Vài Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Yếu Khuchexuat Doc

“một Số Biện Pháp Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Khắc Phục Khó Khăn Khi Giải Các Bài Toán Điển Hình Ở Lớp 3”

Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Kém

Tham Luận Các Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém Có Hiệu Quả

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH YẾU

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Trong chúng ta ai cũng biết bậc tiểu học là bậc học nền tảng là viên gạch đầu

tiên xây dựng nên nền móng tri thức và đạo đức của con người. Đặt biệt là lớp 1

tâm hồn các em như tờ giấy trắng nếu chúng ta giảng dạy tốt thì các em sẽ có vốn

kiến thức để học tốt hơn nữa. Nếu giảng dạy không tốt học sinh sẽ không nắm vững

được kiến thức, sẽ là gánh nặng cho các lớp trên nếu không nói là học sinh yếu,

kém.

Học sinh học yếu không chỉ yếu về mặt kiến thức mà còn yếu về mặt nhận

thức.Vì lẽ đó, ở trường tiểu học giáo viên dạy lớp 1 có nhiệm vụ dạy cho học sinh

biết đọc biết viết, biết tính toán, biết dùng từ và phát triển vốn từ cho học sinh

1cách có hệ thống có phương pháp để hình thành và phát triển năng lực học tập

cho học sinh. Bên cạnh đó giáo viên phải giáo dục đạo đức cho học sinh, giáo dục

cho học sinh biết cách học, khơi dậy ở các em lòng ham hiểu biết, tìm tòi học hỏi,

tạo cho học sinh động cơ học tập, có nhu cầu học tập để tiếp thu kiến thức mới. Khi

có hứng thú học tập các em sẽ tham gia hoạt động sôi nổi, tích cực và hào hứng.

Hứng thú với học tập là một yếu tố quan trọng và cần thiết giúp các em học tập có

kết quả cao , sẽ hạn chế được tình trạng học sinh học yếu. Học sinh yếu ảnh hưởng

đến chất lượng đại trà và ảnh hưởng đến công tác phổ cập chống mù chữ, ảnh

hưởng đến việc phát triển kinh tế ở địa phương.

Học sinh yếu thường mất tự tin, chán học, thường kèm theo một số biểu hiện tiêu

cực làm ảnh hưởng đến lớp học. Vì thế giáo viên không chỉ bù đắp những kiến thức

còn thiếu mà còn uốn nắn những sai sót của học sinh, dần dần xóa bỏ mặc cảm tự ti

thích đến trường khắc phục được tình trạng học sinh bỏ học.

Để giúp học sinh yếu nắm được kiến thức và theo kịp bạn bè thì đòi hỏi người

giáo viên phải nắm bắt được tâm sinh lý của từng đối tượng học sinh, hiểu học sinh

1

thiếu những gì? cần gì? để kịp thời bù đắp. Muốn như thế giáo viên phải không

ngừng đổi mới phương pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh. Đồng thời đề ra

biện pháp giáo dục phù hợp, với phương châm: ” Dạy điều học sinh cần chứ không

phải dạy điều mình biết”.

Do đó với mong muốn làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học, giúp học

sinh yếu học có hiệu quả tôi chọn đề tài: ” Biện pháp giáo dục học sinh yếu” làm

đề tài nghiên cứu.

II. NỘI DUNG:

1. Thực trạng của học sinh yếu lớp 1:

1.1. Thực trạng của học sinh yếu lớp 1 nói chung:

Học sinh yếu là nỗi lo nỗi trăn trở của người làm giáo dục. Do đó để giúp học

sinh yếu học có kết quả, nhiều chuyên đề, nhiều phương pháp đặt ra nhằm đưa chất

lượng giáo dục ngày một đi lên. Nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu,

học sinh yếu vẫn tồn tại ở các trường.

Hiện nay vẫn còn một số giáo viên ngại khó, không thích dạy lớp yếu, cảm thấy

mệt mỏi chán nản khi được phân công lớp yếu dẫn đến chất lượng chưa được như

mong muốn.

1.2. Thực trạng của học sinh yếu lớp 1 ở trường Tiểu học Phong Tân- Giá

Rai

Qua thực tế giảng dạy lớp 1.Tôi nhận thấy rằng: Nhìn chung các em học chưa

tốt: Các em chưa có nền nếp học tập, Không chú ý trong giờ học, không chịu đọc

bài, lười viết bài, không thích ngồi yên, không muốn trả lời câu hỏi, nếu có thì nói

rất nhỏ. Cá biệt có vài em không nghe lời thích làm theo ý mình gây mất trật tự lớp

học, ảnh hưởng đến các em khác.

Việc dạy của giáo viên vẫn bám vào phương pháp rập khuôn, chưa tìm ra

phương pháp để đổi mới nhằm nâng cao kết quả giờ học. Giáo viên hầu hết chỉ dạy

theo phân phối chương trình chưa mạnh dạn đổi mới, chưa kiểm soát hết chỗ hỗng

kiến thức của HS, chưa tìm hiểu nguyên nhân của học sinh học yếu nên không kịp

2

thời sửa sai. Đây là nguyên nhân làm cho học sinh hoạt động không tích cực nhàm

chán và học yếu.

*Về chương trình sách giáo khoa:

Lớp 1 có 6 môn học bắt buộc: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội,

nghệ thuật, thể dục.

Đối với học sinh yếu chỉ cần chú trọng 2 môn: Tiếng việt, Toán. Bởi vì nếu học

sinh biết đọc, biết viết sẽ học tốt các môn khác.

*Về giáo viên và học sinh:

Trong thực tế hiện nay, ở trường Tiểu học việc dạy lớp yếu, bên cạnh những

thành công, còn nhiều hạn chế. Học sinh của chúng ta chưa biết đọc, chưa biết viết,

chưa biêt làm toán, phương pháp giúp HS phát âm chuẩn, viết đúng, viết đẹp cũng

ít được quan tâm.

Qua tìm hiểu tôi rút ra được một số nguyên nhân sau:

– Phần lớn học sinh chưa qua lớp mẫu giáo, nên chưa có nền nếp học tập.

– Một số ít phụ huynh cho con vào học muộn so với tuổi quy định, việc tiếp thu

kiến thức chậm hơn rất nhiều so với các em cùng lứa tuổi khác.

– Gia đình học sinh ở xa các điểm trường, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó

khăn, không có điều kiện đưa rước nên học sinh thường xuyên nghỉ học, dẫn đến

tiếp thu kiến thức bị gián đoạn.

– Cha mẹ li hôn buộc phải ở với người thân, ông bà, thiếu sự quan tâm chăm

sóc, từ đó ảnh hưởng đến kết quả học tập.

– Học sinh chưa có ý thức tự giác học tập, gia đình lại không quan tâm nhắc

nhở con em học ở nhà nên kết quả học tập chưa cao.

– Một số em có trí nhớ kém, không bền vững, học trước quên sau.

– Một phần là do năng lực phát triển trí tuệ của các em dễ nhớ mau quên, ham

chơi, biếng học, chưa có ý thức trách nhiệm trong học tâp.

– Công tác phối hợp giữa gia đình nhà trường còn hạn chế, phụ huynh coi việc

học tập của con em mình là nhiệm vụ của thầy cô giáo, cũng một phần là do giáo

3

viên thiếu kinh nghiệm dạy lớp yếu.

– Do nhận thức của phụ huynh về việc hoc tập của con còn hạn chế nên thường

cho con nghỉ học, kiến thức tiệp thu không đầy đủ dẫn đến học yếu.

Bảng 1: Chất lượng khảo sát học sinh lớp 1:

Lớp

Tổng

số

HS

Số em khá giỏi Số em trung bình Số em yếu

SL % SL % SL %

1B 36 0 0 5 26,6 31 60

Biện Pháp Giao Dục Học Sinh Cá Biệt

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Ý Thức Tự Giác Trong Học Tập Cho Học Sinh

Hình Thành Một Số Phẩm Chất Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học Trong Quá Trình Giáo Dục Thể Chất Hinh Thanh Mot So Pham Chat Dao Duc Cho Hoc Sinh Tieu Hoc Trong Qua Trinh Giao D

Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo

Giải Pháp Quan Trọng Để Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh

Skkn: Biện Pháp Khắc Phục Học Sinh Yếu Kém

Sự Gia Tăng Dân Số Châu Á

Giải Bài Tập Địa Lí 9

Tốc Độ Gia Tăng Dân Số Đã Được Khống Chế

“tình Hình Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ Trên Tuyến Quốc Lộ 1A

Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH YẾU KÉM Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Chúng ta đều biết: ” Học tập là quyền của tất cả mọi người, tất cả mọi trẻ em” trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Và tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Giáo dục – Đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển”.

Thấm nhuần đường lối, chủ trương của Đảng, người giáo viên trực tiếp giảng dạy và làm công tác giáo dục cần nhận thức đúng đắn hơn về vai trò, ý thức, trách nhiệm của mình để góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt là trong thời điểm hiện nay, xã hội đang phát triển như vũ bão về khoa học kỹ thuật, về công nghệ thông tin….thì vai trò, vị trí của người thầy giáo trong công cuộc giáo dục thế hệ trẻ, mầm non tương lai của đất nước lại càng quan trọng.

Nghị quyết Trung ương 2 về định hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã chỉ đường và tạo đà cho sự nghiệp giáo dục phát triển. Từ những định hướng lớn, kết hợp với nội lực của ngành, nền giáo dục của ta cho đến nay đã làm được khá nhiều điều. Nhưng cũng đã đến lúc chúng ta phải nhìn vào thực tế, bên cạnh những cái mà chúng ta đã làm được thì hiện nay ở nhiều nơi, học sinh yếu kém ngồi nhầm lớp đang còn nhiều. Đặc biệt là ở bậc tiểu học, bậc học nền tảng cho cả quá trình học tập lâu dài của mỗi con người. Nếu ở bậc tiểu học các em chưa đọc – viết – làm tính được thì lên đến lớp trên sẽ cũng không tiếp nhận được tri thức.

Thật sự đáng buồn khi hiện nay có một số học sinh mù chữ ngay trên ghế nhà trường. Làm sao có thể tin nổi có những học sinh học đến lớp bảy, lớp tám ở một trường THCS nọ lại chưa hề biết một chữ cái nào. Điều này đã gây bất bình rất mạnh mẽ trong phụ huynh, trong xã hội đối với nền giáo dục. Mà xã hội và phụ huynh bất bình là đúng vì ta nhớ lại thời kỳ năm 1945, khi đất nước mới dành được nền độc lập, nước nhà còn ở trong tình trạng khó khăn vì thù trong giặc ngoài, Hồ Chủ Tịch kêu gọi toàn dân ” diệt giặc dốt”, và từ những lớp bình dân học vụ mà nhân dân ta thời đó đẩy lùi được cái dốt, cái mù chữ. Vậy mà ngày nay, khi đất nước đã giàu mạnh, văn minh hơn nhiều, nền giáo dục đã được đầu tư rất lớn với một đội ngũ thầy cô giáo được đào tạo một cách bài bản lại để học sinh mù chữ và yếu kém nhiều đến như vậy. Đây quả là sự đáng trách ghê gớm, Là sự thật đau lòng đối với toàn ngành giáo dục. Vậy chúng ta phải làm gì? Làm như thế nào? Phải nổ lực phấn đấu ra sao? …. để tháo gở vấn đề bức xúc này.

Thực tế trường chúng tôi cũng vậy, học sinh yếu kém, học sinh ngồi nhầm lớp cũng còn còn nhiều. Là một người cán bộ quản lý tôi đã nhận thức sâu sắc vấn đề nóng bỏng này. Do vậy tôi đã hết sức băn khoăn, trăn trở muốn tìm ra một số biện pháp nhằm giúp học sinh yếu kém trong nhà trường nâng cao trình độ nhận thức, góp phần nâng cao chất lượng toàn diện. Đáp ứng yêu cầu phát triển Giáo dục trong giai đoạn hiện nay của ngành và của địa phương; đặc biệt là góp phần tích cực vào việc thực hiện cuộc vận động” nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Từng bước lấy lại lòng tin của phụ huynh và học sinh đối với nhà trường, với các thầy cô giáo. Mặc dầu kinh nghiệm trong công tác quản lý còn hạn chế song tôi cũng mạnh dạn nghiên cứu để phần nào đó đề xuất một số biện pháp nhằm tháo gỡ vấn đề bức xúc nêu ở trên.

II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN:

1. Cơ sở lý luận:

– Một học sinh bình thường về mặt tâm lý, không có bệnh tật đều có khả năng tiếp thu kiến thức theo yêu cầu phổ cập của chương trình tiểu học hiện nay.

– Những học sinh yếu kém vẫn có thể đạt yêu cầu của chương trình nếu được hướng dẫn một cách thích hợp.

2. Cơ sở thực tiễn:

Qua thực tế ở trường, tôi đã tìm ra các nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém như sau:

– Trí tuệ của các em chậm, phát triển kém.( Thiểu năng

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém Có Hiệu Quả

Tham Luận Các Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém

Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Kém

“một Số Biện Pháp Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Khắc Phục Khó Khăn Khi Giải Các Bài Toán Điển Hình Ở Lớp 3”

Một Vài Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Yếu Khuchexuat Doc

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp “rèn Học Sinh Yếu Kém”

Công Tác Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Có Hiệu Quả

Một Số Biện Pháp Rèn Học Sinh Yếu Kém

Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Cho Trẻ Tự Kỷ Tuổi Mầm Non Tại Thành Phố Thái Nguyên

Giáo Dục Giúp Trẻ Tự Kỷ Hòa Nhập Xã Hội

Một Số Biện Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ

n cành) Giáo viên nhắc lại:Vậy trẻ em được so sánh với búp trên cành ý nói rằng trẻ em còn rất non nớt rất dễ gãy như búp non trên cành cần được người lớn chăm sóc. + Ví dụ: Môn Toán - Bài tính giá trị của biểu thức Đề bài: Tính giá trị của biểu thức: 810 : (3 x3) đối với học sinh khá giáo viên đưa ra câu hỏi + Biểu thức trên có gì đặc biệt? (có dấu ngoặc đơn) + Nêu cách thực hiện, học sinh làm: 810 : (3 x3 ) = 810 : 9 = 90 + Đối với học sinh trung bình - yếu giáo viên cho học sinh đọc biểu thức đó lên và hỏi: + Trong biểu thức trên có những phép tính nào?( tính chia và tính nhân n) + Phép tính nhân được đặt trong dấu nào? (dấu ngoặc đơn) + Ta cần thực hiện phép tính nào trước? Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện luôn . Phép tính nhân 3 x3 = giáo viên hỏi 3 được lấy mấy lần (3 lần) có nghĩa là 3 +3 +3 lúc này cho học sinh cộng nhẩm ra kết quả là 9; Giáo viên hướng dẫn làm tiếp 81: 9 gợi ý cho học sinh nhớ lại bảng nhân chia 9 để tìm ra kết quả là 9 +Hoàn thiện các bước thực hiện 810: (3 x3 )= 810 : 9 = 90 thức cũ và kiến thức mới. + Ví dụ: Môn toán: Bài - Nhân với số có hai chữ số Đề bài: Đặt tính và tính 152 x 2 4 =? ở bài tập này giáo viên cần hướng dẫn học sinh bằng các câu hỏi để học sinh nhớ lại kiến thức cũ + Nêu yêu cầu của đề? (Đặt tính rồi tính) + Nêu cách đặt tính của phép tính trên? (Ta viết thừa số thứ hai dưới thừa số thứ nhất) + Muốn tính được kết quả của phép tính trên ta phải dựa vào bảng nhân nào? (Bảng nhân 2 và nhân 4) như nhân với số có một chữ số; để tìm từng tích riêng. Giáo viên hỏi: + Nhận xét về phép tính? (Là phép tính nhân một số thập phân với một số tự nhiên) + Giáo viên hướng dẫn thực hiện - học sinh đặt tính 152 x 24 608 304 3648 Vậy muốn nhân số có ba chữ số với số có hai chữ số ta làm thế nào? (Ta đi đặt tính và thực hiện từ phải qua trái nhân từ hàng nhỏ đến hàng lớn - tính từng tích riêng một. Trong khi đặt tính tích riêng thứ hai phải ghi lùi vào một cột thẳng hàng chục . Sau đó cộng kết quả chung. Ví dụ: Đối với môn Tập đọc - Bài cánh diều tuổi thơ Tuần 15. Giáo viên cần hướng dẫn các em cách đọc đúng, đọc lưu loát toàn bài. Biết đọc diễn cảm bài văn với giọng vui, tha thiết thể hiện niềm vui sướng của đám trẻ khi chơi thả diều. Giúp học sinh hiểu các từ ngữ mới trong bài (mục đồng, huyền ảo, khát vọng, tuổi ngọc ngà, khát khao). Hiểu được nội dung: Niềm vui sướng và khát vọng tốt đẹp mà trò chơi thả diều mang lại chon đám trẻ mục đồng khi các em lắng nghe tiếng sáo diều, ngắm những cánh diều bay lơ lửng trên bầu trời. Đầu tiên giáo viên cần giới thiệu được trò chơi thả diều là một thú vui mà nhiều trẻ con và người lớn ở nhiều vùng nông thôn hay miền núi đều ưa thích nó mang lại cho con người những phút thư giãn thoải mái sau những lúc làm việc, học tập căng thẳng và mệt mỏi. Ngoài phần giới thiệu giáo viên cho học sinh quan sát chiếc diều bằng vật thật hoặc tranh ảnh để học sinh tư tưởng tượng ra chiếc diều khi bay trên bầu trời. Giáo viên đọc mẫu chuẩn xác, nhấn giọng vào nhũng từ gợi tả chiếc diều và tiếng sáo diều. Hướng dẫn học sinh luyện đọc đúng bằng bảng phụ hoặc bảng lớp một hai câu hoặc cả đoạn văn. Ví dụ: Hướng dẫn học sinh đọc đúng đoạn văn sau: "Tuổi thơ tôi đ ược nâng lên từ những cánh diều . Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm". Những dấu chấm hướng dẫn học sinh nghỉ hơi, dấu phẩy thì ngắt hơi (tức là nghỉ ít hơn dấu chấm). Đối với học sinh đọc còn yếu phát âm chưa chuẩn hướng dẫn học sinh đọc đúng đầu bà và một câu văn không bắt buộc các em phải đọc đ ược chuẩn cả đoạn văn hay cả bài văn. Bên cạnh đó giáo viên phải chú ý theo dõi những em đọc chưa chuẩn, hướng dẫn sửa sai ngay cách phát âm cho các em cho các em. Ví dụ Đối với học sinh là con em người H'Mông các em hay đọc mất âm cuối hoặc thêm âm cuối; dấu sắc thành dấu ngã; dấu huyền thành dấu nặng: như những đơn đơng xuống xuôn vọng vọn cháy mãi chãy mái cánh buồm cãnh buồm Đối với nhũng em phát âm chưa chuẩn, giáo viên theo dõi sửa sai nhiều lần để các em chú ý phát âm đúng, hàng ngày cần kiểm tra việc phát âm của các em, qua các tiết học giờ học khác, giúp các em thực hành kỹ năng đọc, nói nhiều dần dần các em sẽ tự sửa sai được cho mình. Khi học sinh đã đọc thông thạo rồi giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa một số từ mới đã có trong mục từ ngữ chú giải. Ngoài ra từ nào trong bài khó hiểu giáo viên có thể giải thích thêm. Trong khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung giáo viên có thể lồng ghép tích hợp môi trường và liên hệ thực tế tại địa phương em các em đã được chơi thả diều chưa? Khi được tham gia chơi em cảm thấy tâm trạng như thế nào? Ngoài trò chơi thả diều em còn biết trò chơi dân gian nào khác? ở địa phương em hay chơi trò chơi gì vào thời gian nào trong năm? Và giáo dục các em vui chơi thư giãn giải trí nhưng nhớ không đư ợc quên nhiệm vụ đó là học tập, ăn uống và nghỉ ngơi đúng giờ giấc. Giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường trong mỗi lần tham gia một trò chơi nào đó. * Hình thức áp dụng giảng dạy: - Giáo viên luôn gần gũi với các em, nhất là học sinh yếu - kém, động viên các em cố gắng về mọi mặt. - Những câu hỏi khó thường giành riêng cho học sinh khá, những câu hỏi dễ thì giành cho học sinh trung bình -yếu . - Khi thấy các em tiến bộ giáo viên nên khuyến khích các em bằng lời khen, có thể là một tràng pháo tay của cả lớp hay một con điểm tốt, để động viên khích lệ các em học sinh yếu tự tin hơn và cố gắng phấn đấu trong học tập . - Trong khi giảng dạy tôi luôn luôn lưu ý đến học sinh yếu, đặc biệt khi học sinh này giơ tay phát biểu ý kiến tôi chủ động, ưu tiên gọi học sinh phát biểu tạo điều kiện cho các em tích cực hơn trong học tập. * Phụ đạo học sinh yếu -kém đúng đối tượng, không phụ đạo tràn lan, mà thực hiện phụ đạo bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau như: - Đôi bạn học tập: Theo cách thức tôi phân công học sinh khá, kèm học sinh trung bình, yếu để giúp đỡ lẫn nhau trong từng tiết học, từng ngày học, từng kì học và cho hết năm học . - Đôi bạn cùng tiến: tôi sẽ tổ chức dưới hình thức cho hai học sinh yếu hoặc hai học sinh trung bình thi đua học tập với nhau, xem em nào có cố gắng tiến bộ hơn trở thành học sinh trung bình hoặc học sinh trung bình khá. Tôi quan tâm theo dõi đối tượng đó để thấy đư ợc sự tiến bộ của đôi bạn cùng tiến này. - Đôi bạn ham học hỏi: Cho học sinh thi đua nhau xem em nào tiến bộ hơn mạnh dạn hơn học hỏi kiến thức ở bạn, ở thầy cô những kiến thức mà em chưa làm được. - Tôi phân công các nhóm học tập theo từng thôn bản. Giao nhiệm vụ cho nhóm trưởng có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra giúp đỡ các bạn trong nhóm và báo cáo với cô giáo sau mỗi buổi học nhóm. - Giáo viên chủ nhiệm kết hợp với gia đình, kiểm tra đôn đốc việc học tập theo nhóm của các em ở nhà để việc học tập nhóm đạt hiệu quả. - Có như vậy tôi dần hình thành được thói quen bạo dạn, giúp học sinh bỏ dần tính nhút nhát, sợ sệt, tính ngại tiếp xúc với bạn bè thầy cô để mau tiến bộ trong học tập. 2. Đối với học sinh: Một số em học yếu do bất đồng về ngôn ngữ giữa giáo viên với học sinh dẫn tới không hiểu được yêu cầu của giáo viên và vấn đề giáo viên cần truyền đạt, giáo viên phải gần gũi với các em trao đổi, hỏi thăm tình hình gia đình cũng như việc học tập ở nhà của các em thông qua bố mẹ, anh chị và bạn bè trong lớp, ngoài ra giáo viên cũng phải hiểu biết một số tiếng địa phương để giao tiếp với các em. Từ đó có các biện pháp giúp các em nắm được ngôn ngữ Tiếng Việt, cũng như các yêu cầu và nội dung cần truyền đạt cảu giáo viên, giúp các em nhận thức tiến bộ. Bên cạnh đó giáo viên tổ chức nhiều trò chơi, câu đố trong mỗi tiết học để các em được tham gia và giao tiếp bằng Tiếng Việt, hoặc cho các em tham gia vào các buổi giao lưu văn nghệ. Giao lưu Tiếng Việt của chúng em do nhà trường tổ chức giúp các em giao tiếp thành thạo Tiếng Việt. Một số gia đình các em có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo của thị trấn, nên các em hay phải phụ giúp gia đình. bản thân tôi đã đến từng gia đình các em động viên gia đình cho các em được đi học. Ngoài ra trong năm học tôi đã giúp đỡ được 2 gia đình em Sùng A Cán và em Giàng A Thỏ 6 bộ quần áo rét 3 bộ quần áo mùa hè để các em mặc đi học. Vì vậy mà hai em đến trường đầy đủ mùa hè cũng như mùa đông không nghỉ học tự do như trước nữa. Được sự quan tâm của nhà nước đối với hộ nghèo lớp tôi chủ nhiệm có hai học sinh được hưởng chế độ chính sách. Gia đình các em rất phấn khởi nên cũng tạo điều kiện cho con em đi học đầy đủ. Vì vậy các em rất vui vẻ hăng say học tập. Với một số gia đình mới chuyển ở Sa Pa và Hô Pe về nên nhận thức về việc học tập của con em chưa đúng đắn, họ cho rằng học để làm gì?, con trai học làm cán bộ, còn con gái không cần đi học. Nên sự quan tâm đến việc học của con em chưa cao. Bản thân tôi cùng với trưởng thôn bản đã đến từng gia đình tuyên truyền phổ biến về việc học tập con em họ, mới đầu việc làm này thật vô nghĩa và khó khăn nhưng với lòng kiên trì, bền bỉ, không ngại khó khăn đến một lần chưa thuyết phục được tôi đến nhiều lần. Cuối cùng gia đình các em cũng hiểu được việc học đối với các em quan trọng và có ý nghĩa thế nào nên gia đình đã đồng ý và vui vẻ cho con em đến trường đầy đủ. Trong lớp có rất nhiều em đọc tốt, tính toán nhanh song lại có em đọc yếu, viết sai, viết xấu. đối với các em này tôi đặc biệt quan tâm chú ý trong mỗi tiết dạy, mỗi bài học. Ví dụ thấy em đọc còn yếu, sai nhiều lỗi chính tả tôi đọc mẫu và hướng dẫn em đọc lại, sửa sai ngay, em đọc khá thì đọc một đoạn nhưng với em đọc yếu chỉ cần đọc đứng được một câu hoặc hai câu. không cần đọc cả đoạn văn. Với em viết chậm còn sai nhiều lỗi chính tả.Tôi đọc lại nhiều lần, hướng dẫn tỉ mỉ cách viết các con chữ, cách nối các con chữ với nhau và độ cao khoảng cách giữa các chữ. với học sinh từ trung bình trở nên có thể viết hết cả bài chính tả trong thời gian 15 - 20 phút còn với em yếu, viết chậm tôi giảm nội dung bài viết không nhất thiết yêu cầu học sinh phải viết hết. IV. Kết quả thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: * Qua nghiên cứu và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của mình vào quá trình giảng dạy, Tôi nhận thấy chất lượng lớp học được nâng lên rõ rệt tình trạng học sinh nhút nhát, tự ti không còn, các em mạnh dạn, hăng hái trong học tập, sôi nổi trong các hoạt động của lớp, của khu. Một số em nói ngọng, phát âm sai nay có chuyển biến đáng khích lệ, phát âm chích xác, to rõ ràng và lưu loát hơn đầu năm học, số học sinh viết sai lỗi chính tả nay đã giảm hẳn, đặc biệt nhờ đọc thông, viết thạo mà một số em đầu năm không biết làm toán vì không biết đọc, không hiểu nội dung yêu cầu của bài, đến nay đã biết đật tính và tính, giải được toán có lời văn ở dạng đơn giản. Các em hăng say học tập, ngoan ngoãn, vâng lời thầy cô, bố mẹ, ông bà. Thích đến trường, đến lớp, học tập, vui chơi cùng các bạn và thầy cô giáo. Vì vậy cuối học kì một đã có học sinh giỏi chất lượng học sinh khá trung bình tăng. Đặc biệt giảm được học sinh yếu qua từng tháng khảo sát. Kết quả cụ thể của đợt khảo sát chất lượng cuối học kì I đạt được như sau: * Về học lực: Giỏi: 5 em Khá: 4 em Trung bình: 2 em Yếu: 00 em * Về hạnh kiểm: 100% các em thực hiện đầy đủ. Bên cạnh việc các em có chuyển biến về kiến thức, về hạnh kiểm, cha mẹ các em cũng quan tâm đến việc học tập của con em hơn, tạo điều kiện cho các em đi học đầy đủ, không còn tình trạng nghỉ học tự do dài ngày để giúp đỡ gia đình như trước nữa.các em rất phấn khởi vui tươi khi được đến trường. Với kết quả đạt được trên, tôi sẽ tiếp tục duy trì và áp dụng vào trong giảng dạy ở học kì II, để cuối năm học tôi sẽ cố gắng phấn đấu nâng cao chất lượng mũi nhọn. C - Phần kết luận I. Những bài học kinh nghiệm Thông qua việc nghiên cứu và áp dụng sáng kiến của mình. Tôi nhận thấy giáo viên chủ nhiệm lớp trực tiếp giảng dạy cần phải đi sâu hơn nữa vào những vấn đề sau + Nghiên cứu cụ thể về kỹ năng mức độ nhận thức của từng đối tượng học sinh + Giáo viên cần phải có kế hoạch và biện pháp cụ thể nhằm nâng cao dần chất lượng của học sinh. + Bản thân giáo viên phải là người tâm huyết với nghề nghiệp, yêu nghề mến trẻ, nhiệt tình với công việc, có sự chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp. + Giáo viên chủ nhiệm chú ý quan tâm đến từng đối tượng học sinh yếu kém để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến yếu kém là do đâu? Vì sao? + Luôn gần gũi với các em học sinh yếu; luôn đặt những câu hỏi gợi mở + Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - xã hội. Qua việc vận dụng những kiến thức trong giảng dạy và giáo dục học sinh đến nay tôi thấy rằng việc học sinh ở trên lớp, học tập có nhiều tiến bộ rõ rệt. Lớp học sôi nổi học sinh học tập có hứng thú, có ý thức tự giác làm bài và học bài ở lớp, cũng như ở nhà. Các em có sự chuẩn bị bài tốt hơn. Các em có ý thức học tập gần gũi với giáo viên hơn. Trong lớp học số học sinh yếu giảm rất nhiều so với đầu năm học. Kết quả đến cuối học kì I không còn học sinh yếu. II. ý nghĩa của Sáng kiến kinh nghiệm Trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh việc nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm biện pháp " Rèn học sinh yếu" có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bản thân tôi và đồng nghiệp. Qua nghiên cứu đúc rút một số biện pháp giảng dạy và kinh nghiệm từ thực tế đã giúp tôi có được chất lượng giáo dục tương đối đảm bảo, từ một lớp vùng dân tộc thiểu số có 90% là học sinh dân tộc H'Mông vốn ngôn ngữ của các em còn hạn chế, chất lượng học sinh còn thấp, tỉ lệ học sinh yếu đầu năm còn 2 em, nhờ vận dụng chuyên đề này, mỗi học sinh đều được hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và phát triển. Tôi đã đưa chất lượng của lớp tôi đi lên đến cuối kì một không còn học sinh yếu, tỉ lệ khá giỏi tăng, các em đi học chuyên cần đầy đủ, không còn tình trạng học sinh nghỉ học tự do. Các em thích đến trường, đến lớp. Các em tích cực, sôi nổi trong các hoạt động ngoại khoá và hoạt động học tập của lớp, của khu, không còn học sinh nhút nhát tự ti như trước nữa. Bản thân tôi thiết nghĩ cần phải tiếp tục thực hiện chuyên đề này để đưa chất lượng của lớp đi lên phấn đấu để có học sinh mũi nhọn tạo tiền đề cho năm học tới. III. Khả năng ứng dụng: Sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng trong lớp, trong khối, có khả năng áp dụng giảng dạy với từng trường, từng vùng có học sinh thuộc dân tộc hmông có mặt bằng kiến thức không đồng đều. Đặc biệt áp dụng với những lớp có tỉ lệ học sinh yếu cao. Nhằm nâng cao chất lượng học sinh đồng đều giữa các lớp trong khối và các lớp trong khu vực đồng bào dân tộc thiểu số của huyện đưa chất lượng của lớp nói riêng, của trường Tiểu học số 2 nói chung ngang bằng với các trường bạn. IV. Những kiến nghị đề xuất: Đây chỉ là một vài biện pháp mà trong quá trình giảng dạy tôi đã đúc rút từ thực tế. Để sáng kiến của tôi được thực hiện có hiệu quả trong học kì II và những năm tiếp theo tôi xin mạnh dạn kiến nghị đề xuất một số vấn đề sau: 1. Đối với nhà trường: Thường xuyên dự giờ thăm lớp, giúp đỡ giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, tổ chức các cuộc thi, giao lưu tăng cường Tiếng Việt cho học sinh, tổ chức tốt các buổi hoạt động tập thể để các em được trao đổi giao lưu học hỏi lẫn nhau, giúp nhau cùng tiến bộ. 2. Đối với giáo viên: Tăng cường công tác tự học hỏi. tự bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.Tâm huyết với nghề nghiệp. Làm tốt chức trách nhiệm vụ được giao. Mạnh dạn trao đổi chuyên môn nghiệp vụ, vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học, nghiên cứu kỹ nội dung trước khi soạn giảng, có các nội dung phù hợp với mọi đối tượng học sinh có như vậy chất lượng mới thực sự đảm bảo. Tôi xin chân thành cảm ơn! Tân Uyên, ngày 02 Tháng 01 năm 2011 Người viết Phạm Thị Hường NHậN XéT, ĐáNH GIá CủA HộI ĐồNG KHOA HọC NHà TRƯờNG * Nhận xét: ........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................ * Xếp loại................................ Ngày... tháng... năm......... HIệU TRƯởNG NHậN XéT, ĐáNH GIá CủA HộI ĐồNG KHOA HọC PGD & ĐT TÂN UYÊ N * Nhận xét: .......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... * Xếp loại................................ Ngày.... tháng.... năm............. TRƯởNG PHòNG

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Tiểu Học

Một Số Kinh Nghiệm Dạy Học Sinh Khuyết Tật Học Hòa Nhập

Gd Trẻ Khuyết Tật: Giáo Viên Cần Điều Chỉnh Phù Hợp Với Từng Học Sinh

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Khuyết Tật Trí Tuệ

Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Yếu Kém Học Tốt Môn Toán 7

Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất Tiet 5 Bai 6 Bien Phat Su Dung Cai Tao Va Bao Ve Dat Ppt

Những Cách Tránh Thai An Toàn, Hiệu Quả Nhất Hiện Nay

Những Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Nhất Hiện Nay?

Lv: Tạo Động Lực Lao Động Cho Giáo Viên Tiểu Học Tại Huyện Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn

Tổng Hợp Các Mẫu Biện Pháp Thi Công

Trang 1

Trang 2

Trang 3

0,8 

Bài tập2:

Tính :

1,25 

0,8 và 1,25.

Trang 4

Đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh yếu kém học tốt môn toán

-----------------------

(HS: Phải qui đồng mẫu các phân số)

(HS: Tử cộng tử, giữ nguyên mẫu)

Hỏi: Nhắc lại cách cộng hai số nguyên?

Bài tập 3: Tìm x, biết:

x

.

Hỏi: Muốn tìm được x trước hết ta phải làm gì?

(HS: Lúng túng không trả lời được)

GV: Hãy nhắc lại qui tắc chuyển vế trong Z

(HS: Nhắc lại qui tắc chuyển vế trong Z)

GV: Tương tự trong Q ta cũng có qui tắc chuyển vế

(HS: Vận dụng qui tắc chuyển vế và thực hiện bài toán)

x

x

(Theo qui tắc chuyển vế)

.

Như vậy trong buổi phụ đạo học sinh đã nắm được những kiến thức tiền đề của

bài mới. Hiệu quả giờ học chính khóa được nâng lên rõ rệt.

Cụ thể: Trong bài học mới khi đưa ra yêu cầu thực hiện phép tính: – 0,6 + 2,25.

Chỉ với gợi ý nhỏ: Mọi số hữu tỉ đều có thể viết được dưới dạng phân số

với

Trang 5

Trang 6

Đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh yếu kém học tốt môn toán

-----------------------

thể loại đối với các em yếu kém cần nhiều hơn bình thường.

Cụ thể: Khi dạy bài: “Cộng, trừ số hữu tỉ”. Phần bài tập về nhà cho đối tượng

học sinh yếu, kém tôi ra các dạng như sau:

Bài 1: Tính: a)

;

b)

;

c)

c)

;

d)

Bài 2: Tính: a)

Bài 3: Tìm x, biết: a)

x

b

1

b) x  4

2

5

c) x  5  7 ; d)

2

7

1

Đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh yếu kém học tốt môn toán

-----------------------

IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

Quá trình thực hiện nêu trên đối với học sinh khối lớp 7 ở trường mà tôi đang

giảng dạy đã đạt kết quả đáng lưu tâm.

Những năm trước đây khi chưa sử dụng phương pháp mới mỗi lớp có tới 5%

Trang 8

Đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh yếu kém học tốt môn toán

-----------------------

– Tăng cường phối hợp giữa gia đình với nhà trường, giữa giáo viên bộ môn

với giáo viên chủ nhiệm để tạo ra một sức mạnh tổng hợp.

– Phát động các đợt thi đua học tập trong công tác Đội. Tổ chức các câu lạc

bộ giúp nhau học tập….

Với vốn kiến thức của mình còn hạn hẹp, bề dày kinh nghiệm còn khiêm tốn,

nên không tránh khỏi những hạn chế khiếm khuyết. Vậy rất mong hội đồng xét

duyệt góp ý, bổ sung để kinh nghiệm giảng dạy của tôi ngày càng phong phú và

hiệu quả tốt hơn.

Tôi xin chân thành cám ơn !

Bình Minh, ngày 15 tháng 02 năm 2012

Trang 9

Giải Pháp Giúp Học Sinh Yếu Kém Học Tốt Môn Toán

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Học Môn Toán

Một Số Biện Pháp Kèm Cặp Học Sinh Yếu

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Viết Đúng Chính Tả

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Của Gv Giúp Hs Trường Th Xuân Lộc 1 Viết Đúng Chính Tả Skknmt Doc

🌟 Home
🌟 Top