Giảm Nhẹ Biến Đổi Khí Hậu Thông Qua Biện Pháp Xử Lý Co2

--- Bài mới hơn ---

  • Những Biện Pháp Xử Lý Co2 Vừa Giúp Cắt Giảm Khí Thải Vừa Tạo Ra Hàng Nghìn Tỷ Usd
  • Giải Pháp Giảm Phát Thải Khí Nhà Kính Trong Canh Tác Lúa
  • Hà Nội Tăng Cường Giải Pháp Giảm Thiểu Khí Thải Nhà Kính
  • Phát Thải Khí Nhà Kính Trong Nông Nghiệp Và Giải Pháp Giảm Thiểu
  • Tìm Giải Pháp Giảm Phát Thải Khí Nhà Kính
  • Khí CO 2 là thành phần của khí quyển, tồn tại tự nhiên trong bầu khí quyển của Trái đất với nồng độ tương đối khoảng 350 ppm, tham gia vào chu trình carbon tự nhiên đã giúp cho các chu trình vận động của tự nhiên và sự sống trên Trái đất được ổn định. Tuy nhiên, quá trình phát triển của con người làm gia tăng lượng CO 2 phát thải vào bầu khí quyển, dẫn tới thay đổi các chu trình tự nhiên của Trái đất. Thời gian gần đây, hiện tượng được nhắc đến nhiều nhất đó là khí quyển Trái đất đang ấm dần lên, gây biến đổi khí hậu toàn cầu và nguyên nhân được xác định là do nồng độ khí CO 2 gây hiệu ứng nhà kính đã tăng lên đáng kể.

    Nguyên nhân chính gia tăng nồng độ khí CO 2 chủ yếu gồm: Do đốt nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt) đáp ứng nhu cầu năng lượng cho quá trình phát triển của con người; Do mất rừng làm giảm nguồn hấp thụ CO­ 2 nhờ quá trình quang hợp, làm mất cân bằng chu trình các-bon tự nhiên.

    Nguồn phát thải CO­ 2 từ đốt nhiên liệu hóa thạch gồm hai dạng: Nguồn phát thải tập trung: Các cơ sở sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt) cho quá trình năng lượng như các nhà máy nhiệt điện, nhà máy sản xuất thép, xi măng, hóa chất…; Nguồn phát thải phân tán: Từ các hoạt động giao thông, đun nấu tại các hộ gia đình, hoạt động canh tác nông nghiệp…

    Nguồn ảnh: https://www.freepik.com

    Trước yêu cầu về giảm nhẹ biến đổi khí hậu toàn cầu, việc giảm phát thải khí CO­ 2 trên thế giới hiện nay đang tập trung vào 2 nhóm chính và 4 giải pháp cụ thể gồm:

    Nhóm 1: Không phát tán thêm CO 2 vào khí quyển: (1) Giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch bằng các chính sách, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong nền kinh tế. (Chi phí thấp); (2) Giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch thông qua chuyển đổi sang sử dụng các dạng năng lượng tái tạo, năng lượng mới (gió, mặt trời, thủy điện, thủy triều, địa nhiệt, sinh khối, hạt nhân, năng lượng hydrogen…) thay thế các dạng năng lượng hóa thạch truyền thống. ; (3) Thu giữ, sử dụng tuần hoàn, lưu trữ carbon (CCUS) bằng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ từ các nguồn phát thải lớn, tập trung. .

    Nhóm 2: (4) Làm giảm lượng CO­ 2 trong khí quyển xuống mức phù hợp: Tăng cường hấp thụ CO­ 2 và lưu trữ trong các sinh khối rừng trồng và rừng tự nhiên nhờ quá trình quang hợp tự nhiên của thực vật. (Chi phí thấp).

    Như vậy, hầu hết các quốc gia như Việt Nam có xu hướng lựa chọn các giải pháp có chi phí thấp số để thực hiện trước, từng bước triển khai các giải pháp có chi phí cao phù hợp với điều kiện và quy mô của nền kinh tế. Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa ban hành chính sách cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính bắt buộc, chủ yếu đang được lồng ghép trong các chính sách phát triển năng lượng quốc gia như phát triển năng lượng tái tạo và chính sách về sử dụng hiệu quả năng lượng.

    Đối với giải pháp số (3) được áp dụng chủ yếu đối với các nguồn phát thải CO 2 lớn, tập trung như các nhà máy nhiệt điện, hóa chất, xi măng, phân bón,… và được tiếp cận qua các bước gồm thu giữ (Carbon Capture), sử dụng (Utilization), lưu giữ (Storage) hoặc kết hợp sử dụng và lưu giữ carbon gọi chung là CCUS.

    2. Các công nghệ CCUS

    Để thực hiện giải pháp về CCUS đối với các nguồn phát thải CO 2 lớn, tập trung được tiếp cận thông qua giải pháp của từng công đoạn cụ thể.

    Nguồn ảnh: https://www.carbonrecycling.is/

    a) Thu giữ CO­

    Việc thu giữ CO 2 hiện nay đã có công nghệ tích hợp vào hệ thống khí thải các nhà máy nhiệt điện với hiệu suất thu hồi khoảng 85-95%. Các hệ thống này mới chỉ ưu tiên triển khai tại các nhà máy nhiệt điện khí, dầu và than sạch hoặc các nhà máy sản xuất phân đạm (để đảm bảo thành phần khí thải ít tạp chất như bụi).

    b) Vận chuyển CO2

    Việc vận chuyển CO­­ 2 được sử dụng phổ biến hiện nay thông qua hệ thống đường ống dẫn đến các khu vực lưu trữ carbon. Tuy nhiên hầu hết là các hệ thống có quy mô nhỏ. Ngoài ra có thể sử dụng phương pháp nén khí vào các bình áp suất cao và vận chuyển bằng các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy đến các khu vực lưu trữ carbon ở xa nguồn phát thải hoặc các quốc gia khác, tuy nhiên chi phí cho quá trình này là khá cao.

    c) Sử dụng hoặc lưu trữ CO­­2

    Khí CO­­ 2 được xử lý tinh khiết và nén vào các bình áp suất cao có thể vận chuyển và sử dụng cho các ngành khác như công nghiệp thực phẩm, đồ uống có gas, phân bón, hóa chất, nông nghiệp, y học… Khí CO 2 có thể kết hợp với khí hydrogen (H 2) hoặc khí thiên nhiên để sản xuất ra các dạng nhiên liệu khác như CH 3OH, CH 4… hoặc có thể kết hợp với vôi bột (CaO) hoặc dung dịch sữa vôi (Ca(OH) 2) để sản xuất ra CaCO 3 được sử dụng trong các ngành công nghiệp, xây dựng.

    Lượng lớn CO 2 hiện nay thu hồi được chủ yếu tuần hoàn trong quá trình sản xuất phân đạm hoặc bơm trực tiếp xuống các giếng dầu đã khai thác xong hoặc đang khai thác nhằm tăng khả năng khai thác dầu triệt để hơn, đồng thời lượng CO 2 bơm xuống cũng được lữu giữ luôn tại các tầng địa chất, thay thế cho thể tích dầu mỏ đã hút lên.

    Một số giải pháp hấp thụ CO­ 2 cưỡng bức đối với rừng hoặc nền nông nghiệp trong nhà kính cũng đã được áp dụng với chi phí phù hợp. Lượng CO 2 lớn phát thải từ các nguồn tập trung có thể thu hồi, vận chuyển thông qua hệ thống đường ống và cho phát tán vào trong môi trường rừng để tăng cường quá trình quang hợp của thực vật, từ đó lưu trữ được lượng carbon đáng kể trong sinh khối của rừng. Hay trong nông nghiệp và y sinh vật học, việc sục khí CO­ 2 cưỡng bức vào các bể dung môi nhân nuôi tảo, vi tảo cũng là giải pháp góp phần tái sử dụng, lưu trữ các-bon, giảm lượng CO­ 2 phát thải trực tiếp vào khí quyển.

    Ngoài ra, một số giải pháp về lưu trữ CO­ 2 trong các tầng địa chất như vỉa than không thể khai thác, các kho chứa nước mặn sâu, carbonnat hóa khoáng chất, lưu trữ trong đại dương vẫn còn đang nghiên cứu, hoàn thiện, hiện nay mới áp dụng ở một số quốc gia phát triển như các nước vùng vịnh như Saudi Arabiat, Canada với chi phí đầu tư cao và chưa sẵn sàng để thương mại hóa.

    3. Ưu điểm của CCUS

    – CCUS là công nghệ sạch, có thể loại bỏ phát thải CO­ 2 từ các ngành công nghiệp lớn như nhiệt điện, xi măng, luyện gang thép, sản xuất phân bón và hóa dầu.

    – CCUS là một phần của nền kinh tế năng lượng mới trong tương lai khi kết hợp với nguồn năng lượng Hydrogen và năng lượng sinh học để tạo ra nguồn năng lượng carbon trung tính đang là hướng đi được nhiều quốc gia đang triển khai.

    – CCUS sẽ tạo ra việc làm mới và cộng đồng bền vững trong tương lai. Đây là giải pháp có chi phí thấp hơn so với các chi phí thiệt hại về môi trường và sức khỏe do phát thải gây ra và sẽ tiếp tiếp tục giảm khi các thiết bị được thương mại hóa nhiều hơn.

    – CCUS là giải pháp có hiệu quả cao trong việc loại bỏ CO­ 2 từ quá trình sử dụng năng lượng hóa thạch, đặc biệt khi kết hợp với các nguồn năng lượng tái tạo sẽ tạo ra một tương lai không có phát thải carbon, xanh và bền vững.

    – Với gần 50 năm nghiên cứu và phát triển, đến này về cơ bản các công nghệ về CCUS đã đạt được đến trình độ sẵn sàng có thể thương mại hóa cao.

    4. Thách thức đối với CCUS

    Bên cạnh các ưu điểm của CCUS nêu trên, với đặc tính và yêu cầu của các quá trình phân tách, vận chuyển, phân phối sử dụng và lưu trữ vẫn còn một số thách thức làm cho công nghệ này mới chỉ được phát triển ở các quốc gia phát triển, các thách thức gồm:

    – Thách thức đầu tiên không phải đến từ bản thân công nghệ CCUS mà là chính sách và thực tế phương pháp tính toán xác định thiệt hại về môi trường và chi phí về sức khỏe khi phát thải CO 2 vào môi trường vẫn còn nhiều tranh cãi dẫn đến vẫn chưa phải chịu trách nhiệm đầy đủ cho các chi phí này (chưa bị tính thuế hay phí), do đó không tạo được động lực phải xử lý CO­ 2 của các doanh nghiệp. Cũng từ nguyên nhân này mà việc so sánh với chi phí đầu tư cho công nghệ CCUS vẫn làm hấp dẫn các nhà đầu tư.

    – Trong CCUS nếu được triển khai tại các vị trí xa nguồn sử dụng, lưu trữ CO 2 sẽ phát sinh thêm chi phí đầu tư vào công nghệ cho việc lưu trữ và vận chuyển đến nơi lưu trữ, điều này cũng làm cho giá thành của công nghệ này tăng lên, đặc biệt trong điều kiện các nhà máy nhiệt điện, sản xuất gang thép, xi măng, phân bón, hóa dầu… nằm phân tán, cách xa nhau và cách xa khu vực lưu trữ, sử dụng.

    5. Tình hình thực hiện CCUS tại một số quốc gia

    – Với mục tiêu phát triển thành cộng đồng tuần hoàn bền vững, Nhật Bản đã có Chiến lược đổi mới vì cộng đồng bền vững tuần hoàn, theo đó, Cơ quan phát triển công nghệ và năng lượng mới (NEDO) giữ vai trò dẫn dắt triển khai nhiều dự án thực hiện các giải pháp về tuần hoàn và tái sử dụng carbon trong nền kinh tế, các nghiên cứu điển hình gồm:

    (1) Dự án quang hợp nhân tạo được thực hiện bởi chất xúc tác đặc biệt có thể sử dụng năng lượng từ ánh sáng mặt trời để phân tách nước H 2O thành khí H 2 và khí O 2, khí H 2 được phân tách sẽ được kết hợp với CO 2 thu được từ các nhà máy nhiệt điện, công nghiệp để tổng hợp thành các hợp chất hydrocacbon mạch ngắn (C 2 ~ C 4) gọi là Olefins và được dùng làm nguyên liệu để sản xuất nhựa và các sản phẩm khác. Dự án đang tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện và phát triển thương mại hóa.

    (2) Dự án phân tách và thu giữ CO­2 từ các nhà máy nhiệt điện đang được triển khai với mục tiêu nghiên cứu và áp dụng các phương pháp tách CO­ 2 từ khói thải của các nhà máy nhiệt điện nhằm giảm chi phí của việc thu giữ CO­ 2 từ 4.200 ¥ / Tấn CO­ 2 năm 2022 xuống còn 2.000 ¥ vào năm 2022 và khoảng 1.000 ¥ vào năm 2030.

    (3) Dự án Mê-tan hóa quay vòng CO2 thành nhiên liệu được khởi động từ năm 2022. Với giải pháp kết hợp nguồn khí H­ 2 tái tạo và CO 2 thu giữ được từ các nhà máy nhiệt điện tạo thành các loại nhiêu nhiệu như Metal, Metanol (được coi là nguồn năng lượng carbon trung tính) sẽ được cung cấp cho các nhu cầu sử dụng trong sinh hoạt như đun nấu, sưởi ấm và cả công nghiệp hoặc quay trở lại tiếp tục sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện. Khí H 2 tái tạo được sản xuất thông qua quá trình điện phân nước sử dụng năng lượng từ các nguồn tái tạo như gió, mặt trời, thủy điện, thủy triều… Mục tiêu của dự án sẽ thương mại hóa được vào năm 2030.

    (4) Dự án lưu trữ trong các kho chứa nước mặn sâu bên dưới đáy biển với độ sâu từ 3-4 km (hơn 1 km dưới đáy biển), Nhật Bản đã có 1 dự án trình diễn được triển khai thành công do Công ty CCS Nhật Bản bắt đầu thực hiện từ năm 2012, việc bơm, giữ CO­ 2 trong các tầng địa chất được thực hiện từ năm 2022 đến năm 2022 và đã lưu giữ khoảng 1.000 ngàn tấn CO 2 mỗi năm. Nguồn CO 2 được thu giữ từ nhà máy sản xuất khí H 2 có nguồn gốc dầu mỏ tại Tomakomai, Nhật Bản.

    – Từ năm 2003 đến nay, Trung Quốc cũng đã có trên 20 dự án triển khai CCUS và gần đây nhất Dự án lưu giữ CO 2 trong giếng giầu tại Cát Lâm ở quy mô lớn (đứng thứ 18 về quy mô trên toàn cầu) đã được triển khai.

    – Tại Hoa Kỳ, với các chính sách về tài chính carbon đã được áp dụng, các dự án về CCUS đã được triển khai khá phổ biến. Hoa Kỳ là nước sở hữu số lượng các dự án về CCUS lớn nhất thế giới, đến năm 2022 đã lưu giữ được trên 150 triệu tấn CO 2 và hiện nay có thể thu giữ được khoảng 25 triệu tấn mỗi năm, tương đương với lượng phát thải của 5,4 triệu xe hơi trong vòng một năm. Hiện Hoa Kỳ đang 18 dự án CCUS quy mô lớn trên toàn Thế giới, trong đó có 10 dự án đặt tại quốc gia này.

    – Ngoài ra các cuốc gia như Vương quốc Anh, Hà Lan, Na Uy, Úc,… cũng đã triển khai các dự án CCUS đạt hiệu quả và đang tiếp tục xác định lựa chọn đây sẽ là giải pháp cho các giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu và phát triển ngành năng lượng không phát thải carbon, xanh và bền vững trong chính sách của quốc gia.

    – Ở Việt Nam từ năm 2010 đã có Nhà máy sản xuất phân đạm Phú Mỹ đã lắp đặt thiết bị thu hồi CO­­ 2 từ quá trình đốt và tái sử dụng với lượng NH 3 dư của nhà máy để sản xuất thành phân urê. Tuy nhiên, sau 5 năm vận hành thì hiệu quả kinh tế đem lại không được đảm bảo do các yếu tố về thị trường, giá nhiên liệu và đã phải dừng hoạt động.

    6. Kết luận

    Như vậy, với mục tiêu xử lý khí CO 2 thải nhằm bảo vệ môi trường và hệ thống khí hậu của Trái đất thì CCUS là một trong những giải pháp đang được ưu tiên áp dụng trên thế giới. Đặc biệt với mục tiêu chống biến đổi khí hậu toàn cầu là giữ cho nhiệt độ Trái đất tăng không quá 2,0 OC vào cuối thế kỷ này và có thể đạt mức 1,5 OC với sự nỗ lực nhiều hơn từ cộng đồng quốc tế, theo đó trong báo cáo gần đây nhất của Ban Thư ký Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2022 đã đưa ra tính toán về các mục tiêu trên chỉ có thể đạt được khi thế giới phải cắt giảm 45% mức phát thải CO 2 của năm 2010 vào năm 2030 và đạt mức phát thải bằng không “Net Zero” vào năm 2050 thì việc áp dụng công nghệ CCUS sẽ là một tất yếu để loại bỏ triệt để phát thải CO 2 vào khí quyển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Biến Khí Thải Co2 Thành Nhựa
  • Giải Pháp Nào Giảm Kẹt Xe Cho Tân Sơn Nhất?
  • ​giải Pháp Giảm Kẹt Xe Cho Cửa Ngõ Phía Nam
  • Loay Hoay Giải Pháp Giảm Kẹt Xe
  • Đề Xuất Giải Pháp Chống Kẹt Xe Và Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Co2, Lưu Trữ Co2,thu Hồi Co2

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Sao Lưu Và Bảo Vệ Dữ Liệu
  • Giải Pháp Sao Lưu Và Phục Hồi Dữ Liệu
  • Sao Lưu Và Lưu Trữ Có Phải Là Một?
  • Làm Thất Bại Chiến Lược “diễn Biến Hòa Bình”: Đập Tan Chiêu Trò Bịa Đặt Về Nhân Sự Đại Hội Đảng
  • Làm Thất Bại Chiến Lược “diễn Biến Hòa Bình” Phòng Ngừa Các Chiêu Trò Lợi Dụng Hoạt Động Âm Nhạc Để Xuyên Tạc, Chống Phá Đất Nước
  • Ở nhiều quốc gia trên thế giới, các nhà máy điện quy mô lớn là “ứng viên” phù hợp nhất cho công nghệ thu giữ, tách lọc, lưu trữ hoặc tái sử dụng CO2 vì đó là nguồn phát thải khí CO2 lớn nhất bên cạnh các cơ sở công nghiệp khác như nhà máy sản xuất xi-măng, chưng cất cồn, sản xuất hydro…

    Quy trình CCS hoàn chỉnh bao gồm bốn bước cơ bản: 1/ thu CO2 từ nhà máy điện hoặc các nguồn tập trung khác; 2/ vận chuyển CO2 đến địa điểm lưu giữ thích hợp; 3/ bơm CO2 vào các kho chứa ngầm; 4/ giám sát quá trình bơm khí CO2 và đảm bảo CO2 được cô lập hoàn toàn.

    Trong khi về mặt kỹ thuật, tính khả thi của CCS trong các tầng địa chất đã được chứng minh trong nhiều ứng dụng khác, công nghệ này lại gần như không được ngó ngàng tới cho đến khi các quy định về cắt giảm khí thải được ban hành nhằm giảm thải lượng CO2 vào khí quyển. Mặc dù các nghiên cứu cho thấy độ rủi ro của phương pháp này là không đáng kể thì khả năng phổ biến rộng rãi các công nghệ CCS vẫn có thể bị giới hạn vì chính sự mới mẻ của nó và vì thiếu sự kết nối toàn diện của công nghệ.

    Thu khí CO2

    Bước đầu tiên của quá trình CCS là thu hồi CO2 tại nguồn sinh khí và nén lại để vận chuyển và lưu trữ. Hiện tại, có ba phương pháp chính được ứng dụng để thu hồi CO2 từ các cơ sở công nghiệp lớn hoặc từ các nhà máy điện: 1/ thu khí sau khi đốt, 2/ thu khí trước khi đốt và 3/ thu khí nhờ đốt than bằng oxy tinh khiết.

    Ở các nhà máy điện, các hệ thống thu hồi CO2 thương mại hiện tại có thể vận hành với hiệu suất 85 – 95%. Các kỹ thuật thu giữ CO2 vẫn chưa được ứng dụng cho các nhà máy có công suất lớn hơn 500 MW.

    Thu khí sau khi đốt

    Đây là quá trình tách khí CO2 từ ống khói sau khi đốt các nhiên liệu hóa thạch hoặc sinh khối.

    Hiện có rất nhiều công nghệ thương mại có thể thực hiện bước này, trong đó một số sử dụng các dung môi hóa học có khả năng thu giữ một lượng lớn CO2 từ các ống khói.

    Quá trình thu hồi khí CO2 sau khi đốt. (Nguồn: Trung tâm Thu hồi và Lưu giữ carbon Scotland.)

    Thu khí trước khi đốt

    Quá trình này tách CO2 từ nhiên liệu bằng cách kết hợp nó với khí hoặc hơi nước để đốt cháy và lưu giữ luồng CO2 đã được tách ra.

    Hiện nay người ta thường dùng công nghệ cải hóa khí tự nhiên bằng hơi nước, trong đó hơi nước được sử dụng để tách hydro từ khí tự nhiên.

    Tuy nhiên, nếu không có quy định ràng buộc về pháp lý hoặc hỗ trợ về tài chính thì các nhà máy sẽ không áp dụng các biện pháp thu hồi CO2 trước khi đốt trong hệ thống năng lượng của mình.

    Quá trình thu hồi khí CO2 trước khi đốt. (Nguồn: Trung tâm Thu hồi và Lưu giữ carbon Scotland.)

    Một số ý kiến cho rằng tách khí CO2 trước khi đốt là yêu cầu kỹ thuật cần thiết cho quá trình chuyển hóa than thành nhiên liệu lỏng nhờ các phản ứng hóa học. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ, bản thân quá trình chuyển hóa than đá thành nhiên liệu lỏng cũng thải CO2, và các sản phẩm nhiên liệu lỏng khi cháy cũng là nguồn sinh khí CO2.

    Kỹ thuật thu hồi khí trước khi đốt ứng dụng trong công nghệ sản xuất nhiên liệu lỏng từ than đá sẽ làm giảm tổng lượng CO2 thải ra, mặc dù sau đó chất khí này vẫn là sản phẩm tất yếu khi các loại nhiên liệu lỏng được tiêu thụ trong vận tải hoặc phát điện.

    Thu khí nhờ đốt nhiên liệu bằng oxy

    Ở quá trình này, oxy sẽ được dùng làm khí đốt để thải ra một hỗn hợp khí với thành phần chủ yếu là CO2 và nước dễ dàng phân tách, sau đó CO2 có thể được nén, vận chuyển và lưu trữ.

    Kỹ thuật này hiện vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, một phần là vì nhiệt độ cháy của oxy tinh khiết (khoảng 3.500oC) là quá cao đối với nhiên liệu của các nhà máy phát điện thông thường.

    Quá trình thu hồi khí CO2 khi đốt oxy. (Nguồn: Trung tâm Thu hồi và Lưu giữ carbon Scotland.) Vận chuyển CO2

    Một số giải pháp vận chuyển CO2 đã được vận dụng trong thực tế, tuy nhiên, hầu hết mới chỉ được áp dụng ở quy mô nhỏ.

    Dùng đường ống là phương pháp vận chuyển khí CO2 phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Hiện nay, có hơn 5.800 km đường ống vận chuyển khí CO2 ở nước này, chủ yếu để phục vụ các khu khai thác dầu khí.

    Tương tự như vận chuyển sản phẩm dầu mỏ và khí thiên nhiên, đường ống vận chuyển khí CO2 đòi hỏi chú trọng đến thiết kế, giám sát rò rỉ và bảo vệ đường ống khỏi áp lực cao, đặc biệt đối với đoạn ống đi qua khu dân cư.

    Tàu biển có thể được dùng để vận chuyển CO2 ở khoảng cách xa hay sang nước khác. Trên thế giới, các loại chất đốt hoá lỏng tự nhiên, propan và butan thường được vận chuyển bằng tàu biển tải trọng lớn.

    Các loại phương tiện vận tải đường bộ cũng có thể sử dụng để vận chuyển khí CO2 nhưng phương án này không kinh tế nếu triển khai hoạt động CCS trên quy mô lớn.

    Chi phí cho vận chuyển bằng đường ống dao động tùy thuộc vào giá thành xây dựng, phí vận hành, bảo trì, quản lý và các khoản phí khác. Đối với loại hình vận chuyển này, lưu lượng và khoảng cách vận chuyển là những yếu tố chủ yếu để xác định chi phí. Ngoài ra còn phải tính đến vị trí địa lý của đường ống (ở trên bờ hay ngoài khơi) và mức độ tắc nghẽn lưu thông dọc tuyến đường vận chuyển (có gặp núi, sông lớn và có đi qua vùng băng tuyết bao phủ hay không).

    Chi phí vận chuyển hàng hải hiện mới chỉ được ước tính vì trên thực tế vẫn chưa có hệ thống vận tải khí CO2 quy mô lớn (cỡ hàng triệu tấn CO2/năm) nào hoạt động. Đối với những khoảng cách xa hơn 1.000km và lưu lượng nhỏ hơn vài triệu tấn CO2/năm thì chi phí vận chuyển hàng hải có thể thấp hơn vận chuyển bằng đường ống.

    Hóa học ngày nay (Theo Eoearth.org)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quá Trình Biến Bột Mì Thành Các Khoang Vi Xốp Lưu Giữ Co2
  • Công Nghệ Thu Hồi Và Lưu Giữ Co2 (Kỳ I)
  • Công Nghệ Thu Hồi Và Lưu Giữ Co2 (Tiếp)
  • Giải Pháp Công Nghệ Thu Giữ Và Lưu Trữ Carbon Dioxide
  • Luận Văn: Phát Triển Dịch Vụ Logistics Cho Các Doanh Nghiệp Vận Tải
  • Làm Thế Nào Để Giảm Lượng Khí Thải Co2 Từ Xe Hơi

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tìm Hiểu Biện Pháp Giảm Thiếu Khí Thải Trong Gtvt Và Luyện Kim
  • Phát Triển Năng Lượng Sạch: Nước Lớn Cũng Khó Khăn
  • Phương Pháp Đột Phá Giúp Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm
  • Phương Pháp Mới Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
  • 1

    Điều đầu tiên chúng ta có thể làm là thay đổi luật để những chiếc xe đó thải ra nhiều CO2 hơn mức được chấp nhận nên được bán và loại bỏ. Chính phủ đã thực hiện các bước theo hướng này nhưng có lẽ chúng ta nên đi nhanh hơn.

    2

    Mua xe ECO. Loại phương tiện này là loại phát triển tốt hơn và hiệu quả hơn động cơ của bạn và do đó, loại phát ra ít CO2 hơn, không có nghi ngờ gì về bạn

    3

    Chức năng của chất xúc tác là rất quan trọng để giảm CO2, vì thực tế nó là một loại “bộ lọc” giữa quá trình đốt trong của xe (hỗn hợp diesel và không khí) và khí thoát ra qua ống xả. Chúng ta phải biết rằng chất xúc tác, giống như các thành phần còn lại, suy giảm theo thời gian và làm xấu đi chức năng của nó, do đó hiệu quả của nó bị mất theo thời gian và km, đến mức một trăm ngàn km gần hết cuộc đời hữu ích của nó và nó phải được thay thế.

    4

    Một yếu tố quan trọng khác để giảm lượng khí thải CO2 là trọng lượng của xe . Lượng khí thải CO2 của một chiếc xe tải lớn hơn so với du lịch thông thường do nhu cầu năng lượng lớn hơn để di chuyển và trọng lượng lớn hơn, tiêu thụ nhiên liệu cao hơn và lượng khí thải cao hơn.

    5

    Tốc độ là một yếu tố quan trọng khác trong việc giảm lượng khí thải CO2 . Khi vượt qua rào cản 120 km, CO2 được phát ra theo cấp số nhân và tỷ lệ cao hơn so với tốc độ vừa phải. Do đó, những người không thích tốc độ hoặc chạy khi lái xe, đã biết rằng theo cách ít nhiều vô thức, họ đang góp phần làm giảm C02 được phát ra trong khí quyển.

    6

    Các nhà sản xuất xe lớn đã dành nhiều năm để đổi mới và nghiên cứu các sản phẩm mới và thay thế cho các dẫn xuất dầu mỏ, cũng như các chương trình môi trường cố gắng củng cố cam kết di động thân thiện với môi trường nhất có thể mà không làm giảm hiệu suất và hiệu suất mà Ngày nay họ có xe. Các biện pháp đơn giản như thay thế đội xe tải vận chuyển phụ tùng của họ từ nhà máy này sang nhà máy khác bằng phương tiện vận chuyển nhanh hơn và hiệu quả hơn như tàu hỏa (giả sử trung bình ít hơn 50.000 chuyến xe hạng nặng trên đường Tây Ban Nha), với sự phát triển của các mẫu xe hybrid hoặc xe điện, loại sau này có lượng khí thải CO2 bằng 0 và dự kiến ​​sẽ được thương mại hóa trong ba năm tới hoặc lắp đặt các tấm quang điện trong các nhà máy sản xuất của họ.

    7

    Một yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình đốt cháy là nhiệt độ môi trường xung quanh và của chính động cơ. Khi động cơ lạnh hoặc rất lạnh, lượng khí thải carbon dioxide sẽ cao hơn. Bây giờ chúng tôi biết điều này, sẽ không hại gì khi chọn phương tiện giao thông công cộng vào mùa đông, miễn là nó nằm trong khả năng của chúng tôi và trong khả năng của chúng tôi để thay thế một phương tiện giao thông khác.

    Mẹo

      Mặt khác, chúng ta đã có thể tìm thấy các công ty bảo hiểm bắt đầu thưởng cho những người lái xe thể hiện thói quen lái xe tốt hoặc những người đã mua những chiếc xe gây ô nhiễm thấp với các chính sách mang lại lợi thế và giảm giá trong vấn đề đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Quốc Giải Quyết Vấn Nạn Kẹt Xe Bằng Xe Buýt 3 Chiều
  • Tp.hcm: Nhà Cao Tầng Ở Trung Tâm Và Bài Toán Kẹt Xe
  • Nêu Tác Hại Và Biện Pháp Hạn Chế Việc Hút Thuốc Lá
  • Hút Thuốc Lá Môi Thâm
  • Ho Do Hút Thuốc Lá: Biện Pháp Khắc Phục Và Mọi Thứ Bạn Nên Biết
  • Phương Pháp Mới Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
  • Khả Thi Với Mục Tiêu Lạm Phát Năm 2022 Khoảng Mức 4%
  • Luận Văn Tiểu Luận Thực Trạng Và Một Số Biện Pháp Hạn Chế Lạm Phát Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Luận Văn Đề Án Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Giai Đoạn 1989 Đến Nay Và Các Biện Pháp Khắc Phục
  • Một Số Biện Pháp Để Giảm Tỷ Lệ Trẻ Suy Dinh Dưỡng Ở Các Lớp Bán Trú
  • Thu lượng khí thải CO2 tại các nhà máy điện là cách thức đầy hứa hẹn để giảm lượng khí phát thải này ra ngoài môi trường, qua đó góp phần vào cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu.

    Theo tài liệu này, các nhà nghiên cứu đã phát triển thành công một thiết bị lọc khí CO2 thế hệ mới có khả năng tách lọc khí phát thải và chuyển hóa chúng thành hợp chất oxalic acid, một loại hóa chất tự nhiên có trong một số loại thực phẩm.

    Điểm nổi bật là oxalic acid có thể được sử dụng để lọc các phân tử đất hiếm từ quặng – vốn là thành phần đặc biệt quý hiếm được sử dụng trong sản xuất thiết bị điện tử như điện thoại di động….

    Trong nghiên cứu, các nhà khoa học của Đại học Công nghệ Michigan đã lắp đặt thiết bị lọc khí CO2 ở phần bên trên của bộ phận thải khí tại một cơ sở thử nghiệm chạy bằng năng lượng hơi nước và bơm dung dịch muối soda (natri carbonate) vào phần trên cùng của tháp lọc khí này.

    Khí thải theo đường ống thoát lên trên sẽ tiếp xúc với dung dịch muối soda và qua quá trình lọc, phần lớn khí CO2 sẽ được lọc lại trước khi khí thải thoát ra môi trường.

    Sau đó, trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học có thể sản xuất oxalic acid từ khí CO2 thu nạp lại này.

    Người đứng đầu nghiên cứu S. Komar Kawatra cho biết sau khi đi qua hệ thống lọc khí, lượng CO2 trong khí phát thải đã giảm xuống còn 4% và các chuyên gia đặt mục tiêu giảm chỉ số này xuống dưới 2%.

    Theo nhóm nghiên cứu, công nghệ lọc này không hề tốn kém. Loại muối soda mà nhóm của ông Kawatra sử dụng có giá khoảng 200 USD/ tấn, rẻ hơn 100 lần so với phương pháp loại bỏ CO2 bằng chất amine như hiện nay.

    Các chuyên gia Đại học Công nghệ Michigan cho biết với công nghệ này, các nhà sản xuất thiết bị điện tử tại Mỹ có thể dễ dàng có được vật liệu đất hiếm sản xuất trong nước, thay thế cho việc phải nhập khẩu khá đắt đỏ và có thể hướng tới xuất khẩu trong tương lai.

    Hiện Trung Quốc sản xuất tối thiểu 90% lượng đất hiếm trên toàn thế giới.

    * Mời quý độc giả theo dõi các chương trình đã phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam trên TV Online!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Đột Phá Giúp Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm
  • Phát Triển Năng Lượng Sạch: Nước Lớn Cũng Khó Khăn
  • Bài Tìm Hiểu Biện Pháp Giảm Thiếu Khí Thải Trong Gtvt Và Luyện Kim
  • Làm Thế Nào Để Giảm Lượng Khí Thải Co2 Từ Xe Hơi
  • Trung Quốc Giải Quyết Vấn Nạn Kẹt Xe Bằng Xe Buýt 3 Chiều
  • Những Biện Pháp Xử Lý Co2 Vừa Giúp Cắt Giảm Khí Thải Vừa Tạo Ra Hàng Nghìn Tỷ Usd

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Giảm Phát Thải Khí Nhà Kính Trong Canh Tác Lúa
  • Hà Nội Tăng Cường Giải Pháp Giảm Thiểu Khí Thải Nhà Kính
  • Phát Thải Khí Nhà Kính Trong Nông Nghiệp Và Giải Pháp Giảm Thiểu
  • Tìm Giải Pháp Giảm Phát Thải Khí Nhà Kính
  • Đánh Giá Hiện Trạng Phát Thải Khí Nhà Kính Trong Lĩnh Vực Sử Dụng Môi Chất Lạnh Ở Tp Hcm Và Đề Xuất Giải Pháp Giảm Thiểu
  • Carbon dioxide (CO2) là một chất gây ô nhiễm đang làm nóng bầu khí quyển.

    Tuy nhiên, ít người biết rằng nó cũng là một nguyên liệu hữu ích, đầu vào cho một loạt các quy trình công nghiệp từ nhựa đến bê tông. Trong xây dựng cơ bản, CO2 là một mặt hàng có giá trị.

    Vật liệu làm bê tông xây dựng

    Bê tông là hỗn hợp gồm 3 thành phần là hỗn hợp xi măng, nước và cốt liệu (thô như đá, sỏi, vật liệu tổng hợp… hoặc mịn như cát, đá mạt, đá xay…). Xi măng là một loại bột mịn, khi được kích hoạt bởi nước, liên kết các cốt liệu thành một hỗn hợp cứng. Và CO2, “vô tình” lại có thể tham gia vào cả ba thành phần này.

    Đầu tiên, cốt liệu có thể được tạo ra bằng cách chuyển CO2 từ dạng khí thành cacbonat khoáng rắn như canxi cacbonat (CaCO3), trong một quá trình được gọi là khoáng hóa CO2.

    Thứ hai, CO2 có thể được thay thế cho nước trong bê tông trong quá trình trộn, bởi có thể cùng dẫn đến sự khoáng hóa. Và hóa ra điều này thực sự có thể làm cho bê tông mạnh hơn, ngoài việc tiết kiệm rất nhiều nước.

    Ít nhất về lý thuyết, chúng ta có thể tưởng tượng lượng khí thải CO2 tinh khiết từ quy trình sản xuất xi măng được thu giữ và sau đó được bơm lại vào quy trình này, khi xi măng được trộn với cốt liệu gốc CO2. Cứ như vậy, vòng xoáy này sẽ không chỉ giảm lượng khí thải mà còn lưu trữ carbon (trong CO2) bán vĩnh viễn.

    Và nếu được thiết lập và đưa vào vận hành trong thực tế, với một mức giá phù hợp để tạo ra quy mô lớn, chúng có khả năng dẫn đến sự cô lập carbon trên quy mô hàng tỷ tấn.

    Nhiên liệu lỏng

    Nói một cách đơn giản là chiết xuất CO2 từ không khí, đưa nó qua các quá trình hóa học và tạo ra nhiên liệu hydrocarbon lỏng. Hydrocarbon là các hợp chất hữu cơ chỉ bao gồm hydro và carbon. Dầu và xăng là ví dụ của nhiên liệu hydrocarbon lỏng.

    Nhưng nếu CO2 đến từ các mỏ dưới lòng đất, thì điện đến từ nhiên liệu hóa thạch và hydro đến từ quá trình phân giải hơi nước (cách tạo ra khoảng 95% hydro hiện nay) thì quá trình này lại sản sinh ra nhiều CO2 hơn lượng xử lý được.

    Vì vậy, giải pháp là lấy CO2 từ không khí, điện từ năng lượng tái tạo và hydro đến từ điện phân năng lượng mặt trời (kéo hydro trực tiếp ra khỏi nước), thì quá trình này tạo ra rất ít CO2.

    Các nhà máy tái chế CO2 trích xuất CO2 từ không khí bằng cách sử dụng một tổ hợp cánh quạt khổng lồ, rồi kết hợp CO2 với hydrogen lỏng được tách ra từ nước.

    Tiếp theo, quá trình kết hợp CO2 với hydro sẽ sinh ra các nhiên liệu lỏng carbon trung tính như xăng hoặc diesel. Điều này có nghĩa là người dùng không phải sửa đổi động cơ xe hiện tại để sử dụng loại xăng tổng hợp này.

    Tuy nhiên, giải pháp này vẫn đang trong quá trình thử nghiệm bởi chi phí năng lượng vẫn còn quá cao, không thể áp dụng trong quy mô lớn của toàn ngành công nghiệp. Chìa khóa trong đó là tạo ra được nguồn hydro giá rẻ.

    Theo ước tính, để đạt được một nền kinh tế phát thải CO2 bằng 0, sẽ cần tăng sản xuất hydro toàn cầu từ 60 megatons mỗi năm hiện nay lên đến khoảng 425-650 megatons vào giữa thế kỷ 21.

    Hóa chất và nhựa

    Sử dụng các chất xúc tác khác nhau, CO2 có thể tạo thành nhiều chất trung gian hóa học, đóng vai trò là nguyên liệu trong các quy trình công nghiệp khác như metanol, syngas và axit formic.

    CO2 cũng có thể được biến đổi bởi các chất xúc tác thành polyme, tiền chất của nhựa, chất kết dính và dược phẩm. Cho đến nay, các polyme có nguồn gốc CO2 khá đắt tiền, nhưng nhựa là một thị trường tiềm năng bởi áp lực từ phía nhiên liệu hóa thạch lỏng đang tăng lên. Và chúng có tuổi thọ từ nhiều thập kỷ đến nhiều thế kỷ, vì vậy đây là cơ hội cho CO2.

    Hiện tại, chỉ có một vài ứng dụng hóa học của CO2 được thương mại hóa ở quy mô lớn, bao gồm sản xuất thành phẩm của urê và polycarbonate polyols.

    Tảo

    CO2 có thể được sử dụng để đẩy nhanh sự phát triển của tảo, đẩy nhanh quá trình hấp thụ của nó hơn bất kỳ nguồn sinh khối nào khác. Và tảo có rất nhiều tác dụng. Chúng có thể dùng làm nguyên liệu cho thực phẩm, nhiên liệu sinh học, nhựa và thậm chí là sợi carbon.

    Vật liệu tương lai

    CO2 có thể được chế tạo thành các vật liệu hiệu suất cao – vật liệu tổng hợp carbon, sợi carbon, graphene – có thể thay thế được cho toàn bộ các loại vật liệu, từ kim loại đến bê tông.

    Chẳng hạn, nhóm nghiên cứu tại C2CNT đang sử dụng phương pháp điện phân nóng chảy, để biến CO2 trực tiếp thành ống nano carbon, mạnh hơn thép và có tính dẫn điện cao. Chúng đã được sử dụng trong các ứng dụng cao cấp như máy bay phản lực và một số xe thể thao.

    Và khi chúng trở nên rẻ hơn, gần như có một thị trường vô tận cho dòng sản phẩm này. Đơn giản nhất chính là việc dùng ống nano carbon thay cho đồng trong hệ thống dây điện, giúp chúng nhẹ hơn và dẫn điện tốt hơn.

    Tiếp đó là thay thế thép, kim loại được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới, chịu trách nhiệm cho khoảng 7 đến 9% lượng khí thải CO2 toàn cầu từ nhiên liệu hóa thạch.

    Nếu vật liệu dựa trên carbon có thể được thay thế cho thép trong thực tế, điều đó có nghĩa là giảm đi hàng tỷ tấn khí thải, chưa kể đến việc cô lập carbon vĩnh viễn một cách hiệu quả. Tất nhiên, việc nghiên cứu vật liệu này vẫn đang ở giai đoạn đầu và cần nhiều thời gian và giải pháp để đưa nó vào thực tế.

    Tương lai và thách thức của CCU

    Khi so sánh các công nghệ CCU về chi phí và tiềm năng, các nhà nghiên cứu nhận định con đường theo hướng hóa học (polyol, urê và metanol) khá cạnh tranh về chi phí, mặc dù tiềm năng sử dụng CO2 của chúng là tương đối nhỏ.

    Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng nhiên liệu và cốt liệu đã phần nào cho thấy tiềm năng to lớn của mình. Các ước tính cho thấy tổng doanh thu hàng năm của các thị trường kết hợp có thể đạt từ 800 tỷ đến 1,1 nghìn tỷ USD vào năm 2030.

    Và cho dù con đường này có khó khăn tới đâu, thì các công nghệ CCU với khả năng phát triển thành một lĩnh vực kinh doanh trị giá 1 nghìn tỷ USD đồng thời giúp cắt giảm 10% lượng khí thải toàn cầu, đều đáng để chúng ta đầu tư và phát triển một cách nghiêm túc.

    theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảm Nhẹ Biến Đổi Khí Hậu Thông Qua Biện Pháp Xử Lý Co2
  • Giải Pháp Biến Khí Thải Co2 Thành Nhựa
  • Giải Pháp Nào Giảm Kẹt Xe Cho Tân Sơn Nhất?
  • ​giải Pháp Giảm Kẹt Xe Cho Cửa Ngõ Phía Nam
  • Loay Hoay Giải Pháp Giảm Kẹt Xe
  • Phương Pháp Đột Phá Giúp Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Mới Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
  • Khả Thi Với Mục Tiêu Lạm Phát Năm 2022 Khoảng Mức 4%
  • Luận Văn Tiểu Luận Thực Trạng Và Một Số Biện Pháp Hạn Chế Lạm Phát Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Luận Văn Đề Án Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Giai Đoạn 1989 Đến Nay Và Các Biện Pháp Khắc Phục
  • Theo tài liệu này, các nhà nghiên cứu đã phát triển thành công một thiết bị lọc khí CO2 thế hệ mới có khả năng tách lọc khí phát thải và chuyển hóa chúng thành hợp chất oxalic acid, một loại hóa chất tự nhiên có trong một số loại thực phẩm.

    Điểm nổi bật là oxalic acid có thể được sử dụng để lọc các phân tử đất hiếm từ quặng – vốn là thành phần đặc biệt quý hiếm được sử dụng trong sản xuất thiết bị điện tử như điện thoại di động….

    Trong nghiên cứu, các nhà khoa học của Đại học Công nghệ Michigan đã lắp đặt thiết bị lọc khí CO2 ở phần bên trên của bộ phận thải khí tại một cơ sở thử nghiệm chạy bằng năng lượng hơi nước và bơm dung dịch muối soda (natri carbonate) vào phần trên cùng của tháp lọc khí này.

    Khí thải theo đường ống thoát lên trên sẽ tiếp xúc với dung dịch muối soda và qua quá trình lọc, phần lớn khí CO2 sẽ được lọc lại trước khi khí thải thoát ra môi trường.

    Sau đó, trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học có thể sản xuất oxalic acid từ khí CO2 thu nạp lại này.

    Người đứng đầu nghiên cứu S. Komar Kawatra cho biết sau khi đi qua hệ thống lọc khí, lượng CO2 trong khí phát thải đã giảm xuống còn 4% và các chuyên gia đặt mục tiêu giảm chỉ số này xuống dưới 2%.

    Theo nhóm nghiên cứu, công nghệ lọc này không hề tốn kém. Loại muối soda mà nhóm của ông Kawatra sử dụng có giá khoảng 200 USD/ tấn, rẻ hơn 100 lần so với phương pháp loại bỏ CO2 bằng chất amine như hiện nay.

    Các chuyên gia Đại học Công nghệ Michigan cho biết với công nghệ này, các nhà sản xuất thiết bị điện tử tại Mỹ có thể dễ dàng có được vật liệu đất hiếm sản xuất trong nước, thay thế cho việc phải nhập khẩu khá đắt đỏ và có thể hướng tới xuất khẩu trong tương lai.

    Hiện Trung Quốc sản xuất tối thiểu 90% lượng đất hiếm trên toàn thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Năng Lượng Sạch: Nước Lớn Cũng Khó Khăn
  • Bài Tìm Hiểu Biện Pháp Giảm Thiếu Khí Thải Trong Gtvt Và Luyện Kim
  • Làm Thế Nào Để Giảm Lượng Khí Thải Co2 Từ Xe Hơi
  • Trung Quốc Giải Quyết Vấn Nạn Kẹt Xe Bằng Xe Buýt 3 Chiều
  • Tp.hcm: Nhà Cao Tầng Ở Trung Tâm Và Bài Toán Kẹt Xe
  • Thu Giữ Và Lưu Trữ Co2 Góp Phần Giảm Khí Thải Nhà Kính

    --- Bài mới hơn ---

  • Trang Điện Tử Vụ Khoa Học Và Công Nghệ
  • Công Nghệ Thu Hồi Co2
  • Phương Án Thu Hồi Và Lưu Trữ Carbon (Ccs)
  • Sử Dụng Và Lưu Trữ Cacbonic Để Giảm Nhẹ Biến Đổi Khí Hậu
  • Làm Thất Bại Chiến Lược “Diễn Biến Hòa Bình”: Tăng Cường Công Tác Phòng, Chống Quan Điểm Sai Trái, Thù Địch Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Theo Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững (Bộ Công thương), nguyên nhân chính gia tăng nồng độ khí CO2 chủ yếu do đốt nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt) để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho quá trình phát triển của con người. Mất rừng làm giảm nguồn hấp thụ CO­2 (qua quá trình quang hợp), làm mất cân bằng chu trình carbon tự nhiên.

    Việc giảm phát thải khí CO2 trên thế giới hiện nay đang tập trung vào các giải pháp như giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch thông qua chuyển đổi sang sử dụng các dạng năng lượng tái tạo, năng lượng mới; giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch bằng các chính sách, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong nền kinh tế; thu giữ, sử dụng tuần hoàn, lưu trữ carbon bằng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ từ các nguồn phát thải lớn; tập trung giải pháp tăng cường hấp thụ CO2 và lưu trữ trong các sinh khối rừng trồng, rừng tự nhiên nhờ quá trình quang hợp của thực vật. 

    Sử dụng củi để đốt lò cung ứng nhiệt. Ảnh: CAO THĂNG

    Th.S Nguyễn Quang Huy, Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững, cho biết giải pháp thu giữ, sử dụng tuần hoàn, lưu trữ carbon được tiếp cận qua các bước gồm thu giữ (Capture), sử dụng (Utilization), lưu giữ (Storage) hoặc kết hợp sử dụng, lưu giữ carbon gọi chung là CCUS, được áp dụng chủ yếu đối với các nguồn phát thải CO2 lớn, tập trung như các nhà máy nhiệt điện, hóa chất, xi măng, phân bón.

    Một số quốc gia đã triển khai công nghệ CCUS và mang lại nhiều kết quả khả quan. Đơn cử như tại Mỹ, với các chính sách về tài chính carbon đã được áp dụng, các dự án về CCUS được triển khai khá phổ biến. Mỹ là nước sở hữu số lượng dự án về CCUS lớn nhất thế giới, hiện nay có thể thu giữ được khoảng 25 triệu tấn/năm, tương đương với lượng phát thải của 5,4 triệu xe hơi.

    Hay dự án lưu trữ CO2 trong các kho chứa nước mặn sâu bên dưới đáy biển (với độ sâu 3km – 4km) của Nhật Bản cũng đã mang lại kết quả cao. Việc bơm, giữ CO2 trong các tầng địa chất được thực hiện từ năm 2022 đến năm 2022 và đã lưu giữ khoảng 1 triệu tấn CO2 mỗi năm (nguồn CO2 được thu giữ từ nhà máy sản xuất khí H2 có nguồn gốc dầu mỏ tại Tomakomai).

    Ngoài ra, các quốc gia như Vương quốc Anh, Hà Lan, Na Uy, Úc… cũng đã triển khai các dự án CCUS đạt hiệu quả; đang tiếp tục xác định đây sẽ là giải pháp cho việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu và phát triển ngành năng lượng không phát thải carbon trong chính sách của các quốc gia. 

    Cũng theo Th.S Nguyễn Quang Huy, ưu điểm của CCUS là công nghệ sạch, có thể loại bỏ phát thải CO2 từ các ngành công nghiệp lớn như nhiệt điện, xi măng, luyện gang thép, sản xuất phân bón và hóa dầu. CCUS là một phần của nền kinh tế năng lượng mới trong tương lai, khi kết hợp với nguồn năng lượng Hydrogen và năng lượng sinh học để tạo ra nguồn năng lượng carbon trung tính – đang là hướng đi được nhiều quốc gia đang triển khai.

    Đây là giải pháp có chi phí thấp hơn so với các chi phí thiệt hại về môi trường và sức khỏe do phát thải gây ra, chi phí sẽ tiếp tục giảm khi thiết bị được thương mại hóa nhiều hơn. Mục tiêu chống biến đổi khí hậu toàn cầu là giữ cho nhiệt độ trái đất tăng không quá 2oC vào cuối thế kỷ này, có thể đạt mức 1,5oC với sự nỗ lực nhiều hơn từ cộng đồng quốc tế. Để đạt mục tiêu mức phát thải bằng 0 – “Net Zero” – vào năm 2050, thì việc áp dụng công nghệ CCUS sẽ là một tất yếu để loại bỏ triệt để phát thải CO2 vào khí quyển. 

    Có thể nói rằng, trong bối cảnh hiện nay, nhất là khi Việt Nam đã cam kết thực hiện việc cắt giảm 8% khí thải nhà kính và tỷ lệ sẽ lên 25% (nếu có sự hỗ trợ của quốc tế) thì việc ứng dụng, triển khai CCUS được xem là một một giải pháp hữu hiệu, thiết thực.

    Ở Việt Nam, từ năm 2010, Nhà máy sản xuất phân đạm Phú Mỹ đã lắp đặt thiết bị thu hồi CO2 từ quá trình đốt và tái sử dụng với lượng NH3 dư của nhà máy để sản xuất thành phân urê. Tuy nhiên, sau 5 năm vận hành thì hiệu quả kinh tế đem lại không được đảm bảo do các yếu tố về thị trường, giá nhiên liệu và đã phải dừng hoạt động.

    AN HẠ

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Sách Lập Trình C# Siêu Chất Cho Developer
  • Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục Theo Tiêu Chuẩn Trong Nước Và Quốc Tế
  • Sách Mới: Giải Pháp Cấu Tạo Kháng Chấn Cho Công Trình Xây Dựng Dân Dụng
  • Thực Trạng Và Hiệu Quả Một Số Giải Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng An Toàn Người Bệnh Tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Thái Bình
  • Đánh Giá Thực Trạng Phòng Ngừa Các Sự Cố, Sai Sót Chuyên Môn Và Biện Pháp Khắc Phục Tại Bvđk (Ttyt) Huyện Tiên Lãng Năm 2022
  • Giải Pháp Biến Khí Thải Co2 Thành Nhựa

    --- Bài mới hơn ---

  • Giảm Nhẹ Biến Đổi Khí Hậu Thông Qua Biện Pháp Xử Lý Co2
  • Những Biện Pháp Xử Lý Co2 Vừa Giúp Cắt Giảm Khí Thải Vừa Tạo Ra Hàng Nghìn Tỷ Usd
  • Giải Pháp Giảm Phát Thải Khí Nhà Kính Trong Canh Tác Lúa
  • Hà Nội Tăng Cường Giải Pháp Giảm Thiểu Khí Thải Nhà Kính
  • Phát Thải Khí Nhà Kính Trong Nông Nghiệp Và Giải Pháp Giảm Thiểu
  • Nhựa đã bị đưa tin rất tiêu cực trên báo chí trong thời gian gần đây – và nó đáng bị như vậy.

    Chúng ta sử dụng nhựa bừa bãi, khiến cho ước tính khoảng tám nghìn tỷ tấn rác thải nhựa đã bị xả đầy Trái Đất và làm ngập các đại dương.

    Nhưng mặt tối của rác thải nhựa có thể làm lu mờ tầm quan trọng của nó: không gì có thể phủ nhận rằng nhựa đã tạo một cuộc cách mạng cho cuộc sống trong Thế kỷ 20.

    Bền, dẻo, vô trùng và đa dụng, trong tự nhiên chúng ta không thể tìm thấy gì giống như nhựa.

    Nếu không có nó, chúng ta sẽ không bao giờ tạo ra được đĩa nhựa, băng từ, phim ảnh hoặc đĩa compact. Không có nhựa thì sẽ không thể nào có nhạc ghi âm và phim được ghi lại.

    Y học hiện đại hoàn toàn phụ thuộc vào nhựa – hãy nghĩ đến túi máu, ống tiêm và ống linh hoạt.

    Phụ tùng ô tô, vật liệu máy bay nhẹ, vệ tinh và tàu con thoi vũ trụ – tất cả đều phụ thuộc vào nhựa – đã cho phép chúng ta đi khắp thế giới và khám phá vũ trụ.

    Và tất nhiên: máy tính, điện thoại, và tất cả các dạng công nghệ internet. Hầu như mọi người đang đọc bài này có thể đọc được như thế là nhờ nhựa. Nhìn xung quanh bạn và bạn sẽ nhận ra cuộc sống hàng ngày của bạn có bao nhiêu là nhờ vào nhựa.

    Ngoài việc xả rác thải nhựa, có một mặt xấu nữa của nhựa: nguồn gốc của nó. Thật dễ quên rằng nhựa được làm từ nhiên liệu hóa thạch.

    Khoảng bốn phần trăm dầu hỏa và khí đốt mà chúng ta sử dụng hàng năm được dùng để sản xuất polymer – nghe có vẻ không nhiều, nhưng nó vẫn là sản xuất nhựa được kết hợp với khai thác nhiên liệu hóa thạch và biến đổi khí hậu.

    Nhựa sinh học – có tốt như tên gọi của nó không?

    Có lựa chọn thay thế hay không? Mọi người đã tung hô quá nhiều về nhựa sinh học, chẳng hạn như polylactide (PLA): muỗng nĩa dùng một lần làm từ khoai tây, chai được làm từ ngô, túi rác được chế tạo khéo léo từ thực phẩm bỏ đi.

    Mang logo hình chiếc lá xanh vui vẻ, chúng có vẻ là giải pháp lý tưởng, nhưng sự thật còn lâu đơn giản.

    Một nguyên nhân là nhựa sinh học không phân hủy sinh học dễ dàng như tên gọi của nó, thường cần phải có nhà máy chế biến công nghiệp để xử lý.

    Tệ hơn nữa, khi bạn tính đến năng lượng cần thiết để sản xuất chúng – thu hoạch bằng máy móc, chế biến nguyên liệu thô trong các nhà máy…, nhựa sinh học thường có lượng khí thải carbon cao hơn nhựa truyền thống.

    Các nhà nghiên cứu tại Đại học Sheffield gần đây đã kiểm tra tác động môi trường đầy đủ của việc sản xuất chai nhựa từ một loạt các vật liệu, bao gồm ngô và polyethylene tái chế, và nhựa sinh học có kết quả không được tốt.

    Do chi phí phân bón, vận chuyển và thu hoạch, nhựa từ chế phẩm sinh học có kết quả tệ nhất.

    Loại sản phẩm nhựa có kết quả tốt nhất trong nghiên cứu là từ dầu hóa thạch nguyên chất, Tiến sĩ Peter Styring, giáo sư Kỹ thuật Hóa chất và Hóa học tại Đại học Sheffield, cho biết. Đây không phải là kết quả mà các nhà nghiên cứu hy vọng tìm thấy.

    Hơn nữa, nước và phân bón được sử dụng có thể góp phần gây ô nhiễm các dòng sông và cửa sông. Thêm vào đó, nếu mọi người vô tình đưa nhựa sinh học vào rác tái chế trong hộ gia đình, chúng có thể làm ô nhiễm dòng tái chế và làm giảm chất lượng của nhựa tái chế.

    Cho đến nay, thật đáng thất vọng.

    Có một lựa chọn thay thế mà các nhà hóa học đã theo đuổi trong hơn một thập kỷ, và chúng ta đang ở ngưỡng chứng kiến nỗ lực gian khổ của hàng ngàn nhà nghiên cứu đơm hoa kết trái: nhựa làm từ carbon dioxide.

    Nhựa từ CO2

    “Thay vì sử dụng nhiên liệu hóa thạch làm nguyên liệu, bạn có thể thay đổi hoàn toàn ngành công nghiệp này bằng cách sử dụng chất thải carbon dioxide với các thủ thuật hóa học – điều này sẽ tạo nên một cuộc cách mạng trong ngành hóa dầu,” Giáo sư Styring, cũng là Giám đốc Trung tâm Tận dụng Carbon Dioxide của Anh (CDUUK), vốn đã nghiên cứu giải pháp này trong hơn một chục năm, cho biết.

    Hiện tại, ông lấy carbon dioxide chủ yếu từ quá trình sản xuất hydrogen, nhưng các nhà nghiên cứu đang làm việc để hướng đến thu được khí thải công nghiệp.

    Điều này không chỉ làm giảm lượng nhiên liệu hóa thạch mà chúng ta sử dụng, mà nó còn có tác động đến biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính.

    Chẳng hạn như tại CDUUK, các nhà nghiên cứu đã tìm ra cách tạo ra polyacrylamide từ carbon dioxide. “Thật sự điên rồ khi nghĩ rằng bạn có thể tạo ra nylon từ carbon dioxide, nhưng chúng tôi đã làm được điều đó,” Giáo sư Styring nói.

    Chìa khóa để tạo ra nhựa từ carbon dioxide nằm ở việc thiết kế các chất xúc tác tinh vi – vật liệu làm tăng tốc độ phản ứng hóa học mà không bị tiêu hóa trong phản ứng – chẳng hạn như các hợp chất có chứa kim loại như đồng.

    Các nhà khoa học tại Covestro đã phát hiện ra một chất xúc tác có thể cho phép carbon dioxide phản ứng với epoxide để tạo ra một họ hóa chất gọi là “polyether polycarbonate polyols” – cơ sở của polyurethane, vật liệu được tìm thấy trong nệm, đệm và cách nhiệt tủ lạnh.

    Nằm ngủ giữa khí thải CO2

    Các nhà máy Covestro ở Đức đang sản xuất nệm được tạo thành từ 20% carbon dioxide dưới thương hiệu Cardyon.

    Do có trên 15 triệu tấn polyurethane được sản xuất trên toàn cầu mỗi năm, việc chuyển sang sử dụng carbon dioxide làm nguyên liệu có thể có tác động rất lớn.

    Tại Anh, Econic cũng đang sản xuất polyurethane từ carbon dioxide, và dự kiến sẽ có các sản phẩm nệm trên kệ hàng trong vòng hai năm, cũng như các chất phủ bề mặt, chất bịt kín và chất đàn hồi.

    Những vật liệu này không chỉ đạt đến chất lượng nhựa thông thường, thậm chí chúng còn có thể vượt xa ở một số khía cạnh.

    “Chúng tôi đang khám phá ra rằng một số vật liệu của chúng tôi giúp sản phẩm có chất lượng cao hơn, chẳng hạn như khả năng chống cháy hoặc chống trầy xước,” Leigh Taylor, Trưởng phòng Kinh doanh và Cấp phép của Econic cho biết.

    Econic ước tính rằng nếu 30% tất cả polyol (phân tử được sử dụng làm tác nhân liên kết chéo) được tạo ra từ carbon dioxide, điều này sẽ giúp tiết kiệm 90 triệu tấn carbon dioxide trong khí quyển – tương đương với bốn triệu cây xanh, hoặc bớt hai triệu xe hơi chạy trên đường.

    Hơn nữa, do carbon dioxide rất rẻ – khoảng 100 đô la một tấn, so với 2.000 đô la cho một tấn propylene oxide (vật liệu thô tiêu chuẩn) – nó sẽ tiết kiệm cho nhà sản xuất 10 triệu đô la một năm cho nhà máy có công suất hàng năm 50 là kilotonne.

    Một mục tiêu thậm chí còn tham vọng hơn là sản xuất ethylene từ carbon dioxide: khoảng một nửa lượng nhựa chúng ta sản xuất trên toàn cầu được tạo ra bằng ethylene, khiến nó trở thành một trong những nguyên liệu thô quan trọng nhất trên thế giới.

    Tại Đại học Swansea, Giáo sư Enrico Andreoli thuộc Viện Nghiên cứu An toàn Năng lượng và nhóm của ông đang nghiên cứu để phát triển các chất xúc tác có chứa đồng, cho phép tạo ra ethylene bằng cách kết hợp carbon dioxide với nước và điện.

    Có thể mất 20 năm để sản xuất polyetylen nhựa từ ethylene được làm từ carbon dioxide ở quy mô khả thi về mặt thương mại.

    “Nhưng chúng ta sẽ không thể tạo ra ethylene từ nhiên liệu hóa thạch trong vòng 30 hoặc 40 năm – vì vậy chúng tôi cần phải theo đuổi những cách khác để tạo ra nó từ carbon dioxide,” Giáo sư Andreoli nói chỉ để cho thấy sự so sánh.

    Tại Đại học Bath, các nhà hóa học dưới sự chỉ đạo của Giáo sư Antoine Buchard tại Trung tâm Công nghệ hóa học bền vững đã phát triển cách để tạo ra polycarbonate (được sử dụng làm vật liệu đựng tái sử dụng như chai con) bằng cách kết hợp carbon dioxide với đường như xyloza, thành phần chính trong gỗ có thể dễ dàng chiết xuất từ cà phê xay đã sử dụng.

    Các quy trình sản xuất polycarbonate hiện tại thường sử dụng phosgene (một loại khí độc được sử dụng làm vũ khí hóa học trong Đệ nhất Thế chiến) và một hóa chất gọi là bisphenol-A, vốn bắt chước estrogen và hiện bị cấm sử dụng trong các sản phẩm trẻ em ở các quốc gia như Canada. Polycarbonate đường sẽ an toàn hơn để sản xuất và sử dụng, khiến nó phù hợp cho cấy ghép y tế, khâu và khung nội tạng.

    Ở Mỹ, các nhà hóa học tại Đại học Rutgers đã phát triển một kỹ thuật mới sử dụng các chất điện phân có chứa niken và phốt pho để kết hợp nước và carbon dioxide với điện để tạo ra các phân tử phức chứa carbon vốn có thể được sử dụng để sản xuất nhựa và các sản phẩm khác như dược phẩm.

    “Về cơ bản đây là quang hợp nhân tạo,” Charles Dismukes, giáo sư tại Khoa Hóa học và Sinh hóa tại Đại học Rutgers, tỉnh New Brunswick, cho biết. “Chúng tôi biết rằng có thể thắng được quang hợp tự nhiên về tính hiệu quả.”

    Các cách quy ước để sản xuất nhựa có thể vẫn là chuẩn mực – nhưng điều đó không làm cho chúng trở thành lý tưởng, giáo sư Dismukes nói.

    “Việc tạo ra các khối monome (phân tử đơn thể) từ nhiên liệu hóa thạch là một quá trình rất tốn năng lượng và rất ô nhiễm: sử dụng nhiệt để thúc đẩy phản ứng hóa học là rất chậm, và vô cùng lãng phí và không hiệu quả,” ông nói. “Chúng ta không cần phải làm theo cách đó.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nào Giảm Kẹt Xe Cho Tân Sơn Nhất?
  • ​giải Pháp Giảm Kẹt Xe Cho Cửa Ngõ Phía Nam
  • Loay Hoay Giải Pháp Giảm Kẹt Xe
  • Đề Xuất Giải Pháp Chống Kẹt Xe Và Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Thu Phí Ôtô Vào Nội Đô, Trung Tâm Sài Gòn Có Giảm Kẹt Xe?
  • Công Nghệ Thu Hồi Co2

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Án Thu Hồi Và Lưu Trữ Carbon (Ccs)
  • Sử Dụng Và Lưu Trữ Cacbonic Để Giảm Nhẹ Biến Đổi Khí Hậu
  • Làm Thất Bại Chiến Lược “Diễn Biến Hòa Bình”: Tăng Cường Công Tác Phòng, Chống Quan Điểm Sai Trái, Thù Địch Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Giải Pháp Móng Cho Ngôi Nhà Của Bạn
  • Giải Pháp Tăng Cường Sức Khỏe Đơn Giản, Hiệu Quả Tại Nhà
  • Quá trình thu hồi khí CO2 sau khi đốt.

    (Nguồn: Trung tâm Thu hồi và Lưu giữ carbon Scotland.)

    Thu khí trước khi đốt

    Quá trình này tách CO2 từ nhiên liệu bằng cách kết hợp nó với khí hoặc hơi nước để đốt cháy và lưu giữ luồng CO2 đã được tách ra.

    Hiện nay người ta thường dùng công nghệ cải hóa khí tự nhiên bằng hơi nước, trong đó hơi nước được sử dụng để tách hydro từ khí tự nhiên.

    Tuy nhiên, nếu không có quy định ràng buộc về pháp lý hoặc hỗ trợ về tài chính thì các nhà máy sẽ không áp dụng các biện pháp thu hồi CO2 trước khi đốt trong hệ thống năng lượng của mình.

    Quá trình thu hồi khí CO2 trước khi đốt.

    (Nguồn: Trung tâm Thu hồi và Lưu giữ carbon Scotland.)

    Một số ý kiến cho rằng tách khí CO2 trước khi đốt là yêu cầu kỹ thuật cần thiết cho quá trình chuyển hóa than thành nhiên liệu lỏng nhờ các phản ứng hóa học. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ, bản thân quá trình chuyển hóa than đá thành nhiên liệu lỏng cũng thải CO2, và các sản phẩm nhiên liệu lỏng khi cháy cũng là nguồn sinh khí CO2.

    Kỹ thuật thu hồi khí trước khi đốt ứng dụng trong công nghệ sản xuất nhiên liệu lỏng từ than đá sẽ làm giảm tổng lượng CO2 thải ra, mặc dù sau đó chất khí này vẫn là sản phẩm tất yếu khi các loại nhiên liệu lỏng được tiêu thụ trong vận tải hoặc phát điện.

    Thu khí nhờ đốt nhiên liệu bằng oxy

    Ở quá trình này, oxy sẽ được dùng làm khí đốt để thải ra một hỗn hợp khí với thành phần chủ yếu là CO2 và nước dễ dàng phân tách, sau đó CO2 có thể được nén, vận chuyển và lưu trữ.

    Kỹ thuật này hiện vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, một phần là vì nhiệt độ cháy của oxy tinh khiết (khoảng 3.500oC) là quá cao đối với nhiên liệu của các nhà máy phát điện thông thường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trang Điện Tử Vụ Khoa Học Và Công Nghệ
  • Thu Giữ Và Lưu Trữ Co2 Góp Phần Giảm Khí Thải Nhà Kính
  • 10 Sách Lập Trình C# Siêu Chất Cho Developer
  • Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục Theo Tiêu Chuẩn Trong Nước Và Quốc Tế
  • Sách Mới: Giải Pháp Cấu Tạo Kháng Chấn Cho Công Trình Xây Dựng Dân Dụng
  • Công Nghệ Thu Hồi Và Lưu Giữ Co2 (Kỳ I)

    --- Bài mới hơn ---

  • Quá Trình Biến Bột Mì Thành Các Khoang Vi Xốp Lưu Giữ Co2
  • Co2, Lưu Trữ Co2,thu Hồi Co2
  • Giải Pháp Sao Lưu Và Bảo Vệ Dữ Liệu
  • Giải Pháp Sao Lưu Và Phục Hồi Dữ Liệu
  • Sao Lưu Và Lưu Trữ Có Phải Là Một?
  • Ở nhiều quốc gia trên thế giới, các nhà máy điện quy mô lớn là “ứng viên” phù hợp nhất cho công nghệ thu giữ, tách lọc, lưu trữ hoặc tái sử dụng CO 2 vì đó là nguồn phát thải khí CO 2 lớn nhất bên cạnh các cơ sở công nghiệp khác như nhà máy sản xuất xi-măng, chưng cất cồn, sản xuất hydro…

    Quy trình CCS hoàn chỉnh bao gồm bốn bước cơ bản: 1/ thu CO 2 từ nhà máy điện hoặc các nguồn tập trung khác; 2/ vận chuyển CO 2 đến địa điểm lưu giữ thích hợp; 3/ bơm CO 2 vào các kho chứa ngầm; 4/ giám sát quá trình bơm khí CO 2 và đảm bảo CO 2 được cô lập hoàn toàn.

    Trong khi về mặt kỹ thuật, tính khả thi của CCS trong các tầng địa chất đã được chứng minh trong nhiều ứng dụng khác, công nghệ này lại gần như không được ngó ngàng tới cho đến khi các quy định về cắt giảm khí thải được ban hành nhằm giảm thải lượng CO 2 vào khí quyển. Mặc dù các nghiên cứu cho thấy độ rủi ro của phương pháp này là không đáng kể thì khả năng phổ biến rộng rãi các công nghệ CCS vẫn có thể bị giới hạn vì chính sự mới mẻ của nó và vì thiếu sự kết nối toàn diện của công nghệ.

    Thu khí CO2

    Bước đầu tiên của quá trình CCS là thu hồi CO 2 tại nguồn sinh khí và nén lại để vận chuyển và lưu trữ. Hiện tại, có ba phương pháp chính được ứng dụng để thu hồi CO 2 từ các cơ sở công nghiệp lớn hoặc từ các nhà máy điện: 1/ thu khí sau khi đốt, 2/ thu khí trước khi đốt và 3/ thu khí nhờ đốt than bằng oxy tinh khiết.

    Ở các nhà máy điện, các hệ thống thu hồi CO 2 thương mại hiện tại có thể vận hành với hiệu suất 85 – 95%. Các kỹ thuật thu giữ CO 2 vẫn chưa được ứng dụng cho các nhà máy có công suất lớn hơn 500 MW.

    Thu khí sau khi đốt

    Đây là quá trình tách khí CO 2 từ ống khói sau khi đốt các nhiên liệu hóa thạch hoặc sinh khối.

    Hiện có rất nhiều công nghệ thương mại có thể thực hiện bước này, trong đó một số sử dụng các dung môi hóa học có khả năng thu giữ một lượng lớn CO 2 từ các ống khói.

    Quá trình thu hồi khí CO2 sau khi đốt. (Nguồn: Trung tâm Thu hồi và Lưu giữ carbon Scotland.)

    Thu khí trước khi đốt

    Quá trình này tách CO 2 từ nhiên liệu bằng cách kết hợp nó với khí hoặc hơi nước để đốt cháy và lưu giữ luồng CO 2 đã được tách ra.

    Hiện nay người ta thường dùng công nghệ cải hóa khí tự nhiên bằng hơi nước, trong đó hơi nước được sử dụng để tách hydro từ khí tự nhiên.

    Tuy nhiên, nếu không có quy định ràng buộc về pháp lý hoặc hỗ trợ về tài chính thì các nhà máy sẽ không áp dụng các biện pháp thu hồi CO 2 trước khi đốt trong hệ thống năng lượng của mình.

    Quá trình thu hồi khí CO2 trước khi đốt. (Nguồn: Trung tâm Thu hồi và Lưu giữ carbon Scotland.)

    Một số ý kiến cho rằng tách khí CO 2 trước khi đốt là yêu cầu kỹ thuật cần thiết cho quá trình chuyển hóa than thành nhiên liệu lỏng nhờ các phản ứng hóa học. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ, bản thân quá trình chuyển hóa than đá thành nhiên liệu lỏng cũng thải CO 2, và các sản phẩm nhiên liệu lỏng khi cháy cũng là nguồn sinh khí CO 2.

    Kỹ thuật thu hồi khí trước khi đốt ứng dụng trong công nghệ sản xuất nhiên liệu lỏng từ than đá sẽ làm giảm tổng lượng CO 2 thải ra, mặc dù sau đó chất khí này vẫn là sản phẩm tất yếu khi các loại nhiên liệu lỏng được tiêu thụ trong vận tải hoặc phát điện.

    Thu khí nhờ đốt nhiên liệu bằng oxy

    Ở quá trình này, oxy sẽ được dùng làm khí đốt để thải ra một hỗn hợp khí với thành phần chủ yếu là CO 2 và nước dễ dàng phân tách, sau đó CO 2 có thể được nén, vận chuyển và lưu trữ.

    Kỹ thuật này hiện vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, một phần là vì nhiệt độ cháy của oxy tinh khiết (khoảng 3.500oC) là quá cao đối với nhiên liệu của các nhà máy phát điện thông thường.

    Quá trình thu hồi khí CO2 khi đốt oxy. (Nguồn: Trung tâm Thu hồi và Lưu giữ carbon Scotland.)

    Vận chuyển CO2

    Một số giải pháp vận chuyển CO 2 đã được vận dụng trong thực tế, tuy nhiên, hầu hết mới chỉ được áp dụng ở quy mô nhỏ.

    Dùng đường ống là phương pháp vận chuyển khí CO 2 phổ biến nhất tại Hoa Kỳ. Hiện nay, có hơn 5.800 km đường ống vận chuyển khí CO 2 ở nước này, chủ yếu để phục vụ các khu khai thác dầu khí.

    Tương tự như vận chuyển sản phẩm dầu mỏ và khí thiên nhiên, đường ống vận chuyển khí CO 2 đòi hỏi chú trọng đến thiết kế, giám sát rò rỉ và bảo vệ đường ống khỏi áp lực cao, đặc biệt đối với đoạn ống đi qua khu dân cư.

    Tàu biển có thể được dùng để vận chuyển CO 2 ở khoảng cách xa hay sang nước khác. Trên thế giới, các loại chất đốt hoá lỏng tự nhiên, propan và butan thường được vận chuyển bằng tàu biển tải trọng lớn.

    Các loại phương tiện vận tải đường bộ cũng có thể sử dụng để vận chuyển khí CO 2 nhưng phương án này không kinh tế nếu triển khai hoạt động CCS trên quy mô lớn.

    Chi phí cho vận chuyển bằng đường ống dao động tùy thuộc vào giá thành xây dựng, phí vận hành, bảo trì, quản lý và các khoản phí khác. Đối với loại hình vận chuyển này, lưu lượng và khoảng cách vận chuyển là những yếu tố chủ yếu để xác định chi phí. Ngoài ra còn phải tính đến vị trí địa lý của đường ống (ở trên bờ hay ngoài khơi) và mức độ tắc nghẽn lưu thông dọc tuyến đường vận chuyển (có gặp núi, sông lớn và có đi qua vùng băng tuyết bao phủ hay không).

    Chi phí vận chuyển hàng hải hiện mới chỉ được ước tính vì trên thực tế vẫn chưa có hệ thống vận tải khí CO 2 quy mô lớn (cỡ hàng triệu tấn CO 2/năm) nào hoạt động. Đối với những cự ly xa hơn 1.000km và lưu lượng nhỏ hơn vài triệu tấn CO 2/năm thì chi phí vận chuyển hàng hải có thể thấp hơn vận chuyển bằng đường ống.

    theo: thiennhien.net

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Nghệ Thu Hồi Và Lưu Giữ Co2 (Tiếp)
  • Giải Pháp Công Nghệ Thu Giữ Và Lưu Trữ Carbon Dioxide
  • Luận Văn: Phát Triển Dịch Vụ Logistics Cho Các Doanh Nghiệp Vận Tải
  • Giải Pháp Giảm Chi Phí Logistics, Kết Nối Hiệu Quả Với Cơ Sở Hạ Tầng Khu Công Nghiệp, Đường Bộ, Cảng Biển
  • Luận Văn: Giải Pháp Tăng Cường Sự Tham Gia Của Các Doanh Nghiệp Việt Nam Vào Hệ Thống Logistics Toàn Cầu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100