Top 18 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Tiểu Học / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Ở Tiểu Học / 2023

* Gia đình phải có trách nhiệm về con em, phải tạo mọi điều kiện để trẻ được theo học. Phải coi việc học của trẻ là hết sức quan trọng. Nếu thấy con em mình không vui hoặc có vấn đề gì khó khăn trong việc học tập của con em thì phải báo ngay với giáo viên chủ nhiệm và nhà trường để nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ.

* Giáo viên chủ nhiệm phải nhiệt tình,năng nổ phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến phương pháp giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng ở trong nhà trường đặc biệt là từng em học sinh để lôi cuốn học sinh,học sinh vui vẻ, tự tin trước khi đến trường tạo thêm niềm vui, phấn khởi thực sự để hội cha mẹ học sinh nhận thấy được ở trường là chỗ dựa vững chắc cho phụ huynh tin tưởng từ đó tạo niềm tin cho phụ huynh phấn khởi và xây dựng môi trường thân thiện ở trong nhà trường .

– Phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với Đoàn thể, với địa phương ,tạo những điều kiện môi trường giáo dục tốt.

– Phải tạo đoàn kết, thương yêu giúp đỡ học sinh trong lớp qua các phong trào. Tạo cho các em động cơ ham học trong việc uốn nắn các em,giáo viên chủ nhiệm phải luôn giữ thái độ bình tĩnh,không nóng vội,không dùng lời lẽ nặng nề với các em, hoà đồng vui vẻ với các em, xem học sinh là con đẻ của mình, chia sẻ vui buồn, cùng lắng nghe ý kiến học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp.

-Học sinh tiểu học trong độ tuổi biết tự ái, giận hờn, thích được động viên khen thưởng, tuyệt đối không nên dùng hình phạt, đánh mắng làm cho các em sợ sệt không ham thích đến lớp, phải tạo cho các em một niềm tin để các em an tâm học tập và xem giáo viên chủ nhiệm là người mẹ hiền.

-Nên tổ chức vui chơi tập thể trong các giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và giáo viên.Trong chương trình giảng dạy nên tổ chức những buổi “Học vui,vui học” dưới hình thức ôn tập.

Việc chuyên cần học tập của học sinh đã quyết định sự tiến bộ của các em,nếu để các em nghỉ học một hai lần với lý do không cần thiết lắm thì các em sẽ thích nghỉ học đi chơi hơn là đến lớp bởi nhiều lý do: Sợ bị phạt, sợ bị chế giễu. Giáo viên nên giải thích tai hại của việc bỏ học và đi học không đầy đủ đẫn đến hậu quả không tốt, ảnh hưởngđến kết quả học tập.

*Giáo viên chủ nhiệm và nhà trường phải quan tâm tìm hiểu hoàn cảnh của học sinh để tạo điều kiện giúp đỡ, bố trí buổi học phù hợp có thể lập Quỹ tình thương để hổ trợ một phần nào cho các em về mặt vật chất, đồng thời cắt cử các em học sinh trong lớp thường xuyên giúp đỡ,đỡ đần bớt các công việc gia đình để bạn có thời gian đến trường.

* Các đoàn thể xã hội như: Phụ nữ, nông dân, phải phối hợp với nhà trường quan tâm, giúp đỡ những gia đình gặp khó khăn. Xây dựng quỹ khuyến học trong từng thôn xã, họ hàng để hỗ trợ thêm cho những em gặp khó khăn trong đời sống kinh tế để giúp các em có thể tiếp tục học tập.

*Chính quyền địa phương phải có kế hoạch bố trí dân cư hợp lý để tạo điều kiện cho các em đi học gần.Đồng thời có chính sách đãi ngộ đối với những hộ gia đình nghèo, đông con và gặp khó khăn về kinh tế.

Công đoàn nhà trường xây dựng quỹ khuyến học, quỹ tình thương, quỹ hỗ trợ những học sinh có điều kiện khó khăn về vật chất và tinh thần để các em đi học đầy đủ.

Giải pháp quan trọng nhất là Nhà trường,Gia đình và xã hội phải phối hợp chặt chẻ với nhau,để cùng nhau giúp đỡ về mọi mặt,tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tiếp tục đến trường.Giảm tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm.

+ Phối hợp chặt chẽ với nhà trường, gia đình và xã hội.

+ Nắm bắt tình hình cụ thể về các gia đình có học sinh đi học. Các gia đình có đông con; những gia đình có hoàn cảnh khó khăn…

+ Các tổ chức, đoàn thể ở chính quyền địa phương, hội cha mẹ học sinh. Các tổ chức chính trị xã hội ở trong nhà trường; các giáo viên chủ nhiệm.

+ Tìm hiểu về các lí do mà các em thường bỏ học nữa chừng.

Skkn Một Số Giải Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Trong Trường Tiểu Học / 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

1

Mục đích nghiên cứu của đề tài này nhằm đưa ra những giải pháp tối ưu, có tính khả thi để khắc phục, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng học sinh bỏ học, nhằm giữ vững, duy trì tốt sĩ số học sinh của trường và góp phần thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học tại địa bàn, góp phần giữ gìn và phát huy kết quả đạt được của phổ cập giáo dục tỉnh nhà và của toàn quốc. Tôi nhận thấy những giải pháp này đã giúp cho việc duy trì sĩ số học sinh trong độ tuổi đến trường ở đơn vị tôi đạt kết quả rất tốt, giúp cho thành quả đã đạt được của phổ cập giáo dục tiểu học ở địa phương tôi được duy trì và phát huy có hiệu quả. Chính vì thế, tôi rất muốn giới thiệu, chia sẻ những giải pháp này đến với những giáo viên làm công tác phổ cập giáo dục tiểu học như tôi ở các đơn vị bạn để cùng trao đổi, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. b. Nội dung của giải pháp:  Những điểm khác biệt và tính mới của giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến so với giải pháp đã biết: Trong thời gian qua, việc đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất, quan tâm giúp đỡ học sinh khó khăn, vận động học sinh bỏ học trở lại trường.. là công việc chung trường nào cũng thực hiện. Còn việc xây dựng mô hình hay các giải pháp ngăn ngừa học sinh bỏ học thì chưa có tài liệu, quy định cụ thể nào để hướng dẫn làm. Điểm mới ở đây là dựa trên những ưu điểm và hạn chế của những cách thức đã thực hiện, tôi đã xây dựng và thiết lập mô hình tích cực cho người giáo viên phổ cập gồm một số giải pháp hữu hiệu mà theo tôi có thể duy trì hiệu quả sĩ số học sinh trong trường tiểu học. Tính mới của các giải pháp tôi đưa ra thể hiện rõ tầm quan trọng của việc “phòng hơn chống” học sinh bỏ học và nhấn mạnh vai trò của giáo viên làm công tác phổ cập trong việc tích cực tham mưu, phối hợp cùng các đoàn thể địa phương, phụ huynh học sinh, đội ngũ cán bộ, nhân viên và ban giám hiệu nhà trường trong việc thực hiện các biện pháp ngăn ngừa học sinh bỏ học bằng cả tinh thần và tấm lòng nhiệt quyết của mình đối với sự nghiệp giáo dục thì mới có thể giải quyết vấn nạn bức xúc này một cách có hiệu quả.  Một số giải pháp tích cực ngăn ngừa tình trạng học sinh bỏ học nhằm duy trì sĩ số học sinh của giáo viên phổ cập giáo dục tiểu học:  Tăng cường công tác vận động tuyển sinh vào lớp 1, duy trì sĩ số, lập danh sách học sinh có nguy cơ bỏ học: Ngay từ trong hè, giáo viên làm công tác phổ cập phải liên hệ với trường mẫu giáo trong địa bàn để nắm danh sách trẻ 5 tuổi sẽ vào lớp 1 trong năm học mới để kịp thời huy động tất cả đến trường, kết hợp cùng với giáo viên chủ nhiệm lớp làm tốt công tác tuyển sinh vào lớp 1 trước khi chính thức nhập học. Tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể phối hợp cùng nhà trường để huy động tối đa học sinh trong độ tuổi ra lớp. Tổ chức điều tra, thống kê số liệu học sinh đầu năm, nắm danh sách học sinh học tại địa bàn và học sinh có hộ khẩu trong xã đến học tại các trường bạn. Trong những tháng đầu của năm học mới, giáo viên phổ cập của trường liên hệ và kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm các lớp để nắm tình hình các em có nguy cơ bỏ học ở các năm học trước xem các em đã thật sự ổn định học tập hay chưa đồng thời tìm hiểu, lập danh sách các đối tượng lười học, 3

vắng học thường xuyên, có nguy cơ bỏ học trong năm học mới rồi xác định nguyên nhân, nắm bắt hoàn cảnh, điều kiện học tập.. để theo dõi, nhằm có giải pháp hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời, kết hợp cùng với giáo viên chủ nhiệm lớp, gia đình học sinh kiểm tra việc đi học, tỉ lệ chuyên cần của các em, sử dụng các biện pháp giáo dục tích cực, biện pháp vận động phù hợp đưa các em tiếp tục đến trường, giúp các em tự tin và có tư tưởng, thái độ tốt hơn trong học tập.  Phối hợp tốt với nhà trường, Tổng phụ trách Đội, giáo viên chủ nhiệm lớp xây dựng các hoạt động ngoại khóa để thu hút học sinh đến trường: Tham mưu cùng ban lãnh đạo nhà trường, Tổng phụ trách Đội, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ, bao gồm hoạt động giữa giờ ra chơi; sinh hoạt chủ điểm; kế hoạch hoạt động chéo buổi xen lẫn các môn học Thể dục, học phụ đạo, học bồi dưỡng; cắm trại; hoạt động vui chơi trong hè.. tạo sự thu hút, tập trung của các em khi vào trường, giúp các em hăng hái hơn trong sinh hoạt và học tập, làm cho học sinh cảm nhận được mỗi ngày đến trường là một ngày vui và ham thích đến trường. Nội dung các hoạt động này chủ yếu tập trung vào việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi dân gian, trò chơi tập thể, văn nghệ, múa hát cộng đồng, thi đố vui để học, Rung chuông vàng, hội khỏe Phù Đổng, sinh hoạt Sao.. kết hợp tăng cường chú trọng việc tích hợp rèn luyện, giáo dục các chuẩn mực đạo đức, kĩ năng sống, nhận thức xã hội cho học sinh. Các hoạt động nói trên phải được tổ chức kết hợp đan xen trong chương trình học, trong tiết học một cách hợp lý sao cho phong phú, sinh động và hấp dẫn để giảm bớt mệt mỏi, căng thẳng cho học sinh do hằng ngày các em phải tiếp thu một khối lượng kiến thức lớn khi đến trường. Đề xuất thực hiện một số phong trào nhằm giúp các em đi học đầy đủ như: phong trào giúp bạn vượt khó, phong trào cùng nhau đi học, phong trào cùng bạn học giỏi.. vận động học sinh tích cực tham gia để giúp học sinh có ý thức và thái độ tốt hơn trong học tập. Xem ví dụ minh họa hoạt động trò chơi trong tiết học và một số trò chơi dành cho hoạt động Đội, hoạt động ngoài giờ trong Phụ lục 1  Phối hợp chặt chẽ với giáo viên, cán bộ công nhân viên và các đoàn thể trong nhà trường đối với công tác quản lí và giáo dục học sinh: Giáo viên phổ cập kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, các đoàn thể trong nhà trường thường xuyên kiểm tra giám sát sự chuyên cần của học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh yếu và học sinh cá biệt để có biện pháp phối hợp giáo dục, giúp đỡ. Học sinh chỉ cần vắng mặt một buổi học không lí do là giáo viên chủ nhiệm liên lạc với gia đình để tìm hiểu nguyên nhân, vắng mặt 2 buổi không lí do là báo cáo ngay với Ban giám hiệu nhà trường và giáo viên phổ cập để tìm biện pháp giải quyết.  Tham mưu tích cực với Ban giám hiệu nhà trường xây dựng một đội ngũ nhà giáo thực sự có tinh thần yêu nghề, tận tụy với công việc: Dưới sự chỉ đạo và phân công của Ban giám hiệu, tất cả cán bộ giáo viên trong nhà trường phải cùng có ý thức hợp tác, phối hợp đồng bộ trong các hoạt động bằng tất cả lòng yêu nghề, yêu công việc và tinh thần trách nhiệm, tận tâm tận lực với nghề và hết lòng với học sinh. Ở đây, vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp đặc biệt quan trọng, vừa công tác tốt trong giảng dạy vừa quản lý lớp 4

bằng cả tâm huyết của mình. Đối tượng của chúng ta là lứa tuổi rất nhạy cảm cho nên người giáo viên phải hết sức thương yêu, tôn trọng, gần gũi, ân cần, bao dung với thái độ nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc trong việc giáo dục các em. Nhiều giáo viên của chúng ta bây giờ vẫn còn rất nặng lời, thậm chí xúc phạm học sinh khi các em mắc lỗi. Trong công tác vận động, tôi đã tiếp xúc với một số học sinh bỏ học chỉ vì giáo viên nặng lời phê phán, các em tự ái nên nhất quyết không chịu đến lớp nữa. Đây là hiện tượng cần phải được phê phán, nhắc nhở và chấn chỉnh kịp thời. Công tác chủ nhiệm lớp chính là những giải pháp ban đầu và hiệu quả nhất nhằm ngăn ngừa học sinh bỏ học và góp phần duy trì sĩ số của học sinh. Nhà trường cần tích cực chú trọng đổi mới phương pháp dạy học với mục đích là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần giảm tỷ lệ học sinh yếu kém đồng thời làm giảm nguy cơ bỏ học ở học sinh. Ngay từ đầu năm học phải tổ chức tiến hành phân loại học lực của học sinh thật chính xác rồi lựa chọn những giáo viên có năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm tốt thực hiện tiến hành phụ đạo, bồi dưỡng kiến thức cho các em. Qua đợt khảo sát chất lượng đầu năm, kịp thời phát hiện những học sinh yếu kém rồi tích cực kết hợp với gia đình kiên trì rèn luyện cho học sinh nắm vững kiến thức, đem lại cho các em sự tự tin và thích thú học tập, giải quyết triệt để tình trạng học sinh “ngồi nhầm lớp”. Trong giảng dạy, chú trọng ngay những học sinh có biểu hiện lơ là, sa sút trong học tập, kết hợp cùng gia đình tìm nguyên nhân và kịp thời bồi dưỡng kiến thức. Một biện pháp quan trọng khác là cần khuyến khích, tôn vinh những giáo viên sau một năm học đã có công giáo dục học sinh cá biệt, học sinh yếu kém. Thực tế cho thấy, giáo dục một học sinh cá biệt, có học lực yếu kém mất nhiều công sức, thời gian không kém gì so với việc bồi dưỡng một học sinh giỏi và chính họ là những người góp phần trực tiếp làm giảm thiểu nguy cơ bỏ học của học sinh. Thẳn thắn đấu tranh, góp ý, nhắc nhở nếu có đồng nghiệp có thái độ và tư tưởng chủ quan, không có tinh thần trách nhiệm trong công tác.  Thường xuyên trao đổi và nắm bắt thông tin từ ban cán sự của các lớp và giáo viên chủ nhiệm: Ban cán sự lớp chính là một tổ chức trực tiếp theo dõi và lãnh đạo lớp được giáo viên chủ nhiệm cùng cả lớp tín nhiệm đề cử. Chính ban cán sự lớp nắm bắt rõ nhất về tình hình của lớp mình. Giáo viên phổ cập của trường phải thường xuyên trao đổi với ban cán sự của các lớp và giáo viên chủ nhiệm để theo dõi tình hình của từng lớp, kịp thời nắm bắt những thay đổi của lớp về tình hình duy trì sĩ số học sinh để đề ra biện pháp và xử lý kịp thời khi có vấn đề xảy ra.  Kết hợp cùng với giáo viên chủ nhiệm liên lạc thường xuyên với phụ huynh học sinh để nắm tình hình: Sự buông lỏng của gia đình là nguyên nhân chủ yếu làm cho học sinh lơ là học tập. Sự lười biếng học tập kéo dài sẽ dẫn đến hậu quả là học lực nhanh chóng giảm sút. Học sinh bị mất căn bản do lỗ hổng kiến thức quá lớn, vào học thầy cô giảng bài không hiểu được đồng thời hay bị phê bình nên chán nản bỏ học. Chính vì thế, từng gia đình phải có trách nhiệm quản lý, nhắc nhở và thường xuyên giám sát việc học tập của con em mình. Hiện tại vẫn còn nhiều gia đình lo làm ăn kiếm tiền khá giả, họ không quan trọng việc học tập của con em mà có quan niệm là học được thì tốt, còn không được thì ở nhà phụ giúp gia 5

đình. Với những đối tượng này, chúng ta phải thật khéo léo cải thiện dần tư tưởng để họ thấy được sự quan trọng của việc học và có trách nhiệm hơn trong việc cùng nhà trường quản lí, giáo dục con em mình học tập tốt. Nhà trường cần nhắc nhở phụ huynh học sinh nhất thiết phải thường xuyên duy trì mối liên hệ với nhà trường, dự họp đầy đủ khi được thông báo để kịp thời nắm rõ tình hình học tập, rèn luyện của con em. Giáo viên chủ nhiệm lớp phải trực tiếp liên lạc với phụ huynh học sinh để trao đổi thông tin, nắm bắt tình hình, cùng phụ huynh tìm ra các giải pháp phối hợp tốt nhất trong công tác quản lí và giáo dục con em họ; góp phần duy trì tính chuyên cần, tích cực học tập của học sinh. Tích cực chủ động liên lạc với phụ huynh học sinh nhất là những trường hợp học sinh cá biệt, thường xuyên trốn học để phối hợp giáo dục.  Phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể, lực lượng xã hội tại địa phương: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, có chiều sâu giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng chăm lo sự nghiệp giáo dục. Cụ thể là giữa Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, cha mẹ học sinh và chính quyền, đoàn thể địa phương để tất cả những học sinh có biểu hiện sa sút về học tập hoặc vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật phải được quản lý và có biện pháp ngăn ngừa, giáo dục ngay từ đầu. Hơn lúc nào hết, đối với học sinh cá biệt, rất cần sự nghiêm khắc, bao dung, độ lượng và nhiệt tình của giáo viên và các ban ngành, đoàn thể trong xã hội. Phối kết hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể tích cực thường xuyên tuyên truyền cho các bậc phụ huynh học sinh về tầm quan trọng của việc học tập, vận động xây dựng gia đình văn hóa nhằm phát hiện và giáo dục học sinh tránh xa các tệ nạn xã hội cùng các loại hình giải trí không lành mạnh, hỗ trợ kịp thời không để cho xảy ra tình trạng học sinh bỏ học tại thôn ấp mình, nhất là lứa tuổi học sinh tiểu học.. 3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp: Các giải pháp trên được ứng dụng trong việc ngăn ngừa học sinh trường tiểu học bỏ học, nhằm bảo vệ vững chắc và duy trì sĩ số học sinh của trường nơi tôi đang công tác. Dựa vào những kết quả đạt được từ việc đổi mới cách tổ chức, phương pháp ngăn ngừa tình trạng học sinh bỏ học, duy trì sĩ số.. tôi nghĩ kết quả nghiên cứu này có thể ứng dụng rộng rãi ở các trường tiểu học. 3.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm Qua áp dụng những biện pháp cụ thể như trên, tôi nhận thấy ý thức học tập và kết quả giáo dục của các em học sinh chán học đã được nâng cao rất nhiều. Các em không còn ý định bỏ học, không còn tìm lí do để trốn học và học tập tiến bộ hơn. Nhờ sự tác động tư tưởng của giáo viên mà gia đình phụ huynh học sinh đã nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc học và trách nhiệm của mình trong việc quản lí, giáo dục các em. Cụ thể trong năm học 2012 – 2013, sĩ số học sinh trường tôi dù có biến động nhưng cuối cùng đã được giữ vững.  Thống kê kết quả: Năm học

2012 – 2013

Tổng số học sinh đầu năm học

Số học sinh có nguy cơ bỏ học

Số học sinh bỏ học

Tổng số học sinh cuối năm học

355

5

0

355

6

3.5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu: Tập thể giáo viên, cán bộ nhân viên trường tôi. 3.6. Những thông tin cần được bảo mật: Không. 3.7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Không. 3.8. Tài liệu kèm theo gồm: Phụ lục 1. Bến Tre, ngày 10 tháng 01 năm 2014 Huỳnh Thị Minh Trân

Trường Tiểu học Phú Mỹ, huyện Mỏ Cày Bắc

Giáo viên

8,1đ

7

Một Số Biện Pháp Trong Việc Duy Trì Sĩ Số Học Sinh / 2023

BẢNG TÓM TẮT ĐỀ TÀI Tên đề tài:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRONG VIỆC DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH

Họ và tên: Ngô Thanh Hoài Đơn vị công tác: Trường trung học cơ sở Bàu Năng. 1/ Lí do chọn đề tài Nhiệm vụ một giáo viên chuyên trách công tác phổ cập phải kết hợp cùng giáo viên chủ nhiệm tìm ra giải pháp, biện pháp khả thi khắc phục hạn chế học sinh bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học . 2/Mục đích nghiên cứu Cũng cố,duy trì phát huy thành quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở tạo điều kiện học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề cho đối tượng từ 15 tuổi đến 21 tuổi. 3/ Đối tượng Nghiên cứu, tìm hiểu học sinh bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học nắm rỏ nguyên nhân,phân loại đối tượng. 4/ Phương pháp nghiên cứu Phương pháp điều tra. Phương pháp vận động. Phương pháp thuyết phục. Phương pháp giúp đở. 5/ Đề tài đưa ra giải pháp mới Giáo viên đã sử dụng các giải pháp,biện pháp thích hợp để hổ trợ cho nhà trường trong khâu duy trì sĩ số. 6/ Hiệu quả áp dụng

1

Khi áp dụng những giải pháp,biện pháp vận động học sinh bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học tiếp tục đi học nâng cao trình độ dân trí,đáp ứng nhu cầu xã hội. giúp giáo viên chuyên trách phổ cập hoàn thành nhiệm vụ của mình. 7/ Phạm vi áp dụng Áp dụng đối với giáo viên được phân công chuyên trách phổ cập và giáo viên chủ nhiệm Trường trung học cơ sở Bàu Năng và một số trường trong huyện. Bàu Năng, ngày15 tháng 03 năm 2011 Người thực hiện

Ngô Thanh Hoài

I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1/ Lý do chọn đề tài Xuất phát từ thực tế, hiện tượng học sinh bỏ học có thể được xem là một vấn đề khá phổ biến trong xã hội ta hiện nay, mặc dù trong mấy năm qua, việc phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã đạt chuẩn và tiếp tục duy trì đến năm 2010, nhưng thường khi đến mùa vụ thu hoạch, tết nguyên đán đến thì học sinh lại bỏ học để phụ giúp gia đình hoặc theo làm ở các cơ sở chế biến. Đây là một công việc rất khó khăn đối với những người làm công tác giáo dục. 2

Dưới góc độ giáo viên chuyên trách phổ cập một đơn vị, tôi thấy mình cần phải kết hợp cùng giáo viên chủ nhiệm và tham mưu Ban chỉ đạo phổ cập xã làm gì, làm thế nào để hạn chế việc bỏ học của học sinh, nhằm làm giảm nhẹ gánh nặng cho công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở cũng như phổ cập giáo dục bậc trung học. Bước vào thế kỷ XXI Đảng và Nhà nước xác định nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định trong việc phát huy nội lực, phát triển đất nước , hợp tác , cạnh tranh hội nhập khu vực và quốc tế đòi hỏi đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do vậy toàn xã hội phải thực hiện công tác phổ cập. . . .Và đó cũng chính là vấn đề thúc đẩy tôi đến với đề tài nầy . 2/ Mục đích nghiên cứu 2.1/ Một trong những vấn đề trăn trở cuả ngành giáo dục cũng như những giáo viên có tâm huyết với nghề, đó là vấn đề học sinh bỏ học ngày có chiều hướng gia tăng không những sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất đào tạo chung của ngành, chất lượng giáo dục cuả trường.Thực chất, tỷ lệ học sinh bỏ học gia tăng không những ảnh hưởng đến trình độ trí lực cuả xã hội: Nghĩ học quá sớm tương lai cuả các em sẽ đi về đâu? Các em sẽ làm gì gì khi tuổi đời còn quá trẻ, sẽ trở thành những đứa trẻ không ngoan, trong số đó có em lại vướng vào tệ nạn xã hội hoặc bị lạm dụng sức lao động…Chính vì thế chủ trương cuả nhà nước về thực hiện chương trình phổ cập giáo dục giúp các em hoàn thiện trình độ văn hoá cuả mình, tạo cho các em có cuộc sống tốt đẹp hơn. 2.2/ Cũng cố, duy trì phát huy thành quả phổ cập giáo dục xóa mù chữ, phổ cập giáo dục trung học cơ sở tạo điều kiện phổ cập giáo dục trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề cho đối tượng từ 15 tuổi đến 21 tuổi. 2.3/ Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục, đảm bảo mọi học sinh được phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, có những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp. Tăng tỉ lệ học sinh trong độ tuổi phổ cập vào các trường trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề. 3

3/ Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu, tìm hiểu học sinh bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học ở độ tuổi phổ cập nắm rỏ nguyên nhân, phân loại đối tượng 4/ Phương pháp nghiên cứu Phương pháp điều tra. Phương pháp vận động. Phương pháp thuyết phục. Phương pháp giúp đở.

5/ Giả thuyết khoa học Khi áp dụng những giải pháp, biện pháp vận động học sinh bỏ học và học sinh có nguy cơ bỏ học tiếp tục đi học nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu xã hội. giúp giáo viên chuyên trách phổ cập hoàn thành nhiệm vụ của mình. Áp dụng đối với giáo viên được phân công chuyên trách phổ cập và giáo viên chủ nhiệm trường trung học cơ sở Bàu Năng và một số trường trong huyện.

4

II. NỘI DUNG 1/ Cơ sở lý luậncủa đề tài 5

1.1/ Các văn bản chí đạo các cấp Trên cơ sở chỉ thị số 61-CT/TW, ngày 28 tháng 12 năm 2000 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về thực hiện phổ cập trung học cơ sở. Chỉ thị số 01-CT/TU, ký ngày 26 tháng 03 năm 2001của tỉnh ủy tỉnh Tây Ninh về thực hiện phổ cập trung học cơ sở . Quyết định số 149-QĐ/UB, ngày 07 tháng 08 năm 2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh về thực hiện phổ cập trung học cơ sở .. Công văn số 05-CV/H, ngày 04 tháng 04 năm 2001 của huyện uỷ Dương Minh Châu về về việc thực hiện phổ cập trung học cơ sở . Kế hoạch số 08/2001/KH, ngày 23 tháng 08 năm 2001 của Ủy ban nhân dân huyện về thực hiện phổ cập trung học cơ sở. 1.2/ Các quan niệm khác về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở Cũng cố thành tựu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phấn đấu ngày càng có nhiều trường tiểu học đủ điều kiện học hai buổi tại trường, được học ngoại ngữ và tin học. Đẩy mạnh nhanh tiến độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tạo điều kiện cho những địa phương có khả năng hoàn thành sớm việc phổ cập bậc trung học phổ thông qua việc mở rộng quy mô đào tạo và phát triển đa dạng các loại hình trường phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở giai đoạn 200-2011 phải bảo đảm cho hầu hết thanh niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ trung học cơ sở trước khi hết tuổi18, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 2/ Cơ sở thực tiễn 2.1/ Thực trạng địa bàn về công tác phổ câp Xã Bàu Năng có tổng diện tích tự nhiên là 1832 ha với tổng số dân là 16.156 người đa số sống bằng nghề nông, trong đó số học sinh đang học các cấp từ tiểu học đến trung học cơ sở là 4.322 người chiếm tỉ lệ 28,8 % so với dân số toàn xã. 6

Trong năm qua ngành giáo dục xã có những biến đổi đáng kể về số lượng và chất lượng, cơ sở vật chất được tăng cường trong công tác dạy và học.Hiện nay xã Bàu năng có 5 trừơng học (2 trừơng mẫu giáo,1trường trung học cơ sở và 2 trường tiểu học). Từ những năm 1990 Dương Minh Châu đã thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ xã Bàu Năng được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ năm 1996, giáo dục đúng độ tuổi năm 2004 và tiếp tục xã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2004 và đang duy trì đạt chuẩn quốc gia về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010-2011. Đây là cơ sở phát huy mặt tích cực, rút ra những kinh nghiệm quí báu để thực hiện tiếp tục công tác phổ cập giáo dục trung học phổ thông. 2.2/ Sự cần thiết của đề tài Bảo đảm duy trì, cũng cố kết quả và hoàn thiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nhằm có kinh nghiệm thực hiện công tác phổ cập bậc trung học phổ thông. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trung học cơ sở, giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học, đảm bảo tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm. Huy động số học sinh tốt nghiệp tiểu học hàng năm vào học trung học cơ sở đạt tỷ lệ chuẩn đúng quy định. 3/ Nội dung vấn đề 3.1/ Vấn đề đặt ra: Nhìn chung, hầu hết tất cả học sinh trường THCS Bàu Năng đều có thái độ học tập đúng đắn, đạo đức tác phong tốt, có tinh thần cầu tiến, chuyên cần, ham học hỏi.Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh chưa xác định đúng đắn động cơ học tập như : Ham chơi hơn ham học dễ dẫn đến nguy cơ học kém, bỏ học. Đồng thời vẫn còn một số hộ gia đình ít đất canh tác, còn thiếu thốn về kinh tế nên cho con em nghỉ học khi vào mùa vụ để đi làm thuê. Cha mẹ lơ là trong việc quản lý, đôn đốc, nhắc nhở con em mình trong vấn đề học tập, điều này cũng tạo cho nguy cơ bỏ học của học sinh tăng cao. 7

Công tác chủ nhiệm của giáo viên cũng là một vấn đề cần phải sớm chấn chỉnh : Giáo viên chỉ biết lý do học sinh bỏ học, nhưng bản thân họ chưa biết cách nào để giúp các em có điều kiện trở lại lớp, như đến gia đình cùng phụ huynh tìm cách tháo gỡ; tham mưu Ban giám hiệu, Hội cha mẹ học sinh . . . để kịp thời giúp đỡ cũng như vận động các em trở lại lớp. Vào đầu năm học, giáo viên chưa nắm chắc được đối tượng học sinh có nguy cơ bỏ học để kịp thời có biện pháp ngăn chặn.Mặt khác, chính đối tượng này thường có học lực yếu nên thường xuyên bị thầy, cô la rầy, vô tình giáo viên tạo khoảng cách với các em ngày một lớn hơn, và khi các em đã bỏ học thì rất khó vận động trở lại. Chính vì chưa giải quyết tốt các vấn đề trên,nên hàng năm ở đơn vị luôn có học sinh bỏ học. Cụ thể như: Năm học 2005 – 2006 có 18 học sinh bỏ học chiếm tỉ lệ 1,96%; Năm học 2006 – 2007 có 13 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 1,47%; Năm học 2007 – 2008 có 15 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 1,81%; Năm học 2008 – 2009 có 6 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 0,71%; Năm học 2009 – 2010 có 5 học sinh bỏ học,chiếm tỉ lệ 0,61%. 3.2/ Các giải pháp 3.2.1/Thực hiện tốt công tác giáo dục nhận thức Tổ chức triển khai đến các đảng viên trong chi bộ, giáo viên ,công nhân viên trong nhà trường và nhân dân trong xã quán triệt tinh thần các văn bản chỉ đạo về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Ban chỉ đạo xã tham mưu với Đảng uỷ thường xuyên chỉ đạo và kiểm tra tiến độ thực hiện công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào tiêu chuẩn xét tư cách đảng viên có con em không ra lớp, Ban chỉ đạo chỉ đạo kịp thời các ban ngành đoàn thể, ban quản lý ấp, tổ tự quản vận động các em ra lớp phổ cập và chính qui. 3.2.2/ Xây dựng kế họach tổ chức thực hiện: 8

Xây dựng kế hoạch tham mưu Ủy ban nhân dân xà thành lập Ban chỉ đạo trong đó đồng chí phó Chủ tịch ủy ban nhân dân xã làm trưởng ban chi đạo và 9 thành viên các thành viên Ban chỉ đạo luôn nhiệt tình và tham gia có hiệu quả trong việc đề ra cách tổ chức thực hiện. Hàng tháng Ban chỉ đạo họp định kỳ và có sơ kết công tác tháng, để đề ra biện pháp thực hiện cho tháng tới, phân công cụ thể từng thành viên Ban chỉ đạo phụ trách địa bàn. 3.2.3/ Kết hợp với ban ngành và các đòan thể ở địa phương Nhà trường và giáo viên chuyên trách tham mưu với Ban chỉ đạo, chỉ đạo Ban quản lý ấp, tổ tự quản kết hợp với trường trung học cơ sở điều tra theo dõi trình độ học vấn và dân số trong độ tuổi phải phổ cập của địa bàn. Lấy tổ tự quản làm cơ sở để thực hiện công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở .Chỉ đạo các ban ngành đoàn thể xã tham gia vận động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 100% đồng thời vận động số học sinh bỏ học giữa chừng ra lớp và huy động đối tượng ra lớp. Ban ngành đoàn thể đưa công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào kế hoạch của mình và xác định đây là nhiệm vụ chung phải thực hiện. Vận động các tổ chức, cá nhân tham gia tích cực cho sự nghiệp giáo dục nói chung và công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ thông trung học nói riêng. 3.2.4/ Tuyên truyền công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở: Văn hoá thông tin tuyên truyền cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ chủ trương của Đảng và nhà nước ta về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở là nâng cao trình độ dân trí. Ban chỉ đạo ra quyết định, gửi công văn đến Ban ngành đoàn thể, tổ tự quản nắm chắc các đối tượng trong độ tuổi cần huy động và chịu trách nhiệm về công tác vận động các em ra lớp chính quy và lớp phổ cập, luôn hỗ trợ trẻ trong độ tuổi ra lớp, số học sinh bỏ học giữa chừng để có biện pháp kết hợp cùng nhà trường vận động các em ra lớp. 3.2.5/ Đối với trường Trung học cơ sở: 9

đình học sinh, nhằm phân loại học sinh thành những nhóm khác nhau, như : nhóm “không có nguy cơ bỏ học” và nhóm “có nguy cơ bỏ học”. Đối với nhóm học sinh “có nguy cơ bỏ học” tôi chia ra thành các dạng sau : Dạng 1 Học kém, hỏng kiến thức, nhóm nầy có 14 học sinh, chiếm tỉ lệ 1,7% . Dạng 2 Ham chơi thường hay trốn học , gia đình quản lý không chặt chẽ, nhóm nầy có 10 học sinh, chiếm tỉ lệ 1,25%. Dạng 3 : Gồm những học sinh có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt như : gia đình nghèo, cha ghẻ, mồ côi, ở trọ gia đình người thân để đi học, nhóm nầy gồm có 53 học sinh ,chiếm tỉ lệ 6,7%. 3.4/ Biện pháp thực hiện Sau khi đã phân chia nhóm, tôi tiến hành các biện pháp khác nhau để hạn chế học sinh bỏ học như sau : * ĐỐI VỚI DẠNG I Đối với các em học sinh ở dạng nầy do hỏng kiến thức cơ bản của những năm học trước nên việc tiếp thu kiến thức mới bị hạn chế, chưa thật sự cố gắng trong học tập, chưa có phương pháp học tập đúng đắn, dẫn đến tình trạng yếu kém về kiến thức, từ đó dễ có tư tưởng bỏ học. Đối với những học sinh nầy tôi kết hợp cùng giáo viên chủ nhiệm tiến hành các biện pháp như sau : 1.3/Phân tích cho các em hiểu tầm quan trọng của việc học. ( Giáo viên nói, giảng cho các em biết tình hình kinh tế, xã hội hiện nay chỉ có những con người có trình độ, có kiến thức khoa học, có đạo đức mới có thể đảm bảo được đời sống và con người đó mới có ích cho xã hội…) 2.3/Củng cố, hệ thống hóa lại các kiến thức cơ bản mà các em đã hỏng .(Về vấn đề nầy, đầu năm Ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên lập ra danh sách các em học sinh yếu kém ở 2 môn Tiếng Việt và Toán -qua kiểm tra chất lượng đầu năm- để phụ 11

đạo cho đối tượng này giờ học lòng vào giờ học chính khóa và có kế hoạch giảng dạy hợp lý cho đối tượng này). 3.3/Hướng dẫn các em có phương pháp học tập đúng đắn, tổ chức các nhóm học tập, đôi bạn học tập, phân công các bạn giỏi kèm cặp.( Đây là một vấn đề rất khó khăn,cần có sự kiên trì của giáo viên phụ trách lớp vừa động viên các em học yếu , vừa thuyết phục các em học khá giỏi để giúp đỡ nhau, cùng nhau tiến bộ.Các em nầy phải đến lớp sớm 20 phút để được các em giỏi kiểm tra, hướng dẫn ). 4.3/Giáo viên phụ trách (Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chuyên trách phổ cập và giáo viên chuyên trách tổng phụ trách đội) phải thường xuyên liên hệ với phụ huynh học sinh, nhằm động viên, nhắc nhở con em mình trong học tập.( Giáo viên có quyển sổ nhỏ ghi số điện thoại gia đình các em hoặc số điện thoại ở gần nhà các em đó, để tiện liên lạc và theo dõi – nhanh, thường xuyên). 5.3/Kịp thời thông báo với phụ huynh học sinh những biểu hiện lơ là như đi học trễ, nghỉ học (có phép cũng như không phép ), nhằm nâng cao tối đa tỉ lệ chuyên cần của các em và cũng từ đó nhằm giảm tối đa nguy cơ bỏ học của các em. Đối với những em học sinh ở dạng nầy, chủ yếu giáo viên chủ nhiệm phải tìm mọi cách để củng cố, nâng cao kiến thức của các em, giúp các em đuổi kịp với các bạn và vượt lên trong học tập. Từ đó tạo cho các em lòng mong muốn chiếm lĩnh tri thức, hăng say trong học tập, nhằm loại bỏ hẳn suy nghĩ bỏ học (nếu có) trong tư tưởng của các em. * ĐỐI VỚI DẠNG II Đối với các em học sinh ở dạng nầy có thể học lực từ trung bình trở lên nhưng ham chơi thường trốn học, đồng thời gia đình quản lí không chặt chẽ. Những học sinh thuộc dạng nầy thường có những thái độ bất cần, ít nghe lời thầy cô, vô phép, trong lớp ít chú ý nghe giảng, bài học học không được kỹ lắm và ít khi làm bài đầy đủ, từ đó mất phương hướng trong học tập dẫn đến nguy cơ bỏ học. Đối với những học sinh nầy tôi tiến hành các biện pháp như sau : 1.3/Giáo viên chủ nhiệm gặp riêng các em thường xuyên, trao đổi nhỏ to tâm sự, phân tích cho các em hiểu được tầm quan trọng của việc học tập, nâng cao trí tuệ 12

cũng như trong phát triển nhân cách và tùy từng tình huống mà dùng biện pháp nhẹ nhàng hay nghiêm khắc. 2.3/Quản lý chặt chẽ các em trong suốt buổi học, về vấn đề nầy giáo viên phụ trách cũng phải thường xuyên hỏi han các giáo viên có giảng dạy các bộ môn lớp mình. 3.3/Kết hợp với phụ huynh của các em, cách ly các học sinh nầy với những bạn xấu, đề nghị phụ huynh học sinh quản lý chặt chẽ các em ở nhà. Riêng ở lớp, giáo viên chủ nhiệm xếp cho các em ngồi đầu bàn (nơi giáo viên dễ quan sát ) cùng nhóm với những những em học sinh ngoan, học khá giỏi. 4.3/Kết hợp với các tổ chức giáo dục trong nhà trường như tổ chức Đoàn, Đội, tổ chức các buổi sinh hoạt vui chơi lành mạnh để hướng các em vào các hoạt động bổ ích. (Với nam, giáo viên giới thiệu các em vào đội bóng đá mi ni của trường để các em được vui, khỏe trong học tập.Với nữ, cho các em vào đội văn nghệ của lớp…) 5.3/Giao cho các em một số công việc nhất định trong lớp và theo dõi đôn đốc các em hoàn thành nhiệm vụ được giao.Ở đây, giáo viên phụ trách giao cho các em làm tổ phó của các tổ, xem về việc giữ trật tự trong giờ học, vệ sinh của tổ… 6.3/Đề nghị với phụ huynh các em( nếu có thể được) vì một lý do nào đó mà con em mình nghỉ học thì phải trực tiếp xin phép hoặc điện thoại với giáo viên phụ trách, hạn chế việc viết đơn xin phép nghỉ học của con em. Đối với những em học sinh ở dạng nầy ngoài việc kết hợp với phụ huynh học sinh với các tổ chức giáo dục trong nhà trường nhằm giáo dục để phát triển nhân cách cho các em. Giáo viên phụ trách cần phải nâng cao chất lượng học tập của các em như đối với các em học sinh ở dạng một, từ đó điều chỉnh những hành vi, thái độ không phù hợp, giúp các em hòa đồng với các bạn và nhận thấy tầm quan trọng của việc học, có như thế mới giảm thiểu được nguy cơ bỏ học của các em. * ĐỐI VỚI DẠNG III 13

Những em học sinh ở dạng nầy vì hoàn cảnh gia đình nghèo, đang gặp khó khăn cần phải phụ giúp gia đình nên ít có điều kiện trong học tập, các em không yên tâm trong học tập, thường nghỉ học để phụ giúp gia đình hoặc giữ nhà, trông em, nếu giáo viên phụ trách không tạo điều kiện giúp đỡ thì nguy cơ bỏ học sẽ dễ đến đối với các em. Đối với những em học sinh ở dạng nầy tôi tiến hành các biện pháp như sau : 1.3/Giáo viên chủ nhiệm liên hệ và hướng dẫn gia đình điều kiện để được miễn các khoản đóng góp về hội phí, xây dựng . Đây là việc làm ở đầu năm học, giáo viên phải khẩn trương xem xét tỉ mỉ, chu đáo. 2.3/ Liên hệ với tổ chức Đoàn, Đội giúp đỡ các em về vật chất như viết, tập . . . ( Tổng phụ trách đội đã động viên các đội viên của trường tặng sách cũ,dụng cụ học tập . . . Kết quả : đội viên,học sinh tặng 36 xuất quà/36 học sinh trị giá 8 triệu đồng , sách cũ và 200 quyển tập ). 3.3/Giáo viên chủ nhiệm liên hệ với thư viện trường cho các em mượn sách . Giáo viên phụ trách lập danh sách gửi cho cán bộ thư viện trường những ngày đầu năm học, và các em đã mượn được đầy đủ tất cả sách giáo khoa . 4.3/Giáo viên phụ trách sinh hoạt với tập thể lớp trong việc giúp đỡ các bạn có hoàn cảnh khó khăn ở lớp.Công việc này các lớp thực hiện rất tốt ( Ở đây, ta còn giáo dục được ở các em lòng tương thân tương ái ). 5.3/Xây dựng không khí tập thể hòa thuận, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau, nhằm làm giảm đi sự mặc cảm của những học sinh nghèo. Ở đây, trong giờ sinh hoạt giáo viên thường nói chuyện , tổ chức sinh hoạt lớp, vui chơi cùng với các em. 6.3/Giáo viên phụ trách gặp trực tiếp phụ huynh của các em học sinh nầy nhằm phân tích cho họ nhận thấy tầm quan trọng của việc học đối với các em, từ đó họ động viên con em mình vượt khó trong học tập : thường sau những cuộc đại hội hoặc sau cuộc họp phụ huynh học sinh của lớp (trao đổi riêng). Đối với những em học sinh nầy, ngoài việc giáo viên phụ trách kết hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tạo điều kiện thuận lợi về vật chất cũng như tinh thần giúp các em yên tâm đến lớp, bên cạnh đó giáo viên phụ trách 14

HS đầu

Chết,

Ch.

Huy

Bỏ học

HS cuối

Tỷ lệ

2006-2007

13

1,47

2007-2008

845

16

6

3

15

823

1,81

2008-2009

848

14

4

5

6

837

0,71

2009-2010

811

17

3

2

5

794

0,61

15

III. KẾT LUẬN 1/ Bài học kinh nghiệm Qua việc áp dụng các biện pháp về việc duy trì sĩ số học sinh , tôi rút ra được những bài học quý giá như sau : 1.1/ Làm sao cho tỉ lệ chuyên cần tăng thì chất lượng học tập cũng như việc duy trì sĩ số cũng được nâng cao và chuyển biến tốt đẹp theo. 1.2/ Cần phải kết hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong việc duy trì sĩ số học sinh . 1.3/Phải thường xuyên kết hợp với phụ huynh học sinh , thông báo kịp thời với phụ huynh học sinh về các mặt hoạt động của các em, đặc biệt là vấn đề chuyên cần của các em để phụ huynh kịp thời hỗ trợ . 1.4/ Ban chỉ đạo phổ cập-chống mù chữ xã thường xuyên đổi mới phương thức hoạt động cho phù hợp với tình hình thực tế địa bàn, từng đối tượng, đẩy mạnh hoạt động và tăng cường công tác kiểm tra,giám sát việc tổ chức thực hiện công tác này. 1.5/ Tăng cường đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy-học tập để giảm học sinh tỷ lệ học sinh yếu kém, chú trọng công tác chủ nhiệm nhằm sớm phát hiện và ngăn chặn tình trạng học sinh trung học cơ sở có nguy cơ bỏ học, bỏ học giữa chừng. 1.6/Việc duy trì sĩ số của học sinh đối với dạng 3 rất khó phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như nhận thức của phụ huynh, học sinh ; điều kiện kinh tế sống của gia đình các em chúng tôi đó đối với việc duy trì sĩ số ở dạng 3 nầy, muốn đạt kết quả cao, cần phải được sự hỗ trợ của các ban ngành, của Ủy ban nhân dân, nơi gia đình các em cư trú như chương trình xóa đói giảm nghèo, miễn giảm thuế, miễn giảm lao động công ích . . . Bên cạnh đó, cần có biện pháp khống chế của địa phương nếu những con em của gia đình nầy bỏ học . 2/ Hướng áp dụng đề tài 16

17

18

Giải Pháp Nào Duy Trì Sĩ Số Học Sinh? / 2023

(GLO)- Duy trì sĩ số học sinh ở mức cao nhất, thậm chí phải đạt con số 100% là nhiệm vụ quan trọng của ngành Giáo dục-Đào tạo. Thế nhưng, đây lại là một bài toán nan giải mà địa phương nào cũng đang gặp phải.

Theo đó, UBND huyện Mang Yang là đơn vị tiên phong trong việc mở ra một hội nghị bàn về vấn đề duy trì sĩ số học sinh ở cấp huyện, nhìn nhận thẳng thắn trước những nguyên nhân khiến học sinh bỏ học để từ đó bàn giải pháp với sự vào cuộc của tất cả các ban ngành, đoàn thể của địa phương. Đây là một việc làm hết sức có ý nghĩa khi năm học mới đang gần kề.

Tỷ lệ học sinh đi học đều chỉ đạt 52%

Duy trì sĩ số vẫn là câu hỏi khó cho ngành Giáo dục.

Đó là con số đáng báo động của Trường THCS Đak Jơ Ta (xã Đak Jơ Ta, huyện Mang Yang) trong năm học 2015-2016 vừa qua. Theo cô Trần Thị Minh-Hiệu trưởng nhà trường thì đến mùa hái cà phê, thu hoạch mì, lúa vào khoảng tháng 11, tháng 12 hoặc sau Tết Nguyên đán là thời điểm học sinh nghỉ học thường xuyên. Các em theo gia đình đi làm, lâu dần có tâm lý không muốn trở lại trường.

“Những em thường xuyên vắng học và bỏ học đều là học sinh dân tộc thiểu số mà nguyên nhân chủ yếu là do hoàn cảnh gia đình khó khăn, học lực kém, khả năng tiếp thu bài chậm nên chán học, ham chơi, đua đòi, không có sự quản lý của gia đình. Chúng tôi cũng đã tích cực trong việc vận động học sinh đến lớp nhưng con số duy trì sĩ số học sinh vẫn chỉ đạt trên 50%. Trong năm học 2016-2017, chúng tôi mong muốn nhận được sự quan tâm hơn nữa của chính quyền địa phương nhằm có sự tác động mạnh mẽ đến mỗi gia đình để người dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc học. Từ đó, họ biết chăm lo và lưu tâm trong việc đến trường của con em”-cô Trần Thị Minh cho biết

Là một trong số ít những trường có tỷ lệ duy trì sĩ số học sinh đạt trên 90% nhưng thầy Hoàng Kim Hữu-Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS Đê Ar (xã Đê Ar, huyện Mang Yang) vẫn trăn trở: “Trường tôi, 10% học sinh không đi học tương đương khoảng 30 em, vậy những em đó sẽ ra sao. Vì vậy chúng tôi chưa hài lòng với việc duy trì sĩ số của nhà trường, dù đã được đánh giá cao so với mặt bằng chung của huyện. Vấn đề bây giờ là chúng tôi cần sự quan tâm nhiều hơn nữa của chính quyền địa phương, xóa bỏ những tập tục lạc hậu của bà con người dân tộc thiểu số, ngăn chặn tình trạng tảo hôn, sinh đẻ không có kế hoạch để nâng cao đời sống kinh tế bởi đó là những nguyên nhân không hề nhỏ góp phần vào tình trạng bỏ học của học sinh”.

Nói về tình trạng học sinh nghỉ học trên địa bàn huyện Mang Yang, ông Krung Dam Đoàn-Phó Chủ tịch UBND huyện thẳng thắn nhìn nhận: “Việc một trường mà có tới gần 50% học sinh nghỉ học là việc không thể kéo dài và phải tháo gỡ ngay”.

Chủ tịch UBND tỉnh Võ Ngọc Thành vừa ký Công văn số 11/CT-UBND về việc tăng cường công tác huy động học sinh đến trường và hạn chế tình trạng học sinh bỏ học trên địa bàn tỉnh. Trong đó, UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, xã, thị trấn phải có trách nhiệm trong việc duy trì sĩ số học sinh; thực hiện các giải pháp tích cực để tất cả học sinh có hoàn cảnh khó khăn có nguy cơ bỏ học được đến trường ngay từ đầu năm học mới.

Là địa phương tiên phong trong việc tổ chức một hội nghị cấp huyện bàn về vấn đề duy trì sĩ số học sinh, những người làm công tác giáo dục ở huyện Mang Yang mong muốn những giải pháp đã nêu ra sẽ được thực hiện một cách nghiêm túc và đạt kết quả cao.

Với cương vị là người đúng đầu ngành, ông Hồ Văn Diệp-Trưởng phòng Giáo dục-Đào tạo huyện Mang Yang, cho biết: “Đối với ngành, chúng tôi đưa ra những giải pháp trong việc tổ chức dạy học phù hợp với trình độ tiếp thu của học sinh, đa dạng hình thức tổ chức lớp học nhằm thu hút, tạo hứng thú cho các em. Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc học tiếng dân tộc cho giáo viên để hạn chế tình trạng bất đồng ngôn ngữ giữa giáo viên và học sinh. Gắn kết trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm trong việc duy trì sĩ số học sinh, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của giáo viên trong một năm học”.

Một giải pháp quyết liệt khác cũng được đưa ra tại hội nghị, đó là Đảng ủy, UBND, Mặt trận và các đoàn thể xã, thị trấn, thôn, làng trên địa bàn huyện phải phân công nhiệm vụ cán bộ, đảng viên không chỉ phụ trách làng mà phải phụ trách từng hộ gia đình, từng em học sinh. “Nếu học sinh nào vắng học thường xuyên hoặc bỏ học mà cán bộ, đảng viên phụ trách không nắm bắt để can thiệp kịp thời thì coi như không hoàn thành nhiệm vụ trong năm. Xã sẽ củng cố hoạt động của Hội Khuyến học, tổ chức tuyên dương khen thưởng những gia đình có con em đạt thành tích trong học tập để tạo sự lan tỏa về tinh thần học tập trên địa bàn”-ông Đinh Khuy-Chủ tịch UBND xã Kon Chiêng nói.

Có thể thấy, việc vận dộng học sinh ra lớp hay duy trì sĩ số học sinh rõ ràng không phải chuyện riêng của các thầy, các cô mà cần sự chung tay của toàn xã hội, như ông Nguyễn Văn Kha-Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Mang Yang khẳng định: “Xã hội không thể khoán trắng việc giáo dục cho nhà trường vì vấn đề này nằm trong chuỗi liên kết gia đình-nhà trường-xã hội. Ngoài những giải pháp đã nêu, chúng ta cần có thêm nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng đời sống của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số để việc cho con em đến trường không phải là một gánh nặng mà là một niềm vui”.