Top 6 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Dạy Học Kể Chuyện Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Skkn Một Số Giải Pháp Dạy Môn Kể Chuyện Sáng Tạo Cho Học Sinh Lớp 1

1.1. Lí do chọn đề tài: Trong chương trình môn Tiếng Việt, phân môn Kể chuyện có một vị trí quan trọng, được xếp liền sau phân môn Tập đọc do ranh giới giữa tiếng và văn nên Kể chuyện vừa thuộc phạm trù ngôn ngữ, vừa thuộc phạm trù hình tượng nghệ thuật văn chương. Đặc điểm này thống nhất cơ bản mang tính đặc trưng của môn học vừa là cung cấp tri thức về Tiếng Việt để phát triển tối đa năng lực ngôn ngữ của mình, biết sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt để làm công cụ giao tiếp và tư duy. Mặt khác phân môn Kể Chuyện có tác dụng lớn trong việc bồi dưỡng tâm hồn, đem lại niềm vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học phát triển ngôn ngữ và tư duy cho trẻ, góp phần hình thành nhân cách và đem lại cảm xúc lành mạnh cho học sinh bằng việc các em được nghe và được tham gia kể hàng trăm câu chuyện thuộc đủ các thể loại khác nhau trong suốt bậc tiểu học. Như vậy phân môn Kể chuyện có tác dụng giáo dục, giáo dưỡng thế hệ trẻ rất to lớn. Dạy phân môn này một mặt thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, mặt khác góp phần tạo nên tính hoàn chỉnh và thống nhất cao cho toàn bộ chương trình đào tạo. Tạo điều kiện tốt hơn tronh việc giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đào tạo con người mới của thời kì CNH- HĐH. Để thực hiện việc dạy phân môn Kể chuyện được tốt, đáp ứng được mục tiêu đề ra thì chúng ta phải có bộ chương trình hiện đại và hệ thống phương pháp dạy học hoàn chỉnh, tối ưu. Hiện nay chương trình Kể chuyện ở bậc Tiểu đặc biệt là Kể chuyện lớp 1 với việc đưa ra một hệ thống bài tập kể sáng tạo đã thực sự trở thành một cương lĩnh tiến bộ. Sự thay đổi nội dung chương trình đó đòi hỏi cần phải có sự đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp. Trong các tiết kể chuyện ở lớp 1 hiện nay, hầu hết các giáo viên đang còn sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống. Bên cạnh ưu điểm, những phương pháp này vẫn còn tồn tại và hạn chế. Đó là chưa phát huy được tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh, đồng thời không rèn luyện được kĩ năng lao động trí tuệ, gây cản trở việc chiếm lĩnh tri thức một cách thụ động. Việc rèn luyện kĩ năng không được quan tâm một cách đúng mức. Như vậy việc sử dụng phương pháp dạy học cũ làm hạn chế tính ưu việt của chương trình mới, đồng thời không phát huy được tính tích cực của HS trong quá trình học tập. Một vấn đề dặt ra, cần phải có sự đầu tư nghiên cứu về phương pháp dạy học làm sao để dạy cho các em cách suy nghĩ, cách tư duy sáng tạo, để làm dược điều đó không có con đường nào khác là phải sử dụng hệ thống các phương pháp dạy học tích cực trong đó phương pháp kể chuyện sáng tạo là một trong những phương pháp tối ưu nhất để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Kể chuyện lớp 1. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp dạy môn Kể chuyện sáng tạo cho học sinh lớp 1″ là mục tiêu nghiên cứu của bản thân trong quá trình giảng dạy. 1.2. Mục đích nghiên cứu: – Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học phân môn kể chuyện ở lớp 1 trường chúng tôi. Từ đó đề xuất một số vấn đề những giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học phân môn kể chuyện sáng tạo ở lớp 1 theo định hướng tích cực hoá hoạt động của người học, lấy học sinh làm trung tâm. – Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn. – Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa với việc kể sáng tạo. – Đề ra các giải pháp dạy học kể sáng tạo. -Việc vận dụng giải pháp kể sáng tạo trong dạy học môn kể chuyện lớp 1. – Nâng cao chất lượng hiệu quả của việc dạy học kể chuyện ở lớp 1. 1.3. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu là giải pháp dạy môn Kể chuyện sáng tạo cho học sinh lớp 1 1.4. Phương pháp nghiên cứu. Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau : * Phương pháp thu thập tài liệu, thông tin : Tôi thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau như : Tài liệu trên mạng internet, sách, báo để phục vụ cho việc lụa chọn các giải pháp dạy môn Kể chuyện sáng tạo cho học sinh lớp 1. * Phương pháp phân tích : Từ những nguồn tài liệu đã thu thập được tôi phải phân tích, lựa chọn những thông tin cần thiết, thích hợp. * Phương pháp thực nghiệm : Từ những tiết dạy thực nghiệm với những giải pháp khác nhau để đúc rút được những giải pháp dạy môn Kể chuyện sáng tạo cho học sinh lớp 1. * Phương pháp điều tra, đánh giá, thống kê : Tôi đối chiếu kết quả khi chưa áp dụng sáng kiến với kết quả tiết dạy thực nghiệm để thấy được hiệu quả của các biện pháp mình đã áp dụng. 2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm: * Quan điểm tâm lí học: Suốt chặng đường dài 5,6 năm trời nhờ sự giúp đỡ của người lớn, các chức năng tâm sinh lí của trẻ được hoàn thiện một cách tốt đẹp. Đó là cơ sở đầu tiên để đưa trẻ em hình thành và phát triển nhân cách con người để bước vào giai đoạn mới. Giai đoạn lứa tuổi của học sinh lớp 1, ở lứa tuổi này các em tiếp tục diễn ra sự phát triển tâm sinh lí ở mức độ cao hơn về mặt tâm lí, khả năng tri giác của học sinh lớp 1 mang tính chất đại thể ít đi sâu vào chi tiết, không mang tính chủ động. Trẻ em luôn hứng thú về một cái gì đó nhưng hứng thú biểu hiện dưới những hình thức khác nhau. Mỗi xúc động của các em lại kích thích đến cảm xuác và mỗi cảm xúc lại ảnh hưởng đến tri giác một cách khác nhau. Một trong những lĩnh vực phát triển tri giác cho học sinh lớp 1 là tri giác thẩm mĩ với các tác phẩm nghệ thuật. Điểm mới trong tri giác của các em là xuất hiện các hình tượng nghệ thuật. Việc các em tham gia vào hoạt động kể chuyện và nghe kể cũng là một trong những hình thức để tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật. Một điểm quan trọng trong sự phát triển tâm sinh lí của học sinh lớp 1 là sự tưởng tượng. Giàu sức tưởng tượng là thuộc tính của trí tuệ gắn với năng lực hiểu biết của các em. Lứa tuổi các em đặc biệt là lớp đàu cấp, có thể nói đó là mảnh đất phì nhiêu để bồi đắp trí tưởng tượng cho con người. Học sinh lớp 1 thường nói lên những điều quá sự thật với niềm tin ngây thơ, những biểu hiện trên đều nằm trong sự tưởng tượng. Hoạt động tưởng tượng phải dựa trên nền tảng liên tưởng dựa trên sự ghi nhớ các sự vật hiện tượng. ý thức được vai trò của trí tưởng tượng phong phú của lứa tuổi học sinh lớp 1 và sự hấp dẫn trong văn học là rất cần thiết để khi dạy kể chuyện sáng tạo giáo viên sẽ có sẽ có sự vận dụng biện pháp, phương pháp có hiệu quả. Học sinh lớp 1 rất hiểu động, hiếu thắng , nhiều hứng thú và muốn biết tất cả. Các em thích nghe chuyện, thích quan sát. Các nhà tâm lí học cho rằng: “Đặc điểm nổi bật nhất trong tư duy của học sinh lớp 1 là tư duy cụ thể mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan và dựa vào những hành dộng thao tác trên những đối tượng cụ thể”. Đối với học sih lớp 1 tư duy trực quan, hình tượng phát triển mạnh. Từ những đặc điểm tâm sinh lí nói trên chúng ta đã xác định những biện pháp dạy học phân môn kể chuyện sáng tạo phù hợp nhất. * Quan điểm ngôn ngữ học: Giai đoạn giáo dục Tiểu học là góp phần làm cho trẻ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách thành thạo trong đời sống hàng ngày. Chúng ta biết rằng ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất giúp ta giao tiếp với người khác, lĩnh hội nền văn hóa, khoa học kĩ thuật để đưa đứa trẻ thành một thành viên của xã hội. Sự phát triển ngôn ngữ là quá trình bao gồm nhiều giai đoạn. Nếu như ở lứa tuổi Mẫu giáo bước đầu giúp cho trẻ hoàn thiện ngôn ngữ nói thì đến lứa tuổi học sinh Tiểu học ngôn ngữ nói của các em được phát triển ở mức cao hơn, đồng thời ở giai đoạn này các em còn hoàn thiện ngôn ngữ viết. Càng lên cao nhu cầu giáo tiếp càng mở rộng, vốn ngôn ngữ xã hội của các em càng phát triển nhanh. Do đó học sinh lớp 1 không chỉ sử dụng ngôn ngữ như một ơhương tiện thông báo mà đã sử dụng nó với ý nghĩa trao đổi và giao tiếp. Tuy nhiên trong thực tế vấn còn một số em nói năng chưa đúng, kém văn hoá, dùng sai từ. Sở dĩ có hiện tượng này là do sự phát triển ngôn ngữ của các em theo con đường tự phát, bắt chước hay học lõm. Vì vậy phân môn Kể chuyện có một vai trò cực kì quan trọng, góp phần hoàn thiện ở học sinh ngôn ngữ nói không phải chỉ ở mức bình thường mà rèn luyện ngôn ngữ nói một cách nghệ thuật. * Quan điểm Giáo dục học: Cũng theo các nhà Giáo dục học hiện đại thì chỉ khi nào có một phương án phát triển coi học sinh là nhân vật trung tâm của quá trình giáo dục, lấy học sinh làm nhân vật trung tâm của quá trình dạy học và tôn trọng nhân cách của nó như một thực thể hồn nhiên thì nền giáo dục đó mới là nền giáo dục nhân văn. Tuy nhiên trong quá trình đó vai trò của người giáo viên không hề bị hạ thấp mà cần phải được nâng cao. Giáo viên là người điều khiển, tổ chức quá trình dạy học. Đúng như nhà giáo dục vĩ đại Tiệp Khắc Cô men X ki đã nói: “Đứa trẻ ra đời thế nào, điều đó chẳng ai có thể quyết định được, nhưng dẫn dắt một cách đúng đắn để các em trở thành người tốt điểu đó tuỳ thuộc vào khả năng của chúng ta, những nhà Sư phạm, những cô giáo và những người mẹ hiền.” Chính vì vậy có thể nói vai trò của người giáo viên cực kì quan trọng. Thông qua việc nghiên cứu đặc điểm phát triển của học sinh lớp 1, tôi đã lấy đó làm căn cứ để nhìn nhận mặt bằng chung năng lực của học sinh lớp 1 khi làm quen hệ thống bài tập kể sáng tạo. 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. Tâm lí trẻ em đặc biệt là trẻ em ở lứa tuổi từ 1 đến 12 tuổi rất thích nghe kể chuyện . Chúng thường được nghe ông bà ,cha mẹ , thầy cô kể những câu chuyện cổ tích có những nhân vật thật gần gũi với lứa tuổi của chúng . Ngoài ra kể chuyện còn đem đến cho các em nhiều niềm vui , sự thích thú , thư giãn sau những giờ học căng thẳng . Những câu chuyện đó khơi gợi ở các em lòng yêu cái đẹp trong thiên nhiên, xã hội của con người. Nâng cao tâm hồn trong sáng, hướng các em tới những mơ ước cao xa cùng với sự phát triển hài hòa, toàn diện của bản thân. Ngoài ra những chuyện kể còn bồi dưỡng cho trẻ những tri thức thông thường về tự nhiên, xã hội. Môn kể chuyện còn là phân môn kích thích sự vận động linh hoạt của trí tuệ ,mở ra cho các em những chân trời mới, cho trí tưởng tượng làm phong phú các các hình thức màu sắc lí tưởng sống đang từng bước hình thành trong tâm trí trẻ em. Ánh mắt vui tươi, những tiếng cười sảng khoái, không khí nhộn nhịp, thư giãn trong giờ kể chuyện tạo ra sự gần gũi, cảm thông, long tin cậy giữa thầy cô và các em. Đặc biệt với những em còn rụt rè, nhút nhát, do bản thân hoặc do hoàn cảnh sống. Khi học tiết kể chuyện, các em sẽ có cơ hội gần gũi, hòa đồng với các bạn, các em được sống cùng những nhân vật trong truyện giúp các em tự tin, mạnh dạn hơn. Đối với học sinh tiểu học kể chuyện là môn học rất hấp dẫn và thường được các em học sinh chờ đón và tiếp thu bằng một tâm trạng hào hứng, vui thích. Qua đó tôi nhận thấy rằng kể chuyện là một môn học lý thú và hấp dẫn ở trường Tiểu học là có cơ sở. Ngoài ra kể chuyện còn hình thành cho trẻ tính mạnh dạn, khả năng diễn đạt câu chuyện theo lời văn của mình, Các em biết nhập vai nhân vật một cách tự nhiên giúp các tự tin vào khả năng diễn đạt của mình. Trong tiết kể chuyện các em có thể hòa mình vào những nhân vật mình yêu thích. Các em được sống trong thế giới riêng của mình. Vì thế việc dạy kể chuyện cho các em rất cần sự đầu tư của giáo viên và phải xác định được tầm quan trọng của tiết kể chuyện. * Chương trình sách giáo khoa kể chuyện lớp 1. Các tranh ở đây chỉ mang tính chất là điểm tựa để học sinh có thể dựa vào đó để kể lại chuyện. Mục kể chuyện trong sách giáo khoa được nhận biết bằng kí hiệu rất phong phú và sinh động đó là một học sinh nữ đang nói, tay phải giơ lên làm hiệu. Tiếp theo là tên truyện và tranh vẽ. Đến phận luyện tập tổng hợp có thêm chữ ở dạng yêu cầu hay câu hỏi gợi ý dưới tranh: Ví dụ: Chuyện “Sói và Sóc” (Tiếng Việt 1 – tập 2, trang 108). 1. Nghe kể chuyện 2. Kể lại từng đoạn theo tranh. – Tranh 1: Chuyện gì xảy ra khi Sóc đang chuyền trên cành cây? – Tranh 2: Sói định làm gì Sóc? – Tranh 3: Sói hỏi Sóc thế nào? – Sóc đáp ra sao? – Tranh 4: Sóc giải thích vì sao Sói buồn? 3. Phân vai kể lại toàn bộ câu chuyện * Hình thức bài tập kể sáng tạo: Các hình thức bài tập này được sắp xếp xen kẽ trong một tiết học, tạo nên sự đa dạng phong phú trong hoạt động học tập, tận dụng khả năng cuẩ mỗi học sinh. Khắc phục tình trạng nhàm chán, đơn lẻ khi phải nghe và kể lại một chiều như trước đây Vậy kể chuyện sáng tạo nhằm phát huy tính độc lập sáng tạo của học sinh. * Sự kết hợp kênh hình và kênh chữ: Kể chuyện ở lớp 1 được xây dựng giữa kênh hình và kênh chữ với mức đọ khác nhau. Tuy nhiên ở lớp 1 kênh hình hoàn toàn chiếm ưu thế, 100% bài kể chuyện được thiết kế dưới dạng kênh hình ở phần Học vần và phần Luyện tập tổng hợp. điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1, các em chưa biết đọc nên một văn bản chuyện dài thực sự là một khó khăn với các em . Hơn nữa đặc điểm tâm lí học sinh lớp 1 thiên về trực quan sinh động, nên nội dung câu chuyện được thể chế hoá bằng các tranh vẽ ngộ nghĩnh có tác dụng hấp dẫn trí tò mò của các em. * Bài kể chuyện có nội dung cố định: Do đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1 là khả năng ghi nhớ chưa cao nên ở đây chỉ sử dụng 2 hình thức bài tập kể sáng tạo. Dựa theo tranh kể lại từng đoạn truyện và kể lại toàn bộ câu chuyện. Các hình thức này được sắp xếp dạy sau khi học sinh đã hoàn thành phần Học vần. Cấu trúc chung của một tiết Kể chuyện ở chương trình lớp 1 thường là sau khi giáo viên kể mẫu từ 2 đến 3 lần, học sinh được hướng dẫn quan sát tranh trả lời câu hỏi gợi ý để nhớ lại từng đoạn câu chuyện theo tranh và sau đó kể lại toàn bộ nội dung câu chuyện. Ví dụ: kể chuyện “ Trí khôn” (trang 72): 1. Nghe kể chuyện. 2. Kể lại từng đoạn câu chuyện theo tranh. – Tranh 1: Hổ nhìn thấy gì? – Tranh 2: Hổ và trâu nói gì với nhau? – Tranh 3: Hổ và người nói gì với nhau? – Tranh 4: Câu chuyện kết thúc như thế nào? 3. Kể lại toàn bộ câu chuyện. Khác hẳn so với chương trình 165 tuần các hình thức bài tập đều được sắp xếp hoàn toàn bằng kênh chữ. Nhưng ở chương trình mới đối với học sinh lớp 1 các bài tập kể sáng tạo được sắp xếp đan xen cả kênh hình lẫn kênh chữ tuy nhiên trong đó kênh hình chiếm ưu thế hơn. Ở dưới mỗi bức tranh thường có các câu hỏi, giúp học sinh nhớ lại nội dung câu chuyện. điều này phù hợp với đặc điểm của học sinh lớp 1, do học sinh lớp 1 đọc chưa thông viết chưa thạo, khả năng ghi nhớ chưa tốt nên các văn bản truyện kể dài dòng thực sự là khó khăn đối với các em. Hơn nữa đặc điểm tâm lí của các em thiên về trực quan sinh động, nên nội dung câu chuyện được thẻ chế hoá bằng các bức tranh ngộ nghĩnh, sinh động, vui mắt có tác động hấp dẫn trí tò mò của học sinh rất lớn. Lúc đó hàng loạt câu hỏi tại sao? được xuất hiện trong đầu các em. Muốn trả lời được câu hỏi thì phải lắng nghe, nhớ, hiểu rồi suy luận, liên tưởng rồi kể lại từng đoạn của câu chuyện. Sau khi kể lại từng đoạn của câu chuyện, yêu cầu học sinh phải có khả năng tổng hợp để liên lết các phần của câu chuyện lại với nhau, kể lại câu chuyện một cách mạch lạc theo ngôn ngữ riêng của mình. Chỉ với 2 hình thức bài tập, nhưng chương trình kể chuyện lớp 1 bước đầu giúp các em làm quen với hệ thống các bài tập sáng tạo. Từ đó hoàn thành dần cho các em phương pháp học tập tích cực. * Bài kể chuyện có nội dung không cố định: Bài kể chuyện không có nội dung cố định thực chất là những bài tập “mở” mang tính sáng tạo nhằm khai thác kinh nghiệm và vốn sống cho các em. Rèn cho các em kĩ năng nói cơ bản quan trọng như: Kĩ năng sắp xếp chi tiết, kĩ năng lựa chọn hình thức ngữ điệu nói. Thông qua các hình thức bài tập này bước đầu tập dượt khả năng tưởng tượng, cách thiết kế xây dựng một câu chuyện mới cho học sinh. Điều đó cho thấy việc dạy học Kể chuyện ở Tiểu học hiện nay (nhất là học sinh lớp 1) Giáo viên phải có đầu tư thích đáng về mặt lí luận để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, làm nó thích ứng với nội dung chương trình mới nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Cùng với phân môn khác giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ lời nói một cách có văn hoá. Xuất phát từ thực trạng trên, trong đề tài này tôi đi sâu nghiên cứu “Phương pháp kể sáng tạo trong phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 1”. Với chủ ý muốn dóng góp 1 phần nhỏ bé của mình vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, góp phần đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người có đức có tài cho xã hội hôm nay và mai sau. 2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 2.3.1. Đối với dạng bài kể chuyện có nội dung cố định: * Cách kể chuyện của giáo viên: – Đối với dạng bài kể chuyện có nôị dung cố định ở lớp 1 thì nội dung truyện kể không được in trong sách học sinh. Do đó trong giờ kể giáo viên phải kể mẫu một cách sáng tạo. để đảm bảo biện pháp dạy học này có hiệu quả trong quá trình kể Giáo viên phải thực hiện một số quy tắc sau: – Truyện kể mẫu không được quá dài, bố cục chặt chẽ, phù hợp với cốt truyện và tính cách nhân vật. – Giáo viên có thể sáng tạo lời kể, tức là kể kết hợp tả những hình ảnh, chi tiết đặc sắc hoặc có thể thay đổi, thêm bớt lời đối thoại trong câu chuyện. – Phương pháp kể kết hợp với giải thích và thay thế từ khó hiểu, phương pháp này có tác dụng trong việc phát triển ngôn ngữ và làm tiền đề kể sáng tạo cho học sinh: Ví dụ: chuyện “ Con Rồng cháu Tiên”. Mở đầu câu chuyện, giáo viên có thể thêm vào “Ngày xửa ngày xưa đã lâu lắm rồi” hoặc có thể thay thế từ “Sức khoẻ kì lạ” bằng “ Sức khoẻ phi thường”. – Phương pháp dùng lời chuyển tiếp các đoạn trong một câu chuyện, lời chuyển tiếp vừa có ý nghĩa nhắc lại sự liên tục giữa các đoạn trong câu chuyện, vừa khêu gợi sự suy nghĩ của học sinh. Ví dụ chuyện: “Sói và Sóc” Sau khi giáo viên kể xong đoạn 1, giáo viên có thể dẫn dắt: Liệu Sói có thả Sóc ra không? Để biết được điều đó các em hãy nghe cô kể tiếp đoạn 2 của câu chuyện – Có thể kết hợp phương pháp trao đổi gợi mở bằng câu hỏi tự trả lời. Sử dụng phương pháp này nhằm nhấn mạnh cho học sinh những chi tiết quan trọng của câu chuyện. Khi kể chuyện “Sói và Sóc” giáo viên có thể đặt câu hỏi giữa chừng: Các em có biết tại sao Sói lại thả Sóc ra không? Lúc này buộc học sinh phải suy nghĩ, khi đó giáo viên kể tiếp câu chuyện sẽ giúp cho các em g

Giải Pháp Dạy Học Trực Tuyến

SỞ HỮU WEBSITE DẠY HỌC TRỰC TUYẾN CHỈ VỚI 5 PHÚT

Sở hữu ngay website dạy học trực tuyến dễ dàng chỉ với 5 phút thao tác mà không phải lo lắng về công nghệ hay vận hành website – tiết kiệm 90% chi phí và thời gian so với tổ chức lớp học offline truyền thống. Bạn chỉ cần tập trung vào xây dựng bài giảng chất lượng và phân phối tới hàng ngàn học viên của mình.

Gắn tên miền riêng

Sau khi tạo website, bạn có thể gắntên miền riêng bất kỳ lúc nào

Thanh toán thuận tiện

Tích hợp có hầu hết cáckênh thanh toán phổ biến:Visa/Master, Internet Banking, MoMo,..

Tích hợp Affiliate

Dễ dàng theo dõi doanh số,hoa hồng cho CTV, Sale,..

Tùy chỉnh giao diện

Bạn có thể điều chỉnh bố cục,hình ảnh, màu sắc và nội dungtheo ý bạn

Mọi lúc – Mọi nơi

Chỉ cần Laptop hoặc SmartPhonekết nối InternetDạy & Học qua Web và App

Liên tục nâng cấp

Các chức năng mới sẽ liên tụcđược bổ sung, nâng cấp customizetheo nhu cầu từng khách hàng

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức

Thực tế cho thấy việc đó đòi hỏi giáo viên phải chủ động lựa chọn  nội dung theo từng đối tượng học sinh, tức là phải dạy học xuất phát từ trình độ, năng lực, điều kiện cụ thể của từng học sinh. Điều đó có nghĩa là phải “cá thể hoá” dạy học, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập. Điều đó không có nghĩa là làm giảm vai trò của người giáo viên mà chính là làm tăng vai trò chủ động, sáng tạo của họ. Điều đó cũng kéo theo sự thay đổi hoạt động học tập của học sinh. Mục đích của việc làm này là nhằm tạo điều kiện cho mọi học sinh có thể học tập tích cực, sáng tạo, chủ động theo khả năng của mình trong từng lĩnh vực. Cách dạy này gọi là: “Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh” (phương pháp dạy học toán). Vì lý do trên mà trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi đưa ra một số biện pháp gây hứng thú trong giờ học toán cho học sinh tiểu học bằng cách tổ chức các hoạt động học tập để học sinh tự tìm tòi khám phá kiến thức mới góp phần nâng cao chất lượng trong các giờ học toán. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Thực trạng của lớp: I.1 Thuận lợi Cơ sở vật chất đảm bảo, đủ ánh sáng thoáng mát. Các em đã qua chương trình học lớp 1 dến lớp 4 của môn toán và đã làm quen với các phép tính cơ bản và làm quen với phần phân số, Các em được đào tạo theo chẩn mực của học sinh từ những năm trước nên nề nếp lớp ổn định và các em tương đối ngoan trong các giờ học. I.2. Khó khăn Tâm lý học sinh hiện nay, việc học môn toán, các em rất ngại hay nói đúng hơn là sợ do còn yếu và ít học toán. Thời gian tập trung cho việc học toán còn ít. Do vậy, học sinh không phát triển được năng lực tư duy, tìm tòi sáng tạo trong khi học môn toán, không hình thành được kĩ năng khái quát hóa, trừu tượng hóa của trí lực học sinh. Năm học trước, tôi áp dụng đề tài này cho lớp tôi và thấy có kết quả rất khả quan nên đến đầu năm học 2011-2012, được sự đồng ý của Hội đồng khoa học trường, tôi đăng ký thực hiện đề tài này cho học sinh lớp lớp 5A. Do đó, vào đầu năm học tôi thống kê các sai lầm của học sinh trong lớp tôi để tìm ra nguyên nhân và các biện pháp để khắc phục ngay cho môn toán. Qua thống kê, tôi nhận thấy học sinh của lớp tôi học chưa tốt về môn toán do những nguyên nhân sau: Một số em tiếp thu bài còn chậm, ý thức tự học chưa cao. Chưa hiểu và nắm được đầy các khái niệm trong môn toán và chưa có hứng thú trong môn học toán. II. Biện pháp thực hiện II.1. Tự tìm tòi, khám phá kiến thức trong học tập. Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội; con người không chỉ tiếp thu những cái đã có mà luôn chủ động tìm tòi, khám phá, sáng tạo ra những cái mới phục vụ cho nhu cầu và cuộc sống của mình. Tính tích cực trong học tập là tính tích cực trong hoạt động nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh nội dung học tập bằng hoạt động tìm tòi, khám phá. Hoạt động tìm tòi, khám phá là một chuỗi hành động và thao tác để hướng tới một mục tiêu xác định. Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có nhiều dạng khác nhau, từ mức độ thấp đến mức đọ cao tuỳ theo năng lực tư duy của từng học sinh và được tổ chức thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm. Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có thể tóm tắt như sau: A. Mục tiêu của hoạt động: – Hình thành kiến thức, kĩ năng mới. – Xây dựng thái độ, niềm tin cho học sinh. – Rèn luyện khả năng tư duy, năng lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề. B. Các dạng hoạt động: – Trả lời câu hỏi và đặt câu hỏi.(hỏi – đáp) – Lập bảng, biểu đồ, sơ đồ, phân tích dữ kiện. – Thông báo kết quả, kiểm định kết quả. – Đưa ra giải pháp, kiến thức mới. C. Hình thức tổ chức: – Hoạt động cá nhân. – Hoạt động theo nhóm (2 người hoặc 4 người). – Làm việc chung cả lớp. – Trò chơi. II.2. Tác dụng của hoạt động tự tìm tòi khám phá kiến thức mới. – Giúp học sinh rèn luyện tính chủ động, sáng tạo trong học Toán. – Học sinh sẽ hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức nếu như chính mình tìm ra kiến thức đó hoặc góp phần cùng các bạn tìm tòi, khám phá, xây dựng lên kiến thức đó. – Trong quá trình tìm tòi, khám phá học sinh tự đánh giá được kiến thức của mình. Cụ thể: + Khi gặp khó khăn chưa giải quyết được vấn đề, học sinh tự đo được thiếu sót của mình về mặt kiến thức, về mặt tư duy và tự rút kinh nghiệm. + Khi tranh luận với các bạn, học sinh cũng tự đánh giá được trình độ của mình so với các bạn để tự rèn luyện, điều chỉnh. – Trong quá trình học sinh tự tìm tòi, khám phá, Giáo viên biết được tình hình của học sinh về mức độ nắm kiến thức từ vốn hiểu biết, từ bài học cũ; trình độ tư duy, khả năng khai thác mối liên hệ giữa yếu tố đã biết với yếu tố phải tìm. – Học sinh tự tìm tòi, khám phá sẽ rèn luyện được tính kiên trì vượt khó khăn và một số phẩm chất tốt của người học Toán như: Tự tin, suy luận có cơ sở, coi trọng tính chính xác, tính hệ thống… II.3. Quy trình dạy học để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới. II.3.1. Đặc trưng của cách dạy – Giáo viên đặt ra bài toán nhận thức chứa đựng mâu thuẫn hoặc mối quan hệ giữa cái đã biết với cái phải tìm theo cấu trúc một cách hợp lí, tự nhiên. – Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn và được đặt vào tình huống có vấn đề. Khi đó học sinh được đặt vào trạng thái muốn tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh nội dung kiến thức. – Bằng cách giải bài toán nhận thức mà học sinh lĩnh hội được một cách tự giác và tích cực cả kiến thức và kĩ năng; từ đó có được niềm vui của sự nhận thức sáng tạo. II.3.2. Quy trình cụ thể. Bước 1: Ôn tập tái hiện Bước 2: Phát hiện, nêu vấn đề: Cho học sinh phát hiện ra những vấn đề chưa rõ và xem đó là vấn đề cần được giải quyết trong tiết học đó. Bước 3: Tổng hợp, so sánh và đề xuất ý tưởng: Bước 4: Dự đoán giả thuyết: Cho học sinh suy nghĩ tiếp và dự đoán hay đề xuất giả thuyết về nội dung kiến thức, kĩ năng mới. Bước 5: Kiểm tra giả thuyết: Cho học sinh kiểm tra giả thuyết đã đề xuất qua một số ví dụ cụ thể để khẳng định đó là kiến thức, kĩ năng mới. Bước 6: Rút ra kiến thức mới: Sau khi kiểm tra và khẳng định giả thuyết đó là đúng, Giáo viên cho học sinh phân tích tìm ra kết luận chung về kiến thức, kĩ năng mới. II.3.3. Một số lưu ý khi thực hiện cách dạy để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới. – Phải chú ý ngay từ việc soạn giáo án. Phải tập trung vào việc thiết kế các hoạt động của học sinh trước, trên cơ sở đó mới xác định các hoạt động chỉ đạo, tổ chức của Giáo viên. – Số lượng hoạt động và mức độ tư duy trong mỗi tiết học phải phù hợp với trình độ học sinh để có đủ thời gian tổ chức hoạt động tìm tòi, khám phá. – Nghiên cứu kĩ nội dung bài học, tìm kiếm các tinh huống có vấn đề, tạo cơ hội cho học sinh tìm tòi, khám phá. II.3.4. Một số ví dụ: II.3.4.1. Ví dụ 1: Tuần 1 – Bài: Phân số thập phân (trang 8 SGK) I. Mục tiêu. – Giúp học sinh nhận biết được các phân số thập phân. – Giúp các em biết được một số phân số có thể viết thành phân số thập phận và biết cách chuyển những phân số đó thành phân số thập phân. II. Các hoạt động dạy học chủ yếu. 1. Kiểm tra bài cũ: (5 – 6 phút) – Kiểm tra viết tất cả học sinh trong lớp ( có thể dùng phiếu kiểm tra). (1 học sinh lên bảng làm , yêu cầu học sinh này trình bày ở bảng bên trái.) Đề bài Đáp án (Học sinh làm) a) So sánh với = = = = b) với = = = = 2. Bài mới a) Giới thiệu bài: Dựa vào các bài làm trên bảng, giáo viên dùng thước để chỉ vào những phân số nói đến: Để so sánh với ta so sánh hai phân số tương đương là với , để so sánh với ta so sánh 2 phân số tương ứng là với , những phân số này…… và phân số (giáo viên dùng phấn màu đóng khung 5 phân số đó) gọi là phân số thập phân. Từ đó giáo viên giới thiệu tên bài mới VD: Phân số thập phân b. Giới thiệu về phân số thập phân: ( 15 – 18 phút) *) Nhận biết phân số thập phân. – Dựa vào 5 phân số trên, mỗi học sinh trong lớp viết vào giấy nháp 2 phân số thập phân và hai phân số không phải là phân số thập phân (1 học sinh A lên bảng viết). – Tất cả lớp, dùng bút đánh dấu đặc điểm của phân số thập phân (học sinh A cũng làm tương tự ở bảng). – Ba, bốn học sinh nêu đặc điểm mà minh đánh dấu (trong đó có học sinh A) – Giáo viên tổng kết theo phần a (SGK) và yêu cầu cả lớp cầm bút gạch 1 gạch dưới 3 chữ: Có mẫu số và gạch 2 gạch dưới các số 10;100,1000;… (trong SGK) – Giáo viên viết sẵn 5 phân số (ở bài 3 trang 8) vào băng giấy rồi gắn lên bảng. Gọi 1 học sinh lên bảng, yêu cầu dùng bút hãy xoá những phân số không phải là phân số thập phân trong 5 phân số ở băng giấy đó – tất cả học sinh còn lại cũng dùng bút xoá tương tự ở bài 3 trang 8 SGK. – Cũng từ bài làm kiểm tra của học sinh ở trên (đáp án). Giáo viên chỉ và nói tiếp: Khi so sánh với ta đã chuyển thành và chuyển thành , … thế là ta đã làm 1 việc là chuyển từ 1 phân số thành 1 phân số thập phân. *) Chuyển 1 phân số thành phân số thập phân. Dựa theo cách chuyển như bài kiểm tra trên. – Từng em trình bày trong giấy nháp, chuyển và thành phân số thập phân. – Gọi 1 học sinh lên bảng làm. – Cả lớp sửa lại câu trên thành 1 câu đúng. (gọi 1 học sinh lên bảng viết câu đúng đó). – Giáo viên tổng kết và gắn lên bảng băng giấy đã viết sẵn cách chuyển. Cách chuyển: Tìm một số khi nhân với mẫu số để được 10, 100, 1000… rồi nhân số ấy với cả tử số và mẫu số sẽ được phân số thập phân. c. Thực hành ( 12 – 15 phút). Bài 1: Đọc phân số thập phân. Từng em trong lớp (gọi một học sinh lên bảng làm) ghi lời đọc cho từng phân số thập phân ở dưới phân số thập phân đó trong SGK. Theo mẫu. ; ; ; ; Chín phần mười Bài 2: Viết phân số thập phân. Tiến hành tương tự như trên. Theo mẫu: Bảy phần mười; hai mươi phần trăm; bốn trăm bảy mươi lăm phần nghìn; một phần triệu. Bài 4. Chuyển phân số thành phân số thập phân. + Tất cả học sinh điều làm bài ngay trong sách giáo khoa hoặc vào giấy nháp (gọi 2 học sinh lên bảng). Giáo viên chú ý kèm cặp, giúp đỡ những em còn yếu làm bài. II.3.4.2- Ví dụ 2: Tuần 15 – Bài: Giải toán về tỉ số phần trăm (trang 75 SGK) I. Mục tiêu. Giúp học sinh: – Biết cách tìm tỷ số phần trăm của hai số. – Biết vận dụng để giải các bài toán đơn giản có nội dung tìm tỷ số phần trăm của hai số. II. Các hoạt động dạy học chủ yếu * Hoạt động 1: Tổ chức cho học sinh nhắc lại khái niệm tỉ số phần trăm. chẳng hạn: GV nêu bài toán tương tự ví dụ 2 trang 74 trong SGK, ghi tóm tắt lên bảng: Số HS toàn trường: 400 Số học sinh nữ: 208 Sau đó hỏi học sinh: Tỉ số phần trăm của số học sinh nữ và số học sinh toàn trường là bao nhiêu? Hay: Số HS nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số HS toàn trường? (Kết quả là 52%). * Hoạt động 2: Giới thiệu hoặc hướng dẫn HS cách tìm tỉ số phần trăm của hai số 315 và 600. – Gợi ý để HS có thể viết tỷ số của số HS nữ và số HS toàn trường (315 : 600). – Giao việc cho HS làm thế nào để đưa tỉ số (315 : 600) về tỉ số phần trăm. Từ đó xuất hiện vấn đề cần phải giải quyết. – Giúp HS tự tìm đọc cách giải quyết là thực hiện phép chia. Nếu không thì yêu cầu HS thực hiện phép chia (315 : 600 = 0,525). – Hướng dẫn để HS tự tìm thấy được là để chuyển tỉ số về tỉ số phần trăm thì phải nhân kết quả đó với 100 và chia cho 100. 0,525 x 100 : 100 = 52,5 : 100 = 52, 5%. – Từ đó dẫn dắt giúp học sinh nêu được quy tắc: + Chia 315 cho 600. + Nhân thương đó với 100 và viết kí hiệu % vào bên phải tích vừa tìm được. * Hoạt động 3: Hướng dẫn HS vận dụng để giải bài toán có nội dung tìm tỉ số phần trăm. – GV đọc bài toán hoặc gọi HS đọc bài toán trong SGK và giải thích: Khi 80 kg nước biển bốc hơi hết thì thu được 2,8 kg muối. Tìm tỉ số phần trăm của lượng muối trong nước biển. – Hướng dẫn học sinh trình bày lời giải bài toán: Bài giải Tỉ số phần trăm của lượng muối trong nước biển là: 2,8 : 80 = 0,035 0,035 = 3,5 % Đáp số : 3,5 % * Hoạt động 4: Tổ chức cho HS luyện tập thực hành qua 3 bài tập. Bài 1: Cho HS nêu bài toán, GV giới thiệu mẫu. Yêu cầu HS làm vào vở, sau đó trao đổi kết quả với nhau. 0,3 = 30%; 0,234 = 23,4 %; 1,35 = 135 %. Bài 2: Giáo viên giới thiệu mẫu (cho HS thực hiện tính 19 : 30, dừng lại ở 4 chữ số sau dấu phẩy, viết 0,6333… = 63,33%). Cho HS tự làm bài, gọi 1 vài HS trình bày trên bảng rồi chữa bài. Kết quả là: 45 : 61 = 0,7377… = 73,77 %; 1,2 : 26 = 0,0461 … = 4,61 %. Bài 3: Hướng dẫn HS tìm hiểu đề bài, tóm tắt bài toán, làm vào vở. GV chú ý giúp đỡ học sinh còn lúng túng. Có thể cho HS trao đổi theo nhóm để giải toán. Gọi HS trình bày trên bảng hoặc bảng phụ. Bài giải Tỉ số phần trăm của số HS nữ và số HS của lớp học là. 13 : 25 = 0,52. 0,52 = 52% Đáp số: 52% II.3.4.3- Ví dụ 3: Tuần 18 – Bài: Diện tích hình tam giác (trang 87 SGK) I/- Mục tiêu. – HS tự hình thành được công thức tính diện tích của hình tam giác. – Biết vận dụng công thức để tính diện tích hình tam giác. II/- Các hoạt động dạy học chủ yếu Hoạt động 1: Hình thành công thức tính diện tích hình tam giác. Bước 1: Tạo tình huống có vấn đề. GV: Đưa hình tam giác chuẩn bị sẵn (như hình vẽ 1), yêu cầu HS tính diện tích của hình tam giác (xem hình 1). 3cm 4cm Bước 2: Tổ chức cho HS phát hiện và tìm hiểu vấn đề (hoạt động theo nhóm nhỏ). – GV gợi ý để HS phát hiện được: Vấn đề được đặt ra là gì? (tính diện tích của hình tam giác). HS tìm cách giải quyết vấn đề? Bước 3: Tổ chức cho học sinh hoạt động giải quyết vấn đề. Cắt tam giác ghép thành hình chữ nhật (hình 2). Sử dụng hai tam giác bằng nhau, ghép thành hình bình hành (hình 3). Sử dụng hai tam giác bằng nhau, ghép thành hình chữ nhật (hình 4). Hoặc đếm số ô vuông nằm trọn trong tam giác (hình 1). Hình 2 Hình 3 Hình 4 – Các nhóm trình bày cách giải quyết vấn đề của nhóm mình và trao đổi ý kiến về các cách đó để tự rút ra được: Có 2 cách là thuận lợi hơn cả, đó là: Cách 1: Sử dụng 2 tam giác bằng nhau ghép thành 1 hình bình hành. Cách 2: Sử dụng 2 tam giác bằng nhau cắt, ghép thành hình chữ nhật. (các cách khác nhau không thuận lợi bằng). GV có thể hướng dẫn: Theo cách 1: Dùng 2 tam giác bằng nhau ghép lại để tạo thành hình bình hành ABCD (như hình vẽ) A H H Cho học sinh so sánh, đối chiếu các yếu tố hình học trong hình để thấy: Hình bình hành ABCD gổm 2 hình tam giác bằng nhau ghép lại nên có diện tích gấp 2 lần diện tích hình tam giác ABC. Hình bình hành ABCD và hình tam gíc ABC có chung đáy BC và đường cao AH. Tính diện tích hình bình hành ABCD bằng cách: lấy đáy x chiều cao, tức là BC x AH. Rút ra cách tính diện tích hình tam giác ABC là: Từ đó nêu quy tắc và công thức tính như SGK Theo cách 2 (là cách trong SGK): Sử dụng mô hình chuẩn bị trước: Lấy ra 2 tam giác bằng nhau (trong đó có một tam giác đã chia làm hai mảnh) rồi ghép thành hình chữ nhật. Hoặc sử dụng giấy (đã chuẩn bị sẵn ở trên ), cắt đồng thời 2 tam giác bằng nhau (gấp đôi mảnh giấy, cắt theo hình tam giác đã vẽ), rồi cắt một tam giác (theo đường cao) được 2 tam giác nhỏ ghép vào tam giác kia để được hình chữ nhật. Bước 4: Tổ chức cho HS phân tích vấn đề và khái quát hoá vấn đề (hoạt động cá nhân kết hợp hoạt dộng chung cả lớp). + GV mô tả hoạt động cắt, ghép trên bằng hình vẽ: Đường cắt 1 2 1 2 + GV hướng dẫn HS so sánh, đồi chiếu các yếu tố hình học trong hình vừa ghép để nhận thấy: Chiều rộng của hình chữ nhật bằng chiều cao của hình tam giác, chiều dài của hình chữ nhật bằng cạnh đáy của hình tam giác. Từ đó, GV có thể gợi ý: * Viết ngắn gọn cách tính diện tích của hình chữ nhật? (Chiều cao x đáy). * So sánh diện tích của hình tam giác với diện tích của hình chữ nhật và rút ra cách tính diện tích của hình tam giác (chiều cao x đáy: 2); + GV nhận xét kết quả làm việc của HS, hướng dẫn HS khái quát hoá: S = a x b : 2, trong đó a là độ dài đáy, h là chiều cao tương ứng với đáy a (a và h có cùng đơn vị đo) S là diện tích (kèm hình vẽ). h a * Lưu ý HS: Cần ghi nhớ công thức, cách thành lập công thức để vận dụng trong những trường hợp khác sẽ gặp sau này. + Học sinh áp dụng công thức (vừa thành lập) để tính diện tích tam giác đã nêu trong bước 1 (3 x 4 : 2 = 6 (cm2)) Hoạt động 2: : Thực hành Bài 1: Tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo. + HS tự làm và nêu kết quả. HS khác nhận xét (cách tính và kết quả). 8 x 6 : 2 = 24 cm2; 2,3 x 1,2 : 2 = 1, 38 dm2. + GV tổ chức cho HS khá, giỏi giúp đỡ bạn. Nhận xét về đơn vị đo (đáy và chiều cao đều có đơn vị đo là cm (dm)), diện tích có đơn vị đo là cm2 (dm2). Bài 2: Tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao không có cùng đơn vị đo (1 bài) và 1 bài tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo, số đo là số thập phân nhưng số chữ số ở phần nguyên khác nhau. + HS tự làm và nêu kết quả? HS khác nhận xét. a) 5m = 50 dm; hoặc 24 dm = 2,4 m. 50 x 24 : 2 = 600 (dm2); hoặc 5 x 2,4 : 2 = 6 (m2). b) 42,5 x 5,2 : 2 = 110,5 (m2) + HS phát hiện thêm vấn đề: số đo độ dài đáy và chiều cao không cùng đơn vị đo (câu a).+ GV tổ chức cho HS khá, giỏi giúp đỡ bạn. GV nhận xét, kết luận và nêu vấn đề: trước khi áp dụng công thức tính diện tích hình tam giác cần lưu ý điều gì? (đổi số đo độ dài đáy và chiều cao về cùng số đo) III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Kết quả đạt được: Lớp 5A GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH YẾU SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) Sĩ số:31 Nhờ vận dụng những biện pháp tạo tình huống có vấn đề trong tiết dạy Toán ở trên tôi thấy chất lượng môn Toán của lớp tôi tăng lên rất nhiều. Tôi đã đối chiếu bài kiểm tra cuối học kỳ II với bài kiểm tra Khảo sát đầu năm học năm như sau: IV. KẾT LUẬN Các biện pháp tạo ra tình huống có vấn đề trong tiết dạy Toán là rất quan trọng, nó mang lại rất nhiều lợi ích cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. – Về nhận thức: đa số giáo viên trong nhà trường đều hiểu và xác định được vai trò và sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình lên lớp. giáo viên, tổ chuyên môn đều xây dựng các giờ dạy thử, các giờ dạy mẫu nhằm định hình cho mình một phương pháp dạy học phù hợp trong từng bài dạy, tiết dạy. nếu trước kia giáo viên đổi mới phương pháp dạy học chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bản thân thì nay dựa vào cơ sở khoa học và định hướng của đề tài mà giáo viên có một cách nhìn tổng thể để đổi mới phương pháp dạy học, nhờ đó mà thực hiện dễ dàng và hiệu quả hơn. Cách dạy này có một số ưu điểm sau: + Học sinh nắm chắc được kiến thức trọng tâm của bài. + Phát huy được tính chủ động, tích cực trong học tập. + Giáo viên không phải nói nhiều mà thay vào đó học sinh sẽ được thực hành nhiều. + Các tồn tại của những năm học trước đã được khắc phục ở năm học này. + Tiết học đảm bảo đúng thời gian quy định (không kết thúc sớm), tránh được sự đơn điệu trong bài học, thu hút sự chú ý của học sinh. Tôi xin trân thành cảm ơn Người viết Nguyễn Ngọc Ánh V. KIẾN NGHỊ 1. Đối với nhà

Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy

PHÒNG GD&ĐT YÊN ĐỊNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY – HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5 Người thực hiện: Trịnh Thị Việt Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường TH Thị trấn Quán Lào SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Lịch sử và Địa lí YÊN ĐỊNH, NĂM 2017 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GD&ĐT YÊN ĐỊNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY – HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5 Người thực hiện: Trịnh Thị Việt Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường TH Thị trấn Quán Lào SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Lịch sử và Địa lí MỤC LỤC Nội dung Trang PHẦN 1:MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 1 3. Đối tượng nghiên cứu 2 4. Phương pháp nghiên cứu 2 PHẦN 2: NỘI DUNG 3 1. Cơ sở lý luận 3 2. Thực trạng của việc dạy – học Địa lí lớp 5 3 2.1. Khi học địa lí, kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ của học sinh chưa tốt 3 2.2. Việc sử dụng tranh ảnh, thông tin,trong các tiết dạy đạt hiệu quả chưa cao 4 2.3. Việc lựa chon trò chơi học tập ở các tiết học địa lí chưa thật phong phú và phù hợp với bài dạy và đối tượng học sinh 4 3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Địa lí lớp 5 5 3.1. Rèn kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ cho học sinh 5 3.2. Nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tranh ảnh, thông tin, sưu tầm được trong quá trình dạy học địa lí 9 3.3. Lựa chọn, tổ chức các trò chơi học tập Địa lí phù hợp với từng bài dạy và đối tượng học sinh 14 4. Hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Địa lí lớp 5 17 PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 18 1. Kết luận 18 2. Kiến nghị 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 PHẦN 1: MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Phần Địa lí (trong phân môn Lịch sử và Địa lí lớp 5) nhằm giúp cho học sinh hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường sống xung quanh, cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ Địa lí ở Việt Nam cũng như một số nước đại diện cho các châu lục trên thế giới. Học sinh đến với môn Địa lí là học sinh được hình thành kỹ năng quan sát sự vật, hiện tượng, thu thập tìm kiếm tư liệu Địa lí từ sách giáo khoa, trong cuộc sống gần gũi học sinh; học sinh biết trình bày kết quả học tập qua nhiều hình thức: lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ, bảng thống kê Để từ những giờ học trên lớp, các em biết đem về vận dụng vào cuộc sống phong phú, từ đó hình thành được ở các em thái độ ham học hỏi, tìm hiểu để biết về quê hương, đất nước, môi trường xung quanh, thêm yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu quê hương, đất nước và khát khao được học để trở nên con người có ích cho gia đình, xã hội, trở nên con người năng động, sáng tạo, đem hết sức mình để góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam văn minh giàu mạnh hơn. Muốn giáo dục cho học sinh lớp 5 có những hiểu biết về địa lí Việt Nam và thế giới thì trước hết phải tạo được tình cảm hứng thú học môn Địa lí ở mỗi em. Qua nhiều năm giảng dạy khối lớp 5, tôi thấy việc dạy và học địa lí còn khó với giáo viên và có phần tẻ nhạt với học sinh. Vì đa số phụ huynh và học sinh đều quan niệm Địa lý chỉ là môn phụ. Giáo viên cũng chưa thực sự đầu tư nhiều vào phân môn này để thu hút học sinh. Khi dạy giờ Địa lí, đa số giáo viên chỉ sử dụng các thiết bị dạy học địa lí để minh họa cho lời giảng mà ít chú ý đến chức năng nguồn tri thức của chúng, tức là không chú ý đến việc cho học sinh khai thác kiến thức từ các nguồn này. Bên cạnh đó, còn có giáo viên còn chưa vận dụng tổ chức các hình thức học tập cho các em học sinh. Vì vậy: Làm thế nào để dạy tốt phân môn Địa lí ở trường Tiểu học ? Làm thế nào để giáo viên truyền thụ hết kiến thức khai thác trong sách giáo khoa, khai thác trong thiết bị đồ dùng ? Làm thế nào để Địa lý không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản cần thiết mà còn là bộ môn khoa học hấp dẫn học sinh?……. là một vấn đề lớn đòi hỏi tâm huyết và sự sẻ chia của các nhà giáo, nhất là những người giáo viên trực tiếp giảng dạy ở Tiểu học. Chính vì những lí do trên, là một giáo viên được phân công giảng dạy nhiều năm ở lớp 5 tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:“ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Địa lí Lớp 5’’ – Một đề tài ít giáo viên đề cập đến. 2. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Địa lí Lớp 5’’ với hy vọng phần nào giúp bản thân, đồng nghiệp dạy tốt hơn phân môn Địa lí, để Địa lí không xa lạ chán nản với học sinh, để góp phần nhỏ bé xây dựng một nền móng vững chắc cho đất nước từ những lớp học sinh hoàn thiện về mặt trí thức và nhân cách. Vì có biết có hiểu, có quan tâm đến Địa lí thì các em mới yêu mến quê hương đất nước, yêu những gì mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Từ đó các em sẽ tích cực, tự nguyện tham gia xây dựng đất nước, tự hào làm rạng danh nước Việt, sánh vai với các cường quốc năm châu. 3. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu Sách giáo khoa Địa lí lớp 5; Quá trình dạy – học phân môn Địa lí lớp 5 ở Trường Tiểu học Thị trấn Quán Lào để tìm ra một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Địa lí Lớp 5. 4. Phương pháp nghiên cứu Qua quá trình thực dạy tôi đưa ra một số phương pháp nghiên cứu là: – Phương pháp nghiên cứu tài liệu. – Phương pháp vấn đáp. – Phương pháp thực nghiệm. – Phương pháp tổ chức trò chơi. PHẦN 2 : NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận Chức năng trọng yếu của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách con người toàn diện. Lực lượng chủ yếu đảm nhận và thực hiện chức năng ấy là đội ngũ giáo viên. Chương trình địa lí lớp 5 bao gồm 2 nội dung cơ bản: Địa lí Việt Nam: Học sinh học về địa lí Tổ quốc một cách có hệ thống. Từ địa lí tự nhiên đến dân cư, kinh tế nhằm giúp cho học sinh có được các kiến thức mang tính khái quát về đất nước Việt Nam, đồng thời có một số kĩ năng, phương pháp tìm hiểu về địa lí một quốc gia, một lãnh thổ cụ thể và tăng thêm tình yêu quê hương đất nước. Địa lí thế giới: Học sinh học về địa lí các châu lục, một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới. Phần nội dung này giúp học sinh mở rộng tầm nhìn ra thế giới bên ngoài và giúp các em biết được một số phương pháp, kĩ năng tìm hiểu địa lí một châu lục. Tuy nhiên còn có thêm bài học về các đại dương trên thế giới để học sinh có cái nhìn tổng thể về bề mặt Trái đất. Để học sinh nắm được nội dung của chương trình, hình thành được các kĩ năng địa lí thì đòi hỏi người giáo viên phải có vốn kiến thức địa lí vững vàng, nắm vững mục tiêu của chương trình, của mỗi bài dạy, phải chuẩn bị bài và đồ dùng dạy học chu đáo và quan trọng là biết lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với mỗi tiết dạy. Người giáo viên biết kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lí và khoa học các phương pháp sẽ làm học sinh thích thú và hào hứng tham gia học tập một cách tích cực. Như Hêghen đã nói : “ Phương pháp là sự vận động bên trong của nội dung”. Vì thế phương pháp dạy học là hệ thống những cách thức hoạt động bao gồm các hành động và thao tác của giáo viên, học sinh nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ học tập. Mặt khác như chúng ta đã biết đối với học sinh tiểu học việc ghi nhớ thì rất nhanh nhưng để nhớ một nội dung, một vấn đề nào đó thì lại rất khó cho nên các nhà khoa học đã nhận định rằng lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi “Chóng nhớ, mau quên”. Muốn học sinh nhớ được vấn đề nào đó thì ngoài việc thường xuyên phải củng cố, ôn tập về nội dung cần nhất thì việc tạo cho các em cảm giác hứng thú và say mê với nội dung cần ghi nhớ, chắc chắn rằng các em sẽ dễ tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn. Đồng thời lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi mang đặc điểm nhận thức, tư duy trực quan và cụ thể. Các em không những nhận thức tốt các vấn đề mang tính cụ thể mà còn rất có hứng thú khi khai thác, tìm hiểu các vấn đề mang tính cụ thể, đồng thời các em cũng rất ưa thích các vấn đề trực quan mang tính bắt mắt mà các em có thể quan sát một cách dễ dàng. Trên cơ sở đó tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học đị lí lớp 5. 2. Thực trạng của việc dạy – học Địa lí lớp 5 2.1. Khi học địa lí, kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ của học sinh chưa tốt. Để hình thành,  khắc sâu các biểu tượng và khái niệm địa lí phải hướng dẫn cho học sinh có kĩ năng quan sát bản đồ, lược đồ. Hiện nay, do chưa thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng bản đồ, lược đồ nhiều giáo viên khi dạy phân môn Địa lí chỉ sử dụng bản đồ, lược đồ để minh họa cho lời giảng của mình, ít chú ý đến việc cho học sinh khai thác kiến thức từ các nguồn này. Còn học sinh – các em chủ yếu dựa vào kênh chữ để phát biểu, trình bày. Vì vậy, vấn đề kĩ năng thực hành Địa lí của học sinh không được thực hiện thường xuyên, các em nắm bài không sâu, không chắc chắn. 2.2. Việc sử dụng tranh ảnh, thông tin,…. trong các tiết dạy đạt hiệu quả chưa cao. Hầu như trong các tiết dạy, giáo viên chỉ sử dụng tranh ảnh, thông tin có sẵn trong sách giáo khoa mà chưa chú ý đến việc sưu tầm, cập nhật thông tin, tranh ảnh trên các phương tiện thông tin đại chúng để đưa vào bài dạy,…. Bởi vậy chất lượng học tập ở các tiết học chưa cao, học sinh chỉ đọc thuộc nội dung phần ghi nhớ cuối bài, ít quan tâm đến khai thác kiến thức ở kênh hình để thấy được cái hay, cái đẹp, cái thực tế của môn học Tất cả những điều đó dẫn đến khi học tiết Địa lí các em không có sự liên hệ thực tế, không có sự hứng thú học tập, tiếp thu bài một cách thụ động. 2.3. Việc lựa chon trò chơi học tập ở các tiết học địa lí chưa thật phong phú và phù hợp với bài dạy và đối tượng học sinh. Trong thực tế, một số giáo viên chưa đầu tư nhiều vào tiết dạy Địa lí, xem nhẹ phân môn này, coi Địa lí chỉ là môn phụ, dẫn đến việc lựa chọn trò chơi Địa lí chưa phù hợp với nội dung bài học hay chỉ tổ chức trò chơi một cách qua loa, chưa xác định rõ mục tiêu của trò chơi, cách tổ chức chơi gây ra sự nhàm chán cho học sinh. Bảng 1 Nội dung Đạt Chưa đạt SL TL SL TL Chủ động tham gia các trò chơi học tập 12em 46,2% 14em 53,8% 9em 34,6% 17em 65,4% Biết khai thác nội dung từ bản đồ (lược đồ), bảng số liệu. 14em 53,8% 12em 46,2% Nắm vững các kiến thức Địa lí đã học 14em 53,8% 12em 46,2% 3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Địa lí lớp 5 3.1. Rèn kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ cho học sinh Về mặt kiến thức, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và mối quan hệ của các đối tượng địa lí trên bề mặt trái đất một cách cụ thể mà không một phương tiện nào khác có thể làm được. Về phương pháp, bản đồ được coi là phương tiện trực quan giúp cho học sinh khai thác, củng cố tri thức và phát triển tư duy trong quá trình học địa lí. Bản đồ vừa là phương tiện trực quan vừa là nguồn tri thức quan trọng, chiếm một số lượng nhiều nhất trong hệ thống kênh hình ở phần Địa lí lớp 5. Vì vậy, việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh là biện pháp phải thực hiện đầu tiên trong quá trình dạy học địa lí. Tôi đã chú trọng việc hình thành và phát triển ở học sinh một số kĩ năng sử dụng bản đồ như: xác định phương hướng trên bản đồ, đọc bản đồ, xác lập mối quan hệ Địa lí đơn giản giữa các yếu tố và các thành phần như: địa hình, khí hậu, sông ngòi; thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người,… 3.1.1. Rèn luyện kĩ năng xác định phương hướng trên bản đồ. Việc xác định vị trí địa lí hoặc mô tả một đối tượng địa lí trên bản đồ sẽ khó khăn hoặc sai lệch nếu không nắm được cách xác định phương hướng trên bản đồ. Đầu tiên, tôi yêu cầu các em thuộc và nhớ các qui định về phương hướng trên bản đồ: Phía trên bản đồ là hướng Bắc, phía dưới là hướng Nam, bên phải là hướng Đông, bên trái là hướng Tây. Khi biết bốn hướng chính thì cũng tìm ra các hướng phụ khác trên bản đồ, ví dụ giữa Bắc và Đông là Đông Bắc, giữa Tây và Nam là Tây Nam,. Chính nhờ việc xác định được các hướng trên bản đồ sẽ giúp các em nắm được vị trí của các nước, các châu lục thể hiện trên bản đồ, lược đồ một cách dễ dàng. Ví dụ : Quan sát Lược đồ các châu lục và đại dương (Bài 17: Châu Á), nếu nắm vững phương hướng trên bản đồ các em dễ dàng biết được: Châu Á nằm ở bán cầu Bắc, phía Bắc giáp Bắc Băng Dương, phía Đông giáp Thái Bình Dương, phía Nam giáp Ấn Độ Dương, phía Tây Nam giáp châu Phi, phía Tây và Tây Bắc giáp châu Âu. 3.1.2. Rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ. Tôi luôn luôn nhắc nhở học sinh trước hết phải đọc tên bản đồ (hoặc lược đồ) để biết bản đồ (hoặc lược đồ) đó thể hiện nội dung gì ? Ví dụ : – Bản đồ tự nhiên Việt Nam chủ yếu thể hiện các sự vật, hiện tượng tự nhiên của đất nước ta như: lãnh thổ, đồng bằng, sông, núi, biển, đảo,… – Lược đồ giao thông Việt Nam chủ yếu thể hiện các loại hình giao thông Việt Nam, biết loại đường nào đi từ đâu đến đâu,…. Sau đó tìm hiểu kiến thức địa lí chứa đựng trong các kí hiệu ghi trên bản đồ. Ví dụ 1 : Khi cho học sinh quan sát Lược đồ một số khoáng sản Việt Nam, tôi đặt vấn đề: Em hãy chỉ trên lược đồ những nơi có mỏ sắt, mỏ thiếc, mỏ than, A-pa-tít, Bô- xít, dầu mỏ và khí tự nhiên? Học sinh sẽ phải đọc bảng chú giải để nắm được các kí hiệu khoáng sản, tên mỏ khoáng sản, nơi có mỏ sau đó quan sát trên lược đồ và thấy được: Sắt có ở Yên Bái, Thái nguyên, Hà Tĩnh; thiếc có ở Cao Bằng; than có ở Quảng Ninh; A-pa-tít có ở Lào Cai, Bô- xít có ở Tây Nguyên, dầu mỏ và khí tự nhiên ở Biển Đông,… Lược đồ một số khoáng sản Việt Nam Ví dụ 2: Khi cho học sinh quan sát Lược đồ phân bố rừng ở Việt Nam tôi đặt vấn đề: Dựa vào màu sắc của lược đồ, em hãy kể tên các loại rừng chính ở nước ta và xác định nơi phân bố của chúng? Học sinh đọc bảng chú giải và nắm được màu xanh lá cây đậm chỉ rừng rậm nhiệt đới, màu tím chỉ rừng ngập mặn. Từ đó quan sát trên lược đồ học sinh thấy được: Rừng rậm nhiệt đới phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi, còn rừng ngập mặn ở ven biển,…. 3.1.3. Xác lập mối quan hệ Địa lí đơn giản giữa các yếu tố và các thành phần như: địa hình, khí hậu, sông ngòi; thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người,… Ví dụ 1: Khi nêu lí do về sự khác biệt khí hậu giữa hai miền Nam – Bắc ở nước ta. Học sinh quan sát “Lược đồ khí hậu” của nước ta, phân tích và thấy được: Dãy núi Bạch Mã kéo dài ra đến biển nằm giữa hai thành phố Huế và Đà Nẵng tạo thành bức tường chắn gió. Khi gió mùa đông bắc thổi tới đây ít khi vượt qua được dãy núi này. Vì vậy phía bắc của núi (miền Bắc) có mùa đông lạnh còn phía Nam của dãy bạch Mã (miền Nam) khí hậu nóng quanh năm. Vì thế mà dãy Bạch Mã được coi là ranh giới khí hậu giữa hai miền Bắc – Nam. Lược đồ khí hậu Ví dụ 2 : Khi quan sát lược đồ tự nhiên châu Phi, qua màu sắc lược đồ học sinh thấy được: Đại bộ phận châu Phi có địa hình tương đối cao. Toàn bộ châu lục được coi như một cao nguyên khổng lồ trên các bồn địa lớn và với diện tích rộng lớn, nằm trong vòng đai nhiệt đới lại không có biển ăn sâu vào đất liền nên châu Phi có khí hậu nóng và khô bậc nhất thế giới. Và do khí hậu châu Phi như thế nên cả động vật, thực vật ở đây đều khó phát triển, phần lớn châu Phi là hoang mạc và xa-van. Lược đồ tự nhiên châu Phi *Cần chú ý: Khi học sinh thực hành chỉ các đối tượng Địa lí trên bản đồ, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chỉ đúng quy định. Chẳng hạn khi chỉ về một vùng lãnh thổ thì phải chỉ theo đường biên giới khép kín của vùng lãnh thổ đó. Khi chỉ vị trí của một thành phố thì chỉ vào kí hiệu thể hiện thành phố, chứ không chỉ vào chữ ghi tên thành phố. Khi chỉ vị trí một dòng sông học sinh phải chỉ xuôi theo dòng chảy từ thượng nguồn đến hạ nguồn. 3.2. Nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tranh ảnh, thông tin, sưu tầm được trong quá trình dạy học địa lí. Đối với thông tin, tranh ảnh về dân số trong nước, dân số địa phương, tỉ lệ gia tăng dân số ở địa phương: Thông tin * Theo điều tra về dân số năm 2016: – Dân số nước ta khoảng 93,4 triệu người, đứng thứ 3 trong khu vực và thứ 13 trên thế giới. – Dân số tỉnh Thanh Hóa là: 3,7 triệu người đứng thứ 3 sau TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. – Dân số huyện Yên Định là: 158 256 người. – Từ năm 1993 đến 2003, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của Yên Định giảm từ 3,12% xuống còn 1,1%, đến cuối năm 2016 mức tăng dân số tự nhiên giảm còn 0,76%. Yên Định Luôn được xếp vào tốp hàng đầu của tỉnh về công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình. Hội thi Tuyên truyền viên Dân số – Kế hoạch hóa gia đình của huyện Yên Định Qua đó học sinh sẽ biết được dân số của nước ta và của địa phương đến thời điểm hiện tại đồng thời cũng nắm được tình hình gia tăng dân số của địa phương mình. Thông tin Số dân tăng thêm mỗi năm ở nước ta bằng số dân của một tỉnh có dân số trung bình như Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Thừa Thiên – Huế, Gia Lai, Bình Thuận, Vĩnh Long; gần gấp đôi số dân của một số tỉnh như Cao Bằng, Lào Cai, Ninh Thuận; gấp 3 lần số dân của một số tỉnh như Kon Tum, Lai Châu, Đắc Nông. Tranh ảnh về hậu quả của việc gia tăng dân số nhanh – Kinh tế: Khó khăn, thiếu ăn, thiếu mặc, – Xã hội: Trật tự xã hội có nguy cơ bị vi phạm cao. – Chỗ ở: Nhà ở chật chội thiếu tiện nghi. – Y tế: Bệnh viện quá tải. – Môi trường: Rác thải sinh hoạt tăng gây ô nhiễm. – Tài nguyên: Cạn kiệt vì bị sử dụng nhiều. Ví dụ 2: Khi giới thiệu về một số quốc gia tiêu biểu của các châu lục ở phần Địa lí thế giới nếu giáo viên cung cấp thêm các tranh ảnh về tự nhiên, danh lam thắng cảnh, của các quốc gia đó thì sẽ khắc sâu được kiến thức cho học sinh và bài học sẽ phong phú, mở rộng tầm hiểu biết của học sinh giúp các em yêu thích môn học hơn. Khi giới thiệu Ai Cập giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh như Kim tự tháp và Tượng nhân sư đồng thời sưu tầm các thông tin, câu chuyện về các công trình kiến trúc vĩ đại này. Giới thiệu Cam-pu-chia giáo viên giới thiệu đền Ăng – co Vát bằng hình ảnh, bài viết hay khi giới thiệu Trung Quốc giáo viên cung cấp thông tin, hình ảnh về Vạn Lí Trường Thành dài 6700 km và được xây dựng cách đây trên 2000 năm. Kim tự tháp và Tượng nhân sư ở Ai Cập Đền Ăng – co Vat ở Cam-pu-chia Vạn Lí Trường Thành (Trung Quốc) 3.3. Lựa chọn, tổ chức các trò chơi học tập Địa lí phù hợp với từng bài dạy và đối tượng học sinh. Thực tế đổi mới chương trình và phương pháp ở tiểu học nói chung và