Top 10 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Chủ Yếu Để Đưa Đồng Bằng Sông Hồng Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Bàn Biện Pháp Phát Triển Rau An Toàn Vùng Đồng Bằng Sông Hồng

“Cần phải xây dựng hệ thống sản xuất rau an toàn theo hướng chuyên nghiệp, đồng bộ, góp phần vào việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khoẻ người tiêu dùng”. Đây là đề tài được bàn luận sôi nổi tại Hội nghị phát triển rau an toàn vùng đồng bằng sông Hồng do Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) tổ chức tại Hưng Yên ngày 28/7. Tham dự có đại diện các cơ quan của Bộ NN&PTNT, các tỉnh thành phố vùng đồng bằng sông Hồng gồm: Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nam, Ninh Bình.

“Cần phải xây dựng hệ thống sản xuất rau an toàn theo hướng chuyên nghiệp, đồng bộ, góp phần vào việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khoẻ người tiêu dùng”. Đây là đề tài được bàn luận sôi nổi tại Hội nghị phát triển rau an toàn vùng đồng bằng sông Hồng do Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) tổ chức tại Hưng Yên ngày 28/7. Tham dự có đại diện các cơ quan của Bộ NN&PTNT, các tỉnh thành phố vùng đồng bằng sông Hồng gồm: Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nam, Ninh Bình.

Theo đánh giá của Cục Trồng trọt và đại diện các tỉnh thành phố: sản xuất rau an toàn trên địa bàn cả nước hiện nay còn rất nhiều hạn chế. Diện tích các vùng sản xuất rau an toàn tập trung được qui hoạch còn rất thấp, chiếm khoảng 8,5% tổng diện tích trồng rau. Riêng vùng đồng bằng sông Hồng mới đạt hơn 14 nghìn ha tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương; trong khi nhiều tỉnh chưa đầu tư để qui hoạch vùng sản xuất rau an toàn. Sản xuất rau vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán; các vùng trồng rau chưa có sự đầu tư về giao thông thủy lợi. Chưa được sự quan tâm chỉ đạo của các ngành, các cấp. Mối quan hệ giữa các ngành nông nghiệp – thương mại – y tế chưa chặt chẽ. Công tác kiểm tra chất lượng rau trên thị trường khó thực hiện, biện pháp xử lý chưa đủ mạnh để răn đe người vi phạm. Về áp dụng qui trình kỹ thuật, đa số người sản xuất vẫn áp dụng qui trình trồng rau truyền thống và theo kinh nghiệm cổ truyền. Vấn đề tiêu thụ sản phẩm chưa gắn với sản xuất; chưa hình thành các mối liên kết bền chặt giữa người sản xuất và người tiêu thụ; thị trường đầu ra cho rau an toàn chưa ổn định.

Giải pháp để phát triển các vùng rau an toàn là phải làm chuyển biến đồng bộ từ khâu sản xuất kinh doanh đến sử dụng theo một hệ thống mang tính chuyên nghiệp; coi trọng áp dụng công nghệ kỹ thuật cao, sản xuất rau an toàn theo tiêu chí VietGAP. Cần có sự đầu tư của nhà nước về xây dựng hạ tầng, hỗ trợ đầu ra trong lưu thông sản phẩm; xây dựng ban hành qui trình sản xuất rau an toàn cho từng loại cụ thể, phù hợp với điều kiện từng địa phương; hướng dẫn nông dân thực hiện chặt chẽ các qui trình. Chủ động hình thành các liên kết ổn định giữa các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ rau với các HTX, nông dân vùng sản xuất rau an toàn tập trung; phát triển mạng lưới tiêu thụ qua siêu thị, đại lý, cửa hàng bán lẻ gắn chứng nhận rau an toàn với sử dụng thương hiệu nhà sản xuất. Tăng cường kiểm tra việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thuốc kích thích tăng trưởng; kịp thời ngăn chặn việc sử dụng phân tươi, nước ô nhiễm cho rau./.

(Theo agroviet.gov.vn)

Ðổi Mới Sản Xuất Nông Nghiệp Ở Đồng Bằng Sông Hồng (Kỳ 3) (*)

Người dân huyện Ðông Anh (TP Hà Nội) nỗ lực duy trì sản xuất nông nghiệp trong điều kiện khó khăn. Ảnh: MỸ HÀ

Tâm lý giữ ruộng cùng những vướng mắc trong hành lang pháp lý đã và đang cản trở việc tập trung, tích tụ ruộng đất để sản xuất quy mô lớn, hiện đại, gây lãng phí nguồn tài nguyên đất đai.

Chán nhưng không trả

Thực tế, có một tỷ lệ không nhỏ số hộ ở nông thôn hiện nay không còn trực tiếp sản xuất nông nghiệp mặc dù vẫn đứng tên sở hữu quyền sử dụng đất nông nghiệp. Những diện tích này được cho thuê, cho mượn hoặc chuyển quyền sử dụng cho các hộ khác, thậm chí bỏ hoang. Tuy nhiên, tại các địa phương chúng tôi đến làm việc, hầu như chưa có trường hợp nào xin trả lại ruộng đất cho chính quyền. Tâm lý giữ phần ruộng được chia như một thứ bảo đảm an toàn sinh kế vẫn còn rất nặng trong hầu hết nông dân hiện nay. Ðây chính là một trong những rào cản lớn cho việc thực hiện tích tụ đất đai, dẫn đến một nghịch lý tồn tại ở hầu hết các địa phương, đó là người không làm vẫn giữ ruộng, còn người cần ruộng để làm thì không có ruộng. Trường hợp của Công ty cổ phần Nông nghiệp hữu cơ HD Green (xã Toàn Thắng, huyện Gia Lộc, Hải Dương) là một thí dụ. Giám đốc công ty Mai Xuân Thịnh vốn là một cán bộ ngân hàng nhưng đã xin nghỉ việc để thuê đất đầu tư sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Anh chia sẻ: “Hiện công ty có 5 ha đất sản xuất, có nhu cầu thuê thêm vì thị trường tiêu thụ các sản phẩm rau quả sạch khá tốt, nhưng không thể thỏa thuận được với các hộ dân. Có những hộ, ruộng để đó, sản xuất chẳng hiệu quả nhưng nhất quyết không cho thuê. Trong khi đó, chúng tôi cần một diện tích lớn, liền nhau cho nên chỉ một vài hộ không đồng ý là không thể triển khai kế hoạch sản xuất được”. Chủ tịch xã Ngũ Hùng (huyện Thanh Miện, Hải Dương) Nguyễn Xuân Hoàng cũng chia sẻ một trường hợp điển hình trên địa bàn: Năm 2016, một doanh nghiệp muốn thuê 15 ha đất nông nghiệp của dân để thực hiện mô hình trồng cây giá trị kinh tế cao, với mức tiền thuê 650 nghìn đồng/sào/năm. Tuy nhiên có bốn hộ trong cùng khu không đồng ý cho thuê nên dự án không triển khai được. Ðiều đáng nói, bốn hộ này chỉ sản xuất cầm chừng và nhân lực đã chuyển hết sang các nghề phi nông nghiệp khác, nhưng họ vẫn không muốn cho thuê ruộng.

Về nguyên nhân của tình trạng này,Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ân Thi (Hưng Yên) Nguyễn Thúy Giang cho biết: Ngoài tâm lý giữ ruộng nhằm bảo đảm sinh kế có từ lâu đời nay trong nông dân thì việc giữ ruộng còn do họ hầu như không phải đóng góp gì trên phương diện tài chính, vì thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện được miễn, thủy lợi phí và các khoản đóng góp khác nhiều nơi cũng được miễn hoặc đóng không đáng kể. Chưa kể đến, nhiều người giữ ruộng vì chưa tìm được tiếng nói chung với chủ đầu tư thuê đất về lợi ích; giữ ruộng để mong được hỗ trợ, đền bù khi giải phóng mặt bằng làm khu công nghiệp hoặc các công trình khác. Chính vì vậy, hiện nay, người chán sản xuất nông nghiệp thì nhiều nhưng số hộ xin trả lại ruộng trên địa bàn huyện lại không có. Trong khi đó, nhiều hộ cũng không có ý định cho thuê quyền sử dụng đất vì khi cho thuê, nếu phải ký hợp đồng ba đến 5 năm thì họ e ngại trong thời gian đó, có dự án đầu tư có thể được hưởng tiền bồi thường, hỗ trợ hoặc thỏa thuận chuyển nhượng thì khó đòi lại đất. Xét trên khía cạnh pháp lý, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình Nguyễn Khắc Thận phân tích: “Hiện nay, theo pháp luật, việc thu hồi đất bỏ không cũng rất khó. Theo quy định tại Ðiều 64 Luật Ðất đai năm 2013, đất trồng cây hằng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục, đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục, sẽ bị thu hồi. Thực tế tại Thái Bình, có một số khu vực người dân không mặn mà với đồng ruộng, chỉ gieo cấy với tâm lý “được chăng hay chớ” để tránh bỏ đất hoang quá thời gian quy định cho nên cũng không thể thu hồi”.

Thiếu hành lang pháp lý

Bên cạnh tâm lý giữ ruộng của nông dân, việc tập trung ruộng đất hiện nay cũng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong hành lang pháp lý, khiến nhiều người, nhiều doanh nghiệp mong muốn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác nhưng không thể thực hiện được. Hiện pháp luật chưa có chế tài quy định về việc xử lý tình trạng nông dân phá vỡ hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất. Anh Phạm Văn Tính (thôn Ngọc Châu, xã Quang Vinh, huyện Ân Thi) kể: “Cách đây vài năm, gia đình tôi có thuê năm sào đất của một hộ gia đình với thời hạn 5 năm. Sau khi chúng tôi cải tạo đất và trồng cam được ba năm thì họ phá hợp đồng, kiên quyết đòi lại đất. Cực chẳng đã, gia đình buộc phải trả lại đất và bao nhiêu công sức, tiền bạc cũng theo từng gốc cam ra đi”. Ðây là một trong những nguyên nhân khiến cả cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp còn nhiều e ngại khi thực hiện tích tụ ruộng đất.

Trong khi việc thuê quyền sử dụng đất gặp nhiều khó khăn thì việc tích tụ ruộng đất theo hình thức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng vướng cả về pháp lý và các vấn đề xã hội dễ nảy sinh. Ðây là hình thức tích tụ mà chủ sử dụng đất nông nghiệp thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất để mở rộng quy mô sản xuất. Việc chuyển nhượng được tiến hành theo thỏa thuận thông qua thị trường chuyển nhượng đất đai có sự xác nhận của chính quyền địa phương. Tuy nhiên hình thức này rất khó thực hiện với quy mô lớn vì chịu ảnh hưởng của chính sách hạn điền. Theo quy định tại Luật Ðất đai năm 2013, hạn mức giao đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại khu vực đồng bằng sông Hồng là không quá 2 ha; hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân. Như vậy, việc nhận chuyển quyền sử dụng đất lớn nhất là 20 ha. Bên cạnh đó, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiện khá cao, khoảng 800 triệu đồng đến một tỷ đồng/ha tạo ra hạn chế lớn cho tích tụ theo cách này vì khó để sản xuất nông nghiệp có lãi với số vốn bỏ ra ban đầu lớn.

Tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, hiện đại là một xu hướng tất yếu, song chắc chắn quá trình này sẽ không dễ dàng thực hiện trong một sớm một chiều, bởi xuất phát điểm của nền nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng vốn manh mún, nhỏ lẻ; lại cộng thêm thói quen giữ ruộng, canh tác truyền thống đã ăn sâu. Chính vì vậy, các địa phương cần xác định rõ, đẩy mạnh tập trung ruộng đất là một nhiệm vụ khó khăn và dài hơi nhưng không thể không làm, để từ đó có những giải pháp quyết liệt cho sự thay đổi này.

(Còn nữa)

* Bài 2: Ðịnh hình xu hướng mới

* Bài 1: Khi nông dân bỏ ruộng

(★) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 26, 27-11-2019.

Theo điều tra của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, năm 2015, khó khăn về đất đai thường gặp đối với các doanh nghiệp nông nghiệp là thiếu đất cho vùng nguyên liệu, thiếu đất xây dựng trụ sở, khu chế biến… Có 50% số doanh nghiệp được điều tra cho rằng, việc thiếu đất và mặt bằng là cản trở lớn nhất để đầu tư và phát triển kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Có 67,7% số doanh nghiệp đánh giá chính sách đất đai không thuận lợi, gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ. Trong khi đó, theo kết quả điều tra năm 2014, tỷ lệ hộ cho thuê đất nông nghiệp chỉ ở mức 10,5%. Cách thức cho thuê đất vẫn hạn chế, đối tượng cho thuê chủ yếu vẫn là gia đình, họ hàng, làng xóm (chiếm hơn 70%). Tính đến thời điểm này, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp cả trực tiếp và gián tiếp đạt con số 60.800, chỉ chiếm 8% trong tổng số 750 nghìn doanh nghiệp của cả nước.

Dẫn Nước Sông Hồng Làm Sạch Sông Tô Lịch: Giải Pháp Cần Thiết

Việc đưa nước sông Hồng vào sông Tô Lịch ngoài việc tạo ra một dòng sông đúng nghĩa – có dòng chảy, sẽ góp phần bổ cập, pha loãng mức độ ô nhiễm sông Tô Lịch, nơi mỗi ngày đang gánh chịu khoảng 150.000m3 nước thải chưa qua xử lý.

Vừa qua, xoay quanh việc Công ty CP Cải thiện môi trường Nhật Việt (JVE) khởi công dự án thí điểm làm sạch một đoạn sông Tô Lịch và một góc Hồ Tây (Hà Nội) bằng công nghệ Nano của Nhật Bản, một số ý kiến cho rằng, bơm nước sông Hồng để làm sạch nước sông Tô Lịch cũng là giải pháp trước mắt mà Hà Nội nên nghiên cứu. Về vấn đề này, đại diện Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội (Công ty Thoát nước) cho biết, đây cũng chính là đề xuất của công ty nằm trong dự án “đầu tư xây dựng trạm bơm bổ cập nước Hồ Tây và cải thiện chất lượng nước sông Tô Lịch” mà đơn vị vừa trình lên UBND TP Hà Nội.

Hà Nội đang tích cực có nhiều biện pháp cải tạo nước sông Tô Lịch. Ảnh: Thanh Hải

Cụ thể, Công ty Thoát nước đã đề xuất giải pháp bơm nước sông Hồng vào Hồ Tây tạo lưu thông. Đến khi Hồ Tây sạch thì dẫn nước từ hồ vào hai cửa xả đến sông Tô Lịch để thau rửa, làm sạch nguồn nước ô nhiễm của sông.

“Nếu đề xuất được lãnh đạo TP thông qua, Công ty sẽ xây dựng, lắp đặt một trạm bơm chìm ở ngoài cửa khẩu An Dương với công suất cấp nước 156.000m3/ngày, đêm dẫn vào Hồ Tây. Sau khi nước Hồ Tây được cải thiện bằng nước sông Hồng, Công ty điều tiết nước từ hồ qua hai cửa xả trên phố Trích Sài và đường Lạc Long Quân vào sông Tô Lịch để giúp làm sạch nước sông.

Trao đổi với phóng viên Kinh tế & Đô thị xung quanh đề xuất này, một số ý kiến cho rằng, việc lấy nước sạch hơn để thau rửa sông Tô Lịch về kỹ thuật “không có gì khó khăn”, song đây chỉ là giải pháp trước mắt. Để giải quyết được phần gốc của vấn đề vẫn là xử lý ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt đổ vào con sông này. Theo chúng tôi Trần Đức Hạ – Viện trưởng Viên Nghiên cứu cấp thoát nước và môi trường (Hội Cấp thoát nước Việt Nam), vấn đề cốt yếu là việc tách nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý chảy xuống sông.

Các chuyên gia Nhật Bản trực tiếp đặt máy lọc xuống sông Tô Lịch. Ảnh: Việt An

Tuy nhiên, chúng tôi Trần Đức Hạ cũng nhấn mạnh, việc xem xét đưa nước sông Hồng vào giải cứu sông Tô Lịch là cần thiết, đáng để suy ngẫm. Bởi, việc bổ cập nước sông Hồng vào sông Tô Lịch đã được đưa vào quy hoạch thoát nước của Hà Nội, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cuối năm 2012. Bên cạnh đó, vào mùa khô, khi lượng nước bổ cập cho sông Tô Lịch bị hạn chế, nếu không dẫn nước từ sông Hồng vào hay một nguồn khác, sông Tô Lịch sẽ đứng trước nguy cơ chạm đáy và dần dần trở thành dòng sông chết.

Được biết trong đầu tháng 5 vừa qua, Hà Nội trải qua đợt mưa lớn kéo dài khiến mực nước ở Hồ Tây tăng cao. Để đảm bảo an toàn, Công ty Thoát nước đã tiến hành mở các cửa thoát để đưa nước trong hồ về mức an toàn và mở cửa xả dẫn nước từ Hồ Tây vào sông Tô Lịch. Nhờ đó, nước, chất lượng nước tại sông Tô Lịch đã được thay đổi. Trước đó, năm 2018, đơn vị này cũng đã thử nghiệm xả nước ở Hồ Tây ra sông Tô Lịch, bước đầu cho thấy dòng nước đen không còn, thay vào là màu nước xanh đặc trưng của hồ; mùi hôi thối, ô nhiễm cũng biến mất.Hiện nay, để xử lý tình trạng ô nhiễm trên dọc sông Tô Lịch, TP Hà Nội đã có dự án xây dựng hệ thống cống chạy dọc hai bên sông để thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt về nhà máy xử lý nước thải Yên Xá. Tuy nhiên, không ít ý kiến cho rằng, trong khi chờ dự án xử lý nước thải hoàn thiện, vẫn cần thiết phải thau rửa sông Tô Lịch, tạo dòng chảy để giảm bớt ô nhiễm, mùi hôi thối bốc lên, gây ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Các Giải Pháp Tổng Thể Thủy Lợi Phát Triển Đồng Bằng Sông Cửu Long

Đỗ Đức Dũng, Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam là phần cuối cùng của Lưu vực sông Mê Công, bao gồm 13 tỉnh/thành phía Nam Việt Nam (Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và TP. Cần Thơ) với tổng diện tích tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, chiếm 79% diện tích toàn Châu thổ và bằng 5% diện tích toàn lưu vực sông Mê Công. Lưu vực sông Mê Công có dòng chính dài 4.200 km, chảy qua 6 nước là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, với diện tích lưu vực 795.000 km2, trong đó phần Châu thổ 49.367 km2 (cả Việt Nam và Campuchia).

ĐBSCL có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của cả nước. Với tiềm năng nông nghiệp to lớn, trong những năm qua, ĐBSCL luôn đóng góp trên 50% tổng sản lượng lương thực, quyết định thực hiện thành công chiến lược an ninh lương thực Quốc gia và chiếm chủ đạo trong xuất khẩu gạo (hơn 90%), từ 2010 đến nay mỗi năm trung bình xuất khẩu 6-7 triệu tấn. Đồng thời, ĐBSCL cũng cung cấp khoảng 70% lượng trái cây, trên 40% sản lượng thuỷ sản đánh bắt và 75% sản lượng thuỷ sản nuôi trồng của cả nước.

Nổi bật nhất trong kết quả tăng trưởng của vùng phải kể đến sản lượng lúa từ 2010 đến nay luôn đạt trên 20 triệu tấn. Trong 20 năm trở lại đây, cứ trung bình 5 năm ĐBSCL lại tăng thêm khoảng 2,5 triệu tấn hay mỗi năm tăng thêm 500 ngàn tấn. Năm 2014 sản lượng lúa đạt 25 triệu tấn. Tổng sản lượng thủy sản năm 2014 đạt 2,4 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng vùng ngọt 1,75 triệu tấn, mặn/lợ 0,65 triệu tấn, đặc biệt cá da trơn tăng nhanh trong mấy năm vừa qua với sản lượng hơn 1,2 triệu tấn.

Kim ngạch xuất khẩu toàn vùng năm 2014 đạt 9,4 tỷ USD, trong đó thủy sản và lúa gạo trên 5 tỷ USD.

Tầm quan trọng của ĐBSCL đối với cả nước được thể hiện ở ảnh hưởng to lớn của vùng trong cán cân phát triển chung, trong đó, sản lượng lúa không chỉ luôn chiếm hơn 50% sản lượng toàn quốc, mà còn chính là nhờ vào sự ổn định nên có tỷ trọng an ninh lương thực cao hơn hẳn so với 2 vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải miền Trung. Bên cạnh đó, trong tình hình diễn biến thiên tai và khủng hoảng lương thực thường xuyên xảy ra trên thế giới, Chính phủ Việt Nam cũng đã khẳng định với cộng đồng Quốc tế rằng, trong nhiều năm tới, Việt Nam không chỉ quyết tâm đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn góp phần quan trọng cho chương trình an ninh lương thực toàn cầu.

Nằm ở hạ lưu châu thổ sông Mê Công, thừa hưởng nhiều thuận lợi từ vị trí địa lý, nguồn nước phong phú và được điều tiết tự nhiên bởi Biển Hồ; bờ biển và vùng biển rộng lớn nhiều tài nguyên, đất đai bằng phẳng, màu mỡ và được phù sa bồi đắp hàng năm, nguồn thủy sản dồi dào với nhiều giống loài…, song ĐBSCL cũng luôn phải đối mặt với không ít khó khăn và hạn chế trong điều kiện tự nhiên, với những tác động không nhỏ và khôn lường từ biến đổi khí hậu (BĐKH) và các hoạt động ở thượng lưu, với mực nước biển dâng và xâm nhập mặn ngày càng khốc liệt, và hơn cả là với các mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ngay tại chính đồng bằng này.

Trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội ở ĐBSCL, những hạn chế về điều kiện tự nhiên là rào cản không nhỏ, nếu không muốn nói là cực kỳ to lớn, đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Những hạn chế chính của điều kiện tự nhiên là (a) ảnh hưởng của lũ trên diện tích từ 1,4-1,9 triệu ha ở vùng đầu nguồn; (b) mặn xâm nhập trên diện tích khoảng 1,2-1,6 triệu ha ở vùng ven biển, ứng với độ mặn trên 4g/l; (c) đất phèn và sự lan truyền nước chua trên diện tích khoảng 1,2-1,4 triệu ha ở những vùng thấp trũng; (d) thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt trên diện tích khoảng 2,1 triệu ha ở những vùng xa sông, gần biển; và (e) xói lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi và ngày càng nghiêm trọng. Thêm vào đó là nạn cháy rừng thường xảy ra, ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng, những vấn đề xuyên biên giới diễn biến ngày càng phức tạp…

Để đáp ứng với nhu cầu phát triển của ĐBSCL, trong hơn 30 năm qua, nhiều công trình thủy lợi đã được đề xuất và xây dựng, là động lực và đòn bẩy quan trọng cho vùng ĐBSCL có cơ hội và điều kiện phát triển nhanh chóng hơn. Chính nhờ sự phát triển thủy lợi mang tính chiến lược, cùng với ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật và động lực phát triển khác, ĐBSCL đã đưa sản lượng lúa từ 4,6 triệu tấn năm 1975 lên 16,7 triệu tấn năm 2000; 21,6 triệu tấn năm 2010 và 25 triệu tấn năm 2014, tạo những bước nhảy vọt mang tầm vóc lịch sử.

Song, với những biến động thiên nhiên và thị trường trong những năm qua, cùng với việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất với quy mô lớn và rộng khắp từ năm 2001 đến nay, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cho công tác phát triển thủy lợi. Những vấn đề đó không chỉ là những bài toán đặt riêng ngành thủy lợi, như kiểm soát lũ, cấp nước, tiêu nước, kiểm soát mặn, phòng chống xói lở bờ… mà còn là sự phối hợp để giải bài toán đa mục tiêu với thủy lợi phục vụ cho phát triển nông nghiệp, dân cư, giao thông, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp… và đặc biệt là phục vụ phát triển nuôi trồng thủy sản (mặn, lợ).

Thêm vào đó, trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu ngày càng thể hiện rõ nét và diễn biến phức tạp, đặc biệt là trên 2 yếu tố dòng chảy từ thượng lưu và nước biển dâng. Nếu như tác động của BĐKH lên giá trị trung bình xảy ra từ từ, phải mất hàng chục năm, thì tác động lên các giá trị cực trị xảy ra nhanh và ngày càng khốc liệt hơn. Trong 15 năm qua, ĐBSCL đã xuất hiện 3 năm lũ lớn liên tiếp là 2000, 2001 và 2002 (trong đó lũ năm 2000 được xem là lũ lịch sử) và lũ lớn năm 2011; 8 năm liền (từ 2003-2010) có lũ dưới trung bình và nhỏ (trong đó có lũ năm 2008 và 2010 là 2 năm lũ nhỏ lịch sử); 8 năm liền dòng chảy kiệt dưới trung bình (trong đó năm 2004, 2008 và 2010 là những năm thấp hơn cả, gây hạn hán nghiêm trọng và xâm nhập mặn sâu); bão lớn đổ bộ vào 2 năm 1997 (Linda) và 2006 (Durian); xói lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi với số lần tăng hơn (trên sông Tiền các năm 2001, 2002, 2004, 2005, 2011, sông Hậu các năm 2009, 2010 và ven biển Cà Mau 2 năm gần đây); cháy rừng lớn xảy ra vào năm 2002 ở Vườn Quốc gia U Minh Thượng; ngập úng do triều cường ngày càng tăng ở nhiều đô thị và khu dân cư ven biển. Ba năm gần đây, từ 2012-2015, ĐBSCL lũ nhỏ và dòng chảy kiệt dưới trung bình, mưa đầu mùa diễn biến phức tạp, khiến xâm nhập mặn và hạn hán càng thêm nghiêm trọng.

1. Đối với quy mô toàn lưu vực sông Mê Công:

2. Đối với vùng ĐBSCL:

Giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước cho ĐBSCL phải được xem xét trong bối cảnh phát triển thượng lưu, dựa vào điều kiện tự nhiên, tận dụng được những lợi thế của tài nguyên thiên nhiên với sự kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình, giải pháp cũng phải đáp ứng được các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, xã hội và môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu-nước biển dâng và “mềm dẻo” để dễ điều chỉnh, phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất dựa vào thị trường khi cần thiết.

Giải pháp cho vùng ngập lũ ĐBSCL:

Lũ có tác động tích cực lẫn tiêu cực, vì vậy, chiến lược quản lý và giảm thiểu lũ cho ĐBSCL là “chủ động sống chung với lũ”, tận dụng tối đa những mặt lợi của lũ như nguồn lợi phù sa, thủy sản và vệ sinh đồng ruộng, giảm tối thiểu những bất lợi từ lũ như phá hoại mùa màng, cơ sở hạ tầng. Những khu vực dân cư, cơ sở hạ tầng, đường xá và vườn cây ăn trái được áp dụng các giải pháp kiểm soát lũ cả năm. Đối với sản xuất nông nghiệp, vùng ngập sâu chỉ kiểm soát lũ sớm (lũ tháng Tám) để thu hoạch an toàn lúa hè thu, vùng ngập nông áp dụng các giải pháp kiểm soát lũ cả năm. Đa dạng hoá mùa vụ: giới hạn diện tích lúa vụ ba, tăng diện tích hai vụ lúa+thủy sản và hai vụ lúa+màu.

Giải pháp cho vùng ven biển:

Vùng ven biển bao gồm 3 vùng sinh thái: (1) vùng sinh thái nước ngọt, (2) vùng sinh thái nước mặn lợ, và (3) vùng sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Vùng sinh thái nước mặn lợ thích hợp nhất cho nuôi trồng thuỷ sản. Mô hình nuôi trồng thuỷ sản phổ biến ở ĐBSCL bao gồm nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, nuôi tôm quảng canh và quảng canh cải tiến, luân canh tôm-lúa, và rừng ngập mặn+tôm.

+ Vùng sinh thái nước ngọt nằm ở giữa hai vùng ngập lũ và mặn. Đây là vùng có tiềm năng phát triển nhất, đặc biệt là cây ăn quả, song nếu không có giải pháp hợp lý thì nguy cơ ngập lũ hóa hay mặn hoá, khô hạn hóa là rất cao. Do vậy, giải pháp cơ bản cho vùng này là tăng cường dòng chảy vào nội đồng trong mùa kiệt, xây dựng hệ thống công trình nhằm ổn định nguồn nước phục vụ tốt nhất cho 3 mục tiêu là sản xuất lúa, nuôi trồng thủy sản nước ngọt và phát triển cây ăn quả.

+ Vùng sinh thái nước mặn lợ ven biển vừa phát triển theo hướng thích nghi, vừa đảm bảo nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và từng bước cho sản xuất. Đây là vùng phát triển thủy sản mặn/lợ chính ở vùng ĐBSCL. Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng ở các quy mô khác nhau thích ứng cho từng khu vực. Các giải pháp thủy lợi tập trung cho cấp nước ngọt, tiêu thoát nước mưa, cấp nước mặn/lợ và thoát nước ô nhiễm do nuôi trồng thủy sản.

+ Vùng sinh thái rừng ngập mặn ven biển đang bị xói lở nghiêm trọng, đã trở thành một trở ngại đáng kể cho việc cải thiện sinh kế của người dân ở khu vực ven biển của ĐBSCL. Vì vậy, việc phòng chống xói lở bờ biển và ổn định đường bờ biển được coi là mục tiêu quan trọng nhất trong kế hoạch hiện tại. Theo khảo sát, nếu chiều rộng vành đai rừng ngập mặn khoảng 300-500m, chiều cao sóng sẽ giảm 70% và trong nhiều trường hợp là nhỏ hơn 0,3 m. Rõ ràng, chiều rộng tối thiểu 500m của rừng ngập mặn ở phía trước đê biển được xem là giải pháp phù hợp để phòng chống xói lở bờ biển. Vì vậy, để khôi phục, duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn, thì những giải pháp để giảm sóng và tạo bãi bồi phù hợp với từng vùng cần được nghiên cứu đề xuất.

Tuy nhiên, dù có phát triển hệ thống công trình tốt đến đâu, nếu không có giải pháp phi công trình thì không thể mang đến hiệu quả cao nhất có thể. Giải pháp phi công trình cho toàn vùng ĐBSCL sẽ bao gồm các phương án sản xuất thích nghi (bố trí thời vụ, kỹ thuật canh tác, lai tạo giống, chuyển đổi cây/con…) trong điều kiện gia tăng các thảm họa về nước, đặc biệt do biến đổi khí hậu và nước biển dâng; Tuyên truyền, giáo dục người dân biết cách vượt qua các thảm họa, đặc biệt những người dễ bị tổn thương nhất (người già, phụ nữ, trẻ em, người tàn tật…); Xây dựng các khu dân cư tập trung có khả năng ứng phó cao với thảm họa; tăng cường hệ thống kết nối và cơ sở hạ tầng để giúp người dân phòng tránh hiệu quả khi gặp thảm họa; Làm tốt công tác dự báo, cảnh báo, cứu nạn, cứu trợ trước, trong và sau thảm họa.

ĐBSCL liên kết với nhau chặt chẽ bằng hệ thống kênh rạch, có tính đồng bộ cao, vì thế hiệu quả của hệ thống công trình thuỷ lợi chỉ có thể phát huy khi được đầu tư và xây dựng đồng bộ. Sự đồng bộ cao phải được hiểu cả trong đầu tư vốn xây dựng công trình, sự đồng tâm của người dân và các cấp chính quyền trong đền bù giải phóng mặt bằng, trong đầu tư công trình cấp 3 và nội đồng, trong quản lý và vận hành toàn hệ thống, trong giám sát diễn biến môi trường nước và điều chỉnh sử dụng đất-nước một cách hợp lý và hiệu quả… Các công trình đã và sẽ xây dựng ở ĐBSCL phải được rà soát chặt chẽ, song song với xây dựng hệ thống công trình là xây dựng quy trình quản lý và vận hành hệ thống để có thể phục vụ một cách tối ưu bài toán đa mục tiêu, đặc biệt trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất và ứng phó với những diễn biến bất thường của BĐKH-NBD.