Bán Phá Giá Là Gì? Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá

--- Bài mới hơn ---

  • Điều Kiện Áp Dụng Biện Pháp Chống Phá Giá Theo Quy Định Của Wto
  • Chuyên Đề: Hướng Dẫn Nghiệp Vụ Áp Dụng Biện Pháp Đưa Người Vào Cơ Sở Cai Nghiện Bắt Buộc (Phần 2)
  • Chuyên Đề: Hướng Dẫn Nghiệp Vụ Áp Dụng Biện Pháp Đưa Người Vào Cơ Sở Cai Nghiện Bắt Buộc (Phần 1)
  • Thi Hành Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính (Phần I)
  • Hoãn Thi Hành Quyết Định Phạt Tiền, Giảm, Miễn Tiền Phạt
  • Bán phá giá là hình thức xảy ra với tần suất nhiều thời gian gần đây. Vậy bán phá giá là gì? Các biện pháp chống bán phá giá như thế nào? 

    1. Bán phá giá là gì?

    Bán phá giá doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài với mức giá thấp hơn thị trường nội địa của nhà nhập khẩu

    Bán phá giá trương tiếng Anh là Dumping. Đây là thuật ngữ được dùng trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

    Bán phá giá xảy ra khi một quốc gia hoặc doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài với mức giá thấp hơn thị trường nội địa của nhà nhập khẩu.

    Bán phá giá được coi là hình thức phân biệt giá cả sản phẩm, với mục tiêu đạt được lợi thế cạnh tranh trên thị trường nhập khẩu. Do việc bán phá giá thường đi kèm với khối lượng xuất khẩu sản phẩm đáng kể, hành vi này thường gây nguy hiểm đến tình hình tài chính của các nhà sản xuất tại quốc gia nhập khẩu.

    2. Biện pháp chống bán phá giá

    Chống bán phá giá là biện pháp mà nước nhập khẩu áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu, để chống lại hiện tượng bán phá giá gây thiệt hại đến tài chính của đất nước đó. Tất cả các biện pháp bao gồm:

    2.1 Dùng thuế chống bán phá giá

    Dùng thuế nhập khẩu tránh việc bán phá giá

    Dùng thuế để chống bán phá giá là phương pháp được sử dụng rộng rãi, áp dụng với sản phẩm bị điều tra và kết luận là bán phá giá vào nước nhập khẩu.

    Thuế chống bán phá giá trong tiếng Anh gọi là Anti-dumping duties là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường) nhằm loại bỏ những thiệt hại do hàng phá giá gây ra.

    Thuế chống bán phá giá được áp dụng như sau: 

    • Về nguyên tắc, thuế bán phá giá dùng để áp dụng cho những hàng hóa bán phá giá, được tính riêng cho từng nhà sản xuất. 

    2.2 Biện pháp tự vệ

    Hạn chế nhập khẩu hàng hóa bán phá giá là biện pháp tự vệ an toàn

    Biện pháp tự vệ là việc tạm thời hạn chế hoặc ngưng nhập khẩu đối với một hoặc một số hàng hóa khi giá nhập khẩu đột nhiên tăng nhanh, đây là phương pháp an toàn, ổn định thị trường cho các nước nhập khẩu.

    Biện pháp tự vệ không áp dụng với sở hữu trí tuệ, dịch vụ hay đầu tư, chỉ áp dụng đối với hàng hóa.

    Mỗi nước nhập khẩu có thể áp dụng biện pháp tự vệ khi đã tiến hành điều tra và chứng minh được hàng hóa phá giá với điều kiện sau:

    Biện pháp tự vệ cần tuân theo quy định của WTO

    Qua đây, Quản Lý Bất Động Sản đã đưa ra một số kiến thức về bán phá giá cũng như biện pháp chống bán phá giá cho các nước nhập khẩu, giúp ổn định thị trường tài chính.

    5

    /

    5

    (

    2

    votes

    )

    Continue Reading

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Kỹ Thuật
  • Phương Hướng, Giải Pháp Áp Dụng Ddc Trong 5 Năm Tới
  • Ung Thư Vòm Họng, Nguyên Nhân Và Hướng Phòng Ngừa
  • Phòng Ngừa Ung Thư Vòm Họng: Không Sử Dụng Thuốc Lá
  • Dấu Hiệu Ung Thư Vòm Họng Sớm Nhất Và Cách Phòng Ngừa Bệnh Hiệu Quả
  • Bán Phá Giá Là Gì? Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Ngoại Thương

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Theo 5 Hoạt Động Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ
  • Quan Hệ Không Dùng Biện Pháp Tránh Thai Sau 3 Năm Mới Có Con Nhưng Không Biết Là Con Của Ai ?
  • Phạm Tội Trong Thời Gian Xem Xét Hồ Sơ Hoặc Trong Thời Gian Chấp Hành Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Được Giải Quyết Như Thế Nào
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Copy Of Cau Hoi Nhom 2 Doc
  • Đáp Án Thi Tìm Hiểu Luật Xử Phạt Hành Chính Đăk Lăk Da An Tim Hieu Luat Vi Pham Hanh Chinh Tinh Dak Lak Doc
  • Bán phá giá là thủ đoạn rất thường gặp trong hoạt động kinh doanh Xuất Nhập Khẩu. Đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bị rất nhiều quốc gia lên án và có nhiều biện pháp chế tài nghiêm ngặt. Để hiểu rõ vấn đề này, mời các bạn cùng tìm hiểu ? Các biện pháp chống bán phá giá trong hoạt động ngoại thương hoạt động ra sao?

    Bán phá giá là gì?

    Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một loại hàng hóa được xuất khẩu với giá thấp hơn giá bán của mặt hàng đó tại thị trường nội địa nước xuất khẩu. Như vậy có thể hiểu đơn giản là nếu giá xuất khẩu của một mặt hàng thấp hơn giá nội địa của nó thì sản phẩm đó bị coi là bán phá giá.

    Bán phá giá xuất hiện khi nào?

    Bán phá giá bắt đầu xuất hiện từ thế kỉ XVII tại Châu Âu và sau đó nhanh chóng trở thành tượng phổ biến toàn thế giới. Ngay từ khi xuất hiện bán phá giá được xem như mối đe dọa đối với các nước nhập khẩu.

    Cách xác định doanh nghiệp có bán phá hay không?

    Như mình có đề cập, một sản phẩm bị xem là bị bán phá giá nếu có giá XK thấp hơn giá thông thường. Có 2 yếu tố giúp xác định doanh nghiệp đó có bán phá giá hay không:

    • Biên độ phá giá từ 2% trở lên.
    • Số lượng, trị giá hàng hoá bán phá giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối lượng hàng nhập khẩu (ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các hàng hoá tương tự mới nước có khối lượng dưới 3%. Nhưng tổng số các hàng hoá tương tự của các nước khác nhau được xuất khẩu vào nước bị bán phá giá chiếm trên 7%).

    Trong đó:

    Biên độ phá giá là mức độ chênh lệch giữa giá thông thường và giá xuất khẩu (tính trên giá xuất khẩu), theo công thức “Biên độ phá giá = (Giá thông thường – Giá xuất khẩu)/Giá xuất khẩu”.

    Giá thông thường càng cao hơn giá xuất khẩu thì biên độ phá giá càng lớn. Biên phá được tính riêng cho từng nhà sản xuất – xuất khẩu nước ngoài hoặc tính chung cho một nhóm nhà sản xuất – xuất khẩu nước ngoài tuỳ thuộc vào việc họ có hợp tác tham gia vụ điều tra hay không.

    Ảnh hưởng của bán phá giá đối với nước xuất khẩu và nước nhập khẩu

    Hành động bán phá giá có thể có lợi trong một số trường hợp ,nhưng nếu lạm dụng quá thì sẽ gây nhiều tác hại đối với nước nhập khẩu cũng như nước xuất khẩu.

    Đối với nước xuất khẩu

    Bán phá giá giúp cho các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng thu được ngoại tệ, giúp tiêu thụ được lượng hàng tồn kho. Đặc biệt là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, quần áo lỗi mốt…Tiêu biểu như ở Pháp, ngay từ khi mới vào mùa đã có lượng hàng tồn đọng như: thực phẩm sắp hết thời hạn sử dụng, quần áo , giầy dép hết mốt…lên tới 50% số dự trữ bán ra. Hàng tồn kho này được mang bán với mức giá thấp hơn 30% giá thị trường. Đến cuối mùa, hàng tồn đọng chỉ còn vài phần trăm lại đựơc bán lại cho những người chuyên nghiệp với giá bằng 1/10 giá cũ, họ sẽ đẩy số hàng hoá này ra nước ngoài bán phá giá.

    Ngoài ra biện pháp bán phá giá còn là công cụ quan trọng trong chính sách Ngoại thương của đất nước nhằm giúp cho việc thực hiện những mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước đó.

    Người tiêu dùng trong nước phải chịu thiệt do phải chịu giá cao hơn so với trước đây do có sự thoả thuận về giá giữa các doanh nghiệp.

    Việc các doanh nghiệp bán phá giá, lượng hàng hoá đó lại được bán cho chính các doanh nghiệp trong nước mình, do đó lại quay lại lũng đoạn thị trường trong nước.

    Do việc bán phá giá nhằm mục đích thu được siêu lợi nhuận nên một vài nước đã sử dụng lao động trẻ em, phụ nữ, lao động tù nhân với giá rẻ mạt. Hậu quả là người lao động bị ngược đãi nặng nề. Trung Quốc là một trong những nước tiêu biểu sử dụng lao động tù nhân.Theo số liệu mới đây của văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em (BIT) thì trên toàn thế giới có trên 250 triệu trẻ em từ 5-14 tuổi đang tham gia hoạt động kinh tế.

    Người tiêu dùng có cơ hội để lựa chọn, tiêu dùng những mặt hàng mới, lạ giá cả dễ chấp nhận.

    Đối mặt với những mặt hàng từ nước ngoài đưa vào với giá rẻ, buộc các dịch vụ trong nước phải tìm cách cải tiến mẫu mã hàng hóa, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tích cực áp dụng công nghệ tiên tiến, tận dụng nguồn nhân lực để hạ chi phí sản xuất nhằm giữ vững vị trí trên thị trường và thu được lợi nhuận tối ưu.

    Bán phá giá hàng hoá cũng gây ra không ít những khó khăn cho nước nhập khẩu, nhất là đỗi với các nước đang phát triển, có thị trường hẹp.

    Trước hết với người tiêu dùng của nước nhập khẩu họ phải sử dụng những mặt hàng kém chất lượng, hàng giả, đôi khi cả hàng quá thời hạn sử dụng, không đảm bảo về an toàn về an toàn thực phẩm, vệ sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của người dân.

    Các chủ doanh nghiệp, những người kinh doanh do hám lợi, thu được lợi nhuận cao, do đó tìm mọi cách nhập lậu hàng hoá, trốn thuế gây thất thu cho Ngân sách Nhà nước. Hơn nữa do không thể cạnh tranh đựơc với hàng nước ngoài nên nhiều xí nghiệp trong nước bị đình trệ sản xuất, bị phá sản hoàn toàn. Khi đó nó là nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng trì trệ, hạn chế tốc độ phát triển nền kinh tế của nước nhập khẩu.

    Về mặt xã hội, việc các xí nghiệp bị đóng cửa sản xuất hoặc ở bên bờ của sự phá sản hoạt động cầm chừng đã làm cho nhiều công nhân không có việc làm, đời sống khó khăn, thất nghiệp tăng, kèm theo nó là các tệ nạn xã hội cũng gia tăng gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước nhập khẩu.

    Các biện pháp chống bán phá giá trong hoạt động ngoại thương

    Biện pháp chống bán phá giá là tất cả các biện pháp mà nước nhập khẩu có thể sử dụng để chống lại hiện tượng bán phá giá của hàng nhập khẩu sau khi có kết luận cuối cùng khẳng định việc bán phá giá gây thiệt hại đáng kể. Các biện pháp bao gồm:

    Dùng thuế để chống bán phá giá

    Có rất nhiều phương pháp các quốc gia áp dụng để chống bán phá giá trong đó thuế chống bán phá giá là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất, được áp dụng với sản phẩm bị điều tra và bị kết luận là bán phá giá vào nước nhập khẩu gây thiêt hại cho ngành sản xuất nước đó

    Đây là khoản thuế bổ sung ( ngoài thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài nhập khẩu là đối tượng của quất định áp dụng biện pháp chóng bán phá giá

    Cách thức áp dụng

    + Về nguyên tắc, mức thuế chống bán phá giá được tính riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài và không cao hơn biên phá giá của họ.

    + Trường hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoàikhông được lựa chọn để tham gia cuộc điều tra thì mức thuế chống bán phá giá áp dụng cho họ không cao hơn biên phá giá trung bình của tất cả các nhàsản xuất, xuất khẩu nước ngoài được lựa chọn điều tra.

    Về thời hạn áp thuế: Theo quy định của WTO, việc áp thuế chống bán phá giá không được kéo dài quá 5 năm kể từ ngày có Quyết định áp thuế hoặc kể từ ngày tiến hành rà soát lại.

    Quyết định áp thuế có hiệu lực với cả các nhà xuất khẩu mới, người chưa hề xuất khẩu hàng hoá đó sang nước áp thuế trong thời gian trước đó; nhà xuất khẩu mới có thể yêu cầu cơ quan điều tra tính mức thuế riêng cho mình, nhưng trong thời gian chưa có quyết định về mức thuế riêng thì hàng hoá nhập khẩu của nhà xuất khẩu mới vẫn thực hiện.

    Biện pháp tự vệ

    Biện pháp tự vệ là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hoá khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước.

    Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ.

    Mỗi nước nhập khẩu là thành viên WTO đều có quyền áp dụng biện pháp tự vệ, nhưng khi áp dụng thì họ phải bảo đảm tuân theo các quy định của WTO (về điều kiện, thủ tục, cách thức áp dụng biện pháp tự vệ).

    Điều kiện áp dụng

    Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời của các điều kiện sau:

    • Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hoá đó bị thiệt hại hoặc đe doạ bị thiệt hại nghiêm trọng;
    • Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại nói trên.

    Để áp dụng biện pháp tự vệ, sự gia tăng về số lượng của hàng hoá nhập khẩu phải đáp ứng các điều kiện sau:

    • Sự gia tăng này là gia tăng tuyệt đối (ví dụ lượng nhập khẩu tăng gấp 2 lần) hoặc tương đối so với sản xuất trong nước (ví dụ lượng hàng nhập khẩu hầu như không tăng nhưng cùng thời điểm đó lượng hàng sản xuất trong nước lại giảm mạnh).
    • Sự gia tăng này phải mang tính đột biến (diễn ra đột ngột, nhanh và tức thời).
    • Chú ý: theo điều kiện chung, sự gia tăng nhập khẩu này phải thuộc diện “không dự đoán trước được” vào thời điểm nước nhập khẩu đàm phán tham gia Hiệp định SG.

    Thực trạng bán phá giá và chống bán phá giá tại Việt Nam

    Việc nước ta gia nhập vào APEC ASEAN và WTO dẫn đến việc xóa bỏ hàng rào thuế quan, hiện tượng bán phá giá hàng hóa nước ngoài ngày càng tăng trên thị trường nước ta nhằm chiếm đoạt thị phần, dồn ép các ngành sản xuất Việt Nam.

    Ngược lại, trong quan hệ thương mại quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài đã bị khởi kiện vài lần vì bị cho là bán phá giá hàng hóa trên thị trường.

    Năm 1994, gạo Việt Nam bị Colombia đâm đơn kiện. Kết luận cuối cùng là gạo Việt Nam nhập khẩu vào Colombia không bị đánh thuế chống bán phá giá mặc dù bán ở mức thấp 9.07% song không gây tổn hại cho các nhà sản suất lúa gạo ở Colombia.

    Năm 2002, cá da trơn vào Mỹ bị kiện vì bị cho là bán giá rẻ, phá giá thị trường.

    Năm 2006, vụ kiện phá giá dày da giữa Việt Nam và EU.

    Năm 2013, điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng thép không gỉ cán nguội nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước/vùng lãnh thổ: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a và Lãnh thổ Đài Loan (mã số vụ việc 13-KN-BPG-01.

    Để doanh nghiệp Việt có thể “đồng hành” cùng các biện pháp chống bán phá giá, chúng ta trước hết cần trang bị cho mình những kiến thức pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, cần lưu ý một số vấn đề cụ thể sau:

    • Sẵn sàng đương đầu với các vụ kiện phá giá khác.
    • Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về phá giá, chống bán phá giá.
    • Tổ chức tìm hiểu các vụ kiện về chống bán phá giá của một số ngành và một số quốc gia lựa chọn.
    • Chứng minh “Việt Nam có nền kinh tế thị trường”.
    • Cần có những chứng cứ xác đáng để chứng minh việc bán giá thấp.

    Theo Kinh tế Quốc tế

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Theo Pháp Luật Việt Nam
  • Đề Xuất Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Tại Việt Nam
  • Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Thương Mại Quốc Tế
  • Thế Nào Là Thuế Chống Bán Phá Giá, Chống Trợ Cấp Và Tự Vệ?
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Quản Lý Bếp Ăn Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Trường Mầm Non Họa Mi
  • Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Thương Mại Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Xuất Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Tại Việt Nam
  • Luận Văn: Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Theo Pháp Luật Việt Nam
  • Bán Phá Giá Là Gì? Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Ngoại Thương
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Theo 5 Hoạt Động Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ
  • Quan Hệ Không Dùng Biện Pháp Tránh Thai Sau 3 Năm Mới Có Con Nhưng Không Biết Là Con Của Ai ?
  • Trong thương mại quốc tế, khi hàng hoá bị xem là bán phá giá thì chúng có thể bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá (antiduming) như thuế chống phá giá, đặt cọc hoặc thế chấp, can thiệp hạn chế định lượng hoặc điều chỉnh mức giá của nhà xuất khẩu nhằm triệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước nhập khẩu, trong đó thuế chống bán pháp giá và biện pháp phổ biến nhất hiện nay.

    Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khẩu bổ sung đánh vào những hàng hoá bị bán phá giá ở nước nhập khẩu nhằm hạn chế những thiệt hại do việc bán phán giá đưa đến cho ngành sản xuất của nước đó nhằm bảo đảm sự công bằng trong thương mại (nói chính xác đó là một sự bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nước). Thuế này đánh vào các nhà sản xuất riêng lẻ chứ không phải là thuế áp đặt chung cho hàng hoá của một quốc gia. Nguyên tắc chung nêu ra những Hiệp định của WTO là không được phân biệt đối xử khi áp dụng thuế chống phá giá, tức là nếu hàng hoá bị bán phá giá được xuất khẩu từ những quốc giá khác nhau với cùng biên độ phá giá như nhau thì sẽ áp đặt mức thuế chống phá giá thuộc vào biên độ phá giá của từng nhà xuất khẩu chứ không phải áp dụng bình quân (ngay cả khi các nhà xuất khẩu từ cùng một quốc gia) và không được phép vượt quá biên độ phá giá đã được xác định.

    Tuy nhiên, không phải bất kỳ trường hợp bán phá giá nào cũng bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá. Theo quy định của WTO cũng luật pháp của rất nhiều nước thì thuế chống bán phá giá chỉ được áp đặt khi hàng hoá được bán phá giá gây thiệt hại đáng kể hay đe doạ gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất ở nước nhập khẩu. Như vậy, nếu một hàng hoá được xác định là có hiện tượng bán phá giá nhưng không gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất mặt hàng đó ở nước nhập khẩu thì sẽ không bị áp đặt thuế chống bán phá giá và các biện pháp chống bán phá giá khác. Thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước được hiểu là tình trạng suy giảm đáng kể về số lượng, mức tiêu thụ trong nước, lợi nhuận sản xuất, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm cho người lao động, đầu tư tới các chỉ tiêu khác của ngành sản xuất trong nước hoặc dẫn đến khó khăn cho việc hình thành sản xuất trong nước. Bán phá giá được xác định dựa vào 2 yếu tố cơ bản là: 1 – Biên độ phá giá từ 2% trở lên; 2 – Số lượng, trị giá hàng hoá bán phá giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối lượng hàng nhập khẩu (ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các hàng hoá tương tự mới nước có khối lượng dưới 3%, nhưng tổng số các hàng hoá tương tự của các nước khác nhau được xuất khẩu vào nước bị bán phá giá chiếm trên 7%).

    Theo quy định của WTO, biên độ phá giá được xác định thông qua việc so sánh với mức giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp, với điều kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện, hoặc được xác định thông qua so sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hoá cộng thêm khoản chi phí hợp lý cho quản trị, bán hàng, các chi phí chung khác và một khoản lợi nhuận. Như vậy, có thể hiểu rằng biên độ phá giá là mức chênh lệch giá thông thường của hàng hoá tương tự với mức giá xuất khẩu hiện tại. Việc xác định giá thông thường được tính toán rất phức tạp dựa trên cơ sở sổ sách và ghi chép của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất là đối tượng đang được điều tra với điều kiện là sổ sách này phù hợp với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi và phán ảnh được một cách hợp lý của chi phí.

    Trên thực tế, quá trình điều tra về bán phá giá của EU, Mỹ và một số nước khác cho thấy việc xác định giá trị thông thường của hàng hoá để làm căn cứ xác định biên độ phá giá quá phức tạp và đôi khi không minh bạch, vẫn còn rất nhiều áp đặt. Theo luật pháp của Mỹ thì một khi không thể xác định được giá trị thông thường tại nước xuất khẩu, người ta có thể lấy mức giá của hàng hoá tương tự trong điều kiện thương mại bình thường ở một nước thứ ba có người trình độ phát triển như của nước bị điều tra bán phá giá. Đây chính là cái cơ quan trọng mà trong vụ kiện phi lý về Thương mại Mỹ đã tính toán giá trị thông thường theo giá tại Băng – la – đét với lập luận rằng. Việt Nam chưa có nền kinh tế thị trường, vì vậy các chi phí và các số liệu của các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp là không phản ảnh trung thực và không tin cậy được. Có thể nói rằng, thuế chống bán phá gía là một công cụ bảo hộ rất mạnh và rất lợi hại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Thuế Chống Bán Phá Giá, Chống Trợ Cấp Và Tự Vệ?
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Quản Lý Bếp Ăn Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Trường Mầm Non Họa Mi
  • Biện Pháp Xử Lý Vi Phạm Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Hiện Nay
  • Bài 1,2,3,4 Trang 60 Sinh Học 8: Vận Chuyển Máu Qua Hệ Mạch, Vệ Sinh Hệ Tuần Hoàn
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Giải Pháp Công Nghệ Và Biện Pháp Thi Công
  • Đề Xuất Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Theo Pháp Luật Việt Nam
  • Bán Phá Giá Là Gì? Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Ngoại Thương
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Theo 5 Hoạt Động Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ
  • Quan Hệ Không Dùng Biện Pháp Tránh Thai Sau 3 Năm Mới Có Con Nhưng Không Biết Là Con Của Ai ?
  • Phạm Tội Trong Thời Gian Xem Xét Hồ Sơ Hoặc Trong Thời Gian Chấp Hành Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Được Giải Quyết Như Thế Nào
  • Để chúng ta có thể “đồng hành” cùng các biện pháp chống bán phá giá, các doang nghiệp Việt Nam trước hết cần trang bị cho mình những kiến thức pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, cần lưu ý một số vấn đề cụ thể sau:

    Chính phủ Việt Nam cần có kế hoạch sẵn sàng đương đầu với các vụ kiện bán phá giá khác. Việt Nam cần chủ động giảm thiểu tiêu cực của việc chống bán phá giá từ các nước khác. Cụ thể Việt Nam cần:

    • Xây dựng một hệ thống thông tin về phá giá và chống bán phá giá.
    • Xây dựng cơ chế cảnh bảo về kiện phá giá và chống bán phá giá (trực thuộc Bộ Thương mại), dự kiến những mặt hàng có khả năng bị kiện phá giá.
    • Xây dựng cách thức tận dụng có hiệu quả các thủ tục điều tra trong khuôn khổ WTO cũng như thủ tục điều tra của nước kiện phá giá. Chẳng hạn, khi bị áp dụng thuế chống bán phá giá, quốc gia bị áp thuế có thể tăng giá hàng hoá của mình để chịu mức thuế chống bán phá giá thấp hơn ở giai đoạn xem xét lại hành vi phá giá.
    • Tích cực tham gia vào các diễn đàn cùng với các nước đang phát triển để xây dựng một cơ chế chống bán phá giá chặt chẽ hơn trong khuôn khổ WTO.

    Đây được xem là cơ hội để các doanh nghiệp thu thập thông tin về vấn đề này và chứng minh tính hợp lý của giá xuất khẩu hàng hoá. Một khi các doanh nghiệp Việt Nam đứng ngoài là tự đánh mất quyền được khiếu nại và quyền kháng nghị của mình. Khi đó, các cơ quan điều tra sẽ đưa ra những phán quyết của riêng họ và áp đặt các biện pháp chống phá giá, tất nhiên là có lợi cho họ. Mặt khác, khi các doanh nghiệp nước ngoài thắng kiện, họ sẽ không ngần ngại tiếp tục kiện các hàng hoá khác, và như vậy thì cơ hội xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ giảm đi nhanh chóng. Tham gia vụ kiện (rất có thể bị thua do những áp đặt vô lý), các doanh nghiệp có thể rất tốn kém, nhưng từ chối tham gia là sẽ chấp nhận thiệt hại mà thông thường còn lớn hơn nhiều.

    Việt Nam cần thiết phải tìm hiểu các vụ kiện về bán phá giá trong một số ngành và một số quốc gia mà Việt Nam quan tâm. Trong bối cảnh các quy định về chống bán phá giá của WTO còn chưa chặt chẽ như hiện nay, việc tìm hiểu các vụ kiện trong một số ngành là cần thiết. Chính phủ Việt Nam có thể tìm ra được các lý lẽ mà các nước bị kiện khác đang sử dụng để phản bác lại nước đi kiện.

    Bốn là, chứng minh “Việt Nam có nền kinh tế thị trường”

    Trong vụ kiện giữa Việt Nam và Mỹ về cá tra, cá basa, Việt Nam bị coi là “nền kinh tề phi thị trường” dẫn đến những tham chiếu bất lợi khác như phải chọn một nước thứ ba để so sánh chi phí và tính giá trị thông thường của sản phẩm.

    Do đó, cùng đoàn kết thống nhất để tham gia vụ kiện là bài học quan trọng mà các doanh nghiệp Trung Quốc đã rút ra khi tham gia vụ kiện về nước táo ép của họ và các vụ kiện khác.

    Vấn đề rất quan trọng là, các doanh nghiệp phải tìm hiểu thật kỹ và trả lời tất các câu hỏi do cơ quan điều tra nếu ra trong bảng câu hỏi điều tra một cách hợp lý nhất và trong thời gian sớm nhất. Sự minh bạch và rõ ràng trong các câu trả lời sẽ tạo ấn tượng tốt với các cơ quan điều tra. Sự tham vấn các ý kiến của các luật sư có uy tín trong trường hợp này là rất quan trọng.

    Để không gây thiệt hại cho nền sản xuất cả nước nhập khẩu (lượng hàng xuất khẩu chiếm dưới 3% tổng khối lượng nhập khẩu mặt hàng đó của nước có hàng bán giá thấp) và nếu có thì biên độ bị coi là phá giá là không đáng kể (dưới 2%). Đồng thời, có thể thương lượng với cơ quan đưa ra phán quyết của nước này nhằm đạt được thoả thuận về hạn chế định lượng hoặc chấp nhận một mức giá tối thiểu thay vì áp đặt thuế chống phá giá.

    Kết luận

    Như vậy trong thời gian vừa qua Việt Nam đã phải đón nhận một số vụ kiện chống bán phá giá từ một số quốc gia mà chúng ta xuất khẩu hàng hoá sang nước đó. Vấn đề này chúng ta đã gặp phải từ rất lâu nhưng do chưa nhận thức được tầm quan trong của vấn đề cho nên chưa có sự chuẩn bị chu đáo đối với các vụ kiện. Mặt khác chúng ta còn ít kinh nghiệm trong vấn đề chống bán phá giá cùng với sự áp đặt của những nước lớn, những nước mà đang nhập khẩu hàng hoá của chúng ta dẫn đến chúng ta gặp phải những bất lợi lớn. Hàng hoá của chúng ta có chi phí sản xuất thấp dẫn đến giá bán thấp nhưng vẫn bị cho là bán phá giá và chịu thuế xuất cao. Điều này dẫn đến giảm kim ngạch xuất khẩu và ảnh hưởng đến sản xuất trong nước. Trong thời gian tới chúng ta có thể sẽ phải gặp những vụ kiện bán phá giá mới, cho nên cần phải có những tìm hiểu đúc rút kinh nghiệm và có phương án giải quyết vấn đề một cách tốt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Thương Mại Quốc Tế
  • Thế Nào Là Thuế Chống Bán Phá Giá, Chống Trợ Cấp Và Tự Vệ?
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Quản Lý Bếp Ăn Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Trường Mầm Non Họa Mi
  • Biện Pháp Xử Lý Vi Phạm Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Hiện Nay
  • Bài 1,2,3,4 Trang 60 Sinh Học 8: Vận Chuyển Máu Qua Hệ Mạch, Vệ Sinh Hệ Tuần Hoàn
  • Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Thương Mại Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Theo quy định của ADA và quy định của pháp luật các nước thành viên các biện pháp chống bán phá giá bao gồm:

    Theo quy định của ADA và quy định của pháp luật các nước thành viên các biện pháp chống bán phá giá bao gồm:

    – Thuế chống bán phá giá;

    – Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá nhân sản xuất và xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng các biện pháp chống bán phá giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp chống bán phá giá hoặc với các nhà sản xuất trong nước nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng ý.

    – Ngoài ra, trước khi áp dụng biện pháp thuế, biện pháp cam kết giá cơ quan điều tra có thể áp dụng các biện pháp tạm thời (i) thuế (ii) đặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế chống bán phá giá dự kiến (iii) cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến áp dụng.

    Thuế chống bán phá giá là thuế nhập khẩu bổ sung của nước nhập khẩu áp dụng cho hàng nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn cản sự tiếp diễn của việc bán phá giá đó nhắm tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự ở trong nước. Cơ quan điều tra chống bán phá giá sẽ quyết định mức thuế chống bán phá giá trên cơ sở biên độ phá giá, theo nguyên tắc mức thuế này có thể tương đương hoặc nhỏ hơn biên độ phá giá.

    Trường hợp quốc gia xuất khẩu không chịu hợp tác cung cấp thông tin cho quá trình điều tra, thì cơ quan điều tra bán phá giá của nước nhập khẩu trên cơ sở những thông tin tự thu thập được kết hợp với những thông tin mà bên nguyên đơn đưa ra sẽ quyết định biên độ bán phá giá và mức thuê áp dụng.

    Biện pháp cam kết: Việc điều tra có thể ngừng hoặc kết thúc mà không cần áp dụng biện pháp tạm thời hoặc thuế chống bán phá giá, nếu như nhà xuất khẩu tự nguyện cam kết tăng giá hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào thị trường đang điều tra và được cơ quan điều tra nhất trí rằng biện pháp này sẽ khắc phục được thiệt hại. Mức tăng giá không nhất thiết phải lớn hơn mà thường là nhỏ hơn biên độ phá giá nếu như đã đủ khắc phục thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước.

    Cơ quan điều tra có thể đề nghị nhà xuất khẩu cam kết giá nhưng không bắt buộc phải cam kết. Các cơ quan hữu quan của nước nhập khẩu có thể yêu cầu bất kỳ nhà xuất khẩu nào chấp nhận cam kết giá cung cấp thông tin định kỳ về việc thực hiện cam kết giá.Trường hợp nhà xuất khẩu vi phạm cam kết giá, cơ quan điều tra có thể lập tức áp dụng biện pháp tạm thời trên cơ sở thông tin mà họ có.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Hoạt Động Thực Hiện Pháp Luật
  • Các Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Thời Tiết Đà Nẵng Quanh Năm
  • Thời Tiết Đà Nẵng Quận Ngũ Hành Sơn
  • Dự Báo Thời Tiết Đà Nẵng Ngũ Hành Sơn
  • Luận Văn: Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Theo Pháp Luật Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bán Phá Giá Là Gì? Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Ngoại Thương
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Theo 5 Hoạt Động Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ
  • Quan Hệ Không Dùng Biện Pháp Tránh Thai Sau 3 Năm Mới Có Con Nhưng Không Biết Là Con Của Ai ?
  • Phạm Tội Trong Thời Gian Xem Xét Hồ Sơ Hoặc Trong Thời Gian Chấp Hành Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Được Giải Quyết Như Thế Nào
  • Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Copy Of Cau Hoi Nhom 2 Doc
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành luật kinh tế với đề tài: Điều

    tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo pháp luật Việt Nam, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. ĐẠI HỌC HUẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT CHÂU THỊ HUYỀN ĐIỀU TRA VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 838 0107 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC THỪA THIÊN HUẾ, năm 2022
    2. 2. Công trình đƣợc hoàn thành tại: Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phan Thanh Hà Phản biện 1: ………………………………….:…………………….. Phản biện 2: …………………………………………………………. Luận văn sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm Luận văn thạc sĩ họp tại: Trƣờng Đại học Luật Vào lúc………..giờ………..ngày………..tháng ………. năm………..
    3. 3. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………. 1 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài……………………………………… 1 2. Tình hình nghiên cứu đề tài………………………………………………………… 1 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………………. 2 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài. …………………….. 2 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài ……………………. 3 6. Những đóng góp mới của luận văn ……………………………………………… 3 7. Kết cấu của luận văn………………………………………………………………….. 3 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU TRA VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ.. 4 1.1. Khái quát về bán phá giá và chống bán phá giá………………………….. 4 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về bán phá giá……………………………………. 4 1.1.2. Khái niệm và đặc điểm về chống bán phá giá………………………….. 4 1.1.3. Các biện pháp chống bán phá giá………………………………………….. 4 1.1.4. Tác động của chống bán phá giá ……………………………………………. 5 1.2. Phân biệt biện pháp chống bán phá giá so với các biện pháp phòng vệ thƣơng mại khác……………………………………………………………………….. 6 1.3. Một số khái niệm pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá…………………………………………………………………………………… 6 1.3.1. Điều tra chống bán phá giá……………………………………………………. 6 1.3.2. Thiệt hại vật chất của ngành sản xuất trong nƣớc…………………….. 7 1.3.3. Mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu đƣợc bán phá giá với thiệt hại vật chất của ngành sản xuất trong nƣớc ………………………………. 7 1.3.4. Khái niệm ngành sản xuất trong nƣớc……………………………………. 8 1.3.5. Khái niệm về chứng cứ…………………………………………………………. 8 1.3.6. Khái niệm lẩn tránh thuế chống bán phá giá……………………………. 8 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1………………………………………………………………. 9 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐIỀU TRA VÀ ÁP DỤNG BIỆNPHÁPCHỐNGBÁNPHÁ GIÁVÀ THỰC TIỄNTHỰC HIỆN……………………………………………………………………….. 9 2.1. Thực trạng pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá ở Việt Nam……………………………………………………………………….. 9 2.1.1. Thực trạng pháp luật về điều tra chống bán phá giá ở Việt Nam .. 9 2.1.1.1.Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của cơ quan chống bán phá giá:….. 9 2.1.1.2. Các căn cứ tiến hành điều tra ……………………………………………. 10 2.1.1.3. Tổ chức hoạt động điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá……………………………………………………………………………………………… 11
    4. 4. 2.1.1.4. Áp dụng các biện pháp cam kết ………………………………………….12 2.1.1.5. Bảo mật thông tin trong điều tra chống bán phá giá và rà soát quyết định chống bán phá giá…………………………………………………………12 2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá ở Việt Nam…………………………………………………………………13 2.2.1. Thực tiễn các vụ việc điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá hàng hóa của Việt Nam ở trên thế giới …………………………………….13 2.2.2. Thực tiễn các vụ việc điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá ở Việt Nam …………………………………………………………………………….13 2.3. Những hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh ngiệm của pháp luật Việt Nam về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá ………….14 2.3.1. Hạn chế………………………………………………………………………………14 2.3.2. Nguyên nhân. ……………………………………………………………………..14 2.3.3. Bài học kinh nghiệm ……………………………………………………………14 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2………………………………………………………………15 CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TĂNG CƢỜNG HIỆU QUẢ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU TRA VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ …………………………………………………………….16 3.1. Phƣơng hƣớng và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá………………………………………………….16 3.1.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá…………………………………………………………………16 3.1.2. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá…………………………………………………………………………16 3.1.2.1. Hoàn thiện pháp luật về điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá xuất phát từ yêu cầu vận hành của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa…………………………………………………………………16 3.1.2.2. Hoàn thiện pháp luật về điều tra chống bán phá giá xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa…………………17 3.1.2.3. Hoàn thiện pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá xuất phát từ yêu cầu bảo vệ ngành sản xuất trong nƣớc, của ngƣời tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội…………………………………….17 3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá…………………………………………………………………………17 3.2.1. Hoàn thiện khái niệm về chứng cứ trong điều tra chống bán phá giá ………………………………………………………………………………………………18 3.2.2. Hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục điều tra chống bán phá giá. ……………………………………………………………………………………….18
    5. 6. 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Sau khi gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), thị trƣờng Việt Nam đã có một khoảng thời gian nhất định để kiểm chứng những tác động của tự do hoá thƣơng mại đem lại. Bên cạnh việc hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam đƣợc hƣởng ƣu đãi thƣơng mại khi xuất khẩu sang thị trƣờng các nƣớc thành viên khác của WTO thì đồng thời đó cũng là khó khăn cạnh tranh với hàng hoá nƣớc ngoài đƣợc nhập khẩu vào Việt Nam. Thực tế hiện nay với số lƣợng và diễn biến vụ kiện chống bán phá giá đã diễn ra có thể thấy các nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu và các nhà sản xuất nội địa thƣờng biết rất ít về thủ tục kiện tụng và những việc họ phải làm. Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này trên cơ sở đó có thể đóng góp một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chống bán phá giá ở Việt Nam, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo pháp luật Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Việc nghiên cứu và xây dựng hệ thống pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đã đƣợc một số nƣớc có nền kinh tế phát triển nhƣ Hoa Kỳ, EU, Canada,… thực hiện từ rất sớm. Ở nƣớc ta, việc nghiên cứu về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá dƣới góc độ luật học vẫn còn khá mới. Có một số công trình nghiên cứu nhƣ: 1. Đoàn Trung Kiên (2013), “Pháp luật chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu ở Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sĩ luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. 2. Vũ Thị Phƣơng Lan (2013), “Pháp luật về chống bán phá giá trong thƣơng mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. 3. Nguyễn Quý Trọng (2014), “Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nƣớc ngoài vào Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội, 2014. 4. Nguyễn Trí Thành (2015), ” Thủ tuc điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thƣơng mại theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội, 2022. 5. Hà Văn Chính (2016), Pháp lệnh chống bán phá giá và thực hiện áp dụng tại Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp. 6. Nguyễn Tú (2016), Điều tra chống bán phá giá dƣới góc độ luật so sánh, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội. Trong số các công trình nghiên cứu ở quy mô nhỏ hơn có các bài báo của các tác giả Bùi Thanh Hải, Thuế chống bán phá giá, trợ cấp trong thƣơng mại quốc tế, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam, Đoàn Văn Trƣờng; Những biện pháp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá ở nƣớc ngoài (Tạp chí nghiên cứu kinh tế, 2014), Hoàng Phƣớc Hiệp, Tìm
    6. 7. 2 hiểu Pháp luật về chống bán phá giá của Tổ chức thƣơng mại thế giới và Hoa Kỳ (Tạp chí luật học, 2022), Vũ Kim Dũng, bán phá giá và giải pháp chống bán phá giá (Tạp chí hoạt động khoa học, 2022), Nguyễn Thanh Hà, Xung quanh việc hàng xuất khẩu Việt Nam bị kiện chống bán phá giá (Tạp chí tài chính, 2022), Lê Huy Trọng, Thuế chống bán phá giá, kinh nghiệm của một số nƣớc Châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán, 2022). Qua việc khảo cứu các tài liệu, bài báo, luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề này có thể thấy, các nghiên cứu đã làm đƣợc những vấn đề sau: Thứ nhất, các công trình, bài viết, luận văn, luận án, giáo trình đã đƣa ra đƣợc khái niệm pháp luật về biện pháp bán phá giá; biện pháp chống bán phá giá và điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá… Thứ hai, các công trình, bài viết, khóa luận, luận văn, luận án, giáo trình đã phần nào phân tích đƣợc các quy định pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Thứ ba, các công trình nghiên cứu ở mức độ nhất định cũng đã nêu lên đƣợc những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả sẽ có sự tiếp thu, kế thừa những thành quả, các giá trị mà các nghiên cứu đã chỉ ra làm nền móng cho việc tiếp tục nghiên cứu đề tài của mình cả về lý luận cũng nhƣ thực tiễn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá, đồng thời trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt nam về điều tra, áp dụng biện pháp chống bán phá giá đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cƣờng hiệu quả thực hiện pháp luật trong việc điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá. 3.2 .Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau: – Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá. – Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá ở Việt Nam. – Nghiên cứu thực tiễn và chỉ ra những vƣớng mắc làm cơ sở cho việc xây dựng các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật. – Xây dựng, đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về biện pháp chống bán phá giá. 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài. 4.1. Đối tượng nghiên cứu
    7. 9. 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU TRA VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 1.1. Khái quát về bán phá giá và chống bán phá giá 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về bán phá giá Bán phá giá là một hiện tượng xảy ra khi một hàng hóa của nước này được xuất khẩu vào một nước khác với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa tương tự tại nước xuất khẩu. Trong khái niệm này, hai yếu tố mấu chốt để xác định BPG là “giá xuất khẩu” và “giá trị thông thƣờng” sẽ đƣợc các cơ quan có thẩm quyền của nƣớc nhập khẩu xác định và tính toán theo những phƣơng pháp và tiêu chí xác định. Bán phá giá phải là hàng hóa lƣu thông trên thị trƣờng và bán với giá thấp hơn giá thị trƣờng của nƣớc nhập khẩu hoặc một nƣớc thứ ba nào đó, bán phá giá phải làm phƣơng hại đến nền sản xuất của nƣớc nhập khẩu làm cho các nghành sản xuất bi bán phá giá phải đình trệ sản xuất, bán phá giá phải kéo theo việc giảm giá của mặt hàng cùng chủng loại sản xuất trong nƣớc hoặc vùng lãnh thổ đó giảm theo, giá bán tại nƣớc nhập khẩu phải không đúng với giá chi phi sản xuất thực của mặt hàng đó tại nƣớc xuất khẩu hoặc một nƣớc thứ ba nào đó, việc bán hàng đó làm phƣơng hại đến các quy luật của nền kinh tế thị trƣờng. 1.1.2. Khái niệm và đặc điểm về chống bán phá giá Chống BPG là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam gây ra thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước. (Khoản 1 Điều 77 Luật Quản lý ngoại thương 2022) Hàng hóa đƣợc xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam với giá thấp hơn giá thông thƣờng là giá có thể so sánh đƣợc của hàng hóa tƣơng tự bán tại nƣớc xuất khẩu hoặc tại một nƣớc thứ ba trong các điều kiện thƣơng mại thông thƣờng hoặc mức giá mà Cơ quan điều tra xác định bằng phƣơng pháp tự tính toán. Chống bán phá giá là cách thức do cơ có thẩm quyền đặt ra nhằm chống lại các hành vi bán phá giá, chống bán phá giá phải dựa trên các căn cứ khoa học pháp lý rõ ràng khi áp dụng các biện phá chống bán phá giá vào một mặt hàng nào đó, chống bán phá giá phải phù hợp với các quy tắc và thông lệ quốc tế, chống bán phá giá phải vừa mang tính răn đe và thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ kinh tế lành mạnh, chống bán phá giá không làm mất đi tính lƣu thông một mặt hàng trên thị trƣờng, chống bán phá giá phải góp phần thúc đẩy sản xuất trong nƣớc, chống bán phá giá phải là tổng hợp của nhiều biện pháp nhất định nhằm phản ánh một cách trung thực nhất của hiện tƣợng vi phạm pháp luật về chống bán phá giá. 1.1.3. Các biện pháp chống bán phá giá
    8. 10. 5 Khoản 3 Điều 77 Luật Quản lý ngoại thƣơng năm 2022 quy định: Các biện pháp chống bán phá giá bao gồm: “1. Áp dụng thuế chống bán phá giá; 2. Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá với Cơ quan điều tra của Việt Nam hoặc với các nhà sản xuất trong nƣớc nếu đƣợc Cơ quan điều tra chấp thuận”. – Áp dụng thuế chống bán phá giá; Thuế chống BPG, hay còn gọi là thuế chống BPG chính thức, là mức thuế đánh trên hàng hóa BPG sau khi các cơ quan có tham quyền đã xác định đƣợc một cách rõ ràng hàng hóa có BPG ở mức độ đáng kể (trên 2%) và gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa. – Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá với Cơ quan điều tra của Việt Nam hoặc với các nhà sản xuất trong nước nếu được Cơ quan điều tra chấp thuận. Cam kết về giá đƣợc hiểu là sự cam kết của bất kỳ doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm đang bị điều tra BPG nào đối với nƣớc nhập khẩu đại diện bởi cơ quan có thẩm quyền về việc sẽ điều chỉnh giá của sản phấm xuất khẩu theo một cách thức nào đó để loại trừ thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa. Cam kết về giá là biện pháp chống BPG đƣợc hình thành dựa trên cơ sở tự nguyện và tự điều chỉnh của các doanh nghiệp xuất khẩu bị kiện. Trong tuyệt đại đa số trƣờng hợp, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ đƣa ra đề xuất cam kết để cơ quan có thẩm quyền xem xét. Nếu cơ quan này thấy rằng đề xuất đó có thể loại trừ thiệt hại thì đề xuất sẽ đƣợc chấp nhận và coi nhƣ cam kết về giá có hiệu lực. 1.1.4. Tác động của chống bán phá giá Việc áp dụng pháp luật chống bán phá giá không chỉ có tác dụng duy trì trật tự cạnh tranh trên thị trƣờng tự do, bảo vệ ngành sản xuất trong nƣớc trƣớc khả năng gây thiệt hại của hàng hóa nhập khẩu bán phá giá mà còn có một số tác động khác đến các dòng thƣơng mại hàng hóa trên thị trƣờng cụ thể là: Thứ nhất, việc áp dụng pháp luật chống bán phá giá chắc chắn sẽ có những tác động lớn đến tình hình nhập khẩu hàng hóa bị điều tra. Đối tƣợng bị ảnh hƣởng trực tiếp là các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu và các doanh nghiệp nƣớc ngoài xuất khẩu hàng hóa bị điều tra. Thứ hai, việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá có thể làm chệch hƣớng thƣơng mại. Mục đích của thuế chống bán phá giá là làm giá bán của sản phẩm nhập khẩu tăng lên nhằm giảm sức ép cạnh tranh của chúng trƣớc hàng hóa nội địa. Thứ ba, có thể làm phát sinh những mâu thuẫn về lợi ích giữa các thành phần tham gia thị trƣờng, phát sinh những tranh chấp giữa Việt Nam và các nƣớc xuất khẩu mặt hàng bị điều tra phá giá. Biện pháp chống bán phá giá dù có tăng thêm giá trị thặng dƣ cho ngành sản xuất nội địa, đem lại những khoản thuế bổ sung…, song chúng có nguy cơ giảm thị phần và năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa bị bán phá
    9. 14. 9 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 BPG là một hiện tƣợng xảy ra khi một hàng hóa của nƣớc này đƣợc xuất khẩu vào một nƣớc khác với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thƣờng của hàng hóa đó tại nƣớc xuất khẩu. Do tác động của BPG và đặc biệt là tác động tới ngành sản xuất nội địa của nƣớc nhập khẩu vì vậy chống BPG đƣợc coi là biện pháp bảo vệ nhóm lợi ích này hữu hiệu nhất. Chống BPG là việc các cơ quan có thẩm quyền của nƣớc nhập khẩu áp dụng các biện pháp phù hợp để loại bỏ những thiệt hại mà hàng hóa nhập khẩu BPG gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa tƣơng tự của nƣớc mình. Trong các biện pháp đó thì Pháp luật về chống BPG là biện pháp mạnh mẽ nhất, hiệu quả nhất và phổ biến nhất. Về bản chất, các biện pháp chống BPG đều nhằm mục đích bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa của nƣớc nhập khẩu. Khi áp dụng thuế chống BPG thì chỉ có ngành sản xuất nội địa của nƣớc nhập khẩu là đối tƣợng duy nhất đƣợc lợi và cái lợi đó có đƣợc trên sự thua thiệt của chính ngƣời tiêu dùng của họ và trên sự lao động của các doanh nghiệp và nhân công lao động nƣớc ngoài, những ngƣời đã bỏ công sức sản xuất ra hàng hoá với mức giá cạnh tranh hơn. Chƣơng 1 của luận văn tác giả đã nêu đƣợc khái quát những vấn đề lý luận của pháp luật về bán phá giá; lý luận của pháp luật về chống bán phá giá đồng thời đã có sự phân biệt các biện pháp chống bán phá giá với các biện pháp phòng vệ thƣơng mại khác; nêu đƣợc một số khái niệm pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá. CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐIỀU TRA VÀ ÁP DỤNG BIỆNPHÁP CHỐNGBÁN PHÁ GIÁVÀ THỰCTIỄNTHỰCHIỆN 2.1. Thực trạng pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá ở Việt Nam 2.1.1. Thực trạng pháp luật về điều tra chống bán phá giá ở Việt Nam 2.1.1.1.Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của cơ quan chống bán phá giá: – Cơ cấu tổ chức của cơ quan chống bán phá giá Cơ quan chống bán phá giá của Việt Nam trực thuộc Bộ Công thƣơng, bao gồm: (i) Cơ quan điều tra chống bán phá giá: Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan có thẩm quyền điều tra các hành vi về phá giá của nhà sản xuất/xuất khẩu nƣớc ngoài, thiệt hại của ngành sản xuất trong nƣớc và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá của nhà sản xuất nƣớc ngoài với thiệt hại vật chất của ngành sản xuất trong nƣớc. Tuy nhiên, cơ quan điều tra không có thẩm quyền để ra phán quyết áp thuế chống bán phá giá, mà chỉ kết luận cuối cùng rồi chuyển sang Hội đồng xử lý vụ việc để quyết
    10. 19. 14 2.3. Những hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh ngiệm của pháp luật Việt Nam về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá 2.3.1. Hạn chế Trong thực tiễn điều tra và áp dụng biện pháp chống BPG có một số điểm hạn chế, tồn tại sau: Thứ nhất, các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực chống BPG đã đƣợc thành lập. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các cơ quan này bao gồm Hội đồng xử lý vụ việc chống BPG và Cơ quan điều tra chống BPG . Thứ hai, nhận thức của giới doanh nghiệp Việt Nam về Pháp luật chống BPG của Việt Nam còn rất thấp. Thứ ba, trong quan hệ quốc tế của Việt Nam với một số nƣớc trên thế giới vẫn còn tồn tại một số thực tiễn có thể ảnh hƣởng tới khả năng doanh nghiệp Việt Nam có thể kiện chống BPG đối với các sản phẩm nhập khẩu giá rẻ tại thị trƣờng Việt Nam. 2.3.2. Nguyên nhân. Thứ nhất, hệ thống pháp luật về chống BPG của Việt Nam vẫn còn là một hệ thống pháp luật non trẻ. Thứ hai, Pháp luật về chống BPG của Việt Nam tuy đã đƣợc các doanh nghiệp lớn biết tới song vẫn còn khá xa lạ với giới doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngay cả những doanh nghiệp nếu có biết tới Pháp luật về chống BPG của Việt Nam thì cũng ít khi liên hệ đƣợc pháp luật đó với thực tiễn kinh doanh của mình. Thứ ba, các thiết chế chống BPG của Việt Nam đã đƣợc thành lập, song hoạt động khá thụ động, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn. Thứ tư, các thủ tục để có thể khởi kiện và theo kiện chống BPG là hết sức phức tạp nhất là trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của WTO, chúng ta cần phải tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO về vấn đề này, điều đó đòi hỏi phải đầu tƣ nhiều thời gian và công sức. Thứ năm, kiến thức và hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung về chống BPG với tƣ cách là một biện pháp hợp pháp còn thấp. Thứ sáu, nền kinh tế của Việt Nam còn ở trình độ thấp và công tác quản lý xuất nhập khẩu còn nhiều bất cập. Các mặt hàng của ngành sản xuất nội địa của chúng ta còn ít, mức độ cạnh tranh trực tiếp của sản phẩm nhập khẩu với sản phẩm nội địa là không cao về chủng loại mặt hàng. Thứ bảy, vai trò của các hiệp hội sản xuất nội địa trong việc đại diện cho lợi ích của các doanh nghiệp sản xuất nội địa còn quá thấp. Chính điều này làm cho nguồn lực của các doanh nghiệp bỏ ra để kiện chống BPG một sản phẩm nƣớc ngoài bị phân tán mà không thể tập trung đƣợc, dẫn tới hiệu quả công tác chống BPG từ phía doanh nghiệp không cao. 2.3.3. Bài học kinh nghiệm Thứ nhất, kinh nghiệm cho các doanh nghiệp sản xuất nội địa. Trong xuyên suốt quá trình điều tra thì doanh nghiệp sản xuất nội địa cần phải chủ động phối hợp với cơ quan điều tra, cung cấp đầy đủ những thông tin mà cơ quan điều tra yêu cầu. Khi đó lợi ích của họ mới đƣợc đảm bảo một
    11. 22. 17 luật điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá cho phù hợp với các tiêu chí của nền kinh tế thị trƣờng, cần phải đáp ứng một số tiêu chí sau đây: Thứ nhất, tính minh bạch trong pháp luật nói chung và pháp luật về điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá nói riêng là một đòi hỏi rất quan trọng. Thứ hai, pháp luật điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá cần phải bảo đảm đƣợc tính ổn định, lâu dài. Thứ ba, bảo đảm đƣợc tính chuẩn mực của pháp luật. Giá trị của pháp luật chính là tạo ra các chuẩn mực cho các chủ thể khác nhau trong đời sống xã hội. Nếu pháp luật không chứa đựng các chuẩn mực thì hiệu quả của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội không lớn; Thứ tư, pháp luật phải bảo đảm tính nhất quán và hệ thống. Điều này đƣợc thể hiện ở chỗ các văn bản pháp luật trong cùng một lĩnh vực, có khi trong nhiều lĩnh vực khác nhau đều phải bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể. 3.1.2.2. Hoàn thiện pháp luật về điều tra chống bán phá giá xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Khi hoàn thiện pháp luật điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá phải là sự vận dụng về cơ bản toàn bộ các tiêu chí của nhà nƣớc pháp quyền nói chung và những giá trị riêng của một nhà nƣớc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Pháp luật trong nhà nƣớc pháp quyền “bao gồm một tập hợp các quy định mà nếu thiếu chúng thì không thể có sự cùng tồn tại trong hoà bình và tự do”. 3.1.2.3. Hoàn thiện pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá xuất phát từ yêu cầu bảo vệ ngành sản xuất trong nước, của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội. Mục đích của pháp luật điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá là nhằm bảo vệ quyền lợi của ngành sản xuất trong nƣớc, chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ các nhà sản xuất/nhà xuất khẩu nƣớc ngoài. Bằng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các nhà sản xuất nƣớc ngoài đã sử dụng việc bán phá giá để nhằm loại bỏ các đối thủ tại nƣớc nhập khẩu, chiếm lĩnh thị phần và sau đó là khống chế và chi phối nền kinh tế của nƣớc nhập khẩu, sử dụng quyền lực độc quyền thị trƣờng để gây thiệt hại cho nền kinh tế nƣớc nhập khẩu. 3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá nói chung và điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá nói riêng là nhu cầu thiết thực. Nhằm bảo đảm quyền lợi cho ngành sản xuất trong nƣớc đƣợc bảo vệ một cách chính đáng, giúp cho ngành sản xuất trong nƣớc tự vệ trƣớc sức ép hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nhà sản xuất/xuất khẩu nƣớc ngoài tại thị trƣờng Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Xuất Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Tại Việt Nam
  • Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Thương Mại Quốc Tế
  • Thế Nào Là Thuế Chống Bán Phá Giá, Chống Trợ Cấp Và Tự Vệ?
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Quản Lý Bếp Ăn Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Trường Mầm Non Họa Mi
  • Biện Pháp Xử Lý Vi Phạm Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Hiện Nay
  • Thế Nào Là Thuế Chống Bán Phá Giá, Chống Trợ Cấp Và Tự Vệ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Thương Mại Quốc Tế
  • Đề Xuất Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Tại Việt Nam
  • Luận Văn: Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Theo Pháp Luật Việt Nam
  • Bán Phá Giá Là Gì? Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Ngoại Thương
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Theo 5 Hoạt Động Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ
  • Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và thuế tự vệ là những loại thuế nhập khẩu bổ sung đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước.

    – Thuế chống bán phá giá là thuế nhập khẩu bổ sung được áp dụng trong trường hợp hàng hóa bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước.

    – Thuế chống trợ cấp là thuế nhập khẩu bổ sung được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước.

    – Thuế tự vệ là thuế nhập khẩu bổ sung được áp dụng trong trường hợp nhập khẩu hàng hóa quá mức vào Việt Nam gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước.

    Từ khái niệm này ta thấy, những loại thuế này áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu. Đồng thời, không phải hàng hóa nhập khẩu nào cũng phải chịu các loại thuế này mà việc nhập khẩu những hàng hóa này phải gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước thì mới áp dụng các loại thuế này.

    2. Điều kiện, nguyên tắc, thời hạn áp dụng

    3. Điều tra các vụ việc để áp dụng các loại thuế nhập khẩu bổ sung

    Việc kê khai, thu, nộp, hoàn thuế do Bộ Tài chính tiến hành thực hiện, còn việc có áp dụng các loại thuế này hay không, thuộc thẩm quyền của Bộ Công thương.

    Để xác định hàng hóa có áp dụng thuế chống bán phá giá hay thuế chống trợ cấp hay không phải trải qua một quá trình điều tra của cơ quan điều tra.

    Trong trường hợp nhận thấy hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá, được trợ cấp hoặc nhập khẩu quá mức gây ra thiệt hại của ngành sản xuất trong nước, tổ chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước có quyền nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, tự vệ, chống trợ cấp).

    Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại được coi là đại diện cho ngành sản xuất trong nước khi có đủ các điều kiện sau đây:

    – Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2022.

    Quý thành viên hãy theo dõi chúng tôi để nhận thêm nhiều tin tức:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Quản Lý Bếp Ăn Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Trường Mầm Non Họa Mi
  • Biện Pháp Xử Lý Vi Phạm Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Hiện Nay
  • Bài 1,2,3,4 Trang 60 Sinh Học 8: Vận Chuyển Máu Qua Hệ Mạch, Vệ Sinh Hệ Tuần Hoàn
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Giải Pháp Công Nghệ Và Biện Pháp Thi Công
  • Giải Pháp Kỹ Thuật Và Biện Pháp Thi Công
  • Sự Khác Nhau Giữa Biện Pháp Thuế Chống Bán Phá Giá Và Biện Pháp Thuế Đối Kháng Theo Quy Định Của Wto

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệp Định 217/wto/vb Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng
  • Hỗ Trợ Pháp Lý Dành Cho Doanh Nghiệp
  • 7 Giải Pháp Cho Phát Triển Kinh Tế Bền Vững
  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Địa Phương
  • Một Số Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Mùa Dịch Covid
  • Tuy nhiên, cần nhận thức một cách đầy đủ rằng, các quy tắc thương mại trong WTO là kết quả của một quá trình đàm phán lợi ích, trong đó một mặt các quốc gia phải cam kết mở cửa thị trường, mặt khác họ lại tạo ra các công cụ pháp lý để bảo vệ nền sản xuất trong nước. Trong không ít trường hợp, những công cụ được thiết lập nhân danh thương mại công bằng, an ninh an toàn, bảo vệ môi trường… lại được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ, và do đó chúng trở thành những rào cản, rủi ro pháp lý “hữu hình” đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

    Có thể kể đến một số loại “rủi ro” đã được ghi nhận trong WTO như sau:

    Các hàng rào kỹ thuật (TBT) và vệ sinh động thực vật (SPS)

    Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) của WTO cho phép các quốc gia áp đặt một hệ thống quy định về các tiêu chuẩn kỹ thuật và những quy tắc vệ sinh dịch tễ mà hàng hóa nhập khẩu bắt buộc phải tuân thủ. Về nguyên tắc, các quốc gia phải áp dụng các quy định này vì mục đích chính đáng (an ninh quốc gia, chống gian lận, bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng con người, động thực vật…), trên cơ sở các căn cứ khoa học và không phân biệt đối xử đối với hàng hóa từ các nước xuất khẩu khác nhau (trừ trường hợp nông phẩm từ các nước hay vùng nhiễm dịch), giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu… nhằm đảm bảo rằng các quy định này không trở thành những rào cản không cần thiết đối với thương mại.

    Trên thực tế, do mỗi quốc gia đều có quyền tự thiết lập một hệ thống tiêu chuẩn của riêng mình (các tiêu chuẩn quốc tế chỉ mang tính khuyến nghị, không bắt buộc áp dụng), không ít những trường hợp các tiêu chuẩn và quy tắc vệ sinh này trở thành rào cản khiến hàng hóa từ các nước xuất khẩu, đặc biệt là các nước đang phát triển, không thể tiếp cận được thị trường.

    (3) Tiêu chuẩn, quy tắc về thuật ngữ và ký hiệu đối với sản phẩm;

    (4) Các yêu cầu về đóng gói và ghi nhãn mác.

    Trong khi các tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng đối với hàng hóa nói chung, các quy tắc vệ sinh dịch tễ (kiểm dịch động thực vật) chỉ áp dụng đối với nông phẩm (sản phẩm thô hoặc đã chế biến) nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm, tránh các bệnh lây nhiễm từ vật nuôi, cây trồng, tránh các loại sâu và dịch bệnh. WTO cho phép các quốc gia được áp dụng các quy tắc kiểm dịch động thực vật tạm thời để đề phòng lan truyền dịch ngay cả khi chưa có đủ bằng chứng khoa học và họ có quyền phân biệt đối xử giữa nông phẩm có xuất xứ khác nhau.

    Các sản phẩm thường bị áp đặt các điều kiện kiểm dịch vệ sinh dịch tễ bao gồm:

    – Nước quả và các chế phẩm thực phẩm.

    – Thịt và các sản phẩm thịt.

    – Các sản phẩm thực phẩm chế biến.

    – Tập hợp thông tin về các tiêu chuẩn kỹ thuật và biện pháp kiểm dịch của nước nhập khẩu (để biết trước các điều kiện đối với hàng hóa trước khi xuất khẩu).

    – Thiết lập hệ thống chất lượng ổn định (để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn ngay trong quá trình sản xuất sản phẩm).

    – Hiểu biết đầy đủ về các hạn chế của WTO đối với quyền quyết định các tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ của các quốc gia để tự khiếu kiện hoặc thông qua Nhà nước khiếu kiện bảo vệ quyền lợi khi cần thiết.

    Về nguyên tắc, hàng hóa nhập khẩu vào một nước chỉ có thể bị áp đặt thuế chống bán phá giá hay trợ cấp nếu qua điều tra cho thấy:

    (1) Hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá hoặc được trợ cấp;

    (2) Có thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất sản phẩm tương tự nội địa nước nhập khẩu;

    (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá (trợ cấp) và thiệt hại nói trên.

    Thủ tục điều tra được tiến hành nếu có đơn kiện hợp lệ của ngành sản xuất trong nước và phải áp dụng đầy đủ các trình tự đảm bảo quyền tự bảo vệ của các bên.

    Vấn đề là trong thực tế, cơ quan điều tra nước nhập khẩu có quyền khá lớn trong việc điều tra và ra quyết định trong các vụ kiện chống bán phá giá, trợ cấp, vì vậy chuyện họ có thể thiếu khách quan trong điều tra, bênh vực doanh nghiệp nội địa, ra quyết định bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu cũng là điều dễ hiểu. Hiện tượng này đặc biệt dễ xảy ra đối với các doanh nghiệp từ những nước chưa được xem là có nền kinh tế thị trường như Việt Nam. Ngoài ra, vì các vụ kiện này được khởi xướng bởi ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu, nên khả năng xảy ra cũng lớn hơn.

    – Hiểu biết đầy đủ về bản chất của các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp.

    – Tham gia tích cực vào các vụ kiện (để có được kết luận điều tra có lợi).

    – Có biện pháp chủ động (điều chỉnh thị phần, giá, tốc độ gia tăng khối lượng nhập khẩu tại các thị trường…) ngay khi ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu tạo sức ép hay có nguy cơ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp.

    Trong những trường hợp như vậy, rủi ro có thể xảy ra đối với hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp ngay cả khi lượng hàng xuất khẩu của họ không lớn và họ hoàn toàn cạnh tranh công bằng.

    Trên thực tế, các nước thường ít sử dụng biện pháp tự vệ (mặc dù họ vẫn có toàn quyền điều tra, quyết định như trong các vụ kiện chống bán phá giá, trợ cấp) bởi hệ quả kéo theo thường khá lớn (bởi họ phải dự kiến đến các cách thức bồi thường thương mại đối với các nước có hàng hóa bị áp đặt biện pháp tự vệ). Tuy nhiên, đây vẫn là một rủi ro mà doanh nghiệp phải tính đến khi xuất khẩu hàng hóa (bằng cách có hiểu biết đầy đủ về các nguyên tắc tự vệ, có biện pháp điều chỉnh thị trường thích hợp trong trường hợp bị áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu…).

    Những rủi ro pháp lý khác

    – Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động thương mại của doanh nghiệp Việt Nam sẽ được áp dụng các nguyên tắc pháp lý chung như nguyên tắc tối huệ quốc (hàng hóa được đối xử bình đẳng với hàng hóa từ các nước xuất khẩu khác), đối xử quốc gia (hàng hóa được đối xử bình đẳng với hàng hóa nội địa nước nhập khẩu)… Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các quy tắc xương sống của WTO này đều có ngoại lệ (vì mục tiêu an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường…). Do đó, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến những biện pháp áp dụng quyền ngoại lệ này của các quốc gia khi xuất khẩu hàng hóa.

    Đối với doanh nghiệp Việt Nam, ngoài những rủi ro pháp lý “hữu hình” có thể gặp phải như đã nói trên, những rủi ro khác, xuất phát từ nhận thức hay cách ứng xử không theo tinh thần thượng tôn pháp luật, có thể gây ra những tổn thất không nhỏ trong quá trình hội nhập nếu không được nhận biết đầy đủ.

    Rủi ro từ nhận thức

    – Rủi ro từ việc không nhận biết đầy đủ về các quyền của mình: WTO buộc các quốc gia phải hành xử (bằng các quy định và thủ tục) theo cách hạn chế tối đa các rào cản thương mại. Cơ hội cũng từ đó mà mở ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc tiếp cận thị trường và cạnh tranh với hàng nội địa nước nhập khẩu. Vì thế, nếu không biết về các nghĩa vụ của các quốc gia theo quy định của WTO (tương ứng với đó là quyền của doanh nghiệp) cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp bỏ qua các cơ hội mà mình lẽ ra được hưởng.

    – Rủi ro từ việc không nhận biết đầy đủ về hệ th ng pháp luật thương mại nước nhập khẩu: hoạt động thương mại trên lãnh thổ một nước phải tuân thủ hệ thống pháp luật nội địa nước đó. Ở các quốc gia nơi mọi vấn đề được xử lý theo pháp luật, không hiểu biết về pháp luật và hoặc thiếu ý thức tôn trọng pháp luật sẽ là nguy cơ lớn khi tiến hành hoạt động thương mại.

    Rủi ro từ cách hành xử

    – Rủi ro từ việc không thực hiện đúng cam kết, đúng pháp luật (pháp luật thương mại quốc tế hoặc pháp luật quốc gia): Cách hành xử tuỳ tiện, không tuân thủ hợp đồng hay pháp luật có thể kéo theo những thiệt hại vật chất lớn cho doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp có thể phải chịu các hình thức bồi thường, phạt vi phạm… rất nghiêm khắc;

    – Rủi ro từ việc không sử dụng, không tham gia các phương thức giải quyết tranh chấp: ứng xử theo thói quen, bỏ qua nguyên tắc, coi thường pháp luật trong trường hợp này có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề bởi (1) nếu không sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp thì doanh nghiệp không thể bảo vệ quyền lợi của mình; (2) nếu không tham gia tích cực vào các quá trình giải quyết tranh chấp, doanh nghiệp sẽ tự làm mất cơ hội chứng minh cho mình.

    – Rủi ro từ việc không thực hiện các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp: Trong các tranh chấp, phán quyết của Toà hay quyết định của trọng tài có giá trị bắt buộc phải tuân thủ và pháp luật các nước có những cơ chế hữu hiệu để thực thi các phán quyết/quyết định này. Việc từ chối, bất hợp tác hay trốn tránh các nghĩa vụ này có thể phải trả những cái giá rất đắt.

    (Bài trình bày tại Hội thảo “Gia nhập WTO: Những thách thức quản lý“)

    TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Hiệp Định Về Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng (Scm)
  • Bài 17: Phòng Trừ Tổng Hợp Dịch Hại Cây Trồng
  • Giải Pháp Điều Hòa Tinh Tế, Đẳng Cấp Cho Các Căn Biệt Thự
  • 8 Giải Pháp Lắp Đặt Điều Hòa Không Khí Hiệu Quả
  • Biện Pháp Thi Công Hệ Thống Điều Hòa Không Khí
  • Điều Kiện Áp Dụng Biện Pháp Chống Phá Giá Theo Quy Định Của Wto

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề: Hướng Dẫn Nghiệp Vụ Áp Dụng Biện Pháp Đưa Người Vào Cơ Sở Cai Nghiện Bắt Buộc (Phần 2)
  • Chuyên Đề: Hướng Dẫn Nghiệp Vụ Áp Dụng Biện Pháp Đưa Người Vào Cơ Sở Cai Nghiện Bắt Buộc (Phần 1)
  • Thi Hành Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính (Phần I)
  • Hoãn Thi Hành Quyết Định Phạt Tiền, Giảm, Miễn Tiền Phạt
  • Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Nề Nếp Lớp 3
  • Theo quy định của Hiệp định về chống bán phá giá- GATT 1994 của WTO thì việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá chỉ có thể thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, sau khi đã tiến hành điều tra chống bán phá giá , ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả 03 điều kiện sau:

    1. Hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá(với biên độ phá giá không thấp hơn 2%)

    Biên độ phá giá được tính toán theo công thức:

    Biên độ phá giá = (Giá Thông thường – Giá Xuất khẩu)/Giá Xuất khẩu

    Trong đó:

    Giá Thông thường là giá bán của sản phẩm tương tự tại thị trường nước xuất khẩu (hoặc giá bán của sản phẩm tương tự từ nước xuất khẩu sang một nước thứ ba; hoặc giá xây dựng từ tổng chi phí sản xuất ra sản phẩm, chi phí quản lý, bán hàng và khoản lợi nhuận hợp lý – WTO có quy định cụ thể các điều kiện để áp dụng từng phương pháp này);

    Giá Xuất khẩu là giá trên hợp đồng giữa nhà xuất khẩu nước ngoài với nhà nhập khẩu (hoặc giá bán cho người mua độc lập đầu tiên).

    2. Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kểhoặc bị đe doạ thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (gọi chung là yếu tố “thiệt hại”)

    Việc xác định “thiệt hại” là một bước không thể thiếu trong một vụ điều tra chống bán phá giá và chỉ khi kết luận điều tra khẳng định có thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu thì nước nhập khẩu mới có thể xem xét việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.

    -Về hình thức, các thiệt hại này có thể tồn tại dưới 02 dạng: thiệt hại thực tế, hoặc nguy cơ thiệt hại(nguy cơ rất gần);

    -Về mức độ, các thiệt hại này phải ở mức đáng kể;

    3. Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại nói trên.

    Tùy thuôc vào việc mỗi quốc gia có thể sử dụng các phương pháp khác nhau đẻ xác định mối quan hệ này. Ví dụ: sự trùng hợp về thời gian giữa việc bán giá và thiệt hại xảy ra, các phân tích. kinh tế để xác định mức tăng trưởng của ngành sản xuất nội địa nếu như không có việc bán phá giá của hàng nhập khẩu…..

    4. Một mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu không nhiều có thể bị kiện chống bán phá giá không?

    • Tel: 038.595.3737 – Hotline: 0973.098.987
    • Email: [email protected]
    • Địa chỉ: 45 Đàm Văn Lễ, phường Trường Thi, Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An

    Trân trọng cảm ơn./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bán Phá Giá Là Gì? Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá
  • Các Giải Pháp Kỹ Thuật
  • Phương Hướng, Giải Pháp Áp Dụng Ddc Trong 5 Năm Tới
  • Ung Thư Vòm Họng, Nguyên Nhân Và Hướng Phòng Ngừa
  • Phòng Ngừa Ung Thư Vòm Họng: Không Sử Dụng Thuốc Lá
  • Làm Thế Nào Khi Đối Thủ Bán Phá Giá ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Bình Ổn Giá
  • Chỉ Đạo, Điều Hành Của Chính Phủ, Thủ Tướng Chính Phủ Ngày 27/1/2021
  • Tham Luận “Vai Trò Của Đoàn Thể Chính Trị Tham Gia Công Tác Xây Dựng Đảng Tại Cung Văn Hóa”.
  • Việt Nam Sắp Vào Thời Kỳ “bùng Nổ Dân Số”
  • Thực Trạng Dân Số Việt Nam Và Ý Nghĩa Giải Quyết Vấn Đề Dân Số
  • 12/02/2020

    1. Cạnh tranh bằng lợi thế khác biệt.

    Trong cuộc chiến giảm giá, nhà thuốc nhỏ hơn thường chịu nhiều thiệt hại vì không bán được hàng. Tuy vậy, ngay cả đối với các nhà thuốc lớn khi chấp nhận sử dụng chính sách này cũng chịu nhiều sức ép về tài chính do chi phí hoạt động cao. Đứng trước nguy cơ về một cuộc chiến giảm giá, các nhà thuốc khôn ngoan sẽ tập trung vào việc xây dựng dựa vào những lợi thế cạnh tranh riêng của mình.

    Đa dạng về chủng loại mặt hàng: Khách hàng thường không có đủ thời gian để mua nhiều sản phẩm với giá rẻ nhất tại nhiều nơi khác nhau. Cho dù họ biết sản phẩm A ở nhà thuốc nọ rẻ hơn vài ngàn đồng, họ cũng sẽ chọn mua ở nhà thuốc của bạn nếu nhà thuốc của bạn cung ứng được tất cả các sản phẩm mà họ cần. Tất nhiên, giá cả của bạn cũng phải ở trong giới hạn mà họ chấp nhận được. Nếu tất cả các mặt hàng mà bạn bán giá đều cao hơn trung bình rất nhiều thì lợi thế này là vô tác dụng. Để xây dựng cho mình ưu thế này, bạn cần lựa chọn hàng hóa tránh chồng chéo và loại ra những sản phẩm ít bán được nhằm đảm bảo tính kinh tế. Một vấn đề khác về tài chính mà bạn cần lưu ý là quản lý lượng hàng tồn kho, làm sao để duy trì số lượng hàng hóa đa dạng mà không quá nhiều hay quá ít. Những nhà thuốc sử dụng phần mềm quản lý sẽ có lợi thế hơn so với người kinh doanh chỉ tính toán thủ công.

    Cung cấp những mặt hàng mới (chưa bán ở khu vực kinh doanh của bạn): Số lượng mặt hàng thuốc trên thị trường rất lớn (trên 50.000 mặt hàng), nhiều mặt hàng có tính năng tương tự và thay thế nhau và không có nhà thuốc nào có đủ hết số mặt hàng lớn như vậy. Do đó, nhà thuốc của bạn có mặt hàng mới so với đối thủ cũng là một lợi thế. Mặc dù đây là một vị thế dễ lung lay do khó đoán định nhu cầu của khách hàng, nhưng lại là một lợi thế cạnh tranh tương đối dễ thực hiện, nhất là trong trường hợp bạn nắm trong tay số vốn ít ỏi. Mặt khác, phần thưởng mà bạn nhận được lại vô cùng lớn bởi một khi khách hàng quan tâm tới yếu tố mới và hiệu quả điều trị, họ sẽ không đặt nặng vấn đề giá cả.

    Tập trung vào hiệu quả điều trị cho khách hàng: Các nhà thuốc tập trung vào cung cấp giải pháp điều trị cho khách hàng sẽ phải theo đuổi chính sách đặt khách hàng lên trên hết. Việc bán hàng của họ nhằm vào hiệu quả sử dụng thuốc của khách hàng, kết hợp giữa giá cả. Bằng cách này hay cách khác, họ cố gắng chinh phục khách hàng và hạ giá thành sản phẩm không phải bằng cách giảm giá trực tiếp mà bằng các dịch vụ gia tăng khác.

    Cung cấp dịch vụ tiện lợi nhất: Nếu nhà thuốc của bạn là sở hữu vị trí đẹp ở khu dân cư đông đúc thì việc xây dựng vị thế này càng trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Nếu không có được vị trí như vậy, dịch vụ nhận đặt hàng và chuyển hàng tận nhà là một giải pháp hữu hiệu, nhất là trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

    2. Chuyển nhà thuốc sang thị trường mới.

    Bạn nên cân nhắc chuyển hướng hoạt động kinh doanh sang thị trường mới. Đây là chiến lược né cạnh tranh. Trên thực tế, thị trường nhà thuốc bán lẻ rất rộng, việc tiếp cận một thị trường mới sẽ ít cạnh tranh và rủi ro hơn đối với thị trường đã có nhiều nhà thuốc có mặt. Mặt khác yêu cầu của khách hàng ở những thị trường mới sẽ không khắt khe và dễ nắm bắt hơn.

    3. Rà soát các chính sách giá sản phẩm để không quá đắt so với đối thủ.

    Cạnh tranh bằng phá giá sản phẩm là phương thức cạnh tranh trong ngắn hạn. Dù là nhà thuốc có tiềm lực mạnh đến đâu đi chăng nữa, họ cũng không thể chịu lỗ mãi. Do vậy, điều quan trọng trong tình huống này là bạn cần bình tĩnh, phát huy các sở trường của mình để duy trì khách hàng trung thành và cạnh tranh ở các thế mạnh khác. Mặt khác, để tập trung sức lực trong cuộc chiến này, bạn cần bảo toàn nguồn vốn, rà soát chính sách giá sản phẩm cho phù hợp. Tất nhiên, bạn không thể giảm giá dưới mức giá vốn nhưng bằng cách này, bạn sẽ xóa bỏ được mức chênh lệch quá lớn về giá cả so với đối thủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Phương Pháp Định Giá Sản Phẩm Thông Dụng Nhất – Làm Kinh Doanh Tuyệt Đối Không Nên Bỏ Qua
  • Những Phương Pháp Định Giá Sản Phẩm Trong Marketing
  • 5 Bước Xây Dựng Chiến Lược Giá Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp
  • Giá Trong Giải Pháp Marketing, Bạn Đã Biết Chưa??
  • Giải Pháp Hội Nghị Truyền Hình 10 Điểm Phần Mềm Giá Rẻ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100