Top 7 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Sinh Vật Nước Ta Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Tài Nguyên Sinh Vật Là Gì? Những Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Sinh Vật

Tài nguyên được hiểu là tất các các dạng vật chất, tri thức, năng lượng để tạo ra của cải vật chất, và giá trị sử dụng cho con người. Như vậy, tài nguyên sinh vật là tất cả các loài thực vật, động vật có ích hoặc được sử dụng để tạo ra giá trị.

Tài nguyên sinh vật trên thế giới là vô cùng phong phú. Tuy nhiên, cũng có một số vùng, nguồn tài nguyên sinh vật đang dần bị suy thoái bởi tự nhiên hoặc chính hành động của con người đã tác động vào nó.

Là một đất nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, Việt Nam được ưu ái với nguồn tài nguyên sinh vật phong phú, đa dạng về giống và chủng loại. Cụ thể:

Nguồn tài nguyên thực vật: nước ta có 14624 loài, trong đó có 354 loài gỗ và 1500 loài dược liệu, khoảng 650 loài rong. Các loài thực vật quý hiếm có thể kể ra như: tam thất, sâm quy, đỗ trọng, hà thủ ô…

Nguồn tài nguyên động vật: cả nước có 11217 loài với 265 loài thú, hơn 1000 loài chim, 349 loài bò sát và 2000 loài cá biển, 500 loài cá nước ngọt, 70 loài tôm, 50 loài cua và hơn 2500 loài nhuyễn thể… Một số loài động vật có giá trị kinh tế cao bao gồm: yến, công trĩ, gà lao, sến, tôm hùm, đồi mồi..

Nguồn tài nguyên rừng: Việt Nam có hệ rừng nhiệt đới ẩm thường xanh, có từ 3 đến 5 tầng với những cây dây leo chằng chịt. Rừng Việt Nam có sinh khối lớn, rơi vào khoảng từ 20 đến 30 tấn/ha/năm. Cấu trúc hệ sinh thái trong rừng phức tạp do tầng nền của rừng mỏng. Các loài thực vật trong rừng phân hoá theo chiều cao.

Mặc dù đây là nguồn tài nguyên phong phú, nhưng do nhiều nguyên nhân, hiện nay, nó đang đi theo chiều hướng suy thoái một cách nghiêm trọng. Một số nguyên nhân cụ thể để giải thích vì sao tài nguyên sinh vật nước ta đang ngày một suy thoái có thể kể đến như:

Nguyên nhân đầu tiên theo thời gian phải kể đến là chiến tranh. các loại hoá chất do quân địch thả xuống trên lãnh thổ Việt Nam đã làm chết cây cối, động vật, gây ô nhiễm môi trường.

Do sự thay đổi của môi trường sống bởi sự biến đổi khí hậu, thiên tai tự nhiên như cháy rừng, xói mòn, mưa axit, hạn hán…

Do các hoạt động của con người: khai thác rừng bừa bãi, đốt hầm than, phá rừng làm rẫy…

Các chính sách quản lí của nhà nước còn lỏng lẻo, thiếu tính chặt chẽ khiến cho những đối tượng xấu có thể lợi dụng những lỗ hổng đó để trục lợi.

Trước thực trạng của sự suy thoái của nguồn tài nguyên sinh vật, chúng ta có thể đưa ra một số biện pháp để bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật vốn phong phú và đa dạng như:

Tiếp tục bảo vệ và trồng thêm các khu vực rừng già, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ…

Xây dựng các khu bảo tồn, vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển để bảo vệ các loài quý hiếm

Trồng cây xanh quanh các khu đô thị.

Bảo vệ môi trường, phân loại rác, hạn chế các loại rác thải khó phân huỷ ra ngoài môi trường.

Ứng dụng sự tiến bộ của công nghệ sinh học để bảo vệ nguồn gen quý hiếm.

Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục, nhằm nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên sinh vật của con người.

Cần có các chính sách quản lí chặt chẽ, trừng phạt nghiêm khắc các đối tượng có hành vi xấu, gây hại tới nguồn tài nguyên sinh vật…

Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Sinh Vật

a) Tài nguyên rừng

– Suy giảm tài nguyên rừng:

+ Năm 1943, độ che phủ rừng ở nước ta là 43,09% và giảm xuống còn 22,0% vào năm 1983, sau đó tăng lên 38,09% (năm 2005).

+ Mặc dù tổng diện tích rừng đang lăng dần lên, nhưng tài nguyên rừng vẫn bị suy thoái vì chất lượng rừng chưa thể phục hồi (70% diện tích rừng là rừng nghèo và rừng mới phục hồi).

– Biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng:

+ Theo quy hoạch, phải nâng độ che phủ rừng của cả nước hiện lại từ gần 40% lên đến 45 – 50%, vùng núi dốc phải đạt độ che phủ khoảng 70 – 80%

+ Thực hiện những quy định về nguyên tắc quản lí, sử dụng và phát triển đối với 3 loại rừng:

Đối với rừng phòng hộ: có kế hoạch, biện pháp bảo vệ, nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng trên đất trống, đồi trọc.

Đối với rừng đặc dụng: bảo vệ cảnh quan, đa dạng về sinh vật của các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên.

Đối với rừng sản xuất đảm bảo duy trì phát triển diện tích và chất lượng rừng, duy trì và phát triển hoàn cảnh rừng, độ phì và chất lượng đât rừng.

+ Giao quyền sử dụng đất và bảo vệ rừng cho người dân.

b) Đa dạng sinh học

– Sự suy giảm tính đa dạng sinh học của nước ta biểu hiện ở các mặt: suy giảm số lượng, thành phần loài, kiểu hệ sinh thái và nguồn gen

+ Suy giảm diện tích và chất lượng rừng: rừng nguyên sinh bị phá hoại, diện tích rừng giảm, rừng giàu bị thu hẹp, còn lại chủ yếu là rừng thứ sinh, rừng mới phục hồi, độ che phủ rừng còn thấp

+ Suy giảm đáng kể số lượng các loài động vật hoang dã và nguồn gen động thực vật quý hiếm.

+ Nhiều loài mất dần, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng (gồm khoảng 100 loài thực vật, 62 loài thú, 29 loài chim).

+ Nguồn tài nguyên sinh vật dưới nước, đặc biệt nguồn hải sản của nước ta cũng bị suy giảm rõ rệt.

– Các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học:

+ Xây dựng và mở rộng hệ thống vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên.

+ Ban hành Sách đỏ Việt Nam.

+ Quy định trong việc khai thác lâm sản, động vật và thủy sản.

chúng tôi

Nhận Xét Về Tài Nguyên Môi Trường Biển Nước Ta?Nhận Xét Về Tài Nguyên Mt Biển Nước Ta? Nguyên Nhân, Giải Pháp Để Bảo Vệ Mt Biển?

Vùng biển, đảo Việt Nam có khoảng 11 nghìn loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau. Trữ lượng hải sản khoảng 3,1 -4,2 triệu tấn/năm, với khả năng khai thác 1,4 -1,6 triệu tấn/năm. Dọc ven biển Việt Nam có 370 nghìn ha có khả năng nuôi trồng thủy sản…

Biển Việt Nam chứa đựng một khối lượng lớn về khoáng sản quý hiếm như: titan, nhôm, sắt, muối, mangan, cát thủy tinh và đất hiếm. Ven bờ biển có nhiều vịnh và đảo đẹp, nổi tiếng thế giới như vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, đảo Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ… thuận lợi cho phát triển ngành du lịch biển và du lịch sinh thái.

Đặc biệt, đáy biển Việt Nam có khoảng 500 nghìn km2 có triển vọng dầu khí (trong đó 3 khu vực lớn là: Vịnh Bắc Bộ, thềm lục địa khu vực Quảng Trị -Thừa ThiênHuếvà vùng thềm lục địa phía Nam). Theo ước tính ban đầu, trữ lượng dầu mỏ có thể đạt tới 3 -4 tỷ thùng và khí là khoảng 50 -70 tỷ m3.

Nguyên nhân, giải pháp để bảo vệ mt biển: Nguyên nhân:

Một là, ô nhiễm từ lục địa mang ra. Các hoạt động phát triển trên đất liền, đặc biệt trên các lưu vực sông như đô thị hóa, phát triển các khu công nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản nước lợ, phát triển công nghiệp khai khoáng, dân số gia tăng đã phát thải một lượng lớn các chất thải, chủ yếu chưa xử lý. Các chất thải không qua xử lý này đổ ra sông suối vàrabiển,gây ô nhiễm môi trường vùng ven biển. Ước tính lượng thải từ đất liền ra biển ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 50 – 60% ô nhiễm môi trường biển.

Hai là, ô nhiễm từ trên biển.Các hoạt động trên biển như nuôi trồng và đánh bắt hải sản, chất thải của các tàu cá, phát triển cảng và nạo vét đáy biển, du lịch biển, thăm dò và khai thác dầu, khí, các vụ chìm tàu và các sự cố môi trường biển khác (tràn dầu, thải dầu, đổ dầu cặn bất hợp pháp, đổ thải phóng xạ, hóa chất độc hại,…) đã làm ô nhiễm môi trường biển,đảo Việt Nam. Bên cạnh đó, các phương tiện giao thông thủy ngày càng nhiều, sản lượng khai thác và vận chuyển dầu khí trên biển không ngừng tăng, gây nên tình trạng ô nhiễm biển, đảo trên diện rộng.

Ba là, ô nhiễm do sự tác động từ nước ngoài.Hiện nay,tài nguyên thiên nhiên ở những nơi dễ khai thác như trên các lục địa đang dần cạn kiệt, môi trường suy thoáinặng nề. Các nước phát triểntìm mọi cách chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên của các nước chậm phát triển. Chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng nước lớn muốn lợi dụng thế mạnh về kinh tế của mìnhđể chiếmđoạt tài nguyên, môi trường, nhất là môi trường biển,đảo như: khai thác bừa bãi theo hướng hủy diệt làm cạn kiệt tài nguyên thủy, hải sản; bồi đắpcác bãi đá ngầm làm biến dạng môi trường tự nhiên biển,đảo; thử vũ khí hạt nhân trên vùng biển Việt Nam làm ô nhiễm môi trường sống của các loài thủy, hải sản…

Giải pháp:

+Sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên

+Giảm thiểu suy thoái và ô nhiễm môi trường biển và vùng ven biển

+Quản lý tổng hợp và thống nhất đối với biển và hải đảo

+Tăng cường kiểm soát môi trường biển và vùng ven biển

+Quan trắc – cảnh báo môi trường

+ Thúc đẩy tiến trình xây dựng “Thương hiệu biển Việt Nam”

Đề Tài Bảo Vệ Nguồn Tài Nguyên Nước

LỜI MỞ ĐẦU Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các nhu cầu về khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng năng lượng ngày càng tăng. Sự phát triển kinh tế xã hội với sự xuất hiện hàng loạt các nhà máy xí nghiệp, các công trình xây dựng… đã tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái, môi trường xung quanh cũng như điều kiện sống của con người. Tài nguyên có xu thế cạn kiệt dần, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Sự biến đổi theo chiều hướng xấu của môi trường ảnh hưởng ngược trở lại đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi một nước. Và cùng với quá trình công nghiệp hóa, tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng. Nhu cầu tài nguyên và năng lượng phục vụ cho người dân ngày càng lớn, các hoạt động kinh tế xã hội tạo nên rất nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Và một trong số tài nguyên mà nhân loại đang đề cập cấp bách nhất hiện nay chính là nguồn tài nguyên nước. Xuất phát từ vấn đề trên em chọn đề tài “Bảo vệ nguồn tài nguyên nước ” làm đề tài để nghiên cứu. NỘI DUNG I. Đặc điểm chung của tài nguyên nước ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên nước xếp vào loại trung bình khá trên thế giới nhưng có nhiều yếu tố không bền vững. Nước ta có khoảng 830 tỷ m3 nước mặt, trong đó chỉ có 310 tỷ m3 được tạo ra do mưa rơi trong lãnh thổ, chiếm 37%; còn 63% do lượng mưa ngoài lãnh thổ chảy vào. Tổng trữ lượng tiềm tàng nước dưới đất có khả năng khai thác, chưa kể phần hải đảo tính 60 tỷ m3/năm. Nếu kể cả nước mặt và nước dưới đất trên phạm vi lãnh thổ thì bình quân đầu người đạt 4.400 m3/người/năm, so với thế giới là 7.400 m3/người/năm. Lượng nước sản sinh từ ngoài lãnh thổ chiếm gần 2/3 tổng lượng nước có được. Sự phân bố của cả nước mặt lẫn nước dưới đất không đều. Theo không gian, nơi có lượng mưa nhiều nhất là Bạch Mã 8.000mm/năm; Bắc Qang, Bà Nà khoảng 5.000mm/ năm, trong khi cửa Phan Rí chỉ đạt xấp xỉ 400mm/năm. Theo thời gian, mủa lũ chỉ kéo dài từ 3-5 tháng, nhưng chiếm tới 70 – 80% lượng nước cả năm. Mùa lũ, lượng mưa lớn nhất đạt trên 1.500mm/ ngày, song mùa cạn nhiều tháng lại không có mưa. Sự không thuận lợi của tài nguyên nước trong sử dụng và khai thác. Nước ta có khoảng 2.360 con sông có chiều dài hơn 10km. Trong số 13 lưu vực chính và nhánh có diện tích lớn hơn 10.000km2 thì đến 10/13 sông có quan hệ với nước láng giềng, trong đó 3/13 sông thượng nguồn ở Việt Nam, hạ nguồn chảy sang nước láng giềng; 7 sông thượng nguồn ở nước láng giềng, hạ nguồn ở Việt Nam. Điều này cho thấy Việt Nam không những bị ràng buộc nguồn lợi về nước của quốc gia thứ hai, thứ ba chia sẻ, mà thường bị động. Sự cạn kiệt tài nguyên nước ngày càng tăng. Dân số tăng, chỉ số lượng nước trên đầu người giảm. Mặt khác, nạn phá rừng ngày một tăng cao để trồng cà phê, phá rừng để lấy gỗ để lấy gỗ, lấy củi, lấy đất làm nương rẫy,… khó kiểm soát đã làm nhiều sông, suối khô kiệt về mùa cạn; làm tăng tốc độ xói mòn đất, tăng tính trầm trọng của lũ lụt về mùa mưa. Ô nhiễm nước ngày một trầm trọng do tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày một tăng nhanh trong khi nước thải, rác thải chưa được kiểm soát chặt chẽ. Việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học ngày một tăng, khó kiểm soát, ô nhiễm nước do nước thải, chất thải của các ao nuôi thủy sản xả trực tiếp không qua xử lý vào nguồn nước. Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đã trở thành vấn đề quan trọng tại nhiều thành phố, thị xã, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hải Phong, Hà Nội, vaft ại các khu công nghiệp. Ô nhiễm nước do hoạt động nông nghiệp cũng là vấn đề nghiêm trọng tại nhiều vùng nông thôn, đặc biệt tại châu thổ sông hồng và sông Cửu Long. Hiện tượng nhiễm mặn, hay chua do quá trinhg tự nhiên và do hoạt động của cong người đang là vấn đề nghiêm trọng ở vùng châu thổ sông Cửu Long. II. Thực trạng tài nguyên nước ở Việt Nam hiện nay Tình hình khai thác và sử dụng nước Việt Nam là nước Đông Nam Á có chi phí nhiều nhất cho thủy lợi. Cả nước hiện có 75 hệ thống thủy nông, với 659 hồ, đập lớn và vừa, trên 3.500 hồ, đập nhỏ, 1.000 cống tiêu, trên 2.000 trạm bơm lớn nhỏ, trên 10.000 máy bơm các loại, có khả năng cung cấp 60 – 70 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, nhiều hệ thống thuỷ nông đã xuống cấp nghiêm trọng, chỉ đáp ứng được 50 – 60% công suất thiết kế. Lượng nước sử dụng hàng năm cho nông nghiệp khoảng 93 tỷ m3, cho công nghiệp là 17,3 tỷ m3, cho dịch vụ là 2 tỷ m3, cho sinh hoạt là 3,09 tỷ m3. Dự tính tới năm 2030 dân số cả nước đạt 129 triệu trong đó dân thành phố lên 60 triệu, kinh tế tăng trưởng 10 lần, GDP đầu người tăng 7 lần, diện tích tưới tăng 3,4%/năm, chuẩn cấp nước tăng gấp đôi, 150 lít/ngày/người, 100% dân được cấp nước sạch vào năm 2020. Cơ cấu dùng nước sẽ thay đổi theo xu hướng nông nghiệp 75%, công nghiệp 16%, tiêu dùng 9%. Nhu cầu nước dùng sẽ tăng gấp đôi, chiếm khoảng 1/10 tổng lượng nước sông ngòi, 1/3 lượng nước nội địa, 1/3 lượng dòng chảy ổn định. Nước ta có trên 700 đô thị từ cấp I đến cấp V, nhu cầu cấp nước sinh hoạt trong các đô thị ngày càng gia tăng. Hiện nay, tiêu chuẩn cấp nước đô thị là 150 đến 200l/người dân. Trong số gần 2 triệu m3 nước cấp cho dân đô thị mỗi ngày, khoảng 30% lượng nước này được khai thác từ nguồn đất. Ở nông thôn, vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đang là vấn đề nan giải do những khó khăn tự nhiên và kinh tế xã hội của vùng. Có trên 50% hộ dân đang dùng nước giếng khơi, 25% dùng nước sông suối, trên 10% dùng nước mưa. Ước tính, mới có khoảng 30% dân số có nguồn nước tương đối sạch, trong đó chỉ có khoảng 10% đạt tiêu chuẩn quốc gia. Cả khu vực nông thôn có khoảng 80% lượng nước được cấp với tiêu chuẩn 50 đến 80l/người dân. Tuy nhiên, cả đô thị lẫn khu vực nông thôn nguồn nước được cấp chỉ đảm bảo 50 đến 85%. Còn các hộ gia đình, cơ sở sản xuất phải tự tìm kiếm, khai thác nguồn nước và tự xử lý để sử dụng. Vì vậy sự tổn thất nước trong các hoạt động này rất lớn. Do lượng mưa lớn, địa hình dốc, nước ta là một trong 14 nước có tiềm năng thủy điện lớn. Các nhà máy thủy điện hiện nay sản xuất khoảng 11 tỷ kWh, chiếm 72 đến 75% sản lượng điện cả nước. Với tổng chiều dài các sông và kênh khoảng 40.000km, đã đưa vào khai thác vận tải 15.00km, trong đó quản lý trên 8.00km. Những song suối tự nhiên, thác nước, … được sử dụng làm điểm tham quan, du lịch. Những vùng đất ngập nước, nơi quần tụ các loại động vật hoang dã là những nơi sinh thái lý tưởng… Về nuôi trồng thủy hải sản, nước ta có 1 triệu ha mặt nước ngọt, 400.000 ha mặt nước lợ và 1.470.000 ha mặt nước sông ngòi, có hơn 14 triệu ha mặt nước nội thủy và lãnh hải. Tuy nhiên cho đến nay mới sử dụng 12,5% diện tích mặt nước lợ, nước mặn và 31% diện tích mặt nước ngọt. 2.Tình trạng ô nhiễm nguồn nước Ở Việt Nam hiện nay, mức tăng dân số nhanh chóng đã đưa nước ta vào hàng thứ 12 trong số các quốc gia có số dân đông của thế giới. Với mức tăng dân nhanh như thế, mỗi năm nước ta tăng thêm 1,4 triệu người và dự báo đến năm 2015 sẽ là 100 triệu người. Dự báo đến năm 2020 sẽ có 50% số dân sống ở các vùng đô thị. Dân số tăng, nhu cầu nước cho mọi hoạt động sinh hoạt và phát triển kinh tế tăng lên, các nguồn chất thải tăng lên sự ô nhiễm môi trường nước cũng tăng lên. Hiện tượng suy giảm chất lượng nước cũng như số lượng nguồn nước mặt tăng lên do ô nhiễm từ các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thong vận tải thủy bộ, các khu dân cư, sự xói mòn rửa trôi trên xá bề mặt lưu vực sông suối. Đặc biệt là một số khu công nghiệp như Hải Phòng, Việt trì, Đà Nẵng, Biên Hòa,… và các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh gây ô nhiễm nguồn nước đang hàng ngày gia tăng. Tại Hà Nội tổng lượng nước thải ngày đêm là 300 – 400 ngàn m3, trong đó nước thải từ sản xuất công nghiệp là 85-90 ngàn m3, từ sinh hoạt là 1800-2000 m3/ngày đêm. Nhìn chung, các chất thải đều không qua xử lý nên gây ô nhiễm nặng, chỉ số ôxy sinh hóa vượt quá chỉ tiêu cho phép hàng trăm lần. Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngành có một loại nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến sông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục km. Khu công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn m3 nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt xuống sông Hồng làm cho nước bị ô nhiễm đáng kể. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng ô nhiễm cũng đang ở mức báo động do nước thải sinh hoạt, nước thải của các ngành công nghiệp không qua xử lý hoặc xử lý rất sơ sài đang thải thẳng vào môi trường. Với lượng chất thải khá lớn từ các nhà máy, xí nghiệp, nước thải công nghiệp chiếm một lượng lớn trong tổng lượng nước thải hàng ngày ở thành phố lớn, hơn nữa mức độ gây ô nhiễm của nước thải công nghiệp cao hơn rất nhiều so với nước thải sinh hoạt do chứa nhiều hóa chất độc hại và khó phân hủy. Do kinh phí còn hạn hẹp, điều kiện chưa cho phép nên hầu hết nước thải của các cơ sở sản xuất đều không qua khâu xử lý mà thải thẳng ra hệ thống kênh rạch, sông ngòi gây ô nhiễm trầm trọng cho các nguồn này. Nước dùng sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số và các đô thị. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị nước ta. Bên cạnh đó, nước ngầm cũng bị ô nhiễm do nước sinh hoạt hay công nghiệp và nông nghiệp. Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm phèn, nhiễm mặn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sôngThái Bình, sông Cửu Long, ven biển miền Trung,… Ở nông thôn thì ý thức bảo vệ môi trường chưa tốt, việc xả tác thải sinh hoạt hàng ngày xuống các ao hồ tự nhiên vẫn còn khá phổ biến, gây ô nhiễm, đe doạ đến chất lượng nguồn nước ngầm do lượng nước thải không qua xử lý thấm xuống các tầng nước ngầm và mất mỹ quan môi trường sống. Ngoài ra, do không được đầu tư đúng mức nên hệ thống cống thoát nước chưa được xây dựng hoàn chỉnh, hầu hết các cống không có nắp nên ô nhiễm môi trường là không thể tránh khỏi. Mỗi gia đình có trung bình từ 4 – 5 người; chuồng lợn có từ 2 – 4 con; chuồng trâu, bò có từ 1 – 2 con; chuồng gà với khoảng 10 – 15 con, 10 – 20 con ngan vịt. Có một đến hai ao nhỏ để thả cá. Phần đất còn lại để trồng rau và cây ăn quả. Mặt khác, bà con nông dân sử dụng các chất dung dịch trong nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ đã làm tăng ô nhiễm đất và dư lượng hóa chất trong nông phẩm. Các kết quả điều tra đều cho biết do không có thiết bị xử lý nước thải nên các kênh, sông đều tiếp nhận nước thải bị ô nhiễm. 3. Các thách thức đối với tài nguyên nước hiện nay Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, sự bùng nổ dân số và nhu cầu về nước tăng lên đáng kể, sự phục vụ cho sinh hoạt và sự tăng trưởng kinh tế trong mấy năm qua đã nhanh chóng đẩy nước ta từ vị trí các cường quốc về tài nguyên nước xuống vị trí của một nước có mức bình quân đầu người về nước thuộc loại trung bình trên thế giới. Số dân nhập cư vào các đô thị là các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước khi các đô thị xây dựng hai bên bờ sông mà không có các dịch vụ thoát nước và vệ sinh. Các khu nhà xây dựng tạm, không quy hoạch và sự lấn chiếm sông hồ sẽ cản trở thoát nước, làm nghiêm trọng hơn vấn đề úng ngập. Nhiều thủy vực sẽ trở thành bể chứa nước thải sinh hoạt và công nghiệp. Khủng hoảng cục bộ về nước trong một số năm có hạn hán ở một số khu vực của nước ta vừa qua có thể trở thành khủng hoảng về nước trên quy mô lớn và thường xuyên. Các vấn đề như ô nhiễm nước thải, chất thải rắn, ngập lụt, tắc nghẽn giao thông … phổ biến ở các trung tâm đô thị lớn. Sự khai thác thiếu khoa học các nguồn nước, sử dụng bừa bãi các loại phân hóa học, chất diệt cỏ trong nông nghiệp và do việc thải hàng tỉ mét khối nước thải và rác thải công nghiệp và sinh hoạt vào nguồn nước mà không qua xử lý tối thiểu. III. Các biện pháp đề xuất bảo vệ nguồn tài nguyên nước 1. Kiểm soát chất ô nhiễm trong nước thải Một trong những việc làm đầu tiên để bảo vệ chất lượng nước là loại bỏ những thành phần gây ô nhiễm có trong nước thải trước khi xả ra sông hồ, đó là xử lý nước thải. Trong nước thải có chứa các vật chất gây nhiễm bẩn hữu cơ và vô cơ, xử lý nước thải là làm giảm nồng độ các vật chất hữu cơ gây ô nhiễm vào đất nước. Để hạn chế lượng chất thải xả ra sông, hồ Nhà nước cần có các chính sách cụ thể hơn về việc quy định lượng chất thải và quấ trình xử lý nước thải trong các nhà máy, công xưởng. Các quy định về tiêu chuẩn sử dụng nguồn nước mặt, đánh giá chất lượng nước. Đề ra các văn bản, giấy phép xả thải để tránh việc thải khối khối lượng chất thải quá lớn ra môi trường. Đồng thời bố trí các hố thu gom nước xử lý cặn và bùn lắng để không gây hiện tượng bồi lắng vùng nước sông. Xây dựng các công trình xử lý nước thải như: bể tự hoại kiểu thấm, quy định bãi rác trung chuyển tạm thời tránh phóng uế, vứt rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất và tiêu dùng gây ra. Và để bảo vệ nguồn nước mặt có hiệu quả, các chỉ tiêu đánh giá tình trạng vệ sinh nước thải phải được kiểm tra chặt chẽ theo tiêu chuẩn. Trong ngành xây dựng, cần lựa chọn thời điểm thi công xây dựng chính vào các tháng mùa khô trong năm để hạn chế lượng chất bẩn sinh ra do nước mưa chảy tràn qua khu vực thi công xuống nước sông hồ. Phải có hệ thống thoát nước đảm bảo có lắng cặn và giữ lại các chất thải trong quá trình xây dựng như rác, vật liệu xây dựng trước khi chảy ra ngoài. Trong ngành Nông nghiệp, chất lượng các loại phân bón, thưốc trừ sâu, thước trừ cỏ … phải đạt đúng tiêu chuẩn mà nhà nước quy định và việc sử dụng phải phù hợp. 2. Tổ chức giám sát chất lượng nước nguồn Giám sát chất lượng nước các khu vực để đánh giá chất lượng nước, dự báo mức độ ô nhiễm nguồn nước. Đó là cơ sở để xây dựng các biện pháp bảo vệ có hiệu quả. Cần đánh giá các tác động do hoạt động của con người đối với nguồn nước và khả năng sử dụng nước vào các mục đích khác nhau; Xác định chất lượng nước tự nhiên; Giám sát nguồn gốc và đường di chuyển của các chất bẩn và chất độc hại đi vào nguồn nước; Xác định xu hướng thay đổi chất lượng ở phạm vi vĩ mô. Đồng thời, phải tổ chức hệ thống giám sát ở từng cơ sở, ở từng khu vực. Trạm đánh giá xu hướng thay đổi chất lượng nước có quy mô lớn ở từng khu vực. 3. Phân phối nước hợp lý Việc phân phối và cấp nước phải cố gắng đáp ứng nhu cầu với giá cả rẻ, không để xảy ra vấn đề cạnh tranh và mâu thuẫn trong sử dụng tài nguyên nước. Để làm được như vậy, cần phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn nước được cấp, phải có chiến lược kết hợp chặt chẽ giữa quản lý nhu cầu và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn nước hiện được cấp với việc tăng nguồn nước cấp mới với chi phí thấp. Áp dụng các công nghệ sử dụng nước tiên tiến, sử dụng luân hoàn nước trong các xí nghiệp công nghiệp, xử lý nước thải và sử dụng lại nước thải đã xử lý, áp dụng công nghệ giảm đơn vị nước dùng cho công nghiệp, nông nghiệp, kết hợp nước mặt và nước ngầm, định giá thích hợp cho cấp nước và mức nhiễm bẩn cho phép đối với nước thải, bao gồm việc tăng tỷ suất khối và tỷ suất thành phần trong thời kỳ khô hạn. Các ngành sản xuất phải có công nghệ xử lý nước thải để quay lại sử dụng tái sản xuất, tiết kiệm trong việc sử dụng nước sạch. Người tiêu dùng dùng nước đúng vào mục đích, không nên lãng phí. 4. Một số biện pháp khác Thực hiện có hiệu quả các kế hoạch, chương trình, dự án. Xác định mối quan hệ giữa tưới và sản xuất nông nghiệp cho từng tiểu vùng, từng hộ nông nghiệp. Cung cấp đủ kinh phí cho khâu vận hành, bảo dưỡng, duy trì các công trình, nhất là trong việc liên kết giữa sử dụng nước và đất trong việc quản lý các lưu vực, các hệ thông tưới. Đánh giá tác động của các dự án lên môi trường, đề xuất các biện pháp khắc phục ngay trong quá trình lập kế hoạch thiết kế và thực hiện cân đối giữa các mục tiêu kinh tế kinh tế xã hội và bảo vệ môt trường. Bảo đảm năng lượng thủy điện, bảo vệ đất, phòng ngừa hóa lầy và hóa mặn trong các hệ thống tưới. Hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước do biến đổi khí hậu toàn cầu, giảm nhẹ khí nhà kính theo kế hoạch hành động quốc gia. Hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước do phát triển, sử dụng tài nguyên nước không hợp lý. Cải thiện, nâng cấp và mở rộng các hệ thống thoát lũ, tiêu úng. Nâng cấp các hệ thống cũ; quy hoạch, xây dựng bở dung hệ thống mới, độc lập với tưới nước, cấp nước và thực hiện nghiêm chỉnh các Luật tài nguyên nước, Luật bảo vệ môi trường,… bảo đảm thoát lũ; bảo vệ bờ sông, chỉnh trị dòng sồng, cửa sông; …Nâng cấp đê biển, đê cửa sông, củng cố, bồi trúc đê sông đảm bảo an toàn đê với mực nước thiết kế đã quy định. KẾT LUẬN Nước là một tài nguyên thiên nhiên vô giá, không thể thiếu đối với mọi sự hoạt động trong mọi ngành kinh tế quốc dân. Tuy nguồn nước có nhiều nhưng nước ở trạng thái thiên nhiên không đủ thỏa mãn được nhu cầu nước ngày càng to lớn của xã hội. Vì vậy nước là một trong những yếu tố quan trọng cần phải được xem xét trong quy hoạch của các ngành. Trong nông nghiệp, nước là biện pháp hàng đầu, trong công nghiệp ta khó hình dung được một nhà máy, một công trường nào mà lại không cần đến nước. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thì hiện tượng thiếu nước và vấn đề sử dụng nước một cách có kế hoạch, hợp lý, tiết kiệm đã được đưa ra nghiên cứu, giải quyết. Và để khai thác những mặt lợi, ngăn chặn các tác hại của nước, con người đã phải can thiệp vào tự nhiên. Đó chính là nội dung của của bài tiểu luận ở trên. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU NỘI DUNG Đặc điểm chung của tài nguyên nước ở Việt Nam Thực trạng tài nguyên nước ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ tài nguyên nước. Quản lý tài nguyên nước. KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Quản lý nguồn nước -Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội. NXB Nông Nghiệp năm 2005 Giáo trình Kinh tế tài nguyên – Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội. NXB Tài Chính năm 2009 Tạp chí kinh tế ( 24/08/2009). Bài viết ” Nguồn tài nguyên nước tại việt Nam và những vấn đề đặt ra” của tác giả NGUYỄN PHƯƠNG HÀ. Tạp chí Bảo Vệ Môi TrườngTạp chí Nước sạch vệ sinh môi trường Một số trang web: http:// chúng tôi chúng tôi www.vietnamnet.com