Top 3 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Đất Nông Nghiệp Ở Miền Núi Là Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Tăng Cường Công Tác Bảo Vệ Tài Nguyên Đất Nông Nghiệp

Người dân xã Mạn Lạn, huyện Thanh Ba đưa cơ giới hóa vào làm đất chuẩn bị cho vụ mùa mới. Ảnh Nguyên An

PTĐT – Phú Thọ là một tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, diện tích đất nông nghiệp chiếm chủ yếu và là nguồn tài nguyên dồi dào cần được bảo vệ và sử dụng hiệu quả. Theo số liệu thống kê đến hết năm 2019, diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 296.930ha,chiếm 84,01%,trong đó: Đất trồng cây hàng năm 118.187,79ha; đất trồng lúa 62.971,04ha; đất trồng cỏ dùng cho chăn nuôi 46.690,28ha; đất lâm nghiệp 170.473,07ha; đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 7.982,48ha và đất nông nghiệp khác 286,65ha.

Những năm gần đây, kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển rõ rệt. Tốc độ đô thị hóa nhanh và mở rộng; các ngành du lịch, thương mại, dịch vụ, xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, khai thác khoáng sản; phát triển các công trình, dự án chủ yếu lấy vào đất nông nghiệp. Nhiều địa phương do việc canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã chuyển đổi hoặc người dân tự ý chuyển mục đích sử dụng đất,… đã làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, tiềm ẩn nguy cơ người dân làm nông nghiệp thiếu đất sản xuất. Mặt khác, con người đã quá lạm dụng nguồn tài nguyên đất đai và đã có nhiều tác động làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đất: Dùng quá nhiều lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp; khai thác khoáng sản; xả nước thải, rác thải không đúng quy định gây ô nhiễm môi trường đất, biến đổi tính chất vật lý, hóa học của đất. Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng, các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương đã ban hành nhiều quy định, văn bản chỉ đạo nhằm quản lý, sử dụng đất nông nghiệp chặt chẽ, có hiệu quả, đặc biệt là đất trồng lúa và đất lâm nghiệp. Thời gian qua, tỉnh Phú Thọ đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ, khai thác sử dụng đất nông nghiệp. Cụ thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 08 – NQ/TU ngày 15/4/2016 về công tác dồn đổi, tích tụ và tập trung đất đai phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020; UBND tỉnh Phú Thọ đã ban hành Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 27/11/2017 về tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 3687/QĐ-UBND ngày 28/12/2017 về việc phê duyệt Đề án tăng cường quản lý đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 3812/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 phê duyệt quy hoạch các vùng đất chuyên trồng lúa nước có năng suất chất lượng cao trên địa bàn tỉnh; Văn bản số 4099/UBND-KTTH ngày 13/9/2018 về việc quản lý đất nông nghiệp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu, đề xuất để UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện hoàn thành các dự án điều tra cơ bản về đất đai như: Điều tra, đánh giá thoái hóa đất kỳ đầu; điều tra, đánh giá chất lượng đất; đang trình UBND tỉnh phê duyệt dự án Điều tra, đánh giá ô nhiễm đất để phân tích, đánh giá sâu về tính chất lý, hóa tính đối với đất nông nghiệp, nhằm phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp. Hàng năm, theo kế hoạch Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý đất đai tại UBND các huyện, thành, thị, UBND cấp xã; thanh, kiểm tra việc chấp hành về quản lý, sử dụng đất, bảo vệ môi trường của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn tỉnh; thường xuyên phối hợp với các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành, thị tổ chức các hội nghị tập huấn về công tác quản lý Nhà nước về đất đai, bảo vệ môi trường tới cán bộ địa chính cấp xã, đồng thời thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tới các tổ chức, doanh nghiệp và người dân.  Nhờ đó, công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh nói chung đã dần đi vào nền nếp; nhận thức của cấp ủy, chính quyền cơ sở trong công tác quản lý tài nguyên đất đai, đặc biệt là quản lý quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích, đất chưa giao đã có nhiều chuyển biến tích cực. Với quyết tâm của toàn hệ thống chính trị, sự chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh, sự đồng lòng của người dân, một số địa phương đã làm tốt công tác dồn đổi, tích tụ và tập trung đất đai, tạo điều kiện hình thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở phát huy lợi thế về quy mô, khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất, mở rộng diện tích canh tác, tránh lãng phí đất thuận lợi cho việc ứng dụng khoa học và công nghệ, nhất là cơ giới hóa. Cùng với đôn đốc các địa phương tiến hành rà soát việc quản lý, sử dụng đất nông nghiệp Sở Tài nguyên và Môi trường cũng đã tham mưu để UBND tỉnh ban hành các văn bản quy định về công tác bảo vệ môi trường đất, kiểm soát ô nhiễm môi trường đất và thực sự trở thành công cụ hữu hiệu trong việc kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường đất cũng như thực hiện các hoạt động phục hồi, cải tạo tình trạng nhiễm môi trường đất. Thực trạng áp dụng kết quả đánh giá đất, đánh giá tiềm năng đất đai thời gian vừa qua đã mang lại hiệu quả thiết thực, đặc biệt trong việc khai thác, sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên đất nông nghiệp; công tác quản lý đất trồng lúa nước nhằm đảm bảo an ninh lương thực; khoanh vùng đất đai phù hợp để phát triển  cây nông nghiệp có múi chất lượng cao (bưởi Đoan Hùng; cây dược liệu ở Yên Lập…). Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế như: Việc đánh giá tiềm năng đất đai còn chưa thực sự được chú trọng và đầu tư đúng mức, các nội dung trong đánh giá tiềm năng đất đai chưa được hướng dẫn cụ thể hóa và thiếu tính pháp lý trong triển khai thực hiện, chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành trong điều tra, đánh giá tiềm năng đất đai… Để tiếp tục quản lý, sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp trong giai đoạn tới, UBND tỉnh đã xây dựng Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Nhằm bảo vệ Tài nguyên đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an sinh xã hội, tạo thêm nhiều việc làm, ổn định đời sống cho người dân, trong thời gian tới các cơ quan quản lý Nhà nước cần tập trung các giải pháp chủ yếu như: Đổi mới, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước và nhận thức của người dân về tầm quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên đất nói chung và đặc biệt là đất nông nghiệp. Việc đánh giá tiềm năng đất đai có ý nghĩa rất quan trọng trong sử dụng bền vững tài nguyên đất, là cơ sở khoa học cho việc hoạch định, lập chính sách phát triển và làm căn cứ cho sử dụng đất hiệu quả, bền vững. Do vậy, cần chú trọng và đầu tư đánh giá tiềm năng đất, góp phần giúp các cơ quan chức năng thực hiện quy hoạch sử dụng đất và người sử dụng đất xác định được đúng tiềm năng đất đai, định hướng sử dụng đúng mục đích của từng loại đất, từ đó có những giải pháp quản lý, sử dụng đất hợp lý và bền vững. Bên cạnh đó, cần thay đổi mô hình sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, thiếu liên kết sang mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, dựa vào doanh nghiệp và các mô hình trang trại, hoạt động theo cơ chế thị trường. Hoàn thiện chính sách thuế đối với đất nông nghiệp nhằm khuyến khích nâng cao hiệu quả sử dụng đất, khắc phục tình trạng hoang hóa đất nông nghiệp, sử dụng sai mục đích, khuyến khích các nhà đầu tư trong nông nghiệp sử dụng đất có hiệu quả. Sử dụng các kỹ thuật canh tác thân thiện với đất, phục hồi những diện tích đất bị thoái hóa, xuống cấp. Khuyến khích việc tích tụ, tập trung đất đai, tạo quỹ đất nông nghiệp gắn với quy hoạch sử dụng đất theo hướng hình thành các khu, vùng sản xuất chuyên canh, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm ổn định đời sống, việc làm cho người nông dân. Xây dựng hệ thống hồ sơ quản lý đất công ích và các loại đất nông nghiệp khác do UBND cấp xã quản lý, sử dụng nhằm quản lý chặt chẽ hơn, tránh tình trạng lấn chiếm đất, sử dụng đất không đúng mục đích. Đồng thời, tăng cường công tác thanh, kiểm tra đối với công tác quản lý Nhà nước về đất đai; việc quản lý, sử dụng đất, khai thác khoáng sản, bảo vệ môi trường của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân; kiên quyết xử lý các tình trạng vi phạm, sử dụng lãng phí, hủy hoại đất nông nghiệp; nâng cao nhận thức cho mọi đối tượng sử dụng đất, đặc biệt là người dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Phát Triển Đảng Viên Ở Chi Bộ Nông Thôn Miền Núi

Tân Thành là chi bộ đi đầu trong phát triển đảng viên ở xã Tân Phúc (Lang Chánh). Hàng năm, cấp ủy cấp trên giao chỉ tiêu kết nạp từ 1 đến 2 đảng viên thì chi bộ đều hoàn thành.

Đồng chí Lê Văn Hạnh, bí thư chi bộ chia sẻ: Để làm tốt nhiệm vụ này, chi bộ đã phân công giao nhiệm vụ cho đảng viên chính thức làm công tác tạo nguồn giúp đỡ quần chúng, trên tinh thần lựa chọn những quần chúng ưu tú có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, động cơ, mục đích lý tưởng vào Đảng đúng đắn, trong sáng. Nguồn kết nạp Đảng được lựa chọn từ các tổ chức đoàn thể, là những quần chúng ưu tú, gương mẫu trong nhiều lĩnh vực đời sống. Trong đó, mục tiêu đặt ra là phải lấy chất lượng làm đầu, không chạy theo thành tích, có như vậy mới tạo được niềm tin với quần chúng nhân dân. Từ năm 2017 đến tháng 6-2019 chi bộ đã kết nạp được 5 đảng viên, nâng tổng số đảng viên trong chi bộ lên 42 đồng chí, trong đó đảng viên người dân tộc chiếm trên 80%.

Còn tại chi bộ bản Làng Mới, xã Sơn Hà (Quan Sơn) mỗi năm kết nạp từ 1 – 2 đảng viên. Hầu hết là đảng viên trẻ tích cực tham gia hoạt động do địa phương phát động, nhất là phong trào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và có tinh thần phấn đấu vào Đảng. Đồng chí Lương Văn Nhiên, bí thư chi bộ kiêm trưởng bản Làng Mới cho biết: Để tạo nguồn phát triển Đảng, chi bộ đã phân công đảng viên có kinh nghiệm, uy tín để giúp đỡ quần chúng ưu tú trong quá trình phấn đấu, rèn luyện. Đồng thời, triển khai các phong trào thi đua nhằm phát hiện những quần chúng tiêu biểu, ưu tú để có hướng rèn luyện, bồi dưỡng phù hợp… Bởi vậy, hàng năm chi bộ luôn hoàn thành chỉ tiêu kết nạp đảng viên mà cấp ủy cấp trên giao.

Tìm hiểu thực tế một số địa phương ở huyện Quan Sơn, như các xã: Sơn Hà, Tam Lư, Tam Thanh cho thấy nguồn phát triển đảng viên ở các chi bộ nông thôn rất khó khăn, bởi những quần chúng trong độ tuổi là nam giới có trình độ văn hóa thường đi làm ăn xa, nữ giới đã xây dựng gia đình, từ đó hạn chế trong việc tham gia các phong trào, hoạt động của địa phương… Khó khăn trên được Huyện ủy Quan Sơn đề ra nhiều giải pháp, trong đó, chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy cơ sở, sinh hoạt chi bộ. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục và chỉ đạo các tổ chức đoàn, hội, nhất là chi đoàn TNCS Hồ Chí Minh; tăng cường giáo dục, lựa chọn đoàn viên, hội viên ưu tú giới thiệu với chi bộ; khảo sát, xây dựng kế hoạch tạo nguồn kết nạp đảng viên; phân công đảng viên chính thức bồi dưỡng, giúp đỡ, giao nhiệm vụ cụ thể cho quần chúng để thử thách, giới thiệu cho tổ chức đảng. Từ kết quả phấn đấu của quần chúng, chi bộ xem xét cụ thể từng trường hợp để tiến hành các thủ tục theo quy định… Nhiều năm qua huyện Quan Sơn luôn hoàn thành chỉ tiêu đề ra. Chỉ tính 6 tháng đầu năm 2019, huyện Quan Sơn đã kết nạp được 60 đảng viên mới, nâng tổng số đảng viên trong toàn đảng bộ lên 4.054 đảng viên.

Nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, gắn với thực hiện tốt công tác bồi dưỡng, phát triển đảng viên mới, khắc phục tình trạng thôn, bản “trắng đảng viên”, chi bộ dân cư sinh hoạt ghép ở khu vực miền núi, ngày 20-4-2010, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kết luận số 50-KL/TU về phát triển đảng viên và chi bộ đảng ở thôn, bản vùng sâu, vùng xa. Đến nay, 100% các thôn, bản đều có chi bộ, đã xóa được thôn, bản trắng đảng viên, chi bộ sinh hoạt ghép. Qua đó, góp phần bổ sung, tăng cường lực lượng, sức mạnh cho Đảng, đồng thời từng bước củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo của hệ thống chính trị ở khu vực miền núi tỉnh ta.

Bài và ảnh: Xuân Minh

Bảo Vệ Và Sử Dụng Hợp Lý Tài Nguyên Đất Trong Xu Hướng Công Nghiệp Hóa

(TN&MT) – Để có được giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá tiềm năng đất đai nhằm sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất phục vụ phát triển kinh tế, xã… (TN&MT) – Đất đai có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và quá trình sử dụng đất của con người. Để có được giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá tiềm năng đất đai nhằm sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất phục vụ phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, Tổng cục Quản lý đất đai đã thực hiện nghiên cứu đề tài khoa học ‘Nghiên cứu cơ sở lý luạn và thực tiễn của việc đánh giá tiềm năng đất đai nhằm góp phần sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất trong quá trình CNH – HĐH ở Việt Nam”.

Sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên đất nông nghiệp trong quá trình CNH – HĐH

Với diện tích tự nhiên là 33,1 triệu ha, dân số khoảng gần 90 triệu người, nhiều năm qua, chúng ta đã sử dụng đất không hợp lý, cùng với quá trình thổ nhưỡng đặc trưng do tác động của các yếu tố tự nhiên đã làm cho đất Việt Nam đang trong quá trình thoái hoá, tiềm năng đất đai đang giảm sút. Muốn sử dụng đất một cách hợp lý, bảo vệ và bồi dưỡng đất con đường tất yếu phải đi là đầu tư theo chiều sâu, mà trước hết cần phải xác định đúng tiềm năng đất đai từ đó là căn cứ cho việc xây dựng định hướng cũng như đưa ra các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững nguồn tài nguyên đất cho các mục đích sử dụng.

Qua quá trình thu thập các tài liệu nghiên cứu về đất đai cho thấy, Việt Nam hiện đang sử dụng phương pháp đánh giá đất của FAO để đánh giá tiềm năng đất đai và đã có những quy định về vấn đề này (đối với đất nông nghiệp). Tuy nhiên, công tác đánh giá tiềm năng đất đai vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Hệ thống các văn bản pháp luật hiện nay mới chỉ quy định về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và đề ra một số nguyên tắc trong quá trình đánh giá tiềm năng đất đai, chưa đưa ra được quy trình cụ thể.

Thực trạng áp dụng kết quả đánh giá đất, đánh giá tiềm năng đất đai thời gian vừa qua đã mang lại hiệu quả to lớn, đặc biệt trong việc khai thác, sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên đất nông nghiệp (đất trồng lúa nước, đất trồng cây công nghiệp…). Tuy nhiên, còn bộc lộ nhiều hạn chế: hầu hết tại các tỉnh trên cả nước việc đánh giá tiềm năng đất còn chưa được chú trọng và đầu tư đúng mức, các nội dung trong đánh giá tiềm năng đất đai chưa được hướng dẫn cụ thể hóavà thiếu tính pháp lý trong triển khai thực hiện, chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành trong điều tra, đánh giá tiềm năng đất đai…

Trong khi đó việc đánh giá tiềm năng đất đai có ý nghĩa rất quan trọng trong sử dụng bền vững tài nguyên đất: là cơ sở khoa học cho việc hoạch định, lập chính sách phát triển; làm căn cứ cho sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững; là cơ sở để đưa quỹ đất chưa sử dụng vào sử dụng một cách hiệu quả. Trên thế giới đã có nhiều phương pháp phân hạng, phân loại và đánh giá tiềm năng đất khác nhau với các lý luận và mục đích khác nhau, nghiên cứu về đánh giá tiềm năng đất đai ngày càng trở nên hoàn thiện, có ý nghĩa thiết thực đối với sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng và sử dụng đất đai nói chung.

Chính vì vậy, qua 2 năm thực hiện nghiên cứu, các tác giả đã đã đề xuất được trình tự, nội dung và hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá tiềm năng đất đai (cụ thể 16 chỉ tiêu cho đất nông nghiệp, 14 chỉ tiêu cho đất phi nông nghiệp) phục vụ quản lý, sử dụng đất hợp lý, bền vững tài nguyên đất. Để nâng cao hiệu quả đánh giá tiềm năng đất đai cần thực hiện tốt 4 nhóm giải pháp (giải pháp về quản lý, giải pháp về tổ chức thực hiện, giải pháp về tài chính, giải pháp sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất). Cần tuân thủ nghiêm túc quy trình đánh giá tiềm năng đất đai, khai thác sử dụng đất theo đúng mục đích trên cơ sở bền vững về kinh tế – xã hội, môi trường gắn với biến đổi khí hậu.

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp các nhà nghiên cứu, người hoạch định chính sách đưa ra được cơ sở khoa học cho việc đánh giá tiềm năng đất đai một cách toàn diện. Góp phần giúp các cơ quan có chức năng thực hiện quy hoạch sử dụng đất và người sử dụng đất xác định được đúng tiềm năng đất đai, định hướng sử dụng đúng mục đích của từng loại đất, từ đó có những giải pháp quản lý, sử dụng đất hợp lý và bền vững.

Phát Triển Cơ Sở Đảng Ở Nông Thôn, Miền Núi: Áp Dụng Đồng Bộ Nhiều Giải Pháp Mới

Đảng bộ tỉnh Quảng Nam có 22 Đảng bộ trực thuộc với 1.152 tổ chức cơ sở Đảng, 3.215 chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở và 68.607 Đảng viên.

Nhân rộng cách làm hay

Trong số cơ sở Đảng của tỉnh Quảng Nam, hiện đã có 207 tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn, miền núi; 100% thôn ở nông thôn, miền núi của tỉnh đã có tổ chức Đảng và Đảng viên. Đặc biệt, các thôn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của các huyện miền núi cao như: Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My… đều có Đảng viên và chi bộ độc lập. Đảng viên ở nông thôn, miền núi tăng cả về số lượng lẫn chất lượng.

Riêng từ đầu năm 2015 đến tháng 9-2019, khu vực nông thôn, miền núi của tỉnh (loại hình tổ chức cơ sở Đảng ở xã) đã kết nạp mới được 7.826 Đảng viên. Nhiều Đảng viên mới kết nạp đã được giao tham gia quản lý hoạt động công tác Đoàn Thanh niên, hội liên hiệp phụ nữ, hội nông dân… tại địa phương, qua đó phát huy được năng lực, sở trường và có nhiều đóng góp tích cực. Đồng thời, qua đó để các cơ sở Đảng tiếp tục củng cố, xây dựng, nâng cao sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Đảng, trẻ hóa đội ngũ cán bộ, tạo nguồn cán bộ kế cận cho các tổ chức cơ sở Đảng tại những vùng còn nhiều khó khăn.

Nổi bật trong công tác phát triển Đảng ở nông thôn, miền núi trên địa bàn trong thời gian qua là Đảng bộ các huyện: Tây Giang, Nam Giang… Từ cách làm hay, hiệu quả trong công tác phát triển Đảng viên ở vùng nông thôn, miền núi tại các địa phương này, Tỉnh ủy tiếp tục nghiên cứu và nhân rộng để những địa phương khác học tập, góp phần nâng cao hơn nữa công tác tạo nguồn phát triển Đảng viên mới ở nông thôn, miền núi trên địa bàn.

Có được những kết quả nêu trên là do Tỉnh ủy Quảng Nam không ngừng chú trọng đẩy mạnh công tác phát triển cơ sở Đảng và Đảng viên ở các cấp cơ sở, đặc biệt là vùng nông thôn, miền núi.

Tuy nhiên, công tác phát triển Đảng ở nông thôn, miền núi có nơi còn gặp nhiều khó khăn, một số chi bộ liên tục mấy năm liền không phát triển được Đảng viên mới; sinh hoạt Đảng của những Đảng viên nông thôn, miền núi đi làm ăn xa hiện gặp khó khăn; một số chi bộ phát triển được Đảng viên mới nhưng số lượng hết sức hạn chế, đa phần là quần chúng lớn tuổi… Do đó, đã làm tăng bình quân tuổi của Đảng viên mới, dẫn đến nguồn cán bộ kế cận ở thôn, xã “mỏng” dần.

Bốn định hướng

Từ thực tế nói trên, Tỉnh ủy Quảng Nam có một số định hướng mới trong công tác phát triển Đảng ở nông thôn, miền núi thời gian tới. Cụ thể:

Thứ nhất, cần có giải pháp để từng bước thay đổi nhận thức của một bộ phận nhân dân, nhất là giới trẻ; từng bước thấm dần ý thức phụng sự quê hương, đất nước. Giải pháp này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở đầu tư hiệu quả của nhà nước vào nông nghiệp, nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn…

Thứ hai, từng chi bộ, Đảng bộ cơ sở ở nông thôn, miền núi xây dựng tốt chỉ tiêu phát triển Đảng hằng năm với hệ thống giải pháp sát thực tiễn, khả thi theo lộ trình nhất định. Phải làm thật tốt việc điều tra lực lượng quần chúng ở độ tuổi thanh niên và trung niên trong các thành phần dân cư để nắm chắc số lượng, nhất là những đối tượng hội đủ các tiêu chuẩn để phát triển Đảng. Trọng tâm hướng vào thế hệ trẻ, công nhân, nông dân, trí thức, quân nhân hoàn thành nghĩa vụ, dân quân tự vệ, con em các gia đình có công với cách mạng, phụ nữ, dân tộc thiểu số.

Thứ ba, phân công Đảng viên theo dõi thường xuyên và gần gũi, lôi cuốn quần chúng vào các hoạt động tích cực, tránh xa tệ nạn, tiêu cực, đồng thời chọn lựa đối tượng, hướng dẫn, giúp đỡ để làm các thủ tục xét kết nạp Đảng khi đã đủ điều kiện…

Thứ tư, cấp ủy, chính quyền tạo điều kiện, giúp đỡ Đảng viên mới trong phát triển kinh tế và quan tâm đến quyền lợi chính trị, nhất là việc hỗ trợ để họ có điều kiện học tập lý luận, chuyên môn cũng như sử dụng họ vào các công việc phù hợp; xây dựng quy hoạch để bố trí họ vào các chức danh trong hệ thống chính trị.

Có tình trạng ngại tham gia công tác xã hội

Công tác phát triển Đảng ở nông thôn, miền núi sở dĩ gặp nhiều khó khăn là do nhiều nguyên nhân. Trong đó có một phần do nhận thức còn hạn chế của một bộ phận nhân dân muốn con em thoát ly để tìm kiếm cơ hội làm giàu. Số ít ở lại thì yên phận hoặc chưa có nguyện vọng, động cơ phấn đấu, có tâm lý ngại vào Đảng, sợ bị ràng buộc về thời gian và các quy định của tổ chức, không muốn tham gia các tổ chức chính trị – xã hội, càng không muốn nhận bất cứ công tác xã hội gì ở địa phương để vừa tránh va chạm, cũng để rảnh tay làm kinh tế; còn lại thì không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để bồi dưỡng kết nạp vào Đảng.

LÊ VĂN DŨNG (Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Quảng Nam)