Top 16 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Là Gì / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Nghị Định Quy Định Về Các Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Chính Phủ / 2023

Ngày đăng: 07:00:00 08/04/2010

CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Số: 19/2009/NĐ-CP Hà Nội, ngày 19 tháng 02 năm 2009

NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI CHÍNH PHỦ

Nơi nhận: – Ban Bí thư Trung ương Đảng; – Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; – VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng; – HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW; – Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; – Văn phòng Chủ tịch nước; – Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; – Văn phòng Quốc hội; – Tòa án nhân dân tối cao; – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; – Kiểm toán Nhà nước; – Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia; – Ngân hàng Chính sách Xã hội; – Ngân hàng Phát triển Việt Nam; – UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; – Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; – VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; – Lưu: Văn thư, KGVX (5b).

Các tin khác:

Giải Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Trong Chính Sách, Pháp Luật Hiện Nay / 2023

Ngày đăng: 19/08/2020 01:51

Toàn cảnh Hội nghị đánh giá tác động xã hội và tác động giới của chính sách trong đề nghị chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021 và điều chỉnh chương trình năm 2020 do Ủy ban Về các vấn đề xã hội phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức ngày 03/3/2020, đại diện Cơ quan soạn thảo cho biết đã tiến hành lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng dự án Luật Điện ảnh (sửa đổi).

BĐG là mục tiêu nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới BĐG thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Các biện pháp nhằm duy trì BĐG thực chất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Mở rộng phạm vi của bảo đảm BĐG trong chính sách pháp luật có thể tiếp cận ở cả góc độ thực thi, theo dõi thi hành các chính sách, pháp luật đó trong thực tế.

Chính sách, pháp luật Việt Nam hiện nay đã cụ thể hóa Công ước quốc tế (CEDAW, ILO) và thể hiện đầy đủ 8 lĩnh vực của BĐG: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, văn hóa – thông tin – thể dục – thể thao, y tế, gia đình 1. BĐG và quyền phụ nữ là quyền hiến định. Nguyên tắc bình đẳng đã được khẳng định ngay trong Điều 26 Hiến pháp năm 2013: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội Bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.

Nội dung BĐG cũng được quy định trong các luật và bộ luật điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 tại Điều 2 quy định: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này”. Ngoài ra, khoản 3 Điều 8 của Luật cũng nêu rõ: “số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ”.

Trong lĩnh vực y tế, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, tại Điều 3 quy định “bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh”. Về giáo dục, tại khoản 1 Điều 13 Luật Giáo dục năm 2019 quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định rõ tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “vợ chồng bình đẳng”.

Trong lĩnh vực lao động, khoản 7 Điều 4 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Bảo đảm Bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên”. Ngoài ra, Bộ luật Lao động còn có một chương dành riêng cho lao động nữ và vấn đề BĐG nhằm bảo vệ sức khỏe sinh sản của họ trong khi làm việc (Chương X).

Luật BĐG năm 2006 đánh dấu bước phát triển về thể chế và hệ thống hóa trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam bằng việc tăng cường BĐG trong đời sống cá nhân và xã hội. Bên cạnh những văn bản trên, BĐG còn được thể hiện trong nhiều văn bản khác như: Chương trình hành động của Chính phủ, Chiến lược quốc gia về BĐG và các văn bản khác.

Trong triển khai thực thi chính sách, pháp luật bảo đảm BĐG, những biện pháp thúc đẩy BĐG quy định trong Luật BĐG có thể đã được quy định hoặc chưa được quy định trong chính sách và pháp luật hiện hành của Việt Nam.

Đối với những biện pháp đã được quy định trong chính sách và pháp luật hiện hành của Việt Nam, ví dụ: biện pháp thúc đẩy BĐG đối với tỷ lệ nữ đại biểu tham gia vào mỗi khóa Quốc hội ít nhất chiếm 35% tổng số đại biểu Quốc hội đã được quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, cần chú ý tới những nội dung chính sau: đánh giá tác động lên nam giới và phụ nữ về những chênh lệch, bất BĐG, phân biệt đối xử về giới được giải quyết trên thực tế sau khi áp dụng; xác định nguồn nhân lực, tài chính cần thiết để triển khai một cách hiệu quả; chấm dứt thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định rằng các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tạo ra sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ đã thay đổi dẫn đến việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy BĐG không còn cần thiết.

Đối với những biện pháp thúc đẩy BĐG chưa được quy định trong chính sách và pháp luật hiện hành, ví dụ: quy định việc khuyến khích các cơ quan, tổ chức hỗ trợ lao động nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi; tạo điều kiện cho lao động nam nghỉ hưởng nguyên lương và phụ cấp khi vợ sinh con, cần chú ý tới những nội dung chính sau: kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy BĐG theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; đánh giá sự chênh lệch, bất BĐG, phân biệt đối xử về giới trên thực tế và tác động của biện pháp thúc đẩy BĐG sẽ được ban hành đối với nam, nữ; dự báo tác động của biện pháp thúc đẩy BĐG đối với nữ và nam sau khi được ban hành.

Những giải pháp bảo đảm bình đẳng giới trong chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay Thứ nhất, nâng cao nhận thức về BĐG trong chính sách, pháp luật ở Việt Nam.

Báo cáo chỉ số BĐG toàn cầu 2018, dựa vào kết quả đánh giá 149 quốc gia về tiến bộ BĐG, Việt Nam xếp thứ 77/149 quốc gia2. Thành tựu này chứng minh những kết quả quan trọng trong bảo đảm BĐG ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, để thúc đẩy hơn nữa vấn đề bảo đảm BĐG của Việt Nam, cần nâng cao nhận thức của các cá nhân, cơ quan (xây dựng pháp luật) về vấn đề này. Việc nâng cao có thể thực hiện thông qua truyền thông, tập huấn phổ biến kiến thức về BĐG, lồng ghép trong các chương trình đạo tạo của các trường học.

Thứ ba, thúc đẩy thực thi chính sách, pháp luật về BĐG của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội.

Bảo đảm BĐG trong xây dựng pháp luật vẫn là chưa đủ, bởi vì đó mới là tiền đề, còn giải pháp quan trọng phải duy trì là mỗi người dân phải nỗ lực nghiêm chỉnh thực hiện các chính sách bảo đảm BĐG đã được quy định. Trong lĩnh vực đất đai quy định “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được ghi tên của cả vợ và chồng”, nhưng thực tế vấn đề này còn “xa vời” đối với nhiều chị em ở các địa phương hiện nay. Lý do có thể họ chưa biết về quyền của mình hoặc sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tập quán, luật tục địa phương cũng là một rào cản.

Thứ tư, thúc đẩy việc đôn đốc, theo dõi thi hành chính sách, pháp luật về BĐG của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Một trong những giải pháp then chốt góp phần bảo đảm BĐG trong chính sách pháp luật là phải nâng cao ý thức, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp) trong theo dõi, thi hành pháp luật. Trong quá trình theo dõi, thi hành pháp luật, nếu phát hiện những vi phạm về bảo đảm BĐG thì phải xử lý nghiêm minh.

Thứ năm, thúc đẩy xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật về BĐG.

Định kiến xã hội (phong tục tập quán lạc hậu) là yếu tố chủ yếu dẫn đến tình trạng bất bình đẳng. Trong xã hội Việt Nam tồn tại nhiều tư tưởng, tập quán lạc hậu như: trọng nam khinh nữ, tư tưởng gia trưởng… đã hạn chế bảo đảm BĐG ở nước ta hiện nay. Ví dụ, để bảo đảm BĐG trong lĩnh vực thừa kế, cần loại bỏ định kiến “con gái là con người ta” để thực hiện việc chia tài sản thừa kế như nhau đối với con trai và con gái.

Thứ sáu, khôi phục các hương ước tiến bộ, phù hợp có tác dụng thúc đẩy thực hiện BĐG trong chính sách, pháp luật.

Bên cạnh những định kiến xã hội, trong cộng đồng còn duy trì nhiều hương ước tiến bộ, phù hợp có tác dụng thúc đẩy BĐG, như: thực hiện BĐG, phòng và chống bạo lực gia đình. Ví dụ, tại Điều 11- Hương ước thôn Lương Thịnh, ban hành kèm theo Quyết định số 1932/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa là một ví dụ điển hình. Tại Hương ước này quy định:

1) Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về BĐG, phòng và chống bạo lực gia đình. Các cá nhân, đặc biệt là nam giới cần tích cực chủ động tham gia các phong trào xã hội ở địa phương, sinh hoạt câu lạc bộ, học tập kiến thức về gia đình, về BĐG, các quyền của phụ nữ và phòng, chống bạo lực trong gia đình thông qua truyền thông. Bản thân người phụ nữ cần hiểu được quyền và trách nhiệm của mình trong công tác BĐG và phòng, chống bạo lực gia đình. Cần có kiến thức cũng như kỹ năng phòng tránh, tự bảo vệ mình và các con trước khi có sự trợ giúp từ phía các đoàn thể xã hội.

2) Giáo dục các thành viên trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình; thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, BĐG, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.

3) Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác3.

Nói đến BĐG về cơ bản là nói đến sự bình đẳng về quyền của phụ nữ với nam giới nói riêng và giữa các nhóm với nhau trong xã hội nói chung. Chính vì vậy, ở góc độ chung nhất, đấu tranh cho BĐG cũng chính là đấu tranh cho các quyền con người của phụ nữ/nhóm yếu thế và ngược lại. Sự đấu tranh hiệu quả nhất cho BĐG là lồng ghép giới trong xây dựng chính sách, pháp luật, đẩy mạnh trách nhiệm thực thi pháp luật về BĐG của chủ thể có thẩm quyền, nâng cao ý thức, hiểu biết về thực hiện chính sách BĐG của người dân./.

Ghi chú:

1. UNFPA – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Tài liệu tập huấn thực hiện Luật Bình đẳng giới, Hà Nội, 2009.

2. Khoảng cách giới ở Nam Á sẽ được san bằng sau 70 năm nữa. https://phunuvietnam.vn. Oxfam, ngày 08/3/2020.

3. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài: Bảo đảm bình đẳng giới trong chính sách, pháp luật ở Việt Nam hiện nay của Trường Đại học Luật Hà Nội, 2019.

TS. Trần Thị Quyên – Trường Đại học Luật Hà Nội

Theo: quanlynhanuoc.vn

Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới / 2023

Nội dung này được Luật sư Nguyễn Thiện Hùng tư vấn như sau:

Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

Về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, tại Nghị định số 48/2009/NĐ-CP của Chính phủ có một số quy định như sau:

1. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này.

2. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội;

b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam để bảo đảm đạt đủ tiêu chuẩn chuyên môn và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật;

c) Hỗ trợ, tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam để tăng cường sự chia sẻ giữa nữ và nam trong công việc gia đình và xã hội phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới;

d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam để thực hiện chính sách ưu tiên trong từng lĩnh vực cụ thể;

đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn và việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam để bảo đảm bình đẳng giới.

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định rằng các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tạo ra sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ đã thay đổi dẫn đến việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không còn cần thiết, nghĩa là khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

Thực Hiện Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Đối Với Nữ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Giai Đoạn 2022 / 2023

Ngày đăng: 23/09/2017 02:09

Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2020 được ban hành nhằm mục tiêu giảm sự chênh lệch về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực giữa nữ cán bộ, công chức, viên chức so với nam cán bộ, công chức, viên chức trong quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng tại cơ quan, tổ chức của Nhà nước; đồng thời góp phần xây dựng và phát triển vững chắc đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, với những nội dung cơ bản như sau:

1. Những nội dung cơ bản của Đề án

1.1 Đối tượng, phạm vi của Đề án

1.2 Tình hình thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức thời gian qua

Công tác cán bộ nữ đã được quan tâm chỉ đạo quyết liệt; từng bước lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức và trong bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, nữ đại biểu Hội đồng nhân dân đã có nhiều tiến bộ trong các nhiệm kỳ vừa qua; tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý có xu hướng tăng lên. Công tác quy hoạch, tạo nguồn nữ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được thực hiện trên cơ sở bảo đảm bình đẳng giới. Việc bố trí, sắp xếp, sử dụng, giới thiệu nữ cán bộ, công chức, viên chức vào cấp ủy, bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp được căn cứ trên cơ sở quy hoạch cán bộ; đồng thời được tạo điều kiện tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ.

Tuy nhiên, một số cấp ủy đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn chưa quan tâm đến công tác cán bộ nữ. Công tác quy hoạch, tạo nguồn đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức của nhiều bộ, ngành, địa phương thực hiện chưa tốt, chưa chủ động và chưa có chiến lược lâu dài. Tỷ lệ nữ đại biểu dân cử, nữ lãnh đạo, quản lý các cấp, tỷ lệ nữ được giới thiệu ứng cử vẫn còn thấp, chưa đạt chỉ tiêu, yêu cầu đề ra. Tỷ lệ nữ cán bộ, công chức, viên chức được tham gia đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ còn thấp, chưa đạt tỷ lệ theo quy định.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Quan điểm, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền ở một số địa phương, đơn vị về bình đẳng giới, về vai trò và năng lực của phụ nữ còn hạn chế. Chưa có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, cương quyết, thường xuyên của các cấp ủy đảng và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ban, ngành trong công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức.

Chưa có chính sách mang tính đột phá trong công tác quy hoạch, tạo nguồn đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức. Công tác truyền thông, thông tin về công tác nữ, công tác cán bộ nữ chưa thường xuyên, còn hạn chế về nội dung và hình thức thể hiện. Sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về công tác cán bộ nữ chưa thường xuyên, thiếu chặt chẽ tại các cấp, các ngành. Một bộ phận nữ cán bộ, công chức, viên chức còn tự ti, chưa mạnh dạn khẳng định vai trò, vị trí của mình trong xã hội; còn gặp khó khăn hơn so với nam giới do trách nhiệm đối với công việc nội trợ gia đình.

1.3 Nhiệm vụ, giải pháp thực hiện

Để thực hiện hiệu quả các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức trong giai đoạn tới, trọng tâm là giảm sự chênh lệch về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực giữa nữ cán bộ, công chức, viên chức so với nam cán bộ, công chức, viên chức, Quyết định số 515/QĐ-TTg đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

– Nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ.

Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ; đa dạng hóa các hình thức truyền thông, tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới và vị trí, vai trò của nữ cán bộ, công chức, viên chức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện công tác cán bộ nữ theo thẩm quyền, bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới.

– Tăng cường công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ, công chức, viên chức nữ bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới.

Xây dựng và phê duyệt quy hoạch nguồn nữ cán bộ, công chức, viên chức vào các chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp tại các cơ quan, tổ chức nhà nước bảo đảm tỷ lệ theo quy định; định kỳ hàng năm rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch. Triển khai thực hiện quy hoạch nguồn nữ cán bộ, công chức, viên chức gắn với bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng.

Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, hàng năm cho đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là nữ trong diện quy hoạch để đảm bảo đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định.

– Bảo đảm bình đẳng giới trong bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm bố trí, phân công công tác đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm đúng quy định, không phân biệt đối xử giữa nam và nữ ở cùng chức vụ, chức danh, vị trí việc làm, trừ những công việc quy định phụ nữ không được làm; thực hiện kiện toàn, sắp xếp, bổ nhiệm các chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp bảo đảm tỷ lệ nữ theo các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; ưu tiên lựa chọn nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định và trong quy hoạch chức vụ, chức danh đó; bố trí, tạo điều kiện, cơ hội để nữ cán bộ, công chức, viên chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức và yêu cầu, tiêu chuẩn của chức vụ, chức danh đảm nhiệm.

– Nâng cao năng lực đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức của các bộ, ngành, địa phương đến năm 2020; lồng ghép nội dung về bình đẳng giới trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, trong đó chú trọng đối tượng làm công tác xây dựng và hoạch định chính sách trong các cơ quan, tổ chức. Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho nữ lãnh đạo, quản lý, nữ trong diện quy hoạch chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp, nữ đại biểu dân cử nhiệm kỳ 2016 – 2021.

– Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác cán bộ nữ và bình đẳng giới.

Cơ quan quản lý các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát công tác quy hoạch, tạo nguồn, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý bảo đảm thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo quy định. Tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát chuyên ngành và liên ngành về thực hiện các quy định về công tác cán bộ nữ và bình đẳng giới.

1.4 Tổ chức thực hiện

– Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn các cơ quan, tổ chức xây dựng kế hoạch triển khai, thực hiện; tiếp tục tham mưu, hoàn thiện thể chế, chính sách về quy hoạch, tạo nguồn, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về nữ cán bộ, công chức, viên chức; tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho nữ lãnh đạo, quản lý, nữ trong diện quy hoạch; kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

– Bộ Tài chính bố trí ngân sách nhà nước để triển khai thực hiện Đề án theo quy định của pháp luật.

– Các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch triển khai các nội dung của Đề án và kiểm tra, giám sát việc thực hiện; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Nội vụ; thực hiện công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền bảo đảm bình đẳng giới.

2. Vấn đề cần lưu ý khi tổ chức thực hiện Đề án

– Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2020 được đề cao và đặt ra yêu cầu tăng cường vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện công tác cán bộ nữ tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình quản lý.

– Việc triển khai thực hiện Đề án tại các bộ, ngành, địa phương cần thực hiện trên cơ sở các mục tiêu, chỉ tiêu về công tác cán bộ nữ và bình đẳng giới mà Đảng và Nhà nước đã đề ra và cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia thực hiện như Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs), Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) đến năm 2030 của Liên hợp quốc.

– Việc thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2020 tập trung vào các nội dung quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị. Cần đặc biệt quan tâm thực hiện công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn để quy hoạch, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định.

– Các bộ, ngành, địa phương chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hàng năm và đến năm 2020 về đào tạo, bồi dưỡng đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức của bộ, ngành, địa phương mình, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức và yêu cầu, tiêu chuẩn của chức vụ, chức danh đảm nhiệm./.

Thanh Thị Hạnh – Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Bộ Nội vụ