Bào Quan Thực Hiện Chức Năng Hô Hấp Chính Là

--- Bài mới hơn ---

  • Phòng Khám Quản Lý Hen Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Phế Quản Là Gì, Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng Gì?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phế Quản
  • Chức Năng Của Phế Quản Và Những Điều Bạn Cần Lưu Ý
  • Phế Quản Là Gì? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phế Quản
  • Chủ đề :

    Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Một tế bào có bộ NST lưỡng bội 2n =48.
    • Kiểu phân bố ngẫu nhiên của các cá thể trong quần thể thường gặp khi
    • Một tế bào người tại kì giữa của lần giảm phân I sẽ có
    • Bệnh mù màu do gen lặn nằm trên NST X quy định.
    • Khi được chiếu sáng, cây xanh giải phóng khí O2. Các phân tử O2 đó bắt nguồn từ
    • Dạng đột biến nào sau đây thường gây chết hoặc làm giảm sức sống
    • Vi khuẩn cố định đạm sống trong nốt sần cây họ Đậu là biểu hiện của mối quan hệ?
    • Các NST kép không tách qua tâm động và mỗi NST kép trong cặp đồng đang phân li ngẫu nhiên về mỗi cực dựa trên thoi vô sắc.
    • Phát biểu nào sau đây là đúng khi nói về diễn thế sinh thái
    • Những quần thể có kiểu tăng trưởng theo tiềm năng sinh học có các đặc điểm sau?
    • Phát biểu nào sau đây là đúng khi nói về sự tăng trưởng của quần thề sinh vật?
    • Trong quá trình phát sinh và phát triển sự sống trên Trái đất, loại chất hữu cơ mang thông tin di truyền đầu tiên là
    • Trong tế bào có bao nhiêu loại phân tử tARN mang bộ ba đối mã khác nhau ?
    • Cơ quan hô hấp nhóm động vật nào trao đổi khí hiệu quả nhất
    • Cho một cây cà chua tứ bội có kiểu gen AAaa lai với một cây lưỡng bội có kiểu gen Aa.
    • Bào quan thực hiện chức năng hô hấp chính là
    • Để chọn tạo các giống cây trồng lấy thân, rễ, lá có năng suất cao, trong chọn giống người ta thường sử dụng phương pháp gây đột biến.
    • Dạ dày ở những động vật ăn thực vật nào có 4 ngăn
    • Nếu kích thước quần thể giảm xuống mức tối thiểu thì
    • Theo Jacop và Mono, các thành phần cấu tạo nên Operon Lac gôm
    • Trong 1 quần thể ruồi giấm, xét 1 cặp NST thường có 2 locus gen, locus I có 2 alen; locus II có 3 alen.
    • Trong các nhóm sinh vật sau đây có bao nhiêu nhóm thuộc sinh vật tự dưỡng(1)Nấm men(2)Tảo(3)Vi khuẩn lam(4) Vi khuẩn
    • Ở một loài thực vật, tính trạng chiều cao cây do 4 cặp gen (A,a;B,b; D,d; H,h) quy định.
    • Cho gà trống lông trắng lai với gà mái lông trắng thu được F1 gồm 18,75% con lông nâu, còn lại các con khác lông trắng.
    • Trong các phát biểu sau đây về CLTN có bao nhiêu phát biểu đúng?
    • Trong các phát biểu sau đây, có bao nhiêu phát biểu đúng ?
    • Cho các bệnh, tật và hội chứng di truyền sau, có bao nhiêu trường hợp có thể gặp ở cả nam và nữ1.
    • Ở một loài động vật, tính trạng lông đen do alen A quy định tính trạng lông trắng do alen a quy định.
    • Một loài thực vật ,nếu có cả 2 gen trội A và B trong cùng cho kiểu hình quả tròn, các kiểu gen còn lại cho kiểu hình quả dài.
    • Trong các phát biểu sau đây về đột biến gen, có bao nhiêu phát biểu đúng?
    • Ở ruồi giấm, mỗi gen quy định một tính trạng, alen trội là trội hoàn toàn, tần số hoán vị gen bằng 32%.
    • Ở một loài thực vật lưỡng bội, biết mỗi gen quy định một tính trạng, hoán vị gen xảy ra trong quá trình giảm phân tạo giao tử đực và cái với tần số như nhau.
    • Xét các mối quan hệ sinh thái giữa các loài sau đây:1.
    • Cây thấp nhất có chiều cao 110cm.
    • Biết mỗi gen quy định một tính trạng, alen trội là trội hoàn toàn, diễn biến của NST trong quá trình giảm phân ở hai giới như nhau.
    • Ở một loài thực vật, tính trạng hình dạng quả do 2 cặp gen quy định.
    • Quần thể ruồi giấm đang ở trạng thái cân bằng di truyền, xét gen quy định màu mắt nằm trên NST X không có alen trên Y, alen A quy định mắt đỏ trội hoàn toàn so với alen a quy định mắt trắng, tần số alen a là 0,2
    • Xét các phép lai sau:
    • Ở một loài thực vật, biết một gen quy định một tính trạng, trội lặn hoàn toàn và các gen liên kết hoàn toàn.
    • Cho P:(frac{{AB}}{{ab}}{rm{Dd}} times frac{{AB}}{{ab}}{rm{Dd}}) F1, số cây cỏ kiểu hình mang cả 3 tính trạng lặn chiếm 2,25%.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Và Thành Phần Của Máu
  • Những Điều Mà Bạn Nên Biết Về Máu
  • Nghiên Cứu Vai Trò Của Ghi Hình Tưới Máu Phổi Phối Hợp Với Đo Thông Khí Ngoài Trong Tiên Lượng Chức Năng Hô Hấp Sau Mổ Cắt Bỏ Một Phần Phổi
  • Bệnh Nhân Cần Chuẩn Bị Gì Trước Khi Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Phân Tích Đặc Điểm Cấu Tạo Của Hệ Hô Hấp Phù Hợp Với Chức Năng Của Chúng?
  • Các Bào Quan Của Tế Bào

    --- Bài mới hơn ---

  • Rối Loạn Chức Năng Hô Hấp, Nguyên Lý Nội Khoa
  • Đo Thông Khí Phổi Đánh Giá Rối Loạn Chức Năng Hô Hấp
  • Vai Trò Của Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp
  • Hô Hấp Ký Trong Bệnh Copd
  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Mir
  • Các bào quan này có chức năng chuyển hoá năng lượng, bao gồm hai bào quan: ty thể và các lạp thể. Ty thể có trong tất cả các tế bào nhân thực và các lạp thể đặc biệt là lục lạp chỉ có ở thực vật, đều có chức năng biến đổi năng lượng thành dạng hữu ích để hoạt hoá các phản ứng của tế bào. Cả hai bào quan này đều có hình thái đặc biệt, đều chứa bên trong một số lớn cấu trúc màng. Các màng này đóng vai trò quyết định trong hoạt động chuyển hoá năng lượng của hai bào quan này. Thứ nhất, chúng là điểm tựa cơ học cho sự vận chuyển điện tử để biến đổi năng lượng của các phản ứng oxy hoá. Thứ hai chúng bao bọc nhiều cấu trúc bên trong chứa các enzim xúc tác các phản ứng khác của tế bào. Ngoài ra cả hai có bộ máy di truyền độc lập riêng, đó là phân tử ADN vòng giống như vi khuẩn, và có nguồn gốc tiến hoá giống nhau. Về vấn đề này có 2 quan điểm:

    • Quan điểm phát triển: Trong quá trình phát triển và tiến hoá của tế bào nhân thực, các bào quan năng lượng hình thành từ màng nhân. Màng nhân eo thắt tạo thành thể khởi sinh (i). Từ thể khởi sinh sẽ phân hoá thành hai dạng bào quan: ty thể, lạp thể ():

      + Chất nền (matrix): là phần chất choán bên trong của ty thể. Chất nền chứa một hỗn hợp rất đậm đặc của hàng trăm enzim, gồm các enzim cần cho oxy hoá piruvat, các axit béo và trong chu trình axit citric. Nó chứa các bản sao của ADN và các enzim khác nhau cần cho sự biểu hiện của các gen ty thể.

      + Màng trong: màng trong được xếp lại nhiều nếp nhăn gọi là mào gà, làm tăng diện tích của màng. Nó chứa các protein với ba chức năng:

        Thực hiện các phản ứng oxy hoá trong chuổi hô hấp.
        Một phức hợp enzim có tên ATP synthetaza tạo ra ATP trong cơ chất.
        Các protein vận chuyển đặc biệt điều hoà sự đi qua các chất ra ngoài hoặc vào trong chất nền. Vì có thang điện hoá, bộ máy của ATP synthetaza được thiết lập xuyên qua màng này do chuổi hô hấp, nên điều quan trọng là màng không thấm đối với các phần lớn ion nhỏ.

      + Màng ngoài: nhờ một protein tạo một kênh quan trọng, nên màng ngoài bị thấm bởi các phân tử nhỏ hơn hay bằng 10.000 dalton. Các protein khác bao gồm các enzim tham gia tổng hợp lipit trong ti thể và các enzim chuyển hoá lipit sang dạng tham gia trao đổi chất và tiếp theo trong matrix.

      + Khoảng giữa màng, chứa nhiều enzim sử dụng ATP do matrix đưa ra để phophorin hoá các nucleotit khác.

      Ty thể là trung tâm năng lượng của tế bào. Quá trình phân huỷ hiếu khí các thức ăn kèm theo tổng hợp ATP được gọi là hô hấp tế bào. Hô hấp tế bào là quá trình trải qua nhiều bước do enzim xúc tác, nhờ đó tế bào chiết rút năng lượng từ polysaccharit, lipit, protein và các chất hữu cơ khác. Toàn bộ quá trình dị hoá từ khi thu nhận các chất dinh dưỡng đến sự phân huỷ hoàn toàn, có thể chia thành ba giai đoạn:

      • Giai đoạn phân giải các chất đa trùng phân thành các chất đơn giản như protein thành a.amin, polysaccharit thành glucoza, lipit thành axit béo và glyxerol. Các phản ứng này xảy ra do sự xúc tác của enzim ở các mô dự trữ, thể vùi.
      • Giai đoạn phân giải ở tế bào chất. Các chất đơn giản sẽ đi vào tế bào và chịu sự phân giải mạnh hơn ở tế bào chất như glucoza với quá trình đường phân biến thành pyruvat để xâm nhập vào ti thể. Trong ty thể pyruvat được chuyển hoá thành nhóm axetyl của hợp chất axetyl – coenzim A. Các glyxerol của lipit được chuyển hoá thành photphoglyxeraldehit rồi thành pyruvat. Các axit béo được chia cắt thành từng đoạn 2C để gắn vào thành axetyl -coenzim A. Các axit amin có nhiều cách chuyển hoá khác nhau: Một số axit amin chuyển thanh pyruvat, một số axit amin khác chuyển thành axetyl -CoA, số axit amin khác chuyển thành chất tham gia chu trình Krebs.
      • Sự biến đổi năng lượng xảy ra trong ty thể, nhóm axetyl của axetyl -CoA qua chu trình axit citric (chu trình Krebs) và hệ thống chuyền điện tử được oxy hoá hoàn toàn để thành CO2, H2O . Trong quá trình oxy hoá cuối cùng tạo ra 34ATP + 2ATP (của đường phân), có tất cả 36ATP. Mỗi ATP cung cấp 7,3Kcal. Phân tử glucoza chứa năng lượng tự do khoảng 670kcal/mol, sự phân giải glucoza chỉ tích luỹ được 270kcal/mol dạng năng lượng sinh học chiếm 39% năng lượng ban đầu của glucoza, 61% năng lượng còn lại được toả ra ở dạng nhiệt góp phần thúc đẩy nhanh các phản ứng khác nhau trong tế bào, một số nhiệt phế thải ở dạng entropie.

      Trong các tế bào của phần lớn thực vật đều có lạp thể – là một thể nhỏ mà ở đó diễn ra sự tổng hợp hoặc tích luỹ các chất hữu cơ. Ở thực vật bậc thấp chỉ chứa một hoặc hai lạp có hình dạng khác nhau và khác với lục lạp có dạng bầu dục của thực vật bậc cao, có tên gọi là sắc thể, trên chúng có hạch tạo bột để tổng hợp tinh bột. Mặc dù các lạp thể có khác nhau về hình thái cấu trúc và chức năng, chúng có quan hệ với nhau qua sự hình thành cấu trúc mầm (tiền lạp thể) ở các mô phân sinh, và một loại lạp có thể biến đổi thành loại lạp khác ([link]).

      Sự phân loại lạp thường dựa vào sự có mặt có sắc tố, chiếm ưu thế hay không có sắc tố như lạp không màu là lạp không có sắc tố, lạp màu là lạp chứa nhóm sắc tố carotenoit chiếm ưu thế, lục lạp chứa nhóm sắc tố chlorophin chiếm ưu thế và có vai trò sinh lý trong quang hợp, sử dụng được năng lượng ánh sáng mặt trời.

      + Lục lạp: Lục lạp điển hình có dạng hình thấu kính, đường kính gần 5μm và dày 1μm. Mỗi tế bào có từ 20 – 100 lục lạp, chúng có thể lớn lên và phân chia theo kiểu trực phân như ty thể. Lục lạp không đơn giản chỉ là cái túi chứa đầy chlorophin mà điều rất quan trọng của lục lạp là hệ thống cấu trúc màng. Chúng có màng ngoài rất dễ thấm, màng trong rất ít thấm, trong đó chứa nhiều protein vận chuyển đặc biệt và một khoảng không gian hẹp nằm giữa hai màng trong và ngoài. Màng trong bao quanh một vùng không xanh lục được gọi là stroma tương tự như chất nền (matrix) của ty thể. Stroma chứa các enzim, các riboxom, ARN và ADN. Có sự khác nhau quan trọng giữa tổ chức của các ti thể và lục lạp. Màng trong của lục lạp không xếp thành mào gà và không chứa chuổi chuyền điện tử. Ngược lại, hệ thống quang hợp hấp thụ ánh sáng, chuổi chuyền điện tử và ATP synthetaza đều chứa trong màng thứ ba tách ra từ màng thứ hai. Màng thứ ba hình thành một tập hợp các túi dẹp có hình đĩa gọi là các thylakoit mà tại đó các phân tử sắc tố quang hợp được tổng hợp dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời. Lớp phân tử chlorophin cũng như carotenoit và lớp phân tử photpholipit nằm giữa protein, có một diện tích khá lớn. Ngoài ra, cấu trúc lớp có thể dễ dàng chuyền năng lượng từ phân tử protein này đến phân tử bên cạnh. Người ta cho rằng ánh sáng của mỗi thylakoit này được nối với ánh sáng của thylakoit khác, chúng xác định một thành phần cấu trúc gọi là khoảng trong thylakoit được tách ra với stroma bởi màng của thylakoit. Các thylakoit được xếp chồng lên nhau tạo thành một phức hợp cấu trúc hạt (grana). Các phân tử diệp lục nằm trên màng thylakoit của grana, nên ta thấy lá cây, thân non, quả non … có màu xanh.

      Lục lạp là đơn vị cơ năng quang hợp nhờ đó mà năng lượng ánh sáng mặt trời thu nhận nhờ sắc tố chlorophin và sử dụng để khử các chất vô cơ (CO2 và H2O …) thành cacbonhydrat và O2. Thực chất của quang hợp là sự chuyển hoá năng lượng ánh sáng thành năng lượng hoá học ở dạng liên kết phân tử. Các phản ứng quang hợp có vai trò quan trọng là dự trữ năng lượng, mà năng lượng này được thu nhận từ vũ trụ để duy trì sự sống.

      Quang hợp được thực hiện ở bào quan lục lạp của tế bào. Quá trình được thực hiện gồm hai pha chủ yếu:

      • Pha sáng thu nhận và tích trữ năng lượng ở dạng ATP và NADPH xảy ra ở màng thylakoit. Nó sử dụng 48 phôton ánh sáng nhờ các phức hợp enzim và cấu trúc tinh vi của lục lạp, để quang phân ly 12 phân tử nước, thải ra 6O2, tích trữ được 12 NADPH2 và 18ATP, trong số đó có 6ATP được sử dụng cho tế bào.
      • Pha tối xảy ra ở stroma, nó sự dụng 18 ATP và 12 NADPH2 của pha sáng để tổng hợp chất hữu cơ theo chu trình Calvin.
      • Lạp màu: các lạp màu có hình dạng khác nhau: kéo dài, phân thuỳ, có góc cạnh, hình cầu, thường có màu vàng hoặc màu cam thuộc nhóm carotenoit. Các lạp màu có các thể vùi như: tinh thể carotenoit, các cầu nhỏ hiển vi và siêu hiển vi, các bó sợi siêu hiển vi. Carotin trong các lạp màu cà rốt đầu tiên giống như các hạt nhỏ nhưng về sau chúng kết tinh thành dải, dạng phiến hoặc xoắn ốc. Đến nay, người ta vẫn chưa biết các tinh thể trưởng thành có màng kép lạp hay không. Sự phát triển của các lạp màu với thể vùi hình cầu, hình sợi từ các lục lạp thường kéo theo sự phá huỷ của các hạt grana. Các lạp màu còn phát triển từ các lạp không màu.
      • Lạp không màu: Các lạp không màu không phải là một nhóm lạp xác định rõ ràng. Chúng có ở những tế bào trưởng thành không bị phơi ra ngoài ánh sáng như ở tuỷ thân, các cơ quan dưới đất. Chúng chưa được phân hoá rõ ràng từ các lạp chưa trưởng thành của các tế bào mô phân sinh. Các lạp của biểu bì thường không mang chất màu và được xếp vào nhóm lạp không màu. Lạp không màu thường xuất hiện như những khối nguyên sinh chất nguyên sinh, hình dạng có thể thay đổi hay bền vững. Chúng thường tụ tập gần nhân. Các lạp không màu được chuyển hoá như những thể dự trữ tinh bột và được coi là lạp bột. Lạp dầu cũng là lạp không màu có chức năng dự trữ các chất dạng lipit. Các chất béo không chỉ được phát sinh từ các lạp dầu mà còn trực tiếp từ tế bào chất.
      • Nguồn gốc của các lạp : Trong sự phát triển cá thể tế bào của mô phân sinh, có các lạp nhỏ không có cấu trúc hoặc có cấu trúc hết sức đơn giản nhưng thường có một hạt tinh bột, gọi là các tiền lạp thể. Từ tiền lạp thể hình thành các lạp khác nhau (hình 22). Trong các lạp, các ADN vòng chúng tiến hành sao mã và phân chia theo kiểu trực phân.

      Theo chủng loại phát sinh các lạp có hai quan điểm khác nhau:

      • Quan điểm phát triển: trong quá trình tiến hoá từ sinh vật tiền nhân đến sinh vật nhân thực, các lạp được phân hoá trong tế bào chất, để thực hiện các chức năng quang hợp, dự trữ …
      • Quan điểm cọng sinh: các lạp thể có nguồn gốc từ ty thể. Ty thể tăng trưởng, các mào răng lược tách khỏi màng trong và phát triển thành các grana. Cũng có người cho rằng, bào quan lục lạp là kết quả cọng sinh của tế bào vi khuẩn lam với tế bào sinh vật nhân thực.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Chuẩn Đoán Và Điều Trị Cho Quy Trình Đo Chức Năng Hô Hấp
    • Phục Hồi Chức Năng Hô Hấp Cho Người Bệnh Có Di Chứng Lao Phổi
    • Xét Nghiệm Chức Năng Hô Hấp
    • Đo Chức Năng Hô Hấp Là Gì Và Nó Có Ý Nghĩa Như Thế Nào ?
    • Hô Hấp Ký Là Gì? Đo Chức Năng Hô Hấp Như Thế Nào?

    Các Bào Quan Trong Tế Bào (Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Sử Dụng Lò Vi Sóng Sharp R
  • Dùng Cho Người Rối Loạn Lipid Máu
  • Colostrum Milk Powder Tăng Cường Sức Khỏe Hộp 300G
  • Viên Sữa Non Alpha Lipid Colostrum Capsules
  • Lí Thuyết Chất Béo Hóa 12 Đầy Đủ Nhất
  • Bào quan

    Cấu trúc

    Chức năng

    Ti thể

    Màng kép

    Hô hấp tế bào

    Lục lạp

    Màng kép

    Quang hợp

    Lưới nột chất trơn

    Màng đơn

    Vận chuyển nội bào, tổng hợp lipit, chuyển hóa cácbohiđrat (đường)

    Lướt nội chất hạt

    Màng đơn (có đính các hạt ribôxôm)

    Vận chuyển nội bào

    Bộ máy Golgi

    Màng đơn

    Đóng gói, chế biến và phân phối sản phẩm

    Lizôxôm

    Màng đơn

    Tiêu hóa nội bào

    Không bào

    Màng đơn

    Chứa dịch tế bào

    Ribôxôm

    Không màng

    Tổng hợp prôtêin

    Trung thể

    Không màng

    Xuất hiện khi tế bào phân chia

     

    Trong chương trình THCS, tớ chỉ trình bày các bào quan: lưới nội chất, bộ máy Golgi, không bào, ribôxôm và nhân. Các bào quan khác sau này lên phổ thông các bạn sẽ học kĩ hơn, và khi nghiên cứu sâu các bạn sẽ thấy rất hay. Ở mỗi bào quan tớ cũng chỉ trình bày sơ về phần cấu tạo, bởi vì khi nhắc đến cấu tạo ta phải xét đến thành phần hóa học của chúng mới thấy sự liên hệ đến chức năng của mỗi bào quan, mà điều này thì rõ ràng là hơi xa rời chương trình lớp 8 rồi. Bài viết này chỉ nhằm mục đích tham khảo, không nằm trong trọng tâm của chương trình học, nhưng tớ mong sẽ giúp ích cho các bạn ở khía cạnh nào đó :).

    I. Lưới nội chất

    1. Lưới nội chất trơn

                Màng của lưới nội chất trơn không có đính các hạt ribôxôm. Chúng gồm các kênh hẹp nối với nhau và phân bố khắp tế bào chất, chứa nhiều loại emzim. Chức năng của lưới nội chất trơn là tổng hợp lipit, chuyển hoá đường, phân huỷ chất độc hại đối với tế bào. Lưới nội chất trơn thường phát triển mạnh ở các tế bào tích lủy lipit và tiết các sản phẩm lipit.

    2. Lưới nội chất hạt

                Không như lưới nội chất trơn, lưới nội chất hạt có đính nhiều hạt ribôxôm trên màng. Chúng có thể thông với nhau hoặc thông với mạng lưới nội chất trơn. Chức năng của chúng là tổng hợp prôtêin để đưa ra ngoài tế bào và các prôtêin cấu tạo nên màng tế bào. Lưới nội chất hạt phát triển ớ các tế bào tích cực tổng hợp prôtêin

    (còn tiếp)

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Công Nhiệm Vụ Các Thành Viên Ubnd Huyệnnhiệm Kỳ 2022
  • Trắc Nghiệm Quản Trị Học – Chương 7
  • 5 Năng Lực Quan Trọng Nhất Của Các Nhà Lãnh Đạo Đích Thực
  • Nhà Quản Trị Cấp Trung – Vai Trò Và Chức Năng – Trung Tâm Đào Tạo Và Tư Vấn Doanh Nghiệp
  • Phân Công Nhiệm Vụ Trong Ban Lãnh Đạo Điều Hành Tkv
  • Việt Nam: Tạo Tế Bào Chức Năng Gan Từ Tế Bào Gốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngân Hàng Thương Mại Và Vai Trò Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Ngân Hàng Trung Ương Nhà Nước Việt Nam
  • Sinh Lý Hệ Tiêu Hóa
  • Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
  • Lý Thuyết: Phép Toán, Biểu Thức, Câu Lệnh Gán Trang 24 Sgk Tin Học 11
  • Mô tả

    Tế bào chức năng gan được biệt hóa đáp ứng đặc điểm hình thái, khả năng tích trữ và điều tiết, có tiềm năng sử dụng điều trị bệnh nan y.

    Sau bốn năm tìm hiểu và nghiên cứu, tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh và cộng sự Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu thành công quá trình biệt hóa tế bào chức năng gan mới nhờ cấy ghép tế bào gốc, tạo cơ sở ứng dụng tế bào gốc trong điều trị bệnh về gan, tim, ung thư.

    Tế bào gốc là những tế bào chưa đảm nhận các chức năng cụ thể để duy trì hoạt động trong cơ thể sống. Khi nhắc tới quá trình biệt hóa là để tạo ra một tế bào chuyên biệt, đảm nhiệm chức năng cụ thể từ tế bào gốc. Để thực hiện, TS Hạnh dùng tế bào từ màng dây rốn, nhau thai và tủy xương chuột. Sau đó, các tế bào tiếp tục được nhân nuôi, đánh giá hoạt tính trong phòng thí nghiệm, theo các tiêu chuẩn của Hiệp hội Tế bào gốc Thế giới.

    Để tạo một tế bào mới có chức năng gan, nhóm nghiên cứu ứng dụng các phương pháp công nghệ khác nhau, sử dụng các chất tác nhân phân tử có kích thước siêu nhỏ nhằm kích thích thụ thể tế bào gốc. Khi xâm nhập vào tế bào gốc, các tác nhân có khả năng giúp hoạt hóa, định hình tế bào gốc thành những tế bào có chức năng gan về mặt đặc điểm hình thái.

    “Tuy nhiên, các cấu trúc gene của tế bào gốc lúc này cơ bản vẫn chưa thể hoạt động và thực hiện các chức năng phức tạp của một tế bào gan”, TS Hạnh nói và cho biết, để kích hoạt, các cấu trúc gene phải tiếp tục được nhóm áp dụng phương pháp chuyển gene bằng vector, giúp tổng hợp protein, tạo tín hiệu cho tế bào. Phương pháp này tuy phức tạp những có ưu điểm là hiệu quả chuyển đổi gene gần như tuyệt đối.

    Các tế bào chức năng gan được đánh giá trên ba tiêu chuẩn, gồm khả năng tích trữ đường glicogen và điều tiết men tiêu hóa, đặc điểm hình thái của các tế bào (là tế bào đa giác) và mức độ kiểu gene. Kết quả thử nghiệm trên cơ thể chuột cho thấy, tế bào chức năng gan có đầy đủ các đặc điểm hình thái và cấu trúc gene của một tế bào thông thường, khả năng khu trú và liên kết trong gan của các tế bào đạt hiệu quả cao.

    Để đánh giá khả năng tăng trưởng, phân chia của tế bào mới, nhóm thử nghiệm chuyển các hạt nano hữu cơ phát quang vào bằng phương pháp hiển vi quét laser và phương pháp đo tế bào dòng chảy. Các hạt nano hữu cơ phát quang không tác động tiêu cực ảnh hưởng tới thay đổi hình thái hoặc biểu hiện gene của tế bào mà giúp đánh dấu và theo dõi quá trình phát triển tế bào gốc trong phòng thí nghiệm.

    Các kết quả thu được từ tế bào mới được biệt hóa từ tế bào gốc cho thấy tiềm năng điều trị bệnh xơ gan và ứng dụng xây dựng hệ thống thử nghiệm tác dụng thuốc mới trên tế bào, tạo ra các hợp chất thuốc mới. Ngoài ra, nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng các tế bào gốc, tế bào chức năng gan cho cấy ghép, sàng lọc các chất có hoạt tính sinh học và ứng dụng mô hình để đánh giá hiệu quả của cấy ghép tế bào trong điều kiện in vivo.

    (Theo Vnexpss)

    Giải pháp nào cho việc chăm sóc và quản lý sức khỏe?

    Con người đang phải đối mặt với một thực trạng suy giảm sức khỏe thời hiện đại khá nghiêm trọng. Vậy giải pháp nào cho việc chăm sóc và quản lý sức khỏe một cách hiệu quả và khoa học?

    Hãy sử dụng biện pháp chăm sóc và quản lý sức khỏe cho chính mình bằng HR247 – ứng dụng hỗ trợ người dùng lưu trữ các thông tin sức khỏe toàn diện và trọn đời dưới định dạng hình ảnh tài liệu. Bạn có thể dễ dàng truy cập để sử dụng HR247 ở bất kỳ vị trí và thời điểm nào. Điều này giúp tăng khả năng lưu trữ mọi lúc mọi nơi. Bên cạnh đó, các dữ liệu được lưu trữ sẽ luôn sẵn có và dễ dàng tiếp cận, chia sẻ khi cần thiết.

    Website: http://myhealth.com.vn/

    Mọi chi tiết xin liên hệ: 024 66885102

    --- Bài cũ hơn ---

  • Agribank Triển Khai Nhiệm Vụ Kinh Doanh Năm 2022
  • Báo Cáo Thực Tập Tại Ngân Hàng Nhno&ptnt (Agribank) Chi Nhánh Hoàng Mai
  • Sự Chuyển Hóa Nột Tiết Ở Người Bị Viêm Gan
  • 22 Thực Phẩm Cho Người Gan Nhiễm Mỡ Kèm Chế Độ Ăn Khoa Học Nhất
  • Nhóm Thực Phẩm Tốt Cho Người Bị Gan Nhiễm Mỡ Nên Nổ Sung
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Các Bào Quan Trong Tế Bào Nhân Thực Câu Hỏi 149481

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Cấu Trúc Tế Bào Prokaryote Và Eukaryote
  • Te Bao Nhan Thuc (Eukaryotes) Giao An Sinh 10 Tb Nhan Thuctai Len Doc
  • Nêu Cấu Trúc Và Chức Năng Của Tế Bào Nhân Thực
  • Bài 7. Tế Bào Nhân Sơ,tế Bào Nhân Thực Sinh 10 Duong 20222016 Doc
  • Bài 8. Tế Bào Nhân Thực
  • *NHÂN TẾ BÀO

    1. Cấu trúc

    – Chủ yếu có hình cầu, đường kính 5 micrômet.

    – Phía ngoài là màng bao bọc (màng kép giống màng sinh chất) dày 6 – 9 micrômet. Trên màng có các lỗ nhân.

    – Bên trong là dịch nhân chứa chất nhiễm sắc (ADN liên kết với prôtêin) và nhân con.

    2. Chức năng

    – Là nơi chứa đựng thông tin di truyền.

    – Điều khiển mọi hoạt động của tế bào, thông qua sự điều khiển sinh tổng hợp prôtêin.

    *LƯỚI NỘI CHẤT

    Lưới nội chất hạt

    a) Cấu trúc

    – Là hệ thống xoang dẹp nối với màng nhân ở một đầu và lưới nội chất hạt ở đầu kia.

    – Trên mặt ngoài của xoang có đính nhiều hạt ribôxôm.

    b) Chức năng

    – Tổng hợp prôtêin tiết ra khỏi tế bào cũng như các prôtêin cấu tạo nên màng tế bào, prôtêin dự trữ, prôtêin kháng thể.

    – Hình thành các túi mang để vận chuyển prôtêin mới được tổng hợp.

    2. Lưới nội chất trơn

    a) Cấu trúc

    – Là hệ thống xoang hình ống, nối tiếp lưới nội chất hạt. Bề mặt có nhiều enzim, không có hạt ribôxôm bám ở bề mặt.

    b) Chức năng

    – Tổng hợp lipit, chuyển hóa đường, phân hủy chất độc đối với cơ thể.

    – Điều hòa trao đổi chất, co duỗi cơ.

    *. RIBÔXÔM

    – Ribôxôm là một bào quan không có màng bao bọc.

    – Cấu tạo gồm một số loại rARN và prôtêin.

    – Số lượng ribôxôm trong một tế bào có thể lên tới vài triệu.

    – Chức năng của ribô xôm là chuyên tổng hợp prôtêin của tế bào.

    *BỘ MÁY GÔNGI

    1. Cấu trúc

    – Là một chồng túi màng dẹp xếp cạnh nhau nhưng tách biệt nhau.

    2. Chức năng

    – Là hệ thống phân phối các sản phẩm của tế bào.

    – Tổng hợp hoocmôn, tạo các túi mang mới.

    – Thu nhận một số chất mới được tổng hợp (prôtêin, lipit, gluxit…) ⟶ Lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh rồi đóng gói và chuyển đến các nơi cần thiết của tế bào hay tiết ra ngoài tế bào.

    – Ở tế bào thực vật, bộ máy Gôngi còn là nơi tổng hợp các phân tử pôlisaccarit cấu trúc nên thành tế bào.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Các Thành Phần Của Các Tế Bào Nhân Sơ? Cấu Trúc Và Chức Năng Của Các Bào Quan Trong Tế Bào Nhân Thực? Phân Biệt Các Hình Thức Vận Chu
  • Sinh Học 10 Bài 10: Tế Bào Nhân Thực Tiết 3
  • Trình Bày Cấu Trúc, Chức Năng Của Nhân Tế Bào.
  • Chuyên Đề 4 (Tiếp Theo): Cấu Trúc Tế Bào Nhân Thực
  • Chuong 1 Sinh Ly Te Bao Thuc Vat
  • Nêu Cấu Tạo Và Chức Năng Của Các Bào Quan Trong Tế Bào Câu Hỏi 82627

    --- Bài mới hơn ---

  • Trong Tế Bào Thực Vật Những Cấu Trúc Dưới Tế Bào Nào Chứa Axit Nucleic ? Hãy Nêu Đặc Điểm Cấu Tạo Và Chức Năng Chủ Yếu Của Các Cấu Trúc Đó?
  • Chức Năng Sinh Lý Của Tạng Can
  • Chức Năng Sinh Lý Của Tạng Can Y Học Cổ Truyền Việt Nam
  • Chức Năng Sinh Lý Của Tạng Phế
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Tuyến Thượng Thận
  • Đáp án:

    I. Ty thể (Mitochondria):

    – Ty thể có ở tất cả các tế bào, nhiều hay ít tuỳ theo tế bào.

    – Trong lòng ty thể có chứa chất gel có nhiều enzyme hoà tan là những enzyme của chu trình Krebs.

    – Ty thể có khả năng tự phân chia vì trong ty thể cũng có ADN giống trong nhân. Một ty thể có thể tạo ra 2, 3 ty thể hoặc nhiều hơn khi tế bào cần ATP.

    – Chức năng của ty thể: sản sinh và tích trữ năng lượng cho tế bào dưới dạng ATP qua chu trình Krebs và chuỗi hô hấp tế bào (ATP được tạo thành 5% trong bào tương tế bào và 95% trong ty thể, do vậy ty thể được gọi là trạm năng lượng tế bào).

    – ATP được sử dụng cho 3 hoạt động chính của tế bào:

    + Vận chuyển các chất qua màng tế bào (vận chuyển chủ động).

    + Sinh tổng hợp các chất.

    + Thực hiện các công cơ học (co cơ, các cử động của tế bào…).

    Tiêu thể có chức năng tiêu hoá của tế bào qua các bước:

    – Hiện tượng nhập bào (thực bào, ẩm bào) tạo không bào.

    – Không bào hoà màng với tiêu thể tạo thành túi tiêu hoá ( Degestive vesicle).

    – Các enzyme của tiêu thể sẽ thuỷ phân các chất lạ. Sản phẩm tiêu hoá là những phân tử nhỏ (acid amin, glucose, phosphat…) được hấp thu vào bào tương tế bào qua màng túi tiêu hoá.

    – Những phần không bị tiêu huỷ còn lại gọi là thể cặn ( residual body) sẽ được bài tiết ra ngoài tế bào bằng hiện tượng xuất bào.

    Ribosome có 2 dạng:

    – Dạng tự do trong bào tương.

    – Dạng gắn trên MLNBT tạo thành MLNBT hạt ( Rough (or Granular) endoplastic reticulum). Là nơi tổng hợp protein, đặc biệt ribosome tự do trong bào tương sẽ sinh tổng hợp protein của bào tương. Protein được tổng hợp sẽ đưa vào MLNBT. Sau đó được tế bào bài tiết hay gom tụ lại thành tiêu thể nhờ vai trò bộ golgi.

    – MLNBT trơn ( Smooth (or Agranular) endoplastic reticulum): phần MLNBT không gắn ribosome. Là nơi sinh tổng hợp lipid (Steroid).

    – Là nơi tích trữ tạm thời và cô đặc các chất tiết, chuẩn bị bài xuất ra ngoài.

    Ribosome tổng hợp protein →MLNBT hạt →MLNBT trơn →túi vận chuyển ( Transport vescicles) →bộ Golgi → hạt tiết à hoà màng với màng tế bào, bài tiết protein ra ngoài.

    – Sinh tổng hợp carbohydrat và kết hợp protein tạo glycoprotein.

    – Tạo tiêu thể.

    – Bổ sung lại màng tế bào và màng các bào quan khác như ty thể, MLNBT.

    Khử độc cho tế bào.

    Tạo chuyển động nhanh, bất ngờ 10 – 20 lần/giây, làm đẩy các chất dịch trong lòng ống theo một hướng nhất định.

    – Ở đường hô hấp: từ hốc mũi và đường hô hấp dưới về họng, cuốn theo các chất lạ.

    – Ở vòi trứng: từ buồng trứng về tử cung, cuốn theo trứng.

    Bộ xương của tế bào ( Cytoskeleton) và các ống siêu vi ( microtubule):

    – Tạo và duy trì hình dạng tế bào và vị trí của các bào quan trong tế bào.

    – Tạo các cử động của tế bào và các chuyển động trong tế bào.

    Trung thể tách ra thành 2 cực của thoi gián phân khi tế bào phân chia.

    – Mang toàn bộ đặc tính di truyền.

    – Khi tế bào phân chia có thể thấy rõ những đôi NST.

    Giữa thời kỳ tế bào phân chia chỉ thấy những đốm sẫm màu gọi là nhiễm sắc chất (Chromatin).

    – Mỗi NST gồm: protein nâng đỡ. AND (acid deoxyribonucleic).

    – Gen nằm trên NST qui định tính di truyền.

    – Hạch nhân là một mảng hạt giàu chất ARN (acid ribonucleic).

    – Chức năng:

    + Phân bào nguyên nhiễm: nhiễm sắc thể (NST) tự nhân đôi, phân chia cho mỗi tế bào con một bộ NST lưỡng bội 2n.

    + Phân bào giảm nhiễm: tế bào mầm phân chia mỗi tế bào con một bộ NST đơn bội n. Khi tinh trùng và trứng kết hợp nhau tạo hợp tử có đủ 2n NST.

    + Tổng hợp ARN để sinh tổng hợp protein cho tế bào.

    Giải thích các bước giải:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ribosome Và Tổng Hợp Protein ·
  • Bài 9. Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo)
  • Tìm Hiểu Tế Bào Nhân Thực Trong Động Vật, Thực Vật
  • Giáo Án Sinh Học 10
  • Tìm Hiểu Chức Năng Máy Giặt Lg Inverter Fv1408S4W 8,5 Kg
  • Nhà Khoa Học Việt Tạo Tế Bào Chức Năng Gan Từ Tế Bào Gốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Đăng Ký Và Sử Dụng Internet Banking Bidv
  • Tổng Đài Ngân Hàng Bidv
  • Hủy Sms Banking Bidv, Ngừng Sử Dụng Sms Banking Bidv
  • Số Điện Thoại Tổng Đài Ngân Hàng Bidv
  • Tìm Hiểu Số Hotline Ngân Hàng Bidv Là Bao Nhiêu?
  • Sau bốn năm tìm hiểu và nghiên cứu, tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh và cộng sự Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu thành công quá trình biệt hóa tế bào chức năng gan mới nhờ cấy ghép tế bào gốc, tạo cơ sở ứng dụng tế bào gốc trong điều trị bệnh về gan, tim, ung thư.

    Tế bào gốc là những tế bào chưa đảm nhận các chức năng cụ thể để duy trì hoạt động trong cơ thể sống. Khi nhắc tới quá trình biệt hóa là để tạo ra một tế bào chuyên biệt, đảm nhiệm chức năng cụ thể từ tế bào gốc. Để thực hiện, TS Hạnh dùng tế bào từ màng dây rốn, nhau thai và tủy xương chuột. Sau đó, các tế bào tiếp tục được nhân nuôi, đánh giá hoạt tính trong phòng thí nghiệm, theo các tiêu chuẩn của Hiệp hội Tế bào gốc Thế giới.

    Để tạo một tế bào mới có chức năng gan, nhóm nghiên cứu ứng dụng các phương pháp công nghệ khác nhau, sử dụng các chất tác nhân phân tử có kích thước siêu nhỏ nhằm kích thích thụ thể tế bào gốc. Khi xâm nhập vào tế bào gốc, các tác nhân có khả năng giúp hoạt hóa, định hình tế bào gốc thành những tế bào có chức năng gan về mặt đặc điểm hình thái.

    “Tuy nhiên, các cấu trúc gene của tế bào gốc lúc này cơ bản vẫn chưa thể hoạt động và thực hiện các chức năng phức tạp của một tế bào gan”, TS Hạnh nói và cho biết, để kích hoạt, các cấu trúc gene phải tiếp tục được nhóm áp dụng phương pháp chuyển gene bằng vector, giúp tổng hợp protein, tạo tín hiệu cho tế bào. Phương pháp này tuy phức tạp những có ưu điểm là hiệu quả chuyển đổi gene gần như tuyệt đối.

    Các tế bào chức năng gan được đánh giá trên ba tiêu chuẩn, gồm khả năng tích trữ đường glicogen và điều tiết men tiêu hóa, đặc điểm hình thái của các tế bào (là tế bào đa giác) và mức độ kiểu gene. Kết quả thử nghiệm trên cơ thể chuột cho thấy, tế bào chức năng gan có đầy đủ các đặc điểm hình thái và cấu trúc gene của một tế bào thông thường, khả năng khu trú và liên kết trong gan của các tế bào đạt hiệu quả cao.

    Để đánh giá khả năng tăng trưởng, phân chia của tế bào mới, nhóm thử nghiệm chuyển các hạt nano hữu cơ phát quang vào bằng phương pháp hiển vi quét laser và phương pháp đo tế bào dòng chảy. Các hạt nano hữu cơ phát quang không tác động tiêu cực ảnh hưởng tới thay đổi hình thái hoặc biểu hiện gene của tế bào mà giúp đánh dấu và theo dõi quá trình phát triển tế bào gốc trong phòng thí nghiệm.

    Các kết quả thu được từ tế bào mới được biệt hóa từ tế bào gốc cho thấy tiềm năng điều trị bệnh xơ gan và ứng dụng xây dựng hệ thống thử nghiệm tác dụng thuốc mới trên tế bào, tạo ra các hợp chất thuốc mới. Ngoài ra, nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng các tế bào gốc, tế bào chức năng gan cho cấy ghép, sàng lọc các chất có hoạt tính sinh học và ứng dụng mô hình để đánh giá hiệu quả của cấy ghép tế bào trong điều kiện in vivo.

    Nguyễn Xuân

    --- Bài cũ hơn ---

  • ✅ Các Hội Chứng ( Suy Giảm ) Tế Bào Gan Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Chức Năng Gan Bảo Nguyên Có Tác Dụng Gì ?
  • Chức Năng Của Ngân Hàng Trung Ương
  • Nhóm Ngân Hàng Thế Giới (Ngân Hàng Thế Giới
  • Ngân Hàng Thế Giới (World Bank)
  • Không Bào Và Dịch Tế Bào

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 9. Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo) Sinh 10 Bai 9 10 Ok Doc
  • Nhân Và Không Bào Của Tế Bào Thực Vật
  • Nêu *gắn Gọn* Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Không Bào, Lizõôm, Màng Sinh Chất, Thành Tế Bào, Chất Nền Ngoại Bào Câu Hỏi 1288074
  • Tại Sao Chúng Ta Cần Một Máy Bào Điện, Chức Năng, Thiết Kế Và Nguyên Tắc Hoạt Động Của Nó
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Thiết Kế Là Gì?
  • Không bào là khoảng không gian được hiện ra trong tế bào chất như những túi chứa nước và các chất tan hoặc tích chứa nước do tế bào thải ra. Không bào được bao quanh màng nội chất. Các tế bào nhân thực có nhiều loại không bào tương ứng với chức năng khác nhau như ở nguyên sinh động vật có không bào co bóp, không bào tiêu hoá, không bào dự trữ thức ăn. Ở tế bào thực vật, có các không bào thẩm thấu, không bào đạm (hạt alơrôn, không bào dầu (giọt dầu), chúng còn gọi là không bào thực phẩm. Tất cả các không bào của cùng một tế bào hoặc một cơ thể được coi như là một hệ thống gọi là hệ thống không bào.

    Thành phần chính của không bào chứa dịch tế bào của thực vật là nước và các chất hoà tan khác như muối, đường đơn, axit hữu cơ và những hợp chất hoà tan khác như protein, các chất béo, tanin, các loại anthoxyan hay các nhóm sắc tố đó có trong dung dịch của không bào tạo ra màu sắc của hoa, quả, lá mùa thu. Chúng tạo ra dung dịch thật hoặc trạng thái keo trong không bào. Những chất có mặt trong không bào, được liệt vào những chất thứ sinh. Chúng có thể là chất dự trữ được dùng vào các hoạt động sống, hoặc những sản phẩm cuối cùng của trao đổi chất. Có hai loại không bào: loại tương đối kiềm thường nhuộm màu cam đỏ nhạt với đỏ trung bình và loại axit rõ rệt, màu đỏ lam nhạt. Nồng độ của dịch tế bào thay đổi và khi một chất tích luỹ quá độ bảo hoà của nó thì có thể kết tinh được. Nồng độ có thể tăng lên khi các hạt khô. Nếu ta đặt tế bào vào dung dịch ưu trương, sẽ dấn tới hiện tượng co nguyên sinh của tế bào. Các không bào thay đổi hình dạng và kích thước gắn liền với giai đoạn phát triển và trạng thái trao đổi chất trong tế bào. Ở các tế bào trưởng thành có một không bào duy nhất nằm trung tâm tế bào, ngược lại tế bào chất và nhân nằm sát vách tế bào. Ở các tế bào mô phân sinh không bào thường nhiều và nhỏ, nhưng ở một số tế bào mô phân sinh của tầng sinh mạch, có một hệ thống không bào lớn. Không bào nhỏ bé của tế bào mô phân sinh tăng về kích thước qua hoạt động sống hoặc chứa các sản phẩm trao đổi chất cuối cùng. Độ nhớt dịch tế bào có thể kết hợp với sự có mặt của chất keo, đôi khi chúng xuất hiện dạng gel thụ động. Không bào có chứa các hợp chất tanin thường có độ nhớt cao. Ở các tế bào mô phân sinh, không bào thường nhiều và nhỏ, nhưng nó tăng kích thước qua sự hấp thụ nước và dần dần hợp lại với nhau, khi tế bào lớn lên và già đi. Như vậy, sự tăng trưởng của một tế bào thực vật thường kéo theo sự tăng số lượng dịch tế bào và mở rộng vách của nó. Chất nguyên sinh của nó có thể phát triển về số lượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội
  • Câu 1. Thành Tế Bào Vi Khuẩn Có Chức Năng Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Sinh Lớp 10 Bài 7: Tế Bào Nhân Sơ
  • Sự Khác Biệt Giữa Chức Năng Và Chức Năng Là Gì?
  • Cài Đặt Phiên Bản Của Trình Duyệt Yandex Với Chức Năng Bảo Vệ. Bảo Vệ Công Nghệ Trong Yandex Browser
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Các Bộ Phận Laptop
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Máy Mài Nền Bê Tông
  • Câu 1. Thành tế bào vi khuẩn có chức năng gì?

    Câu 2. Tế bào chất là gì?

    Câu 3. Nêu chức năng của roi và lông ở tế bào vi khuẩn.

    Câu 4. Nêu vai trò của vùng nhân đối với tế bào vi khuẩn.

    Câu 5. Tế bào vi khuẩn có kích thước nhỏ và cấu tạo đơn giản đem lại cho chúng ta ưu thế gì?

    Trả lời:

    Câu 1. Thành tế bào vi khuẩn có độ dày từ 10 – 20nm, được cấu tạo bằng chất peptiđôglican (pôlisaccarit liên kết với peptit). Thành tế bào vi khuẩn có chức năng quy định hình dạng của tế bào và bảo vệ tế bào.

    Câu 2. Tế bào chất nằm giữa màng sinh chất và vùng nhân (hoặc nhân tế bào). Tế bào chất ở mỗi tế bào đều gồm 2 thành phần chính: bào tương (một dạng keo bán lỏng chứa nhiều hợp chất hữu cơ và vô cơ khác nhau) và ribôxôm cùng một số cấu trúc khác.

    Tế bào chất của vi khuẩn không có hệ thống nội màng cùng các bào quan có màng bao bọc và khung tế bào. Trong tế bào chất của vi khuẩn có các hạt ribôxôm là bào quan được cấu tạo từ prôtêin, ARN và không có màng bao bọc. Đây là nơi tổng hợp nên các loại prôtêin của tế bào. Ribôxôm của vi khuẩn có kích thước nhỏ hơn ribôxôm của tế bào nhân thực, ở một số vi khuẩn, trong tế bào chất còn có các hạt dự trữ.

    Câu 3. Chức năng của roi và lông ở tế bào vi khuẩn:

    Một số loài vi khuẩn còn có các cấu trúc được gọi là roi (tiên mao) và lông (nhung mao). Roi có chức năng giúp vi khuẩn di chuyển. Một số vi khuẩn gây bệnh ở người thì lông giúp chúng bám được vào bề mặt tế bào người.

    Câu 4. Vùng nhân của tế bào sinh vật nhân sơ chứa vật chất di truyền, có chức năng truyền đạt thông tin từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vùng nhân của tế bào nhân sơ chỉ chứa một phân tử ADN dạng vòng và không được bao bọc bởi các lớp màng, vì thế tế bào loại này được gọi là tế bào nhân sơ (chưa có nhân hoàn chỉnh với lớp màng bao bọc). Ngoài ADN ở vùng nhân, một số tế bào vi khuẩn còn có thêm nhiều phân tử ADN dạng vòng nhỏ khác được gọi là plasmit. Nhưng plasmit không phải là vật chất di truyền, rất cần thiết cho tế bào nhân sơ.

    Câu 5. Kích thước nhỏ và cấu tạo đơn giản đem lại nhiều ưu thế cho tế bào vi khuẩn.

    – Vì kích thước nhỏ và cấu tạo đơn giản nên các loài vi khuẩn có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, dẫn đến phân bào nhanh.

    – Kích thước tế bào nhỏ thì việc vận chuyển các chất từ nơi này đến nơi khác trong tế bào hoặc ra môi trường sẽ nhanh.

    – Tỉ lệ s/v (diện tích/thể tích) lớn sẽ có khả năng trao đổi chất và năng lượng với môi trường nhanh hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Sinh Học 10 Bài 8: Tế Bào Nhân Thực Giáo Án Điện Tử Môn Sinh Học Lớp 10
  • Các Thành Phần Của Tế Bào
  • Phân Biệt Tế Bào Nhân Sơ Và Nhân Thực
  • Plasmid Là Gì? Plasmid Của Vi Khuẩn Là Gì? Ứng Dụng Plasmid
  • Bài 15. Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo)
  • Tế Bào Thần Kinh Và Tế Bào Cơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Hiện Chức Năng Mới Của Tế Bào Thần Kinh
  • Sinh Lý Học Tế Bào Thần Kinh
  • Tế Bào Thần Kinh Purkinje Chức Năng Và Đặc Điểm Của Họ / Khoa Học Thần Kinh
  • Ghép Tế Bào Gốc Trung Mô Giúp Giảm Tích Tụ Amyloid
  • Đặc Điểm Của Tế Bào Thần Kinh
  • Chúng ta sẽ điểm qua một chút về lịch sử nghiên cứu về tế bào. Tài liệu đầu tiên có đề cập tới hệ thần kinh là của người Ai Cập cổ.3500 trước công nguyên trong một tài liệu viết tay có tên ” The Edwin Smith Surgical Papyrus” lần đầu tiên đã sử dụng từ “brain” (nghĩa là não), cùng với sự mô tả bao quát về não, được ví như tấm phim và có những nếp nhăn trên bề mặt

    Đơn vị cơ bản của mô sống là tế bào. Các tế bào được chuyên biệt hóa về cấu tạo và sinh lý để thực hiện những nhiệm vụ khác nhau. Tất cả các tế bào đều có một điện thế khác nhau trên màng. Tế bào thần kinh và tế bào cơ rất dễ bị kích thích. Màng tế bào của chúng có thể sản sinh ra các xung điện hóa và truyền dẫn chúng dọc màng tế bào. Trong tế bào cơ hiện tượng điện này thường kèm theo sự co cơ của tế bào. Trong các tế bào khác như tế bào tuyến, tế bào có lông, điện thế màng đóng vai trò quan trọng trong trong việc thực hiện chức năng của chúng. Nguồn gốc của điện thế màng tế bào của tế bào não và cơ là hoàn toàn giống nhau. Trong cả hai loại tế bào, màng tế bào phát sinh một xung khi bị kích thích. Xung này được truyền đi ở cả hai loại tế bào này theo cùng một cách thức.

    Các bộ phận chính của tế bào thần kinh

    Tế bào thần kinh có thể được chia thành 3 phần chính theo cấu tạo và chức năng:

    (1) Thân tế bào, còn được gọi là soma;

    (2) Nhiều tua ngắn phát triển từ soma, được gọi là đuôi gai;

    (3) sợi thần kinh đơn dài, gọi là sợi trục ( axon) .

    Chúng được miêu tả ở hình 1

    Thân nơron cũng tương tự như tất cả các loại tế bào khác. Thân nơron nhìn chung bao gồm nhân tế bào, ty thể, thể lưới nội chất , ribosom và các bào quan khác. Tế bào thần kinh chứa 70-80% nước; vật chất khô có khoảng 80% protein và 20% lipid. Thể tích của tế bào vào khoảng 600 tới 70.000 µm³ .

    Tua ngắn của thân, hay đuôi gai tiếp nhận các xung từ các tế bào khác và truyền chúng tới thân tế bào (tín hiệu hướng tâm). Tác động của những xung này có thể là kích thích hoăc ức chế. Một nơron vỏ não (hình 2.2) có thể tiếp nhận các xung này từ hàng chục, thậm chí hàng trăm nghìn nơron.

    Sợi thần kinh dài, sợi trục, truyền tín hiệu từ thân tế bào tới tế bào thần kinh khác hoặc tới một tế bào cơ. Đường kính của sợi trục của động vật có vú thường trong khoảng 1-20 µm. Một số động vật sợị trục có thể dài hàng mét. Sợi trục có thể được bao bọc bởi một lớp cách điện dược gọi là vỏ myelin, được tạo bởi các tế bào soan (Schwann). Vỏ myelin không liền mạch mà được chia thành từng đoạn. Giữa các tế bào soan là các eo (nút) Ranvier .

    Màng tế bào

    Tế bào được bao bọc kín bởi màng tế bào mỏng từ 7,5-10 nm. Cấu trúc và thành phần cấu tạo tương đồng với màng bong bóng xà phòng. Một trong những thành phần chính là axit béo. Các axit béo cấu tạo hầu hết các màng tế bào được gọi là phosphoglycerides .Một phosphoglycerides cấu tạo từ axit photphoric và axit béo gọi là glixerit (xem hình 2.3). Đầu của phân tử này, phosphoglyceride, ưa nước (liên kết với nước). Đuôi của axit béo cấu tạo từ chuỗi hidrocacbon kỵ nước (đẩy nước).

    Nến phân tử axit béo được đặt trong nước, chúng tạo thành các cụm nhỏ, đầu axit liên kết với nước ở phía ngoài, đuôi hydrocacbon kỵ nước ở phía trong. Nếu chúng được đặt cẩn thận trên bề mặt của nước,chúng tự định hướng sao cho tất cả đầu axit nằm trong nước và các đuôi thò ra. Nếu một lớp phân tử khác được thêm vào và thêm chút nước lên đỉnh, đuôi hydrocacbon hướng xuống tầng đầu tiên tạo thành lớp kép. Lớp kép này là cấu trúc cơ sở của màng tế bào.

    Theo quan điểm điện sinh học, các kênh ion cấu tạo thành một phần quan trọng của màng tế bào. Đó là phân tử xuyên màng cho ion natri, kali, clo chảy qua màng tế bào. Luồng của những Ion này là cơ sở của hiện tượng điện sinh học. Hình 2.4 minh họa cấu tạo màng tế bào.

    Synapse

    Chỗ tiếp xúc giữa một sợi trục và tế bào cạnh nó được dùng để giao tiếp gọi là synap (khớp thần kinh). Thông tin xuất phát từ thân tế bào đơn hướng qua khớp thần kinh, đầu tiên dọc theo sợi trục và sau đó ngang qua khớp thần kinh tới dây thần kinh tiếp theo hay tế bào cơ. Phần synap nằm trên sợi trục được gọi là màng trước synap. Phần nằm trên phía giáp tế bào gọi là màng sau synap. Giữa 2 màng là khe synap dày 10-50 nm. Trên thực tế các xung truyền qua synap theo 1 hướng, từ màng trước tới màng sau, bởi vì chất truyền đạt từ màng trước synap kích hoạt màng sau synap (hình 2.5). Khớp thần kinh giữa dây thần kinh vận động và cơ được gọi là khớp nối thần kinh-cơ

    A) Bọng tiếp hợp chứa chất truyền đạt.

    B) Khi kích hoạt đạt được ở màng trước, chất truyền đạt thần kinh được giải phóng và nó khuếch tán qua khe synsp để kích hoạt màng sau.

    Có ba loại cơ trong cơ thể:

    – Cơ trơn,

    – Cơ vân,

    – Cơ tim.

    Cơ trơn là cơ vô thức (chúng không được điều khiển bởi ý thức ). Tế bào của chúng có chiều dài khác nhau nhưng vào cỡ 0,1mm. Cơ trơn tồn tại trong bộ máy tiêu hóa, thành khí quản, tử cung, bàng quang. Sự co thắt cơ trơn được điều khiển bởi não thông qua hệ thần kinh tự chủ.

    Cơ vân, còn được gọi là cơ xương vì chúng thường gắn với xương, được tạo thành từ số lượng lớn các sợi, chiều dài từ 1-40 mm và đường kính 0,01-0,1mm. Mỗi sợi tạo 1 tế bào cơ và được phân biệt bởi các dải sáng tối xen kẽ. Đó cũng là nguồn gốc của từ “vân”, thuật ngữ cho cơ xương.(Xem hình 2.6).

    Sợi cơ vân tương ứng với 1 sợi thần kinh không có bao myelin nhưng đươc phân biệt một về điện sinh lý đỗi với tế bào thần kinh bởi hệ thống các ống tuần hoàn (TTS), 1 cấu trúc phức tạp, liên tục từ ngoài màng tới phía bên trong của cơ. Sự truyền lan liên tục (của) xung qua màng bề mặt vào trong sợi cơ qua TTS, tạo thành các trigger của co cơ. Sự có mặt của TTS ảnh hưởng tới sự dẫn của sợi cơ làm cho có khác biệt nhỏ so với truyền dẫn trên sợi thần kinh không có bao myelin. Cơ vân được liên kết với xương thông qua dây chằng. Những bó cơ như vậy có thể điều khiển được và tạo thành một phần quan trọng của cơ quan nâng đỡ và vận động.

    Cơ tim cũng là cơ vân, nhưng khác cơ vân: nó không chỉ hoạt động vô thức, mà khi được kích thích nó phát ra 1 xung điện dài hơn ở cơ xương, khoảng 300 ms. Vì lẽ đó, sự co cơ cũng lâu hơn. Hơn nữa, cơ tim có một đặc tính đặc biệt: Hoạt động điện (của) một tế bào cơ lan truyền tới tất cả các tế bào cơ lân cận khác, do một hệ thống phức tạp của các chỗ tiếp giáp của các tế bào.

    Điện thế màng (Vm) của một tế bào dễ bị kích thích được định nghĩa là điện thế ở mặt trong màng (Φi) so với mặt ngoài màng, Vm = (Φi) – (Φo). Định nghĩa này độc lập với nguyên nhân của điện thế, và dù điện thế màng có là hằng số, có chu kì hoặc không có chu kì trong hoạt động hay không. Những dao động ở điện thế màng có thể được phân loại theo đăc tính của chúng theo nhiều cách khác nhau. Hình 7 chỉ ra các loại tế bào thần kinh được phát triển bởi Theodore Holmes Bullock (1959). Theo Bullock, quá trình truyền điện thế màng có thể gồm điện thế nghỉ và điện thế thay đổi nhờ hoạt động. Điện thế thay đổi có thể được phân thành các loại:

    1. Điện thế điều hòa nhịp: hoạt động bản tính của tế bào mà xuất hiện không có sự kích thích ngoài.

    2. Điện thế chuyển đổi qua màng tế bào, nhờ có các kích thích bên ngoài. Chúng bao gồm phát sinh điện thế gây ra bởi receptor hoặc điện thế synap thay đổi phát sinh ở synap.

    3. Khi có một chuỗi các kích thích, sẽ có đáp ứng được sinh ra. Nếu biên độ của nó không vượt quá ngưỡng, đáp ứng không được lan truyền (trương lực điện). Nếu đáp ứng đủ mạnh, một xung thần kinh (xung điện thế hoạt động) sẽ được sản sinh tuân theo theo quy luật “tất cả hoặc không” và quá trình không bị suy giảm dọc sợi trục hoặc sợi cơ.

    Nếu một tế bào thần kinh được kích thích, điện truyền màng sẽ thay đổi. Sự kích thích có thể là để kích thích (chẳng hạn, khử cực, mô tả bởi một sự thay đổi điện thế bên trong tế bào so với bên ngoài màng theo hướng dương và sau đó bởi sự giảm điện thế nghỉ âm một cách thông thường) hoặc ức chế (chẳng hạn, tái cực, mô tả bởi sự thay đổi điện thế bên trong tế bào so với bên ngoài theo hướng âm, và sau đó bởi sự tăng biên độ điện thế màng).

    Sau khi bị kích thích, điện thế màng trở về giá trị nghỉ ban đầu của nó.

    Nếu sự kích thích màng không đủ gây ra điện thế truyền màng để đạt tới ngưỡng thì màng sẽ không được kích hoạt. Sự đáp ứng của màng cho loại kích thích này mang tính bị động.

    Nếu sự kích thích có tác dụng kích thích đủ mạnh, điện thế truyền màng đạt tới ngưỡng và màng tạo ra một xung điện đặc trưng là xung thần kinh. Đáp ứng điện thế này theo sau một xung đặc trưng không phụ thuộc cường độ ngưỡng tác nhân kích thích. Hay xung hoạt động của một màng tế bào hoạt động tuân theo luật “tất cả hoặc không”. Điện của xung thần kinh được gọi điện thế hoạt động. Nếu xung động thần kinh được ghi một cách từ tính, nó có thể đươc gọi là dòng hoat động.

    Điện thế hoạt động là sự biến đổi rất nhanh điện thế nghỉ ở màng tế bào, từ phân cực sang mất phân cực, đảo cực và tái đảo cực.

    Mật độ của ion (Na+) ngoài màng tế bào cao gấp mười lần bên trong màng, trong khi đó mật độ ion (K+) bên trong màng cao gấp 30 lần bên ngoài. Khi màng tế bào bị kích thích điện thế màng tăng lên 20 mV và đạt tới mức ngưỡng – vì vậy, khi điện áp màng thay đổi từ -70 mV tới -50 mV (đây là những giá trị bằng số minh họa và chung) tính thấm của ion natri và kali qua màng thay đổi. Trước hết, tính thấm của ion natri tăng rất nhanh, cho phép những ion natri chảy từ bên ngoài đến bên trong, làm cho bên trong dương tính hơn. Bên trong đạt tới điện thế khoảng +20 mV. Sau đó, tính thấm của ion kali tăng từ từ cho phép ion kali chảy từ bên trong ra bên ngoài, như vậy trả lại điện thế trong tế bào về giá trị nghỉ. Giá trị cực đại của dao động điện thế màng trong suốt quá trình hoạt động khoảng 100mV; khoảng thời gian của xung thần kinh là 1ms, được minh họa trên hình 2.9. Khi nghỉ sau quá trình hoạt động, bơm Na-K hồi phục nồng độ ion bên trong và ngoài màng với giá trị ban đầu.

    Quá trình điều chỉnh và thích ứng biểu thị sự thích nghi của tế bào với kích thích lặp lại hay liên tục. Facilitation biểu thị sự tăng tính dễ kích thích của tế bào; vì lẽ đó có sự giảm ngưỡng. Latency biểu hiện độ trễ giữa hai sự kiện. Trong văn cảnh hiện tại, nó nói tới thời gian giữa áp dụng một xung kích thích và việc bắt đầu sự kích hoạt. Một khi sự kích hoạt đã được bắt đầu, màng không nhạy đối với sự kích thích mới, không quan trọng biên độ kích thích lớn thế nào. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn bất ứng tuyệt đối. Gần kết thúc xung kích hoạt, tế bào được có thể kích hoạt, nhưng chỉ với một sự kích thích mạnh hơn bình thường. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn trơ tương đối.

    A) Nguồn của xung hoạt động có thể là dây thần kinh hay tế bào cơ. Tương ứng nó được gọi là một xung động thần kinh hay một xung cơ.

    B) Số lượng điện đo từ xung hoạt động có thể là điện thế hay dòng điện. Tương ứng sự ghi được gọi là một điện thế hoạt động hay một dòng hoạt động.

    Hermann Ludvig (1872, 1905) đề xuất một cách chính xác rằng sự kích truyền trong một sợi trục như một xung động thần kinh không suy hao. Ông cho rằng sự chênh lệch điện thế giữa vùng hưng phấn và không hưng phấn của một sợi thần kinh có thể gây ra dòng nhỏ, ngày nay chúng được gọi là những dòng mạch nội tại, chảy qua giữa chúng theo một hướng và kích thích vùng không hưng phấn.

    Dù những đầu vào kích thích có thể nhìn thấy trên đuôi gai hoặc thân, sự kích hoạt thường chỉ bắt nguồn từ thân. Sự kích hoạt trong dạng của xung động thần kinh (thế hoạt động) thấy đầu tiên ở gốc sợi trục – đoạn bắt đầu sợi trục, thường gọi là đồi nhỏ sợi trục. Từ đó nó được truyền dọc sợi trục. Nếu sự kích thích được bắt đầu nhân tạo ở đâu đó dọc theo sợi trục,nó lan truyền theo cả hai hướng từ chỗ kích thích . Vận tốc truyền dẫn phụ thuộc đặc tính điện và hình dạng của sợi trục.

    Một đặc tính vật lý quan trọng của màng là sự thay đổi độ dẫn natri do hoạt hóa. Giá trị độ dẫn cực đại của natri càng cao, giá trị dòng ion natri cực đại càng lớn và tốc độ thay đổi điện thế màng càng lớn. Kết quả là chênh lệch điện áp lớn lên, tăng dòng nội tại, sự kích thích nhanh hơn, tốc độ dẫn tăng lên. Sự giảm sút trong điện thế ngưỡng tạo điều kiện thuận lợi cho sự khởi động quá trình hoạt hóa.

    Điện dung của màng trên đơn vị chiều dài xác định số lượng điện tích cần thiết để đạt được một điện thế nhất định và vì vậy tác động đến thời gian cần thiết đạt được đến ngưỡng. Những giá trị điện dung càng lớn, với những tham số khác không đổi,thì vận tốc truyền dẫn chậm hơn.

    Vận tốc cũng phụ thuộc vào điện trở suất của môi trường ở trong và ngoài màng vì những yếu tố này cũng ảnh hưởng đến hằng số thời gian khử cực. Trở kháng càng nhỏ, hằng số thời gian càng nhỏ, vận tốc truyền dẫn càng nhanh hơn. Nhiệt ảnh hưởng lớn đến hằng số thời gian của độ dẫn điện natri; nhiệt độ giảm sẽ làm giảm vận tốc truyền dẫn.

    Hiệu ứng nói trên được phản ánh trong công thức của Muler and Markin (1978) sử dụng một hàm dòng ion phi tuyến lí tưởng. Vận tốc truyền của xung thần kinh trong sợi trục không có bao myelin:

    Trong đó v = vận tốc xung thần kinh

    Vth = điện áp ngưỡng

    cm = điện dung của màng trên một đơn vị chiều dài

    d = đường kính sợi trục [µm]

    (A) Độ dẫn liên tục trong sợi trục không có bao myelin;

    (B) Sự truyền dẫn nhảy bước trong một sợi trục có bao myelin.

    Berne RM, Levy MN (1993): Physiology, 3rd ed., 1091 pp. C. V. Mosby, St. Louis.

    Bullock TH (1959): Neuron doctrine and electrophysiology. Science 129:(3355) 997-1002.

    Davis LJ, Lorente de Nó R (1947): Contributions to the mathematical theory of the electrotonus. Stud. Rockefeller Inst. Med. Res. 131: 442-96.

    Elsberg CA (1931): The Edwin Smith surgical papyrus. Ann. Med. Hist. 3: 271-9.

    Ganong WF (1991): Review of Medical Physiology, 15th ed., Appleton & Lange, Norwalk, Conn.

    Guyton AC (1992): Human Physiology and Mechanisms of Disease, 5th ed., 690 pp. Saunders, Philadelphia.

    Hermann L (1872): Grundriss der Physiologie, 4th ed., (Quoted in L Hermann (1899): Zur Theorie der Erregungsleitung und der elektrischen Erregung. Pflüger Arch. ges. Physiol. 75: 574-90.)

    Hermann L (1905): Lehrbuch der Physiologie, 13th ed., 762 pp. August Hirschwald, Berlin.

    Kandel ER, Schwartz JH (1985): Principles of Neural Science, Elsevier Publishing, New York.

    Lorente de Nó R (1947): A Study of Nerve Physiology, 293 pp. Rockefeller Institute for Medical Research, New York.

    Muler AL, Markin VS (1978): Electrical properties of anisotropic nerve-muscle syncytia – II. Spad of flat front of excitation. Biophys. 22: 536-41.

    Nunez PL (1981): Electric Fields of the Brain: The Neurophysics of EEG, 484 pp. Oxford University Press, New York.

    Patton HD, Fuchs AF, Hille B, Scher AM, Steiner R (eds.) (1989): Textbook of Physiology, 21st ed., 1596 pp. W. B. Saunders, Philadelphia.

    Ruch TC, Patton HD (eds.) (1982): Physiology and Biophysics, 20th ed., 1242 pp. W. B. Saunders, Philadelphia.

    Schadé JP, Ford DH (1973): Basic Neurology, 2nd ed., 269 pp. Elsevier Scientific Publishing, Amsterdam.

    Thompson CF (1985): The Brain – An Introduction to Neuroscience, 363 pp. W. H. Freeman, New York.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đo Tốc Độ Dẫn Truyền (Vận Động, Cảm Giác) Của Thần Kinh Ngoại Vi Bằng Điện Cơ
  • Đo Tốc Độ Dẫn Truyền Của Thần Kinh Ngoại Vi Bằng Điện Cơ
  • Phục Hồi Chức Năng Tổn Thương Thần Kinh Ngoại Vi
  • Kích Thích Dây Thần Kinh Phế Vị Làm Giảm Các Triệu Chứng Trầm Cảm / Tâm Lý Học
  • Cách Kích Thích Dây Thần Kinh Phế Vị Để Tăng Sức Khỏe Tinh Thần Và Cơ Thể / Phúc Lợi
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100