Ba Chức Năng Cơ Bản Của Quân Đội Nhân Dân Trong Thời Bình

--- Bài mới hơn ---

  • Không Thể Xuyên Tạc, Phủ Nhận Chức Năng Lao Động Sản Xuất Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Giúp Bạn Trả Lời Câu Hỏi Sĩ Quan Quân Đội Là Gì?
  • Bài 5. Luật Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Luật Công An Nhân Dân
  • Bài 5. Luật Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Luật Công An Nhân Dân Gdqp Nhom 2 11A5 Pptx
  • Bài 5. Luật Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Luật Công An Nhân Dân Quoc Phong Bai 5 Lop 12 Pptx
  • Thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất, trong thời bình, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

    Nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tá Vũ Khanh, Viện Chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng có bài viết: Quân đội nhân dân thực hiện tốt ba chức năng trong thời bình.

    Tàu Cảnh sát biển Việt Nam 8002 do Tổng công ty Sông Thu (Bộ Quốc phòng) đóng. Ảnh: TTXVN

    Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân ngày nay) được thành lập theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Kể từ đó, quân đội đã sát cánh cùng toàn Đảng, toàn dân, lập nên những chiến công hiển hách, đánh đuổi thực dân, đế quốc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

    Những năm tháng trong thời bình, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Các thế hệ sĩ quan, chiến sĩ quân đội vẫn kế tiếp nhau phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ”, luôn làm đúng chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất.

    Thực hiện chức năng đội quân chiến đấu: Quân đội nhân dân được tổ chức theo hướng tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài phù hợp, thường xuyên thực hành huấn luyện, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

    Quân đội đã tập trung xây dựng về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, chủ động đấu tranh triệt tiêu các yếu tố “tự diễn biến” trong nội bộ, làm thất bại âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch. Xây dựng và hoàn thiện các kế hoạch tác chiến chiến lược; điều chỉnh cơ bản thế bố trí chiến lược trên các hướng trọng điểm. Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng đối phó với các tình huống xảy ra. Thực hiện chấn chỉnh mạnh mẽ tổ chức quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, tập trung xây dựng các lực lượng, ưu tiên các đơn vị thường trực làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

    Quân đội đã thực hiện tốt việc phối hợp với các ngành, các địa phương xây dựng, quản lý và nâng cao chất lượng huấn luyện lực lượng dự bị động viên, xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự ở cơ sở có đủ số lượng, chất lượng ngày càng cao. Tiếp tục đổi mới nội dung chương trình huấn luyện đào tạo kết hợp với chấn chỉnh, củng cố hệ thống tổ chức nhà trường quân đội. Nâng cao chất lượng huấn luyện của các đơn vị trong toàn quân sát với yêu cầu, nhiệm vụ và đối tượng tác chiến; tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu cho các đơn vị. Nghiên cứu phát triển khoa học quân sự phù hợp với sự phát triển của tình hình và điều kiện Việt Nam, đáp ứng yêu cầu tác chiến trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao.

    Thực hiện chức năng đội quân công tác: Quân đội nhân dân luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác vận động quần chúng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, các đơn vị quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận, đi đầu trong xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng sâu, vùng xa biên giới, hải đảo; tích cực tham gia phòng chống lụt, bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ tài nguyên, môi trường… Các đơn vị trong quân đội nhân dân đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương còn nhiều khó khăn trên địa bàn đóng quân, tích cực tham gia xoá đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân.

    Quân đội là lực lượng xung kích trong quá trình giải quyết các hậu quả lâu dài của các cuộc chiến tranh, tham gia tích cực “Chương trình hành động quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn” của Chính phủ, thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh để giải phóng đất đai phục vụ sản xuất.

    Nhiều dự án điều tra, rà phá bom mìn đã được triển khai ở các khu vực bị ô nhiễm nặng nhất và đã đạt được những kết quả tích cực. Hàng chục vạn héc ta đất đai đã được dọn sạch bom, mìn, vật liệu nổ để phục vụ sản xuất. Quân đội cũng tích cực giúp đỡ nạn nhân bom mìn hòa nhập đời sống xã hội. Các đơn vị trong toàn quân đã làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội, xây dựng được hàng vạn Nhà tình nghĩa, Nhà đồng đội… và tìm kiếm, quy tập mộ liệt sĩ trên địa bàn cả 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia.

    Công tác khắc phục hậu quả chất độc trong đó có ô nhiễm chất độc hóa học sau chiến tranh đã được Quân đội nhân dân thực hiện đồng thời với bảo tồn và cải thiện môi trường. Công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường trong quân đội được đẩy mạnh, góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ bảo vệ môi trường.

    Quân đội là lực lượng chủ lực trong nhiệm vụ phòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, coi đây là một nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã làm tốt kế hoạch phòng chống các loại thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, công tác lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức lực lượng, bảo đảm trang bị kỹ thuật, hậu cần, tham mưu, đến trực tiếp cùng với các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương nơi đóng quân triển khai các biện pháp phòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn. Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, nên khi thiên tai hoặc sự cố do con người xảy ra, quân đội đã kịp thời huy động lực lượng, trang thiết bị, chủ động đối phó có hiệu quả, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho Nhà nước và nhân dân.

    Hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Chính phủ phát động, các đơn vị quân đội đã có nhiều hoạt động thiết thực tham gia xây dựng nông thôn mới tại các địa bàn đóng quân. Các đơn vị trong toàn quân đã tích cực tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội của địa phương (như giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ, bưu điện, nhà ở dân cư); tham gia thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu, chuyển giao kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao thu nhập của người dân, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo của địa phương.

    Tham gia thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, thực hiện các phong trào, công tác chính sách xã hội, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hóa mới; tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể vững mạnh xuất sắc, củng cố cơ sở chính trị địa phương vững mạnh toàn diện; tham gia đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng địa bàn an toàn, vững mạnh.

    Thực hiện chức năng đội quân sản xuất: Các đơn vị quân đội đã tận dụng mọi tiềm năng, nguồn lực lao động, đất đai, kỹ thuật…, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tạo nguồn thực phẩm bổ sung tại chỗ, góp phần giữ ổn định và cải thiện đáng kể đời sống vật chất cho bộ đội. Các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc phòng đã sản xuất được một số loại vũ khí, trang bị khí tài phù hợp, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại, yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Nhiều đơn vị làm kinh tế của quân đội đã sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, trở thành các tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn của đất nước, đi đầu trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước…

    Các doanh nghiệp quân đội đã tham gia nhiều dự án công trình trọng điểm của quốc gia như Đường Hồ Chí Minh, đường dây 500 KV Bắc – Nam, đường tuần tra biên giới, dịch vụ dầu khí, tham gia xây dựng nhiều công trình thuỷ điện lớn… Hiện có gần 100 doanh nghiệp quân đội đang tham gia hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế như dịch vụ bay, dịch vụ cảng biển, viễn thông, công nghiệp đóng tàu, trồng cây công nghiệp… Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp này ngày một tăng.

    Các khu kinh tế-quốc phòng của quân đội đã giúp dân khai hoang, cải tạo đồng ruộng, xây dựng ruộng lúa nước, trồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc; hỗ trợ vốn làm nhà và cây con giống, giúp đỡ về kỹ thuật sản xuất, chống di dân và đón nhận dân ở tuyến sau đến định cư, giúp dân ổn định cuộc sống lâu dài; đã phối hợp cùng với các địa phương tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia phát triển văn hóa-xã hội.

    Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao và các phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình hạnh phúc, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nuôi con khỏe, dạy con ngoan, kế hoạch hóa gia đình, xóa mù chữ, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, ăn ở vệ sinh… được nhân dân trên địa bàn tích cực thực hiện, tạo được chuyển biến mới, góp phần từng bước xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

    Các khu kinh tế-quốc phòng đã xây dựng được hàng chục nhà văn hóa, trạm thu phát truyền hình, đưa hệ thống phát thanh truyền hình về thôn bản; triển khai chương trình quân – dân y kết hợp, tổ chức khám chữa bệnh cho hàng chục nghìn lượt người… góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở địa bàn. Trên cơ sở quy hoạch và đầu tư xây dựng các cụm, điểm dân cư sát tuyến biên giới, các khu kinh tế-quốc phòng đã tiến hành tổ chức xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia trong mọi tình huống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mrcb: Phục Hồi Chức Năng Quân Sự Và Bồi Thường Bill
  • Mfa: Chiếm Đoạt Chức Năng Quân Sự
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Lao Động Sản Xuất”
  • Quân Đội Tham Gia Lao Động Sản Xuất, Góp Phần Phát Triển Kinh Tế
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Lao Động Sản Xuất”
  • Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Với Chức Năng Của Đội Quân Công Tác

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Thị Trường Là Gì? Chức Năng Của Quản Lý Thị Trường?
  • Quản Lý Thị Trường Là Gì? Thẩm Quyền Của Cơ Quan Quản Lý Thị Trường?
  • Hướng Dẫn Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Quản Lý Thị Trường Địa Phương
  • Pháp Lệnh Quản Lý Thị Trường Năm 2021
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Sở Công Thương
  • (chiasekienthucnet)-Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân ngày nay) được thành lập. Kể từ đó, ngày này đã trở thành ngày truyền thống của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ khi được thành lập đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội đã luôn sát cánh cùng toàn Đảng, toàn dân, lập nên những chiến công hiển hách, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của nước ngoài, thống nhất Tổ quốc. Trong thời bình, Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tốt vai trò chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất đặc biệt đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.

    Thực hiện chức năng đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; vận động quần chúng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở các cấp, các đơn vị Quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận trên địa bàn đóng quân, luôn xung kích đi đầu trong xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng kinh tế khó khăn của cả nước. Tích cực hướng dẫn chính quyền địa phương, bà con nhân dân trên địa bàn đóng quân xóa đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Đặc biệt Quân đội tích cực tham gia phòng chống lụt, bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ tài nguyên, môi trường…

    Bác Hồ gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc

    Tuy nhiên, với mục đích phi chính trị hóa Quân đội, chia rẽ Quân đội với Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội. Các thế lực thù địch ra sức chống phá bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Bằng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo những truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân, bôi nhọ hình ảnh, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Mặt khác, chúng tán phát tài liệu, tung tin đồn nhảm, gán ghép, ngụy tạo hình ảnh để vu cáo, nói xấu cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân trên các diễn đàn, mạng xã hội… để hòng đạt mục đích của chúng. Đặc biệt thông qua các việc làm của Quân đội với chính quyền, nhân dân địa phương trên cả nước để chúng vu cáo, nói sấu làm mất đi hình ảnh tốt đẹp của Quân đội trong thực hiện chức năng đội quân công tác của mình.

    Do đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải cảnh giác, trước những âm mưu của các thế lực thù địch tẩy chay những thông tin độc hại, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin ảo. Làm tốt công tác tư tưởng, giữ vững mặt trận văn hóa tư tưởng không cho kẻ xấu lợi dụng chống phá. Làm tốt công tác giáo dục làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhận thức rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm, nhiệm vụ đối với mặt công tác quan trọng này. Từ đó, đề cao trách nhiệm của cán bộ, chiễn sĩ trong tổ chức thực hiện; vận dụng cụ thể vào từng công việc, trên từng lĩnh vực, địa bàn, xây dựng mô hình dân vận phù hợp, hiệu quả. Được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức, phương tiện; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn; khắc phục kịp thời tư tưởng lệch lạc, vi phạm kỷ luật dân vận, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Thường xuyên bám sát tình hình địa bàn, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, chủ động tham mưu, đề xuất, với chính quyền cơ sở những biện pháp lãnh đạo sát đúng; tích cực nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

    Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác là truyền thống của Quân đội ta từ khi thành lập đến nay, làm đẹp phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ – Bộ đội của dân. Đây là nhân tố quan trọng để Quân đội thực hiện tốt vai trò chức năng, nhiệm vụ của mình.

    ĐNG (chiasekienthucnet)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Không Thể Xuyên Tạc Chức Năng Lao Động, Sản Xuất Của Quân Đội
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Kỹ Thuật Các Lĩnh Vực
  • Trưởng Phòng Kỹ Thuật Là Gì? Tất Tần Tật Về Vị Trí Technical Manager
  • Phòng Kinh Tế Hạ Tầng
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phòng Kinh Tế Và Hạ Tầng Thuộc Ubnd Cấp Huyện
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Tổ Chức Cơ Sở Đoàn Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Bản Chất, Giai Cấp, Mục Tiêu Lý Tưởng Chiến Đấu, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Bai Giang Doc
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Quản Đốc Sản Xuất Chuyên Nghiệp
  • Bản Mô Tả Công Việc Quản Đốc Sản Xuất
  • Trải qua suốt chiều dài lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, mỗi bước phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam đều gắn liền với quá trình phát triển chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Việc xác định đúng đắn chức năng, nhiệm vụ của quân đội và lãnh đạo quân đội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; luôn giữ vững và phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”; là lực lượng chính trị quan trọng của Đảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cách mạng, của đất nước. Cuốn sách Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Nội dung cuốn sách tập trung trình bày về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua các thời kỳ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Theo các tác giả, chức năng, nhiệm vụ của quân đội là sự phản ánh bản chất chính trị – xã hội của quân đội kiểu mới, đồng thời phản ánh thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam là vấn đề có tính bản chất của một quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong cuốn sách đã viết: Là quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, sinh ra ở một nước nông nghiệp phương Đông, Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là một quân đội nhiều chức năng: chức năng chiến đấu, chức năng công tác, chức năng lao động sản xuất. Trong đó chức năng cơ bản hàng đầu là chức năng chiến đấu. Đặc biệt, các chức năng, nhiệm vụ này của Quân đội nhân dân Việt Nam trong từng thời kỳ (kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ, cứu nước, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa) không ngang bằng nhau nhưng thống nhất trong bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từng chức năng, nhiệm vụ này sẽ được phân tích khá cụ thể trong chương II, chương III, chương IV của cuốn sách.

    Từ góc độ nghiên cứu tổng kết lý luận, phần cuối cuốn sách đã rút ra 4 bài học về xác định và tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân hơn 67 năm xây dựng và trưởng thành. Những bài học đó có ý nghĩa như những vấn đề có tính quy luật của việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, các tác giả đã đưa ra một số dự báo về sự phát triển chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây là những dự báo góp phần quan trọng trong việc định hướng quá trình phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Với những thông tin và nội dung trong cuốn sách, đây sẽ là một kênh tri thức góp phần bổ sung, phát triển, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ quân đội – một vấn đề có tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng trong tình hình hiện nay.

    Cuốn sách gồm 5 chương:

    Chương I: Tiếp cận khoa học về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam

    Chương II: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp

    Chương III: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

    Chương IV: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

    Chương V: Bài học kinh nghiệm và dự báo sự phát triển chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Kỹ Thuật Công Ty Xây Dựng
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Phòng Hạ Tầng Kỹ Thuật
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Của Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp
  • Bạn Đã Biết Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Thiết Kế Nội Thất Là Gì Chưa?
  • Bai 1 Tổ Chức Cơ Sở Đảng Và Nhiệm Vụ Của Chi Uỷ, Bí Thư Chi Bộ
  • Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Công Tác”
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Của Đội Quân Công Tác
  • Quân Đội Thực Hiện Tốt Chức Năng Đội Quân Lao Động Sản Xuất Trong Thời Kỳ Mới
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Lao Động Sản Xuất”
  • Quân Đội Tham Gia Lao Động Sản Xuất, Góp Phần Phát Triển Kinh Tế
  • Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam kể từ khi ra đời đến nay, đã lập nên những chiến công oanh liệt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, Quân đội ta đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, xứng đáng là “đội quân công tác” của Đảng.

    Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” 1, 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn dựa vào dân, sát cánh cùng nhân dân thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quân – dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong các giai đoạn cách mạng của Đảng. Bởi vậy, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Quân đội luôn nhận được sự giúp đỡ của nhân dân để tạo nên nguồn sức mạnh to lớn đánh thắng kẻ thù xâm lược; thực sự là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, xứng danh với tên gọi trìu mến, thân thương “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

    Để thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, các đơn vị Quân đội đã thường xuyên bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc điểm, tình hình và các quy định của địa phương, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội làm cơ sở để xác định nội dung, hình thức công tác Dân vận (CTDV), nhất là trên những địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng dân tộc, tôn giáo. Thông qua thực tiễn bám nắm cơ sở, cán bộ, chiến sĩ (CB,CS) Quân đội đã “cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân”, thực hiện đúng phương châm “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, tạo được niềm tin trong nhân dân, phát huy sức dân để hoàn thành nhiệm vụ. Với tinh thần tích cực, chủ động, 70 năm qua, CTDV trong Quân đội đã có bước đổi mới toàn diện cả về nội dung, hình thức, cách làm, nên đã đạt được những kết quả quan trọng 2. Hoạt động của hệ thống “Chiến sĩ dân vận”, “Tổ CTDV”; kết nghĩa; huấn luyện dã ngoại kết hợp làm CTDV; các chương trình phối hợp; cử cán bộ tăng cường cơ sở các xã biên giới của Bộ đội Biên phòng và CTDV của các binh đoàn, đoàn kinh tế – quốc phòng; Chương trình quân – dân y kết hợp… đã từng bước đi vào nền nếp, có hiệu quả tốt. Trước yêu cầu phát triển của các vùng chiến lược, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã kịp thời quyết định thành lập và chỉ đạo tổ chức hoạt động của các đội công tác tăng cường cơ sở trên các địa bàn trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Quân khu 4 (Đội công tác 123); thể hiện vai trò nòng cốt góp phần xây dựng cơ sở vững mạnh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

    Kết quả nổi bật trong thời gian qua là: CTDV của Quân đội đã góp phần tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các cuộc vận động cách mạng, các phong trào và nhiệm vụ chính trị của địa phương; tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng – an ninh, phát triển kinh tế – xã hội; tích cực giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn. Đồng thời đã chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác của các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc, tình đoàn kết các dân tộc, tình hữu nghị với các nước. Mặt khác, đã thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở; công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn và chính sách dân tộc, tôn giáo trong Quân đội, v.v. Qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường tiềm lực chính trị – tinh thần, xây dựng “thế trận lòng dân”, hậu phương chiến lược vững chắc trong thế phòng thủ chung của cả nước. Thông qua thực tiễn hoạt động, CTDV đã trở thành một trong những phương thức chủ yếu để tăng cường mối quan hệ gắn kết chiến lược giữa Đảng, nhân dân và Quân đội; là điều kiện để giáo dục, rèn luyện tư tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho CB,CS Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng, ở một số đơn vị việc thực hiện chức năng “đội quân công tác” chưa thực sự rõ nét; việc tham mưu, đề xuất phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tiến hành CTDV, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, biên giới có lúc chưa kịp thời; sự phối hợp giữa các tổ chức, ban, ngành, các lực lượng trong giải quyết các vụ việc phức tạp hiệu quả chưa cao, chưa tạo sức mạnh tổng hợp trong tiến hành CTDV; phương thức hoạt động của đội công tác chưa mang tính đột phá, có thời điểm còn thiếu tính chủ động, chưa phù hợp với đối tượng và loại hình đơn vị, v.v.

    Ngày nay, sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu mới với không ít khó khăn, phức tạp. Trong khi đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, chia rẽ sự đoàn kết gắn bó keo sơn giữa nhân dân với Đảng, nhân dân với Quân đội; tình trạng tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi, v.v. Tình hình đó, đang hằng ngày, hằng giờ tác động đến tâm tư, tình cảm của các tầng lớp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ; đồng thời, là những cản trở không nhỏ chi phối đến việc thực hiện chức năng “đội quân công tác” của Đảng trong Quân đội.

    Từ kinh nghiệm thực hiện chức năng “đội quân công tác” 70 năm qua vận dụng vào tình hình hiện nay cho thấy, để nâng cao hiệu quả hoạt động, toàn quân cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho CB,CS về vị trí, vai trò “đội quân công tác” trong tình hình mới. Trước hết, cần nhận thức sâu sắc rằng, thực hiện tốt CTDV chính là biện pháp quan trọng để Quân đội ta hoàn thành chức năng “đội quân công tác” của Đảng và là cơ sở để tăng cường đoàn kết quân – dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ, Quân đội. Bởi vậy, các đơn vị cần làm tốt công tác giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của CTDV trong tình hình mới; làm rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm, nhiệm vụ đối với mặt công tác quan trọng này. Từ đó, đề cao trách nhiệm của mọi CB,CS trong tổ chức thực hiện; vận dụng cụ thể vào từng công việc, trên từng lĩnh vực, địa bàn, xây dựng mô hình dân vận phù hợp, hiệu quả. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức, phương tiện, nhất là hệ thống thông tin đại chúng; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn; nâng cao hiệu quả CTDV với khắc phục kịp thời tư tưởng lệch lạc, vi phạm kỷ luật dân vận, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Đồng thời, xây dựng lề lối, tác phong khoa học, bám sát cơ sở, địa bàn; đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng của đơn vị, gắn với phong trào thi đua yêu nước của địa phương, phong trào thi đua “Dân vận khéo” và các phong trào, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội phát động. Các đơn vị cần tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội”, gắn với Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, với tinh thần “ở đâu có bộ đội, ở đó có CTDV”; giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” – “Bộ đội của dân” trong giai đoạn mới.

    Trước tác động của tình hình kinh tế – xã hội đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân, làm phân tâm đến các tầng lớp xã hội, thay đổi nếp sống ở các vùng, miền, nên CTDV cần tiếp tục đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức cho phù hợp với từng địa bàn và từng loại hình đơn vị. Từ thực tiễn tiến hành CTDV, cần tổng kết, rút kinh nghiệm, xác định mô hình sáng tạo, hiệu quả để phát huy; đồng thời, bám sát sự phát triển của tình hình trên các địa bàn để xác định mô hình, nội dung, biện pháp phù hợp. Trên cơ sở đó và căn cứ vào yêu cầu của CTDV hiện nay, các đơn vị cần đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân; tiếp tục duy trì, mở rộng hoạt động kết nghĩa, huấn luyện dã ngoại kết hợp làm CTDV; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của “Tổ CTDV’; phát huy vai trò của dân quân tự vệ làm CTDV, các tổ, đội công tác liên ngành ở các địa bàn và cán bộ tăng cường cơ sở, nhất là các đồng chí tham gia cấp ủy, chính quyền và Hội đồng nhân dân các cấp. Các đơn vị phải thường xuyên bám sát tình hình địa bàn, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, chủ động tham mưu, đề xuất, hướng hoạt động CTDV về cơ sở; tích cực nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Đồng thời, phối hợp với các địa phương tổ chức tốt các hoạt động bổ ích cho nhân dân trên địa bàn; giải quyết dứt điểm các vụ việc và các hủ tục, tệ nạn, không để tồn đọng kéo dài. Thông qua hoạt động thực tiễn, cần phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trong tiến hành CTDV để nhân rộng cho các đơn vị và mọi CB,CS học tập, noi theo.

    Một trong những nhân tố quyết định để việc thực hiện chức năng “đội quân công tác” mang lại hiệu quả thiết thực là phải tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, trách nhiệm của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp. Theo đó, các cơ quan, đơn vị phải coi CTDV là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, gắn kết quả CTDV với hoạt động của cấp ủy đảng, trách nhiệm của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và các tổ chức, lực lượng; khắc phục những nhận thức lệch lạc, coi CTDV là việc của cơ quan chính trị và cán bộ dân vận chuyên trách. Để làm được điều đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với CTDV trong tình hình mới”; coi đây là cơ sở để xác định nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo để đổi mới CTDV cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng; phát huy vai trò của cơ quan chính trị, cán bộ chính trị trong việc tham mưu, chỉ đạo, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị – xã hội và các lực lượng trên địa bàn trong thực hiện CTDV. Ngoài ra, các đơn vị cần tiếp tục củng cố, kiện toàn hệ thống cơ quan dân vận theo Quy chế CTDV trong Quân đội; tập trung xây dựng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân vận và đội ngũ cán bộ dân vận các cấp, bảo đảm thực hiện tốt vai trò tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức hoạt động CTDV và thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở.

    Để cho dân tin, dân yêu, dân làm theo và giúp đỡ bộ đội, các đơn vị cần giáo dục cho CB,CS làm CTDV phải thực sự là những người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, lối sống trong sạch, giản dị, phong cách quần chúng, gần cơ sở. Bên cạnh sự giáo dục, rèn luyện của tổ chức, mỗi người phải tự giác ghép mình vào các quy định, kỷ luật của đơn vị; tích cực khắc phục khuyết điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhất là học tập Bác ở phong cách quần chúng. Trong quá trình làm CTDV, mọi CB,CS phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của địa phương, kỷ luật Quân đội và kỷ luật trong quan hệ với nhân dân; nói đi đôi với làm, luôn có tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ nhân dân, chia ngọt sẻ bùi trước những khó khăn, vất vả của nhân dân. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, CB,CS Quân đội phải luôn giữ vững phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, từ lời nói đến hành động phải thể hiện sự khiêm tốn, lễ phép trước nhân dân; khắc phục mọi biểu hiện vô cảm, thiếu trách nhiệm với nhân dân.

    Thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác” là bản chất, truyền thống của Quân đội ta, làm thắt chặt tình đoàn kết quân – dân, tô thắm thêm phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” – “Bộ đội của dân”. Đó là nhân tố quan trọng để Quân đội thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

    1 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 234.

    2 – Tổng kết 10 năm hoạt động công tác dân vận (2003 – 2013), toàn quân đã tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương được 44.230 lượt xã, phường; tham gia cấp ủy, chính quyền địa phương 1.261 lượt cán bộ; đào tạo được hơn 1.000 y tá, y sĩ thôn bản; củng cố được 1.553 trạm y tế xã; khám, chữa bệnh cho hơn 4,3 triệu lượt người; mở 234 lớp xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cho 2.370 học sinh; xây dựng 3.730 Nhà Đại đoàn kết, Nhà Đồng đội trị giá hơn 200 tỷ đồng; tham gia giúp dân phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn với 2.700.000 ngày công, di dời 275.600 người dân và 39.350 phương tiện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quân Đội Ta Là Quân Đội Cách Mạng, Đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác, Đội Quân Lao Động Sản Xuất
  • Thực Hiện Chức Năng Đội Quân Chiến Đấu Cuả Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Hiện Nay
  • Vẫn Là “đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác”
  • Quân Đoàn 3 Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác”
  • Bài 2: Đội Quân Chiến Đấu, Công Tác Và Sản Xuất
  • Bản Chất, Truyền Thống Cách Mạng Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Pháp Y Quốc Gia Thuộc Bộ Y Tế Trong Giám Định Tư Pháp
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Khoa Học Hình Sự Thuộc Bộ Công An Trong Giám Định Tư Pháp
  • Viện Pháp Y Quân Đội: Ra Mắt Trung Tâm Giám Định Gene
  • Bàn Giao Chức Trách, Nhiệm Vụ Tổng Biên Tập Và Chức Vụ Bí Thư Đảng Ủy Báo Quân Đội Nhân Dân
  • Bàn Giao Chức Trách Nhiệm Vụ Tổng Biên Tập, Bí Thư Đảng Ủy Báo Qđnd
  • QĐND Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; mang bản chất giai cấp công nhân (GCCN), có tính nhân dân và dân tộc sâu sắc. Theo Thượng tướng Song Hào, bản chất đó được thể hiện qua “trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; có ý chí quyết chiến quyết thắng rất cao, anh dũng chiến đấu, cần cù lao động, tận tụy công tác; thông minh sáng tạo trong hành động; đoàn kết nội bộ chặt chẽ, dân chủ tốt, kỷ luật nghiêm, đoàn kết quân dân thắm thiết; đoàn kết quốc tế chí nghĩa chí tình; ham học tập, cầu tiến bộ; tích cực rèn luyện, không ngừng nâng cao bản chất cách mạng và năng lực hành động; chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, cần kiệm liêm chính trong xây dựng và chiến đấu, làm tròn nhiệm vụ, đánh thắng mọi kẻ thù”.

    Bản chất và truyền thống cách mạng của QĐND Việt Nam là sự tiếp nối và phát huy truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ củng cố và phát huy, đồng thời, “thấm nhuần bản chất cách mạng kiên quyết, triệt để của GCCN mà Đảng là đội tiên phong”, trở thành một nét đặc trưng riêng có của QĐND Việt Nam.

    Luận giải về bản chất, truyền thống cách mạng của QĐND Việt Nam, Thượng tướng Song Hào khẳng định:

    Thứ nhất, Quân đội ta luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.

    Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, bởi QĐND Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo. Đảng ta đã trang bị cho quân đội bản chất cách mạng của GCCN; vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối nghệ thuật quân sự của Đảng, của chiến tranh nhân dân vào rèn luyện quân đội. Đảng mang truyền thống đấu tranh anh hùng của dân tộc để bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ và đem truyền thống đoàn kết nhất trí của Đảng giáo dục, tăng cường đoàn kết nội bộ quân đội, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế. Thượng tướng Song Hào chỉ rõ, Quân đội ta là “một đội quân cách mạng, một đội quân kiểu mới do Đảng ta, một Đảng mác-xít – lê-nin-nít chân chính xây dựng, lãnh đạo và giáo dục”. Do đó, cần phải “đặt quân đội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội”. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và bản chất GCCN, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, quyết định sự trưởng thành và lớn mạnh của QĐND Việt Nam.

    Cũng theo Thượng tướng Song Hào, biểu hiện rõ nét của lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân là: Quân đội ta phải kiên quyết thực hiện thắng lợi đường lối chính trị-quân sự, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nắm vững và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của quân đội; luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, tích cực, chủ động tiến công địch và xây dựng mình theo đường lối, nguyên tắc của Đảng; luôn kính trọng, quý mến và giữ nghiêm kỷ luật với nhân dân, coi việc giúp đỡ nhân dân, bảo vệ nhân dân là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình… Lòng trung thành tuyệt đối của quân đội với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa vừa là một phẩm chất cao quý của quân đội cách mạng, vừa là cội nguồn sức mạnh, làm nên những chiến thắng vang dội của QĐND Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập dân tộc, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân.

    Thứ hai, có ý chí quyết chiến quyết thắng, anh dũng chiến đấu, cần cù lao động, tận tụy công tác, thông minh sáng tạo.

    Truyền thống quyết chiến quyết thắng của QĐND Việt Nam bắt nguồn từ lòng tin tưởng tuyệt đối vào lý tưởng và mục tiêu cách mạng cao quý, vào con đường và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng; từ ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, từ tinh thần cách mạng triệt để, tư tưởng cách mạng tiến công của GCCN kết hợp với truyền thống đấu tranh anh hùng bất khuất của dân tộc ta. Đó là sự tiếp nối, phát triển từ truyền thống đấu tranh anh hùng của dân tộc, của giai cấp, của Đảng, là sự kết tinh tinh thần yêu nước, chung đúc ý chí cách mạng kiên cường và tinh thần sáng tạo của các LLVT nhân dân.

    Truyền thống quyết chiến quyết thắng của QĐND Việt Nam được thể hiện ở quyết tâm “đâu có giặc là ta cứ đi”; bất cứ nơi nào Tổ quốc cần, Quân đội ta đều có mặt. Thượng tướng Song Hào cho rằng, Quân đội ta phải không ngừng được rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, mưu trí và sáng tạo trong chiến đấu, tìm ra cách đánh phù hợp với điều kiện vũ khí trang bị, tổ chức chiến trường và truyền thống đánh giặc của tổ tiên; phải biết đánh giá đúng kẻ địch, tìm cách hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch để đánh địch, luôn nêu cao tinh thần mưu trí, dũng cảm và táo bạo, khiến địch bất ngờ, giành thế chủ động trên chiến trường, đẩy địch vào thế bị động, lúng túng, dẫn đến thất bại. Ý chí quyết chiến quyết thắng của QĐND Việt Nam còn thể hiện rõ trong lao động sản xuất và công tác. Thực hiện bất cứ nhiệm vụ gì, trong bất luận hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ cũng luôn dũng cảm, cần cù, tận tụy, đem hết tinh thần, sức lực, trí tuệ, tài năng, kiên quyết hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.

    Thứ ba, đoàn kết nội bộ chặt chẽ, dân chủ tốt, kỷ luật nghiêm.

    Đoàn kết thống nhất trong QĐND Việt Nam là cơ sở để xây dựng và phát triển. Thượng tướng Song Hào khẳng định: “Quân đội ta luôn luôn đoàn kết chặt chẽ như keo sơn; cán bộ, chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, trên dưới một lòng, đồng cam cộng khổ, thường xuyên thực hiện dân chủ, không ngừng đề cao kỷ luật tự giác nghiêm minh, thống nhất ý chí, thống nhất hành động”. Truyền thống đoàn kết, dân chủ, kỷ luật của Quân đội ta kế thừa truyền thống đoàn kết dân tộc, ý chí đoàn kết, thống nhất hành động của Đảng, thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

    Theo Thượng tướng Song Hào, Quân đội ta luôn đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở đường lối, chủ trương, nguyên tắc của Đảng, lợi ích của nhân dân và chức năng, nhiệm vụ của quân đội, trên cơ sở mối quan hệ bình đẳng về chính trị và tình thương yêu giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới. Toàn quân kết thành một khối thống nhất, vững chắc. Để thực hiện được điều đó, cán bộ, chiến sĩ phải luôn chân thành giúp đỡ lẫn nhau, lấy lý tưởng, mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ cách mạng, lấy kinh nghiệm chiến đấu, công tác và cuộc sống để bồi dưỡng lẫn nhau, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ.

    Cùng với tăng cường đoàn kết nội bộ là phát huy dân chủ, rèn luyện kỷ luật trong quân đội; dân chủ thể hiện mối quan hệ bình đẳng về chính trị trong QĐND Việt Nam. Trên cơ sở lấy kỷ luật làm sức mạnh của quân đội, Thượng tướng Song Hào chỉ rõ, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng phải giữ nghiêm kỷ luật. Cán bộ, chiến sĩ quân đội phải phục tùng sự lãnh đạo, chỉ huy, triệt để chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, làm tròn chức trách, nhiệm vụ của quân nhân; chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội; kiên quyết hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Thượng tướng Song Hào khẳng định: “Kỷ luật của Quân đội ta vừa nghiêm minh, vừa tự giác”.

    Thứ tư, đoàn kết quân dân gắn bó.

    Theo Thượng tướng Song Hào, QĐND Việt Nam từ nhân dân mà ra, do đó Quân đội ta “luôn luôn đoàn kết khăng khít với nhân dân; toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân; dựa vào dân, được nhân dân chăm sóc, giáo dục, phối hợp cùng nhân dân chiến đấu; hết lòng bảo vệ, quý trọng và giúp đỡ nhân dân”. Truyền thống quý báu đó được hình thành ngay từ khi Quân đội ta mới ra đời và phát triển không ngừng trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành; thể hiện tình cảm quân dân “như cá với nước”.

    Không chỉ chiến đấu vì dân, Quân đội ta luôn biết dựa vào dân, luôn thương yêu, quý trọng, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với nhân dân; thường xuyên chú trọng công tác tuyên truyền, vận động, giúp đỡ và bảo vệ nhân dân; tiết kiệm của cải, kết hợp với tăng gia sản xuất để giảm việc đóng góp của nhân dân. Đúc kết mối quan hệ thắm thiết giữa quân đội và nhân dân, Thượng tướng Song Hào khẳng định: “Đoàn kết quân dân là một hình ảnh đẹp, đầy tự hào của toàn quân ta, toàn dân ta. Đó là sức mạnh to lớn của Quân đội ta. Giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu ấy là để không ngừng tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội, không ngừng nâng cao phẩm chất cách mạng của mỗi cán bộ, chiến sĩ ta”.

    Thứ sáu, ham học tập, cầu tiến bộ, tích cực rèn luyện, không ngừng nâng cao phẩm chất cách mạng và năng lực hành động

    Thượng tướng Song Hào chỉ rõ: “Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần học tập, cầu tiến bộ, tích cực rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, không ngừng nâng cao bản lĩnh chiến đấu, năng lực công tác, trình độ làm chủ khoa học-kỹ thuật”. Đó là nghĩa vụ, trách nhiệm, tiêu chuẩn, thành tích của người quân nhân cách mạng. Do vậy, cán bộ, chiến sĩ quân đội phải chú trọng học tập, rèn luyện về chính trị tư tưởng và tổ chức, đường lối chính trị và quân sự của Đảng, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân và cả về những kiến thức văn hóa, khoa học-kỹ thuật; đồng thời, nghiêm khắc phê phán thái độ đi ngược lại bản chất, truyền thống cách mạng của Quân đội ta… Theo Thượng tướng Song Hào, đó là quá trình “phấn đấu hết sức kiên trì, bền bỉ, anh dũng và đầy sáng tạo của toàn quân ta”, để không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ chính trị tư tưởng, năng lực lãnh đạo, chỉ huy và trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ, nâng cao sức mạnh chiến đấu toàn diện, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quân đội.

    Để tiếp tục xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, việc tiếp tục giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của Quân đội ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó không chỉ là trách nhiệm của riêng quân đội mà còn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng, của cả hệ thống chính trị, trong đó QĐND Việt Nam là nòng cốt. Bản chất và truyền thống cách mạng là cội nguồn sức mạnh chiến đấu, là tài sản vô giá của quân đội trong công cuộc xây dựng và chiến đấu trước đây, hiện nay cũng như mãi mãi sau này. Giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của quân đội, chúng ta sẽ tạo nên sức mạnh phi thường, cổ vũ, thúc đẩy Quân đội ta tiến lên giành thắng lợi mới trong giai đoạn cách mạng mới. Như lời Thượng tướng Song Hào từng khẳng định: “Việc phát huy truyền thống quý báu đó vẫn là nhân tố quan trọng thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng và chiến đấu của Quân đội ta thành công và thắng lợi. Do đó, bất luận trong hoàn cảnh, thời gian nào, cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng phải đem hết sức lực và trí tuệ của mình góp phần vào việc xây đắp nên truyền thống vẻ vang của quân đội, có trách nhiệm kế thừa, phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của QĐND Việt Nam. Đặc biệt, chúng ta “phải biến lòng tin, biến niềm tin tự hào về bản chất và truyền thống của Quân đội ta thành hành động cách mạng một cách tích cực nhất và anh dũng nhất”.

    Đại tá, TS NGUYỄN HOÀNG NHIÊN(Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xuyên Tạc Bản Chất, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội
  • Hoạt Động Trong Cả Nước
  • Thành Phần Và Nhiệm Vụ Của Hội Đồng Nghĩa Vụ Quân Sự Các Cấp
  • Điều Kiện Bổ Nhiệm, Nhiệm Vụ Của Chỉ Huy Trưởng Ban Chỉ Huy Quân Sự Xã
  • Thành Phần, Nhiệm Vụ, Chức Năng Của Ban Chỉ Huy Quân Sự Cấp Xã
  • Các Quân Khu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Nhân & Hướng Dẫn Điều Trị Chứng Khó Tiêu (Dyspepsia)
  • Povidone Polyvinylpyrrolidone Pvp K17 K30 K90 Và Povidone Iodine Powder
  • 10 Phương Pháp Kiểm Thử Từ Cơ Bản Đến Nâng Cao
  • Chức Năng Luận Cấu Trúc Và Lý Thuyết Hệ Thống (I)
  • Giải Bài Tập Trang 27 Sgk Sinh Lớp 8: Bộ Xương
  • Quân đội nhân dân Việt Nam được chia thành các quân khu 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9 và Bộ Tư lệnh Thủ đô (Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng)

    Quân khu 1 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, nằm ở vị trí địa – chính trị chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh và đối ngoại trong thế bố trí chung của cả nước, có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy lực lượng vũ trang 3 thứ quân; thường xuyên nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc; tích cực tham gia công tác cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tư lệnh kiêm Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 1 là đồng chí Đàm Quang Trung.

    Hiện nay, Quân khu 1 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 1 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

    Ngày truyền thống: 16/10/1945

    Truyền thống vẻ vang:

    “TRUNG HIẾU, TIÊN PHONG, ĐOÀN KẾT, CHIẾN THẮNG”

    Phần thưởng cao quý:

    Với những thành tích đặc biệt xuất sắc qua các thời kỳ, Lực lượng vũ trang Quân khu 1 đã được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao vàng, 02 Huân chương Hồ Chí Minh, 03 Huân chương Độc lập, 10 Huân chương Quân công, hàng nghìn lượt tập thể đơn vị, hàng vạn cá nhân được thưởng Huân chương Chiến công các hạng; 346 đơn vị và 206 cá nhân được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến, 06 đơn vị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ đổi mới (lực lượng vũ trang huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; lực lượng vũ trang và nhân dân xã Thị Hoa, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng; Trung đoàn Xe tăng 409; Lữ đoàn Công binh 575; Lữ đoàn Pháo binh 382; Tiểu đoàn Hoá học 23/ Bộ Tham mưu); 916 Mẹ Việt Nam Anh hùng và nhiều phần thưởng cao quý khác của bạn bè quốc tế.

    Quân khu 2 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc; các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn quân khu. Tư lệnh và Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 2 là các đồng chí Bằng Giang, Bùi Quang Tạo.

    Hiện nay, Quân khu 2 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 2 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

    Ngày truyền thống: 19/10/1946

    Truyền thống vẻ vang:

    “TRUNG THÀNH, TỰ LỰC, ĐOÀN KẾT, ANH DŨNG, CHIẾN ĐẤU”

    Phần thưởng cao quý:

    – Huân chương Sao vàng;

    – Huân chương Hồ Chí Minh…

    Quân khu 3 trực thuộc Bộ Quốc phòng, có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc; các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn quân khu. Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 3 là các đồng chí Hoàng Sâm, Trần Độ.

    Hiện nay, Quân khu 3 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 3 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

    Ngày truyền thống: 31/10/1945.

    Truyền thống vẻ vang:

    “ĐOÀN KẾT, CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO, HY SINH, CHIẾN THẮNG”

    Phần thưởng cao quý:

    – 02 Huân chương Sao Vàng;

    – 02 Huân chương Hồ Chí Minh…

    Quân khu 4 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, nằm trên một địa bàn chiến lược trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam, có nhiệm vụ chỉ huy, quản lý và tổ chức lực lượng vũ trang quân khu chiến đấu bảo vệ vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam.

    Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 15/10/1945 Chiến khu 4 được thành lập gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế và ngày này trở thành Ngày truyền thống của lực lượng vũ trang Quân khu 4. Ngày 03/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 17/SL về việc thành lập Quân khu 4 trên cơ sở Liên khu 4.

    Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 4 là các đồng chí Nguyễn Đôn, Chu Huy Mân.

    Hiện nay, Quân khu 4 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 4 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

    Ngày truyền thống: 15/10/1945

    Phần thưởng cao quý:

    – 01 Huân chương Sao vàng;

    – 03 Huân chương Hồ Chí Minh…

    Quân khu 5 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, hiện nay có chức năng nhiệm vụ cơ bản là tổ chức, xây dựng, quản lí và chỉ huy lực lượng vũ trang thuộc Quân khu chiến đấu bảo vệ vùng Nam Trung Bộ, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân ở địa phương trên địa bàn. Địa bàn Quân khu 5 bắt đầu từ đèo Hải Vân đến cực nam tỉnh Ninh Thuận, gồm 11 tỉnh thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và Đắc Nông. Tổ chức hiện nay có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh; Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc.

    Ngày truyền thống: 16/10/1945

    Truyền thống vẻ vang:

    “TỰ LỰC TỰ CƯỜNG, KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, CHỊU ĐỰNG GIAN KHỔ, MƯU TRÍ SÁNG TẠO, CHIẾN ĐẤU KIÊN CƯỜNG, CHIẾN THẮNG VẺ VANG”.

    Trải qua hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và 35 năm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã có 162.768 liệt sỹ hy sinh vì sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc, hơn 100 nghìn thương, bệnh binh, 13.772 Mẹ Việt Nam Anh hùng. Với những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

    – Huân chương Sao vàng (1985);

    – 898 tập thể và 392 cá nhân và được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có: Trung đoàn Ba Gia – đơn vị được 3 lần tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Trung đoàn Ba Gia và các đơn vị được 2 lần tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Sư đoàn 2; Trung đoàn 95; Trung đoàn 812; Tiểu đoàn 840/Trung đoàn 812; Đại đội Công binh Hải Vân/Quảng Đà; Đại đội 2/Trung đoàn 66; Đại đội 5/26/Đoàn 5504; Lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương huyện Duy Xuyên và (Quảng Nam); Lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương huyện Đại Lộc (Quảng Nam); xã Tịnh Khê (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi); xã Hoà Hải (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng)..

    Trong thời kỳ đổi mới, lực lượng vũ trang Quân khu 5 có 5 tập thể vinh dự được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (lực lượng vũ trang và nhân dân huyện Đại Lộc/Quảng Nam, Lữ đoàn công binh 270, Viện Quân y 13, Trung đoàn Pháo binh 368 và Binh đoàn 15), 1 cá nhân được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động; 25 tập thể được tặng Cờ Thủ tướng Chính phủ; 85 tập thể và 35 cá nhân được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 68 tập thể được tặng Cờ Thi đua Bộ Quốc phòng; 542 tập thể và cá nhân được Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen và các hình thức khen thưởng khác.

    Quân khu 7 là tổ chức quân sự theo vùng lãnh thổ, được thành lập ngày 10/12/1945, bao gồm thành phố Sài Gòn và các tỉnh Gia Đinh, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh. Nay gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng, Long An và Tây Ninh.

    Trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng vũ trang Quân khu 7 vừa xây dựng vừa chiến đấu, từ trong muôn vàn thiếu thốn, gian khổ hy sinh, đã sáng tạo ra những cách đánh hết sức độc đáo, có hiệu quả, lập nên nhiều chiến công xuất sắc ở cả ba vùng đô thị, đồng bằng và rừng núi, góp phần làm chuyển đổi cục diện chiến trường, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch, cùng quân và dân cả nước làm nên trận Điện Biên Phủ và cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975.

    Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến tranh giải phóng dân tộc, lực lượng vũ trang Quân khu 7 thực hành quân quản, sắp xếp lại lực lượng, khắc phục hậu quả chiến tranh, tham gia xây dựng chế độ xã hội mới: Vừa đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại của địch, xây dựng tiềm lực quân sự – quốc phòng, vừa kiên cường chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nhiệm vụ Quốc tế xây dựng và bảo vệ đất nước Campuchia, góp phần đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Trong bối cảnh lịch sử mới, lực lượng vũ tranh Quân khu 7 tập trung xây dựng đơn vị cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, ra sức huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Trải qua hơn 60 năm, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng vũ trang Quân khu 7 được tặng thưởng: 02 Huân chương Sao vàng, 02 Huân chương Hồ Chí Minh, 01 Huân chương Quân công hạng nhất và 340 cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Thành phố Hồ Chí Minh và hầu hết các tỉnh của Quân khu 7 đều được tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    Lực lượng vũ trang Quân khu 7 luôn chú trọng việc quán triệt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy quân sự Trung ương, Bộ quốc phòng, vận dụng linh hoạt sáng tạo đường lối quân sự, đường lối ngoại giao, thống nhất ý chí và hành động, khắc phục khó khăn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

    Kế thừa và phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà ông, cha đã dày công vun đắp, phấp đấu xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 7 ngày càng lớn mạnh, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang: “Trung thành vô hạn, chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, đoàn kết quyết thắng” lực lượng vũ trang Quân khu 7 mãi mãi xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

    Quân khu 9 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt nam có nhiệm vụ quản lý, tổ chức, xây dựng và chỉ huy quân đội chiến đấu bảo vệ vùng Đồng bằng Sông Cửu long Việt Nam. Tư lệnh và Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 9 là các đồng chí Nguyễn Thành Thơ, Nguyễn Văn Bé.

    Hiện nay, Quân khu 9 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 9 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

    Ngày truyền thống: 10/12/1945

    Phần thưởng cao quý:

    – 03 Huân chương Sao vàng;

    – Huân chương Hồ Chí Minh;

    – Huân chương Ăng Ko…

    Ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng, lực lượng vũ trang (LLVT) Thủ đô Hà Nội là một bộ phận quan trọng của LLVT nhân dân Việt Nam đã kế thừa, phát huy truyền thống anh hùng bất khuất chống ngoại xâm của Thủ đô Hà Nội, truyền thống “Ngàn năm văn hiến Thăng Long – Hà Nội” cùng các tầng lớp nhân dân Thủ đô viết nên trang sử hào hùng, góp phần làm rạng danh non sông đất nước.

    Ngày 19/8/1945, nhân dân Hà Nội được sự hậu thuẫn của lực lượng vũ trang đã đứng lên giành chính quyền trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (Ảnh: Tư liệu)

    Trước và trong cách mạng tháng Tám, các đội tiền thân của LLVT Thủ đô xung kích đi đầu, làm nòng cốt cho các tầng lớp nhân dân Hà Nội đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, tích cực chuẩn bị mọi điều kiện khi thời cơ đến vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, góp phần quyết định thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, lật đổ chế độ phong kiến mấy nghìn năm, giành độc lập tự do cho dân tộc, mang lại quyền làm chủ cho nhân dân Việt Nam. LLVT Thủ đô Hà Nội đã cùng các tầng lớp nhân dân kiên quyết đấu tranh đập tan hoạt động chống phá của kẻ thù, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam thoát ra khỏi tình thế ngàn cân treo sợi tóc.

    Sau khi được thành lập, ngày 19/12/1946 hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chấp hành quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng, quân và dân Chiến khu XI với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” đã nổ súng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến. Lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, quân và dân Thủ đô nói riêng mãi mãi lưu truyền cuộc chiến đấu 60 ngày đêm, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, vượt chỉ tiêu Trung ương giao, bảo vệ tuyệt đối an toàn cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, tạo điều kiện cho cả nước có thời gian thực hiện công việc kháng chiến lâu dài. Suốt chặng đường kháng chiến chống thực dân Pháp, LLVT Thủ đô Hà Nội đã kiên trì trụ vững bám dân, bám đất, xây dựng cơ sở, dựa vào dân chiến đấu và lập được nhiều chiến công vẻ vang. Nhiều trận đánh tiêu biểu, hiệu quả để lại kinh nghiệm quý cho chiến tranh nhân dân, góp phần tạo ra bước ngoặt quan trọng trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Các địa phương thuộc tỉnh Hà Đông và Sơn Tây là địa bàn hoạt động của các đơn vị LLVT Mặt trận Hà Nội, nhiều địa phương được xây dựng thành căn cứ kháng chiến và căn cứ của Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội, hai tỉnh cung cấp nhiều nhất cho Hà Nội lương thực, thực phẩm…

    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng vũ trang Thủ đô vừa sản xuất, vừa tăng cường chi viện cho chiến trường, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, phối hợp chặt chẽ với lực lượng phòng không, không quân quốc gia đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc, đỉnh cao là cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối tháng Chạp năm 1972, lập nên kỳ tích của thế kỷ XX Hà Nội “Điện Biên Phủ trên không” để trở thành “Thủ đô lương tri và phẩm giá con người”.

    Thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, LLVT Thủ đô luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, vượt mọi khó khăn, vừa tăng cường chi viện cho các mặt trận bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế, vừa là lực lượng nòng cốt góp phần cùng các tấng lớp nhân dân Thủ đô làm thất bại âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, bảo vệ, kiến thiết Thủ đô ngày càng văn minh, hiện đại.

    Trng quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô Hà Nội lập nên những chiến công oanh liệt, viết nên những trang sử hào hùng, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Sự hy sinh, cống hiến cùng những chiến công của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã hun đúc nên giá trị tiêu biểu, đặc sắc như lời Bác Hồ khen “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự thương yêu đùm bọc giúp đỡ của nhân dân, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô đã không ngại gian khổ hy sinh ra sức phấn đấu xây dựng và vun đắp nên truyền thống Anh hùng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao. Kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của LLVT Thủ đô là vinh dự và trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô hôm nay.

    Ngày truyền thống

    Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện, ngày 19/10/1946, Chiến khu XI – Tổ chức hành chính quân sự thống nhất của các LLVT Thủ đô Hà Nội được thành lập. Chiến khu XI đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương. Ngày 25/7/1947 trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, Trung ương ra quyết định địa bàn hoạt động của Chiến khu XI được mở rộng bao gồm: Hà Nội, Hà Đông và Sơn Tây. Qua Hội thảo khoa học và thực tiễn hoạt động quân sự, quốc phòng của Chiến khu XI đã mang đầy đủ tính chất chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội ngày nay. Vì vậy, ngày 19/10/1946 là ngày truyền thống của LLVT Thủ đô Hà Nội theo Quyết định số 1850/QĐ-QP ngày 31/5/2010 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

    Phần thưởng cao quý

    – 03 lần tuyên dương Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân (1978, 2002, 2005);

    – 01 Huân chương Sao vàng (2011);

    – 03 Huân chương Hồ Chí Minh (1984, 1985, 2002);

    – 04 Huân chương Quân công (hạng Nhất: 1984; hạng Nhì: 2006; 02 hạng Ba: 2004);

    – 04 Huân chương Chiến công (02 hạng Nhất: 1983 và 2000; 02 hạng Ba: 2004 và 2006);

    – 01 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất (2005);

    – 06 lần được tặng Cờ thưởng luân lưu Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược;

    – 02 Huân chương Itxala do Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tặng (01 hạng Nhì cho tập thể; 01 hạng Ba cho cá nhân năm 2010)…

    Tổng Hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Quốc Phòng Quân Khu Là Gì?
  • Xây Dựng Llvt Quân Khu 3 Là Lực Lượng Nòng Cốt Trong Sự Nghiệp Quốc Phòng
  • Các Quân Khu Trong Tổ Chức Bố Phòng Của Qđnd Việt Nam
  • Khu Đô Thị Là Gì? Quy Định Về Quy Hoạch Khu Đô Thị 2021
  • Khu Đô Thị Là Gì? Tiện Ích Của Khu Đô Thị Đối Với Cư Dân
  • Thực Hiện Chức Năng Đội Quân Chiến Đấu Cuả Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Quân Đội Ta Là Quân Đội Cách Mạng, Đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác, Đội Quân Lao Động Sản Xuất
  • Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Công Tác”
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Của Đội Quân Công Tác
  • Quân Đội Thực Hiện Tốt Chức Năng Đội Quân Lao Động Sản Xuất Trong Thời Kỳ Mới
  • Những năm gần đây, với âm mưu thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội ta, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách hòng làm lu mờ, phai nhạt, đi đến phủ nhận giá trị văn hóa quân sự độc đáo này. Chúng dùng mọi thủ đoạn để xuyên tạc bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng ra sức phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội; kêu gọi Quân đội đứng ngoài chính trị, v.v. Lợi dụng những khuyết điểm của một vài quân nhân, cơ quan, đơn vị đơn lẻ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; nhất là những khuyết điểm trong quá trình tham gia phát triển kinh tế, quản lý đất quốc phòng, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội,… chúng xuyên tạc rằng: “Bộ đội thời nay, trong bối cảnh kinh tế thị trường không còn là “Bộ đội Cụ Hồ” nữa; không còn tập trung cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ chủ quyền, biển, đảo của Tổ quốc; không còn là bộ đội của dân, chiến đấu, hy sinh vì nhân dân”(!), v.v. Bên cạnh đó, chúng còn âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ Quân đội; qua đó, hòng làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta; làm phai nhạt phẩm chất, đạo đức người quân nhân cách mạng. Các thủ đoạn đó thật nham hiểm và đều nhằm mục tiêu làm biến chất Quân đội nhân dân Việt Nam, hạ thấp uy tín của Quân đội ta trong xã hội, xóa bỏ biểu tượng “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân; chia rẽ Quân đội với Đảng, với nhân dân; trên cơ sở đó, vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

    Thực tiễn hoạt động xây dựng, thực hiện các chức năng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm qua đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc nói trên và chứng minh một sự thật hiển nhiên là: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy, lực lượng chiến đấu sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ giữ gìn, phát huy và tỏa sáng trên mọi hoạt động. Thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, Quân đội đã chủ động phối hợp cùng các lực lượng khác, tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự trong tình hình mới; đề ra đối sách phù hợp, xử lý thắng lợi các tình huống phức tạp, các vấn đề nhạy cảm về quốc phòng – an ninh. Các đơn vị trong toàn quân luôn ra sức huấn luyện, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, làm chủ các loại vũ khí, trang bị mới, hiện đại; thường xuyên rèn luyện, chấp hành kỷ luật, nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, làm tốt nhiệm vụ là lực lượng nòng cốt cùng nhân dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc. Hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ ở quần đảo Trường Sa và lực lượng Cảnh sát biển ngày đêm chắc tay súng, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc; bảo vệ ngư trường truyền thống cho ngư dân và kịp thời cứu hộ, cứu nạn khi ngư dân gặp hiểm nguy là sự tiếp nối truyền thống “vì nhân dân quên mình” của Quân đội ta; tô thắm thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu ở thời kỳ mới. Mặt khác, Quân đội đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành, đoàn thể và cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng tiềm lực và thế trận của nền quốc phòng toàn dân, gắn với xây dựng tiềm lực và thế trận của nền an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, nhất là trên các hướng, địa bàn chiến lược, trọng điểm, biên giới, hải đảo. Các đơn vị Quân đội đứng chân trên các địa bàn cũng chủ động, tích cực làm nòng cốt cùng cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X), Nghị định 152/2007/NĐ-CP và Nghị định 02/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ. Bên cạnh đó, Quân đội luôn là lực lượng đi đầu trong đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc về phương diện chế độ chính trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vẫn Là “đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác”
  • Quân Đoàn 3 Thực Hiện Tốt Chức Năng “đội Quân Chiến Đấu, Đội Quân Công Tác”
  • Bài 2: Đội Quân Chiến Đấu, Công Tác Và Sản Xuất
  • Quân Đội Mỹ Tham Gia Phân Phối Vắc Xin Covid
  • Humvee: Bạn Đồng Hành Của Bộ Binh Mỹ
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Tổ Chức Cơ Sở Đoàn Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất, Giai Cấp, Mục Tiêu Lý Tưởng Chiến Đấu, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Bai Giang Doc
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Quản Đốc Sản Xuất Chuyên Nghiệp
  • Bản Mô Tả Công Việc Quản Đốc Sản Xuất
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Quân Chủng Phòng Không
  • Tại Phần thứ Tư Hướng dẫn 22HD/TWĐTN năm 2013 thực hiện Điều lệ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh do Ban Chấp hành Trung ương ban hành, có quy định:

    Tổ chức cơ sở đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện nghiêm túc, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; tập trung vào các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản là:

    a) Chức năng

    – Giáo dục, rèn luyện đoàn viên thanh niên

    – Tổ chức các phong trào hành động cách mạng của thanh niên, xung kích thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị

    – Đại diện quyền lợi hợp pháp và chính đáng của đoàn viên thanh niên

    b) Nhiệm vụ:

    – Đoàn kết, tập hợp thanh niên; tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của quân đội, cơ quan, đơn vị; truyền thống của dân tộc, của Đảng, quân đội và của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, làm cho đoàn viên thanh niên nhận rõ vai trò, trách nhiệm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    – Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của đoàn viên thanh niên và sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức quần chúng trong tổ chức hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Động viên đoàn viên thanh niên tự giác, tích cực học tập chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, không ngừng nâng cao kiến thức toàn diện, có ý thức tổ chức kỷ luật, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    – Xây dựng tổ chức Đoàn và củng cố, kiện toàn ban chấp hành đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; giáo dục, tuyên truyền, vận động nhằm phát triển đoàn viên; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và giải quyết những nguyện vọng, quyền lợi chính đáng hợp pháp của thanh niên.

    – Tích cực tham gia xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện. Trực tiếp tuyên truyền, bồi dưỡng, lựa chọn đoàn viên ưu tú để giới thiệu kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và tạo nguồn cán bộ.

    – Liên hệ mật thiết với tổ chức Đoàn địa phương nơi đóng quân, tổ chức các hoạt động phối hợp giữa thanh niên trong và ngoài quân đội góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của đơn vị và địa phương, tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh ở địa phương nơi đóng quân và chăm sóc, giáo dục bảo vệ thiếu niên và nhi đồng.

    c) Quyền hạn:

    – Được quyền ra quyết định thành lập, giải thể tổ chức Đoàn cấp trực thuộc.

    – Chuẩn y kết quả bầu cử ban chấp hành, bí thư, phó bí thư, chỉ định bổ sung ban chấp hành đoàn cấp trực thuộc.

    – Kết nạp đoàn viên mới; quản lý đoàn viên, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng bồi dưỡng, kết nạp; khen thưởng, kỷ luật đối với đoàn viên, tổ chức Đoàn; quản lý, sử dụng tài chính của đoàn theo Điều lệ Đoàn và quy định của Tổng cục Chính trị.

    d) Quyền hạn của ban chấp hành đoàn:

    – Ban chấp hành đoàn cơ sở ở trung đoàn và tương đương có quyền:

    + Chuẩn y kết nạp đoàn viên.

    + Công nhận ban chấp hành liên chi đoàn trực thuộc.

    + Quyết định biểu dương, cấp giấy khen của Đoàn, đề nghị cấp trên khen thưởng cán bộ, đoàn viên và tổ chức Đoàn.

    + Yêu cầu chi đoàn xét và quyết định xóa tên trong danh sách đoàn viên đối với những đoàn viên không tham gia sinh hoạt đoàn hoặc không đóng đoàn phí 3 tháng trong 1 năm mà không có lý do chính đáng.

    + Quyết định thi hành kỷ luật đến hình thức khai trừ đối với đoàn viên và cách chức ủy viên ban chấp hành liên chi đoàn; khiển trách, cảnh cáo đối với ủy viên ban chấp hành đoàn cơ sở. Các hình thức kỷ luật cao hơn do ban chấp hành đoàn cơ sở xét và đề nghị, cấp ủy đảng cơ sở chuẩn y.

    – Ban chấp hành liên chi đoàn ở tiểu đoàn và đơn vị tương đương có quyền:

    + Hướng dẫn, kiểm tra các chi đoàn làm công tác phát triển đoàn viên; xét duyệt và đề nghị lên đoàn cấp trên chuẩn y đề nghị của chi đoàn và kết nạp đoàn viên, giới thiệu đoàn viên ưu tú với chi bộ.

    + Công nhận ban chấp hành chi đoàn, chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành chi đoàn.

    + Biểu dương và đề nghị cấp trên khen thưởng cán bộ, đoàn viên, tổ chức Đoàn.

    + Quyết định thi hành kỷ luật với hình thức khiển trách, cảnh cáo đoàn viên và khiển trách đối với ủy viên ban chấp hành chi đoàn.

    – Ban chấp hành chi đoàn có quyền:

    + Xét và đề nghị kết nạp đoàn viên.

    + Đề nghị chi đoàn xem xét quyết định xóa tên trong danh sách đoàn viên đối với đoàn viên không tham gia sinh hoạt đoàn hoặc không đóng đoàn phí 3 tháng trong 1 năm mà không có lý do chính đáng.

    + Quyết định thi hành kỷ luật khiển trách đối với đoàn viên.

    + Xét và đề nghị cấp trên thi hành kỷ luật đối với cán bộ, đoàn viên từ cảnh cáo trở lên.

    + Nhận xét đoàn viên có đủ tiêu chuẩn vào Đảng, giới thiệu với chi bộ và đề nghị ban chấp hành đoàn cấp trên ra nghị quyết giới thiệu đoàn viên ưu tú vào Đảng, nếu là chi đoàn cơ sở thì được quyền giới thiệu đoàn viên vào Đảng thay cho một đảng viên chính thức.

    – Ban chấp hành đoàn cơ sở ở tiểu đoàn và tương đương được quyền như ban chấp hành đoàn cơ sở ở trung đoàn, nhưng không có quyền ký tặng giấy khen cho cán bộ, đoàn viên.

    – Ban chấp hành đoàn cơ sở cấp 1 có quyền hạn như chi đoàn thuộc đoàn cơ sở cấp 2, 3. Các quyền hạn cao hơn do cấp ủy đảng cơ sở quyết định.

    Ban biên tập phản hồi thông tin đến bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Giới Thiệu Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Kỹ Thuật Công Ty Xây Dựng
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Phòng Hạ Tầng Kỹ Thuật
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Của Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp
  • Bạn Đã Biết Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Thiết Kế Nội Thất Là Gì Chưa?
  • Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Thực Hiện Chức Năng Đội Quân Công Tác Trong Tình Hình Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Động Đấu Tranh Làm Thất Bại Mọi Âm Mưu, Thủ Đoạn Thâm Độc Nhằm Chống Phá Quân Đội Ta
  • Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế
  • Quân Đội Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế, Góp Phần Phát Triển K…
  • Quyền Hạn Của Đội Quản Lý Thị Trường
  • Tổng Cục Quản Lý Thị Trường Có Chức Năng, Quyền Hạn Như Thế Nào?
  • Thực hiện chức năng đội quân công tác, toàn quân thường xuyên đẩy mạnh công tác dân vận với nhiều nội dung, hình thức đa dạng và phong phú; chủ động, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phát triển sản xuất, củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Chỉ trong 5 năm (2013 – 2021), Quân đội đã tham gia củng cố hơn 4.000 chi bộ Đảng, 5.300 tổ chức chính quyền, 23.000 tổ chức chính trị – xã hội, xóa tình trạng “trắng” đảng viên ở 107 thôn, bản; phối hợp tổ chức giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho hơn 20 triệu lượt người; đào tạo nghề cho 525 y tá, y sĩ thôn, bản. Các đơn vị đã giúp đỡ nhân dân hơn 2 triệu ngày công lao động xây dựng nông thôn mới, tặng Nhà Tình nghĩa; tổ chức hơn 2.000 đợt khám, chữa bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho hơn 2,5 triệu lượt người với tổng trị giá hơn 300 tỷ đồng. Ngoài ra, Quân đội còn tích cực, chủ động tham gia duy trì, bảo tồn và phát triển bền vững các tộc người, dân tộc rất ít người, như: tộc người thiểu số Đan Lai ở Nghệ An; dân tộc La Hủ ở Lai Châu; dân tộc Chứt ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, v.v. Cùng với đó, các đơn vị còn phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số xóa bỏ hủ tục; tham mưu xây dựng nhiều mô hình phát triển văn hóa, điểm sinh hoạt tín ngưỡng phù hợp với điều kiện địa lý, tình hình kinh tế – xã hội của mỗi dân tộc. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã cử 332 cán bộ tham gia chính quyền cấp xã; trong đó, 260 người giữ chức vụ trong cấp ủy.

    Với quan điểm tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình, những năm qua, Quân đội thực sự là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ này. Trong 5 năm (2013 – 2021), Quân đội đã huy động hơn 1,3 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ và gần 30.000 lượt phương tiện giúp dân phòng, tránh, khắc phục hậu quả thiên tai; cứu hộ, cứu nạn được hơn 10.000 phương tiện và gần 18.000 người dân. Qua đó, thiết thực tăng cường quan hệ máu thịt giữa Quân đội với nhân dân, góp phần xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội lăn lộn trong gian khó, sáng tạo trong tổ chức giải cứu 12 công nhân bị sập hầm ở thủy điện Đạ Dâng (Lâm Đồng); dầm mình trong bão, lũ để di chuyển, cứu tính mạng và tài sản của nhân dân trong những năm qua, có khi còn hy sinh cả tính mạng của mình, đã để lại trong lòng nhân dân nhiều tình cảm tốt đẹp./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Công Tác Tuyên Huấn Trong Bộ Đội Biên Phòng
  • Công Tác Tuyên Huấn Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Mọi Nhiệm Vụ
  • Tập Huấn Nghiệp Vụ Công Tác Tuyên Huấn Cho Cán Bộ Quân Đội Nhân Dân Lào
  • Những Thành Công Trong Tham Mưu, Chỉ Đạo Công Tác Tuyên Huấn
  • Triển Khai Công Tác Tuyên Huấn Năm 2021
  • Những Nội Dung Cơ Bản Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Tư Pháp Có Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Tổ Chức Thế Nào?
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Tư Pháp
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Bộ Tư Pháp Trong Lĩnh Vực Pháp Luật Quốc Tế
  • Dự Thảo Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Tư Pháp
  • Tổ Chức Và Theo Dõi Thi Hành Pháp Luật Cần Phù Hợp Với Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Tư Pháp
  • Thứ tư, 18 Tháng 3 2021 11:27

    (LLCT) – Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về quân đội là sự nhận thức, vận dụng, phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về quân đội vào điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam, đồng thời thể hiện sự kế thừa, phát triển những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về quân đội được đề cập sâu sắc ở nhiều vấn đề về tính tất yếu, nguồn gốc ra đời, bản chất quân đội; sự thống nhất, biện chứng giữa chính trị và quân sự, giữa con người và vũ khí trong quá trình xây dựng, phát triển Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó chính là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học để Đảng ta tiếp tục nhận thức, kế thừa, vận dụng hiệu quả vào xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội nhân dân là cơ sở, nền tảng thế giới quan, phương pháp luận khoa học định hướng Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt quá trình tổ chức, xây dựng và lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh và trưởng thành. Tư tưởng đó được thể hiện cụ thể trên những nội dung chủ yếu sau:

    1. Tư tưởng về tính tất yếu và nguồn gốc của Quân đội nhân dân Việt Nam

    Sự ra đời của Quân đội nhân dân Việt Nam không phải là sự ngẫu nhiên trong lịch sử mà là tất yếu khách quan, kết quả của sự vận động có tính quy luật trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở Việt Nam. Trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam, Hồ Chí Minh xác định, để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng phải xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng, từ lực lượng chính trị mà phát triển thành lực lượng quân sự, từ đấu tranh chính trị mà chuyển thành đấu tranh quân sự. Đi sâu vào phân tích bản chất của chủ nghĩa thực dân, Hồ Chí Minh nhận thấy, bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu mà sức mạnh vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng sức mạnh vật chất. Vì vậy, đối với các dân tộc thuộc địa, muốn chiến thắng kẻ thù hung bạo, không có sự lựa chọn nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền.

    Hơn nữa, mục tiêu của cuộc cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Trong khi đó, bản chất của chủ nghĩa đế quốc, thực dân không bao giờ thay đổi. Cho nên nhiệm vụ đặt ra cho cách mạng Việt Nam là khi giành được chính quyền phải giữ chính quyền, giành được độc lập dân tộc phải luôn cảnh giác để giữ vững nền độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cho nên quân đội luôn giữ vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc. Từ những cơ sở đó, bằng tư duy triết học cùng với nhãn quan chính trị của mình, ngay trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh đã xác định: “Tổ chức ra quân đội công nông”(1). Người luôn mang trong mình một niềm tin mãnh liệt: “Dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải phóng. Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự. Muốn có lực lượng thì phải có tổ chức. Muốn tổ chức thành công thì phải có kế hoạch, có quyết tâm”(2). Do đó, quân đội ta ra đời phù hợp với quy luật khách quan, xuất phát từ chính nhu cầu, đòi hỏi do thực tiễn đấu tranh cách mạng của quần chúng, là kết quả từ quá trình phát triển của các tổ chức vũ trang của quần chúng. Quá trình ra đời và phát triển của Quân đội đi từ xây dựng các đội du kích, đội tự vệ đến xây dựng đội quân chủ lực luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    2. Tư tưởng về bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam

    Trên cơ sở nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh vạch rõ bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà nước nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp, nhà nước: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(3). Tư tưởng đó đã khái quát đầy đủ bản chất của quân đội ta, mang bản chất giai cấp công nhân, thống nhất giữa tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

    Tính chất giai cấp của quân đội ta: Từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất giai cấp của quân đội phụ thuộc vào bản chất của giai cấp, nhà nước sản sinh ra nó. Bản chất giai cấp quân đội ta không tách khỏi vấn đề có tính nguyên tắc đó. Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, chiến đấu vì lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp công nhân, được Đảng tổ chức và xây dựng, chịu sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là đặc trưng cơ bản nhất của quân đội cách mạng. Quân đội nghiêm chỉnh chấp hành sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất, là nhân tố quyết định sự trưởng thành và sức mạnh chiến đấu, bản lĩnh chính trị của quân đội: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(4). Theo Hồ Chí Minh, đây là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội, Người không chấp nhận chia sẻ quyền lãnh đạo quân đội cho bất cứ một đảng phái, một lực lượng chính trị nào. Ngay cả khi cách mạng gặp khó khăn, Đảng phải rút vào hoạt động bí mật năm 1946, Hồ Chí Minh cũng đã ký sắc lệnh công nhận “Vệ quốc quân” là quân đội quốc gia và tuyên bố “Thống nhất các bộ đội võ trang dưới quyền chỉ huy của Chính phủ. Các đảng phái không được có quân đội riêng”(5). Mặt khác, Hồ Chí Minh luôn luôn yêu cầu: “Quân đội phải tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, phải giúp đỡ các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương. Phải tránh tự kiêu, tự đại, vì lúc thành công thì dễ tự kiêu tự đại, mà đã tự kiêu tự đại là thoái bộ. Bởi vậy, quân đội ta khi thành công càng phải khiêm tốn, chớ có tự kiêu tự đại”(6). Do đó, để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng, thiết lập hệ thống tổ chức đảng trong quân đội từ Quân ủy Trung ương đến các tổ chức đảng cơ sở, lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo. Ngoài ra, tính giai cấp của quân đội còn được thể hiện ở tư tưởng chủ đạo trong quân đội là chủ nghĩa Mác – Lênin; ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ở nguyên tắc tổ chức, xây dựng quân đội theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; ở chức năng, nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất; ở mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế.

    Tính chất nhân dân của quân đội: Xuất phát từ điều kiện thực tiễn của Việt Nam, quân đội ta là một đội quân cách mạng ra đời trong một nước nông nghiệp, thuộc địa nửa phong kiến. Do vậy, thành phần tham gia không chỉ có công nhân mà đa số là con em nông dân mà còn có sự tham gia rộng rãi các tầng lớp nhân dân yêu nước khác. Đồng thời, tính nhân dân của quân đội ta còn được thể hiện ở chính mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội: “Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác”(7). Người còn dặn, quân đội “đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu”(8). Bên cạnh đó, tính nhân dân còn được thể hiện trong mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Trong chiến tranh nhân dân, quân đội ta là lực lượng vũ trang nòng cốt phải có trách nhiệm giúp đỡ và cùng với dân quân, du kích đánh giặc. Ngược lại, mọi hoạt động chiến đấu của quân đội đều phải dựa vào nhân dân. Người thường xuyên nhắc nhở bộ đội trong mọi hoàn cảnh phải dựa vào nhân dân, nhân dân là cội nguồn sức mạnh của quân đội: “bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi”(9).

    Quân đội ta không chỉ là một quân đội mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân mà còn mang tính dân tộc sâu sắc. Quân đội ta ra đời từ phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, từ tiền thân là các đội vũ trang của toàn dân tộc – tất yếu mang trong mình tính dân tộc Việt Nam sâu sắc. Người khẳng định: “Quân đội ta là một quân đội anh dũng, đã sinh ra và lớn lên trong cách mạng và kháng chiến. Qua bao năm chiến đấu hy sinh, gian khổ và anh dũng, quân đội ta đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc”(10). Hơn nữa, trong quá trình xây dựng, trưởng thành, chiến đấu của quân đội, phẩm chất, tinh thần của quân đội ta còn là sự kết tinh, sự biểu hiện tinh hoa truyền thống dân tộc Việt Nam: “Quân đội ta là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng”(11). Tính dân tộc của quân đội ta còn được biểu hiện thông qua các hành động cụ thể, phẩm chất nhân cách của từng cán bộ, chiến sĩ. Trong Điện gửi Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ hai tháng 9-1967, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Là tinh hoa của dân tộc, các anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đã nêu cao tinh thần trung với nước, hiếu với dân, dũng cảm, mưu trí, khiêm tốn, giản dị, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, khó khăn không ngại, gian khổ không sờn, quyết hoàn thành mọi nhiệm vụ cứu nước, góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc ta”(12).

    Như vậy, xuyên suốt tất cả những bài viết, bài nói chuyện và những hoạt động cụ thể Hồ Chí Minh luôn đề cập, quan tâm đến việc xây dựng bản chất cách mạng cho quân đội ta. Sự thống nhất hữu cơ giữa bản chất giai cấp công nhân Việt Nam với tính nhân dân, dân tộc trong Quân đội nhân dân Việt Nam thể hiện ở chỗ tính nhân dân của quân đội ta không hề làm phai nhạt tính chất giai cấp công nhân của quân đội và tính chất giai cấp công nhân không những không mâu thuẫn với tính chất nhân dân của quân đội mà nó chính là điều kiện tiên quyết để xây dựng quân đội ta thực sự trở thành một quân đội của nhân dân, của toàn dân tộc. Hơn nữa, tính nhân dân còn là một trong những biểu hiện chủ yếu nhất về bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta. Chỉ có một quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân mới là quân đội có tính nhân dân thực sự. Sự thống nhất hữu cơ giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc của quân đội ta còn là sự biểu hiện của sự thống nhất về lợi ích, lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của nhân dân và toàn dân tộc. Chính vì vậy, tư tưởng triết học của Người về quân đội của dân, do dân, vì dân chính là nét độc đáo, đặc sắc, phản ánh đúng đắn về bản chất cách mạng của quân đội ta.

    3. Tư tưởng về mối quan hệ biện chứng giữa chính trị và quân sự trong xây dựng, phát triển quân đội

    Trên cơ sở quán triệt những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, nhất là nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh đã sớm xác định phải xây dựng quân đội ta vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự”(13). Người còn nhiều lần chỉ rõ, trong xây dựng, chỉnh huấn bộ đội, “phải lấy chính trị làm gốc” vì “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(14). Qua đó, có thể nhận thấy rằng, trong tư duy quân sự Hồ Chí Minh, việc xây dựng lực lượng quân sự phải thấu suốt quan điểm, nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị. Đây là sự thể hiện nhãn quan triết học sâu sắc của Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, thể hiện sự khác nhau về bản chất, chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta so với quân đội của nhiều nước trên thế giới.

    Theo Hồ Chí Minh, vấn đề cơ bản, cốt yếu nhất trong xây dựng quân đội về chính trị là xây dựng bản chất giai cấp công nhân của quân đội. Để xây dựng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội, theo Hồ Chí Minh, cần phải tiến hành tích cực, thường xuyên và liên tục công tác chính trị trong quân đội. Bởi, chỉ có thực hiện tốt công tác chính trị mới bảo đảm cho cái gốc chính trị của quân đội được vững chắc, làm cơ sở cho việc xây dựng các mặt khác. Người chỉ rõ: “Trong công việc xây dựng và phát triển quân đội, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân”(15). Cùng với đó, Người cũng yêu cầu, phải chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, đó là yêu cầu quan trọng trong xây dựng quân đội về chính trị: “Phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của binh sĩ, phải coi binh sĩ như anh em ruột thịt của mình”(16).

    Trong tư tưởng xây dựng quân đội về chính trị, Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị. Người cho rằng, cán bộ chính trị là người trực tiếp tiến hành công tác chính trị trong quân đội, đóng vai trò rất quan trọng trong xây dựng quân đội về chính trị và xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Vì vậy, ngay khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân còn chưa thành lập, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Về mặt chính trị, cấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng chọn trong bộ đội ấy hoặc phái người ngoài đến làm”(17). Đồng thời, Người cũng xác định những yêu cầu về phẩm chất, năng lực, tư cách của người chính trị viên một cách rõ ràng, đầy đủ và dễ thực hiện: “Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”(18).

    Coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị không có nghĩa coi thường, xem nhẹ quân sự mà xây dựng quân đội về chính trị là cơ sở, nền tảng, hướng đến nâng cao sức mạnh và hoàn thành nhiệm vụ quân sự. Trong lần về thăm Trường Chính trị trung cấp quân đội (10-1951), Người khẳng định: “Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc. Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện. Nếu thuộc lầu mà không biết đánh giặc thì vô dụng”(19). Đánh giặc và đánh thắng giặc là biểu hiện tập trung chính trị của quân đội và là nhiệm vụ chính trị – quân sự cao nhất của quân đội ta với tư cách là lực lượng vũ trang cách mạng. Quân đội sẽ trở nên “vô dụng” nếu không hoàn thành được nhiệm vụ ấy. Do đó, Người căn dặn trong công tác xây dựng và phát triển quân đội phải được tiến hành một cách toàn diện cả chính trị và quân sự: “phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội”(20), chỉ khi nào thực hiện tốt nhiệm vụ này thì “thắng lợi quân sự đem lại thắng lợi chính trị. Những thắng lợi chính trị đó sẽ làm cho ta thắng lợi về quân sự to lớn hơn”(21).

    Như vậy, có thể khẳng định rằng, giá trị sâu sắc trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa chính trị và quân sự đó là sự vững mạnh về chính trị của quân đội phải được đo bằng sức mạnh quân sự, sức mạnh chiến đấu, ở khả năng “đánh giặc” và hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Đồng thời, sức mạnh quân sự không chỉ được tạo nên bởi các yếu tố vật chất mà còn được tạo nên bởi sự vững mạnh về chính trị, sức mạnh của nhân tố chính trị tinh thần trong quân đội. Những thắng lợi về mặt quân sự không chỉ có ý nghĩa quyết định mà còn góp phần trực tiếp vào thắng lợi trên mặt trận chính trị, phục vụ cho mục đích chính trị.

    4. Tư tưởng về mối quan hệ biện chứng giữa con người và vũ khí trong sức mạnh chiến đấu của quân đội

    Chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố như: quân số, tổ chức biên chế, chính trị tinh thần, kỷ luật, số lượng, chất lượng vũ khí trang bị, trình độ huấn luyện thể lực, trình độ khoa học nghệ thuật quân sự, bản lĩnh lãnh đạo, trình độ tổ chức chỉ huy. Trong đó, suy đến cùng, sức mạnh chiến đấu của quân đội được tạo nên bởi hai yếu tố cơ bản đó là con người và vũ khí, trong đó, con người giữ vai trò quyết định, phải được đặt lên hàng đầu. Bởi vì theo Người: “Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng”(22). Một quân đội dù vũ khí trang bị có hiện đại đến đâu chăng nữa nhưng nếu thiếu những con người vững vàng về lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị, ý chí cách mạng, trình độ tri thức, kỹ năng làm chủ chúng… thì mọi vũ khí hiện đại cũng sẽ trở nên vô nghĩa. Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của nhân tố con người, Hồ Chí Minh khẳng định: “Không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sĩ hăng hái đánh trận không”(23).

    Coi trọng nhân tố con người, trong đó, Hồ Chí Minh xác định xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là khâu then chốt. Để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội, ngay khi còn ở nước ngoài, Người đã trực tiếp lựa chọn những chiến sĩ cách mạng dũng cảm, gan dạ, kiên trung, bất khuất gửi đi học tập, đào tạo. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22-12-1944), Người đã nêu yêu cầu phải chọn lựa “số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất”(24). Đặc biệt, Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi người cán bộ của Đảng trong quân đội, lời nói và việc làm phải đi đôi, phải gương mẫu, mẫu mực để quần chúng học tập, noi theo: “Mỗi người chỉ huy về quân sự cũng như về chính trị, phải làm kiểu mẫu”(25). Trong cuộc sống hàng ngày, luôn yêu cầu người cán bộ quân đội phải có tinh thần đoàn kết, có tình đồng chí thương yêu đội viên: “Cán bộ phải thương yêu đội viên. Đối với anh em ốm yếu, thương tật, cán bộ phải trông nom, thăm hỏi. Người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên. Chưa làm được như vậy là chưa hết nhiệm vụ”(26).

    Đặc biệt đối với người làm tướng, Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu rất cao: “Là tướng, tướng phải có mưu trí, phải được người ta tin cậy, phải tốt với dân và lính, phải gan góc, phải có thái độ nghiêm trang và kỷ luật tề chỉnh”(27). Đồng thời, nhiệm vụ của người làm tướng là “phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”(28). Theo Hồ Chí Minh: Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng. Tín là phải làm cho người ta tin mình, thưởng phạt nghiêm minh, tin vào sức mình, nhưng không phải là tự mãn, tự cao. Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh. Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Đối với địch hàng ta phải khoan dung. Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc là hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống. Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng.

    Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc đặt ra những yêu cầu về phẩm chất, năng lực của người cán bộ quân đội, mà còn chỉ rõ cách thức, con đường để hình thành phẩm chất, năng lực đó là “một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có”(29). Tuy vậy, việc bồi dưỡng nâng cao năng lực, giáo dục chính trị, phẩm chất người quân nhân cách mạng chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở từng người chủ động, tự giác: “Nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu” . Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu người quân nhân cách mạng phải luôn có thái độ đúng đắn trong giáo dục và tự giáo dục. Khi nói chuyện với các anh hùng quân đội, Người khuyên: “Tuyệt đối chớ tự cao, tự đại, cho mình là giỏi rồi”. Vì như vậy, sẽ cản trở việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực của người quân nhân cách mạng.

    Mặc dù, Hồ Chí Minh luôn coi trọng nhân tố con người, song không có nghĩa là tách.ời hay hạ thấp vị trí, vai trò của vũ khí. Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm “lực l­ượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất”(30) vào điều kiện cụ thể ở nước ta. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của vũ khí trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, Người khẳng định: “Đánh giặc, trước hết phải có vũ khí”(31). Nhưng khác với quân đội các nước, họ được trang bị vũ khí hiện đại để tiến hành chiến tranh và phòng vệ thì ở Việt Nam “vũ khí đầu tiên của ta là gậy tầm vông”(32). Do vậy, trong điều kiện đất nước còn nghèo và có chiến tranh, việc bổ sung cho quân đội luôn được xác định là “một nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài”(33). Nhiệm vụ đặt ra cho quân đội là phải luôn nêu cao tinh thần chủ động vượt khó, sáng tạo, tự chủ, tự lực tự cường, tự nghiên cứu, sáng chế để trang bị vũ khí cho mình, với tinh thần: “các vị kỹ sư thì chăm lo phát minh những thứ khí giới mới. Đồng bào thì chăm lo cung cấp các thứ nguyên liệu. Những người vận tải thì chăm lo đưa những nguyên liệu ấy đến các xưởng máy. Anh em công nhân thì chăm lo.èn đúc ra những thứ khí giới mới. Các chiến sĩ chăm lo luyện tập dùng những vũ khí ấy để giết cho nhiều giặc”(34). Như vậy, với nhãn quan triết học sâu sắc của mình, Hồ Chí Minh đã nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa con người và vũ khí trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, là cơ sở để dân tộc ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với tinh thần: “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”(35). Mặc dù chỉ bằng những vũ khí, trang bị thô sơ, nhưng chúng được tiếp thêm sức mạnh của cả dân tộc với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” và “không có gì quý hơn độc lập tự do” đã làm nên những chiến công vô cùng oanh liệt trong thế kỷ XX, khiến kẻ thù đến nay vẫn còn phải nể phục.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận số 12-2019

    (1), (13), (24), (27) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.1, 539, 539, 527, 558.

    (2), (18), (25), (28), (29) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.370, 484, 236, 594, 332.

    (3), (4), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.435, 435, 434.

    (5), (23), (35) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.173, 527, 534.

    (6 ) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.367.

    (7), (8), (9), (14), (15), (17), (19), (20), (21), (22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.334, 76, 448, 217, 37, 460, 218, 37, 221, 460.

    (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.460.

    (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.372.

    (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.131.

    (26), (34) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.458, 120.

    (30) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, 1995, tr.580.

    (31), (32) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.397, 397.

    (33) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.582.

    Học viện Chính trị – Bộ Quốc phòng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quân Đội Thực Hiện Tốt Nhiệm Vụ Tham Gia Sản Xuất, Xây Dựng Kinh Tế, Góp Phần Phát Triển Kinh Tế
  • Nhận Hối Lộ, 4 Cựu Cán Bộ Thuế Lãnh Án
  • Tiêu Chuẩn Đội Trưởng, Phó Đội Trưởng Và Tương Đương Thuộc Chi Cục Thuế
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phòng Thanh Tra
  • Cổng Điện Tử Huyện Đại Lộc
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100