6 Cách Để Phòng Chống Tham Nhũng

--- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Phòng, Chống Tệ Nạn Xã Hội Trong Học Đường
  • Tìm Hiểu Các Biện Pháp Phòng, Chống Tệ Nạn Xã Hội Trong Học Đường
  • Đẩy Mạnh Tuyên Truyền Phòng, Chống Tội Phạm Và Tệ Nạn Xã Hội
  • Quân Đội Góp Sức Phòng, Chống Ma Túy
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 8
  • Bài toán phòng chống tham nhũng có lẽ vẫn còn là vấn đề chưa được tháo gỡ triệt để tại thời điểm hiện nay, khi mà Luật phòng, chống tham nhũng 2005 chưa thể kiểm soát được nạn này, rồi kế đến là sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng mới. Nhưng đó chỉ là cách giải quyết ở phần ngọn, còn gốc rễ của nó thì cần có các biện pháp khác nữa, chứ không chỉ là Luật phòng, chống tham nhũng.

    Tại Blog của Ngân hàng Thế giới có đề xuất 6 cách để phòng, chống tham nhũng, cụ thể như sau:

    1. Trả lương tốt cho công chức (paying civil servants well)

    Việc công chức được trả lương tốt hay nhận thu nhập quá thấp chắc chắn có tác động đến cả động cơ làm việc. Nếu khu vực công trả lương thấy thì công chức sẽ tìm cách bổ trợ cho thu nhập bằng các nguồn không chính thức.

    2. Chính phủ chi tiêu minh bạch, công khai (creating transparency and openness in government spending):

    Trợ cấp, miễn thuế, hợp đồng dùng công quỹ, tín dụng rẻ, chi ngoài ngân sách đều là những thức giới chính trị kiểm soát và cũng là các kênh chính quyền quản lý nguồn lợi công…Công quỹ phải được chi tiêu vì công chúng…

    Quá trình này càng công khai minh bạch thì càng tạo ít cơ hội cho sai phạm và lạm dụng… Nơi nào công dân có thể giám sát chính quyền, tự do báo chí được tôn trọng và dân trí cao sẽ có cơ hội tạo nền tảng cho cải tổ…

    3. Cắt giảm quan liêu và rào cản (cutting red tape):

    Tham nhũng có liên hệ trực tiếp đến tầm vóc của bộ máy quan liêu… Giảm tối đa các rào cản, quy định sẽ mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp, cho việc đăng ký sở hữu, cho hội nhập thương mại quốc tế… hệ thống giấy phép không chỉ gây gánh nặng cho chính phủ mà còn không ngăn được việc kiểm tra vì sao lại cần có chúng… Cách làm giản tiện nhất, theo gợi ý của một chuyên gia, là “xóa các luật và chương trình làm nảy sinh tham nhũng”.

    4. Thay trợ cấp và bù giá sai lệch bằng trao quỹ đúng mục tiêu (replacing regressive and distorting subsidies with targeted cash transfers):

    Bao cấp và trợ giá là các cách chính phủ làm sai lệch động cơ và tạo cơ hội cho tham nhũng.

    … Nếu không tính đến vấn đề làm mất cơ hội – tiền bù giá năng lượng có thể xây được bao nhiêu trường học mỗi năm – và hệ quả cho môi trường vì giá bị giữ thấp một cách giả tạo, thì các khoản bù giá, trợ cấp đều khiến chính quyền trở thành nguồn căn của các cách khai thác tham nhũng.

    5. Thiết lập các công ước quốc tế (establishing international conventions):

    Tham nhũng ngày nay đã trở nên xuyên biên giới trong kinh tế toàn cầu hóa và các cơ chế pháp luật quốc tế là tối quan trọng trong số phương tiện chống tham nhũng cho nhiều chính phủ… Công tước Liên Hiệp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC) tới cuối năm 2013 đã được 140 quốc gia phê chuẩn. UNCAC tạo ra mạng toàn cầu để các quốc gia phát triển và đang phát triển chống tham nhũng nội địa, quốc tế, chống lạm dụng, rửa tiền, xung đột lợi ích, và cả cách giành lại ngân khoản quan chức giấu ở tài khoản hải ngoại…

    6. Dùng công nghệ thông minh (deploying smart technology):

    Quan hệ trực tiếp giữa quan chức chính quyền và công dân mở lối cho các vụ trao tay sai trái. Một cách giải quyết chuyện này là dùng công nghệ để tạo khoảng cách giữa quan chức và xã hội. Mua bán và cung ứng dịch vụ công qua hợp đồng với nhà nước là một nguồn tiền lớn, ở một số nước chiếm tới 5-10% GDP… Đảm bảo đấu thầu công khai, cạnh tranh bình đẳng cho các nhà cung cấp dịch vụ công là cách giảm tham nhũng.

    Theo bạn, còn cách nào để chống tham nhũng nữa không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Tội Phạm Tham Nhũng
  • Tội Phạm Tham Nhũng Và Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm Tham Nhũng
  • Chủ Động Triển Khai Những Biện Pháp Phòng Và Chống Tham Nhũng Có Hiệu Quả
  • Chú Trọng Triển Khai Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Một Số Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Tham Nhũng Và Phòng, Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng, Lãng Phí
  • Đề Tài Một Số Vấn Đề Lý Luận, Thực Tế Và Những Ảnh Hưởng Tới Nền Kinh Tế, Một Số Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tham Nhũng
  • Các Giải Pháp Đột Phá Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Hội Thảo Chuyên Đề: “phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Thái Bình Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Trong khoảng chừng 30 năm nay, nhiều quốc gia, nhiều khu vực đã hao tâm, tổn trí rất nhiều vào việc tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu, đưa ra những tuyên bố cứng rắn và mở những chiến dịch rộng rãi để ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, song hiệu quả còn xa với yêu cầu của sự phát triển và đòi hỏi của nhân loại tiến bộ.

    Những hành vi tham nhũng rất đa dạng, phổ biến là hành vi tham ô tài sản, nhận hối lộ, dùng tài sản công để biếu xén, hối lộ; lừa đảo chiếm tài sản của Nhà nước, của nhân dân; lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm gây khó khăn, phiền hà, sách nhiễu cho tổ chức, cá nhân để vụ lợi, thu vén quyền lợi cá nhân; lập quỹ trái phép, sử dụng ngân sách không đúng quy định để hưởng lợi. Các hành vi tham nhũng đã và đang xảy ra ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ sản xuất kinh doanh, liên doanh liên kết, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất đai, quản lý và sử dụng ngân sách, thuế, ngân hàng, hải quan, xuất nhập khẩu, tư pháp, giáo dục, y tế, thực hiện chính sách xã hội trong quản lý hành chính, công tác xã hội…

    Về quy mô của tham nhũng. Có đủ loại, đủ mức độ tham nhũng của cá nhân, của tập thể; tham nhũng không có tổ chức và tham nhũng có tổ chức gồm nhiều đối tượng tham gia.

    Những thiệt hại do tham nhũng gây ra rất lớn, có vụ tham nhũng về kinh tế làm thiệt hại cho Nhà nước, nhân dân tới hàng trăm, hàng nghìn tỉ đồng; làm thoái hóa, biến chất hàng loạt cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. Cái thiệt hại đáng kể hơn, nặng nề hơn là tham nhũng đã làm xấu chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào tương lai của một chế độ tốt đẹp mà Đảng ta đang phát động xây dựng.

    Đấu tranh phòng, chống tham nhũng

    Cũng như các nước khác, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta đã diễn ra từ khá sớm và được đặc bieejt coi trọng dưới chế độ xã hội mới. Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về nạn tham nhuxng, coi đó là một loại “giặc nội xâm”; trong vài thập kỷ gần đây, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã coi tham nhũng là “quốc nạn” và rất tích cực đấu tranh chống tham nhũng.

    Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lên án mạnh mẽ tệ tham nhũng, quyết tâm đấu tranh phòng ngừa và chặn đứng, đẩy lùi tham nhũng. Nhận xét, đánh giá về tình hình tham nhũng và những quốc sách phòng, chống tham nhũng đã được nhiều lần nêu lên trong các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quyết định của các cơ quan chức năng, đoàn thể quần chúng. Những chủ trương, biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước đã liên tục được tuyên truyền đến người dân bằng các phương tiện thông tin đại chúng, bằng học tập, hội nghị, hội thảo chuyên đề ở từng cấp, từng ngành, từng khu vực. Tình hình tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trở thành đề tài thường xuyên trong các báo cáo chỉ đạo định kỳ của Chính phủ, của các cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm chính về vấn đề này. Đồng thời, nó cũng là những câu chuyện thường ngày phản ánh sự bất bình, bức xúc của mỗi người dân cả ở thành thị lẫn nông thôn, không phân biệt vùng, miền nào.

    Các biện pháp phòng, chống tham nhũng đã được triển khai toàn diện, thường xuyên, đợt này nối tiếp đợt khác. Nhiều biện pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được sử dụng, như biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục – cảm hoá, trừng trị bằng pháp luật,… Tuy vậy, tình hình tham nhũng ở nước ta vẫn không giảm.

    Vừa qua, cùng với việc Nhà nước ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, ngày 1- 6 – 2006; rồi sự ra đời của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, Hội nghị Trung ương 3, khoá X đã ra Nghị quyết chuyên đề “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Nghị quyết đã nhận diện một cách khá đầy đủ thực trạng của công tác phòng, chống tham nhũng và những nguyên nhân chủ yếu của những thiếu sót, khuyết điểm trong công tác này. Đồng thời, Nghị quyết đưa ra những mục tiêu, quan điểm phòng, chống tham nhũng, lãng phí; những chủ trương, giải pháp và cách tổ chức thực hiện một cách toàn diện, sâu sắc.

    Những việc làm đó tỏ rõ sự quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong công tác phòng, chống tham nhũng, để làm cho mọi người có đủ bốn điều kiện: 1- không cần tham nhũng, 2- không thể (hoặc rất khó) tham nhũng, 3- không muốn tham nhũng, 4- không dám tham nhũng. Tuy nhiên, tính hiệu quả của các giải pháp này chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Hiện nay, ở nước ta, tình hình “tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”(1).

    Kết quả chưa khả quan về công tác phòng, chống tham nhũng vừa qua không thể phủ nhận được tính toàn diện, sâu sắc của các biện pháp phòng, chống tham nhũng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang sử dụng. Điều đó nói lên rằng, liều lượng của những biện pháp ấy chưa đủ mạnh và chưa nhằm trúng khâu đột phá để công tác phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

    Theo tôi, nếu chúng ta tìm đúng được khâu đột phá để phòng, chống tham nhũng thì chắc chắn sẽ mang lại những hiệu quả rất lớn.

    Việc Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nỗ lực triển khai những biện pháp phòng, chống tham nhũng nhằm tạo ra đủ 4 điều kiện trên để công tác phòng, chống tham nhũng có hiệu quả là rất cần thiết, rất toàn diện. Bởi lẽ:

    Để có điều kiện khiến cho người ta không cần tham nhũng thì phải làm cho Nhà nước giàu mạnh, có thể đáp ứng, thoả mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần cho mọi người dân. Muốn vậy, phải đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, phát triển khoa học – công nghệ tiên tiến, xây dựng nền sản xuất có năng suất, chất lượng cao, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Đó là cả một quá trình lâu dài, cần phải mất nhiều thời gian, không thể có trong một sớm, một chiều.

    Để người ta không thể (hoặc rất khó) tham nhũng thì bộ máy tổ chức, quản lý của Đảng, Nhà nước phải rất khoa học, bao gồm cả cơ chế, cả con người và hệ thống luật pháp chặt chẽ không có kẽ hở để tham nhũng không thể luồn lọt. Đồng thời, đời sống dân chủ trong xã hội phải được nâng cao, mọi hành vi tham nhũng đều không lọt nổi con mắt làm chủ của nhân dân. Để đạt được điều đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân phải có sự đổi mới và cố gắng rất lớn trong công cuộc đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…

    Để người ta không muốn tham nhũng thì, hoặc là, phải có một quá trình với thời gian lâu dài để tạo đủ điều kiện thỏa mãn về vật chất và tinh thần cho mọi người dân khiến họ không cần phải tham nhũng như đã phân tích ở trên; hoặc là, xã hội phải tạo ra nếp sống không có tham nhũng, coi tham nhũng là xấu xa, tội lỗi, bất cứ ai tham nhũng cũng đều bị lên án, trừng trị… để gây áp lực tâm lý làm cho người ta không muốn và không dám tham nhũng. Trong hai phương án ấy, chỉ có phương án thứ hai là phù hợp với hoàn cảnh xã hội nước ta hiện nay. Muốn thực hiện được phương án thứ hai này, chúng ta phải ra sức xây dựng một xã hội dân chủ mà ở đó, mọi người sống có đạo đức, trong sạch, liêm khiết.

    Để người ta không dám tham nhũng thì, thứ nhất, phải xây dựng được một xã hội đạo đức, thực sự dân chủ, phát huy được tinh thần làm chủ của nhân dân, có thể tố giác và ngăn chặn được mọi hành vi tham nhũng, dù chúng có được che đậy tinh vi đến mấy. Thứ hai, một khi kẻ tham nhũng đã bị tố giác và có những bằng chứng không thể chối cãi thì Nhà nước phải xử lý nghiêm, xử lý nặng, buộc đương sự phải bồi thường thiệt hại, đồng thời tạo được làn sóng phê phán, lên án họ trong từng cộng đồng, trong toàn xã hội.

    Như vậy, xét một cách tổng thể hoàn cảnh kinh tế, chính trị và xã hội của nước ta hiện nay, có thể nói, chúng ta chưa đủ sức để triển khai đồng loạt các biện pháp nhằm đưa lại cho mọi người đủ cả 4 điều kiện để không cần tham nhũng, không thể (hoặc khó) tham nhũng, không muốn tham nhũng và không dám tham nhũng. Tuy nhiên, về mặt nhận thức, vẫn phải khẳng định việc tạo đủ 4 điều kiện trên là phương hướng đúng đắn để diệt trừ tận gốc tham nhũng, dù đó là một quá trình lâu dài và đầy gian khổ. Vậy, chúng ta phải làm gì để có thể “hạ nhiệt được cơn sốt” tham nhũng đang ở vào giai đoạn nguy kịch như hiện nay? Theo tôi, chúng ta cần phải thực hiện ngay những biện pháp cần thiết nhằm thoả mãn 2 điều kiện để người ta không muốn tham nhũng không dám tham nhũng. Trước mắt, chúng ta phải chọn được khâu đột phá và tập trung tác động vào đó tạo động lực cho việc hoàn thành cả hệ thống các biện pháp.

    Khâu đột phá phòng, chống tham nhũng

    Như đã phân tích ở trên, để thỏa mãn 2 điều kiện khiến cho người ta không muốn tham nhũngkhông dám tham nhũng, nếu chờ đợi đến khi nền sản xuất phát triển có khả năng thoả mãn được nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi người và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng hoàn thiện, có hệ thống luật pháp chặt chẽ, hoàn chỉnh không còn kẽ hở cho tham nhũng tồn tại thì sẽ quá lâu. Do vậy, trước mắt chúng ta có thể ưu tiên sử dụng ba biện pháp phù hợp hơn cả là: 1- Phát động xây dựng một nếp sống đạo đức xã hội đói cho sạch, rách cho thơm, tẩy chay tham nhũng, coi tham nhũng là trộm cắp, là nhục nhã và hèn hạ; 2- Trên cơ sở những thành tựu thu được của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng trong xã hội một nếp sống dân chủ, khuyến khích mọi người nói lên sự thật, có cơ chế bảo vệ những người dũng cảm tố cáo, phát hiện bọn tham nhũng; 3- Khi đã phát hiện được tham nhũng, cần phải trừng phạt nghiêm; đặc biệt với những kẻ tham nhũng là cán bộ, đảng viên. Cần xác định đây là khâu đột phá để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

    Cần phải nói thêm rằng, ba biện pháp này chúng ta đã làm và đang làm, nhưng làm một cách dàn trải cùng với các biện pháp phòng, chống tham nhũng khác, chứ chưa coi đó là biện pháp ưu tiên để tập trung giải quyết, tạo đà cho việc thực hiện các biện pháp khác.

    Để thực hiện tốt ba biện pháp này, phải xác định khâu đột phá như đã phân tích. Khâu đột phá đó sẽ tác động mạnh vào đối tượng là đảng viên – cán bộ, làm cho họ luôn tự giác, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng. Muốn thực hiện được khâu đột phá này, theo tôi, cần tập trung vào hai nhiệm vụ chính sau đây.

    Thứ nhất, phải tăng cường chỉnh đốn Đảng, giáo dục cho đảng viên “có lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật. Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác”(2). Điều này cũng được ghi rõ trong mục 2, Điều 2 của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Thiết nghĩ, trong xã hội ta, nếu các đảng viên chấp hành nghiêm Điều lệ thì chắc hẳn nạn tham nhũng khó có đất sống. Bởi vì, người đảng viên luôn là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Nhưng, hiện nay, có một thực tế đau đớn là, hầu hết các vụ tham nhũng ở nước ta đều dính dáng trực tiếp, hoặc gián tiếp đến đảng viên – những người có chức, có quyền. Dù những hành động tham nhũng này có được biện bạch thế nào chăng nữa thì cũng là vô đạo, phi nhân tính, bất nghĩa mà người đảng viên không được phép làm. Do vậy, mấu chốt là ở chỗ, chúng ta cần tăng cường chỉnh đốn Đảng, đổi mới công tác đảng, kiên quyết đưa ra khỏi hàng ngũ của Đảng những đảng viên mắc vào tham nhũng, dù đó là đảng viên thường, hay đảng viên có chức, có quyền ở bất cứ cương vị nào. Chúng ta phải làm mạnh, mạnh từ trên xuống dưới, từ trong Đảng ra ngoài Đảng. Kinh nghiệm của Trung Quốc, như nguyên Tổng bí thư Giang Trạch Dân chỉ rõ: “Dưới soát tận đáy, trên không bịt trần”. Làm không sợ “đụng chạm”, không sợ “liên lụy” như một số người e ngại – hữu khuynh – ngụy biện cho rằng, sẽ làm mất ổn định chính trị nội bộ và các thế lực thù địch sẽ lợi dụng, khoét sâu phá hoại ta từ bên trong.

    Đối với người đảng viên – cán bộ, chúng ta phải làm cho họ nâng cao tính tiên phong, gương mẫu, biết “lo trước thiên hạ”, nhận khó khăn về mình và biết nhường nhịn, “hưởng sau thiên hạ”. Làm như thế là đúng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: muốn có chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa. Người đảng viên phải nêu gương trước để trở thành con người xã hội chủ nghĩa có nếp sống trong sáng. Điều này không phải là hô hào, duy ý chí hoặc thần thánh hóa người đảng viên. Ai đó đã ngụy biện rằng, đảng viên cũng là con người, cũng có những nhu cầu, những ham muốn như những người bình thường khác, không thể đòi hỏi ở họ những gì quá đáng; cho nên, họ vẫn có thể có những hành động tham nhũng, tiêu cực! Nếu quả người đảng viên không hơn những người bình thường khác, vẫn có thể tham nhũng, tiêu cực và luôn đặt lợi ích cá nhân của mình lên trên lợi ích của nhân dân, của dân tộc thì tốt nhất, hãy ra khỏi hàng ngũ của Đảng; bởi vì, mục đích của Đảng, Điều lệ của Đảng không cho phép họ làm như vậy. Người đảng viên, nhất thời do hoàn cảnh này, nọ, có thể mắc khuyết điểm, nhưng phải giữ được lòng tự trọng, tự xấu hổ, tự đấu tranh, chuộc lại những lỗi lầm.

    Mọi tổ chức đảng, đặc biệt là các tổ chức đảng ở cơ sở, như tổ đảng, chi bộ đảng – nơi mà từng đảng viên trực tiếp sinh hoạt, phải xây dựng được môi trường dân chủ thực sự, có tinh thần đấu tranh nội bộ mạnh mẽ, thẳng thắn phê bình và tự phê bình, tự tìm ra những kẻ tham nhũng, không cần phải nhờ đến cơ quan chức năng hoặc lực lượng nào khác.

    Thứ hai, khi đã phát hiện tham nhũng thì phải xử phạt nghiêm minh với mọi đối tượng và có hình thức tăng nặng đối với đảng viên – cán bộ. Điều này, đất nước ta đã có những kinh nghiệm bổ ích. Ngay từ thế kỷ XV, dưới triều Hồng Đức (Vua Lê Thánh Tông), tại Điều 138 của Bộ Quốc triều Hình luật đã ghi: “Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì xử tội chém. Những bậc công thần, quý thần cùng những người có tài được giữ vào hàng bát nghị mà ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì phạt 50 quan; từ 10 đến 19 quan thì phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20 quan trở lên thì xử tội đồ và những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho”(3). Còn đối với chế độ ta hiện nay, thiết tưởng, cùng tội trạng như nhau, những đối tượng là đảng viên – cán bộ phải bị xử phạt nặng hơn dân thường; người ở ngôi vị càng cao, càng phải xử nặng. Bởi lẽ, “thượng bất chính, hạ tắc loạn”; nếu không thì quần chúng nhân dân sẽ không phục.

    Đối với toàn xã hội, cần đẩy mạnh thực hành dân chủ để mọi người dân có điều kiện kiểm tra, giám sát lẫn nhau, giám sát công việc của các tổ chức, cơ quan mà kịp thời ngăn chặn, phát hiện những hành động tham nhũng. Đẩy mạnh hoạt động của báo chí trong công tác phòng, chống tham nhũng, từ đó có thể tạo ra dư luận và tâm lý xã hội tích cực đối với việc phòng, chống tham nhũng. Cần xây dựng một nếp sống trong sáng, lành mạnh trong xã hội, “phát động tư tưởng quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu có chỗ ẩn nấp”(4). Vi ệc tạo ra một dư luận xã hội mạnh mẽ để tẩy chay tham nhũng có tác dụng răn đe rất lớn đối với những kẻ có hành vi tham nhũng. Tác dụng của việc răn đe này nhiều khi còn cao hơn cả sự răn đe của pháp luật.

    Thiết nghĩ, thực hiện được khâu đột phá này để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, chúng ta vẫn có thể xây dựng được một xã hội tốt đẹp, có đời sống văn hóa lành mạnh, khi mà nền kinh tế của chúng ta còn chưa phát triển như cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã từng nói.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đấu Tranh Chống Suy Thoái Về Tư Tưởng Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống, Góp Phần Ngăn Ngừa Tham Nhũng
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Công Khai, Minh Bạch Để Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Luật Phòng, Chống Tham Nhũng Năm 2022
  • Luật Phòng, Chống Tham Nhũng 2005
  • Một Số Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chú Trọng Triển Khai Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Chủ Động Triển Khai Những Biện Pháp Phòng Và Chống Tham Nhũng Có Hiệu Quả
  • Tội Phạm Tham Nhũng Và Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm Tham Nhũng
  • Luận Văn Tội Phạm Tham Nhũng
  • 6 Cách Để Phòng Chống Tham Nhũng
  • nhũng ngăn cản nhiều nớc vợt qua những thách thức nghiêm trọng nhất của phát

    triển, cản trở đầu t trong nớc và nớc ngoài, làm xói mòn niềm tin trong các tổ

    chức công cộng, niềm tin của nhân dân đối với Chính phủ, và làm tồi tệ thêm

    vấn đề ngân sách bằng cách lấy đôi của Chính phủ các khoản thuế quan và thuế

    thu nhập đáng kể.

    Mặc dù tội phạm tham nhũng là một loại tội phạm nguy hiểm và có tính

    chất truyền thống nhng việc nghiên cứu và tìm ra các biện pháp phòng chống

    loại tội phạm này luôn là một vấn đề bức xúc đối với mọi nền kinh tế trên thế

    giới và đối với sự phát triển của nền Việt Nam nói riêng. Đó là một nhiệm vụ

    cấp thiết đang đặt ra cho các nhà luật học nói chung và ngời nghiêm cứu khoa

    học luật hình sự nói riêng.

    Dù vẫn đang là sinh viên nhng thông qua các phơng tiện thông tin đại

    chúng cũng nh trong thực tế đời sống xã hội, tôi cảm thấy rất quan tâm và bức

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    2

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    xúc về vấn đề tội phạm tham nhũng hiện nay. Tôi đã tiến hành nghiên cứu trên

    sách báo, internet và thực tế để hoàn thành báo cáo khoa học này. Trong phạm

    vi một báo cáo kho học sinh viên chỉ xin đề cập về vấn đề này trên một số khía

    cạnh nh sau: tội phạm tham nhũng – một số vấn đề lý luận, thực tế và những

    ảnh hởng tới nền kinh tế, một số biện pháp đấu tranh phòng chống, tơng ứng

    với 3 chơng trong nội dung của báo cáo.

    Do tầm kiến thức còn hạn chế của sinh viên và thời gian thực hiện ngắn

    nên báo cáo này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận đợc

    những ý kiến phê bình và đóng góp của thầy cô cùng các bạn.

    Trong quá trình thực hiện báo cáo tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình

    của các thầy cô giáo và bạn bè. Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới

    ThS Chu Thị Trang Vân- giảng viên bộ môn LHS, ngời đã hớng dẫn tôi hoàn

    thành báo cáo này.

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    3

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Chơng 1

    Tội phạm tham nhũng – Một số vấn đề lý luận

    1. Khái niệm tham nhũng

    Tham nhũng là một hiện tợng xã hội tiêu cực xuất hiện cùng với sự phát

    triển của Nhà nớc, nó là biểu hiện của sự tha hoá của một bộ phận các quan

    chức đợc giao cho các quyền về chính trị – kinh tế – văn hoá – xã hội. Do vậy

    hiện tợng tiêu cực này đợc đề cập, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau ở

    nhiều lĩnh vực khác nhau: chính trị – pháp lý – kinh tế -xã hội Mỗi ngành khoa

    học đều có cách hiểu và tiếp cận riêng về quốc nạ này nhng tất cả đều nhắm đến

    một mục đíhc chung là nhận diện tham nhũng để từ đó tìm ra những giải pháp

    khả thi để có thể ngăn chặn, khắc phục và giảm thiểu đến mức thấp nhất hiện t-

    ợng này.

    Nhìn từ góc độ xã hôi, tham nhũng phải đợc đánh giá là một hiện tợng xã

    hội chứ không phải là hiện tợng nhất thời của một ngời hay một nhóm ngời

    nhất định trong xã hội. Trạng thái, hình thức và mức độ của tệ tham nhũng phụ

    thuộc vào những thay đổi đang diễn ra trong xã hội, xã hội càng hiện đại thì tệ

    nạn này càng có môi trờng phát triển, mức độ nguy hiểm cho xã hội sẽ cao hơn

    và thu đoạn phạm tội cũng ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.

    Dới góc độ chính trị, tham nhũng thể hiện sự tha hoá của một bộ phận

    không nhỏ các cán bộ công chức Nhà nớc mà biểu hiện rõ nhất của nó là tình

    trạng quan liêu, mua bán chức quyền để vụ lợi.

    Còn từ góc độ kinh tế thì tham nhũng không chỉ gây ra thiệt hại, thất

    thoát tài sản của Nhà nớc của nhân dân mà nó còn phá hoại cản trở các giải

    pháp kinh tế xã hội, kìm hãm sự phát triển kinh tế.

    Dới góc độ pháp luật hình sự thì tham nhũng là hành vi nguy hiểm cho xã

    hội bị coi là tội phạm. Các hành vi này do chủ thể đặc biệt (ngời có chức vụ,

    quyền hạn) thực hiện với lỗi cố ý, động cơ và mục đích phạm tội là vì vụ lợi cá

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    4

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    nhân, có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi ích vật chất xâm phạm vào các

    quan hệ xã hội đợc pháp luạt bảo vệ.

    Hiện nay ở Việt Nam khái niệm về tham nhũng đang là một vấn đề gây

    tranh luận, ở đây chỉ xin đề cập đến một số quan điểm sau:

    – Theo “Từ điển Tiếng Việt” thì “Tham nhũng là lợi dụng quyền hạn để

    nhũng nhiễu dân và lấy của”

    – Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947) Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ

    rõ: “Tham nhũng là hành vi của những ngời đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích

    của Đảng, của dân tộc” do đó mà chỉ tự t, tự lợi dùng công việc trên dựa vào

    thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình.

    – Còn dới góc độ tội phạm học, Giáo s – Tiến sĩ Đỗ Ngọc Quang đa ra

    khái niệm: “Tham nhũng là hiện tợng xã hội tiêu cực có tính lịch sử xuất hiện

    và tồn tại trong xã hội đợc phân chia giai cấp và hình thành nhà nớc, đợc thể

    hiện bằng những hành vi của ngời có chức vụ quyền hạn để trục lợi cho cá nhân

    hoặc cho ngời khác dới bất kỳ hình thức nào, gây thiệt hại tài sản của Nhà nớc,

    của tập thể, của công dân hoặc đe doạ gây thiệt hại cho hoạt động đúng đắn của

    cơ quan Nhà nớc, tổ chức xã hội hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân”.

    – Theo Pháp lệnh chống tham nhũng có hiệu lực từ 1/5/1998 thì “tham

    nhũng là hành vi của ngời có chức vụ quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn

    đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi gây thiệt hại

    cho tài sản Nhà nớc, của tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của

    cơ quan, tổ chức”.

    Nh vậy, có khá nhiều khái niệm khác nhau để giải thích tệ nạn xã hội

    nguy hiểm này, nhng nhìn chung đều cho chúng ta thấy một cách hiểu về bản

    chất của tham nhũng, rằng đó chính là hiện tợng xã hội, tiêu cực đợc thể hiện

    bằng những hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi cho cá nhân hoặc

    cho ngời khác dới bất cứ hình thức nào, gây thiệt hại cho tài sản của tập thể, của

    công dân hoặc gây thiệt hại cho hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nớc, tổ

    chức xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    2. Khái niệm tội phạm tham nhũng

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    5

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Cho tới nay, tham nhũng một hiện tợng xã hội tiêu cực đã trở thành một

    quốc nạn của toàn xã hội, nó gây tác động tiêu cực, không nhỏ đối với xã hội,

    gây trong lòng dân làn sóng bất bình, nó là biểu hiện của sự suy thoái đạo đức,

    vi phạm pháp luật khi mà những hành vi tham nhũng đó gây ra thiệt hại đáng

    kể cho xã hội đủ các dấu hiệu để cấu thành tội phạm thì phải bị truy cứu trách

    nhiệm hình sự. Theo Bộ luật Hình sự 1999 thì loại tội phậm này đợc quy định ở

    Mục A – Chơng XXI, bao gồm các tội sau:

    – Tội tham ô tài sản (Điều 278)

    – Tội nhận hối lộ (Điều 279)

    – Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản (Điều 280)

    – Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281)

    – Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282)

    – Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hởng với ngời khác để trục lợi

    (Điều 283)

    – Tội giả mạo trong công tác (Điều 284)

    Muốn đa ra đợc khái niệm về tội tham nhũng, trớc hết chúng ta phải nắm

    đợc khái niệm tội phạm nói chung. Theo khoản 1 – Điều 8 – Bộ luật Hình sự quy

    định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật

    Hình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc

    vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;

    xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh,

    trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; xâm phạm

    những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.

    Qua khái niệm về tội phạm nói chung và phần các tội phạm về tham

    nhũng đợc ghi nhận tại Mục A – Chơng XXI có thể hiểu khái niệm về tội phạm

    tham nhũng nh sau: “Các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm

    cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật Hình sự, do ngời có chức vụ, quyền hạn

    đã lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn của mình thực hiện trong khi thi

    hành công vụ một cách cố ý trực tiếp xâm phạm vào hoạt động đúng đắn và uy

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    6

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    tín của cơ quan Nhà nớc hoặc tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của

    công dân nhằm trục lợi”.

    3. Các dấu hiệu pháp lý đặc trng của tội phạm tham nhũng

    3.1. Khách thể của tội phạm tham nhũng

    Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính giai cấp của pháp luật

    nói chung cũng nh của Luật Hình sự nói riêng khẳng định: “Khách thể của tội

    phạm gây thiệt hại là hệ thống những quan hệ xã hội của chế đội có giai cấp đợc

    Luật Hình sự của chế độ đó bảo vệ”. Nh vậy có thể hiểu khách thể của tội phạm

    là quan hệ xã hội đợc Luật Hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.

    Khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố quan trọng cấu thành tội

    phạm, xác định đúng khách thể của tội phạm cũng đồng nghĩa với việc xác định

    đợc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. ở đây, khách thể của

    tội phạm tham nhũng là những hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nớc, tổ

    chức xã hội; quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân.

    Hoạt động đúng đắn của bộ máy Nhà nớc, tổ chức xã hội là khái niệm rất

    chung để chỉ mỗi cơ quan tổ chức thực hiện đúng nhiệm vụ của mình của pháp

    luật quy định. Tuỳ theo nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức đợc Nhà nớc giao

    phó mà hoạt động đúng đắn đó thể hiện ở một lĩnh vực khác nhau. Để bảo vệ có

    hiệu quả hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nớc, tổ chức xã hội Luật Hình sự

    chia chúng thành các nhóm quan hệ xã hội khác nhau, ví dụ: nhóm các tội xâm

    phạm sở hữu (Chơng XIV – BLHS 1999), nhóm các tội xâm phạm hoạt động t

    pháp (Chơng XXII – BLHS 1999), nhóm các tội phạm về chức vụ thì đợc quy

    định tại Chơng XXI, trong đó các tội phạm về tham nhũng đợc quy định tại mục

    A.

    Tuy nhiên, khách thể của tội phạm tham nhũng còn bao gồm cả các

    quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và uy tín của các cơ quan Nhà nớc, tổ

    chức xã hội.

    3.2. Mặt khách quan của tội phạm tham nhũng

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    7

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm

    những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách

    quan mà con ngời có thể trực tiếp nhận biết đợc đó là:

    – Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội

    – Hậu quả nguy hiểm cho xã hội

    – Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

    – Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (Công cụ,

    phơng tiên, phơng pháp, thủ đoạn, thời gian địa điểm phạm tội)

    Hành vi tham nhũng là một dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

    Nếu không có hành vi thực hiện tội phạm thì không có những dấu khác và cũng

    không có tội phạm. Hành vi ở đây có thể là hành động hoặc không hành động.

    Nhng nó đợc gắn chặt với ngời có chức vụ quyền hạn và chỉ do ngời có chức vụ

    quyền hạn thực hiện trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc giao

    cho.

    Hành vi phạm tội qua hành động là sự tác động trái pháp luật, gây thiệt

    hại đáng kể cho hoạt động đúng đắn của các cơ qua Nhà nớc và tổ chức xã hội,

    quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đợc Luật Hình sự bảo vệ.

    Hành vi phạm tội không qua hành động là cách xử sự tiêu cực của ngời có

    chức vụ quyền hạn. Họ không thực hiện chức năng nhiệm vụ đợc giao hoặc có

    thực hiện nhng không đầy đủ nên đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích Nhà

    nớc, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Dấu hiệu tiếp theo thuộc mặt khách quan của tội phạm tham nhũng là hậu

    quả của hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn của những ngời có chức vụ quyền

    hạn để phạm tội. Hậu quả do tội tham nhũng gây ra có thể chia thành hai trờng

    hợp:

    + Hậu quả vật chất: là sự hao hụt về tiền, hành hoá, vật t Thiệt hại này

    có thể đợc xác định bằng các đại lợng cụ thể, có thể nhìn thấy và tính toán đợc.

    + Hậu quả phi vật chất: là những thiệt hại không thể đo đếm, xác định đ-

    ợc bằng các đại lợng cụ thể, đó là sự suy giảm lòng tin của nhân dân, mất uy tín

    với nhân dân của các cơ quan Nhà nớc, tổ chức xã hội.

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    8

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Một dấu hiệu bắt buộc khác trong mặt khách quan của tội phạm tham

    nhũng cũng có cấu thành vật chất là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm

    tội của ngời có chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và hậu quả do

    tội phạm đó gây ra. Hành vi phạm tội phải là nguyên nhân trực tiếp làm phát

    sinh hậu quả, ngời phạm tội chỉ chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi xác

    định hậu quả xảy ra là hậu quả tất yếu phát sinh từ hành vi đó.

    3.3. Chủ thể của tội phạm tham nhũng

    Nh chúng ta đã biết, chủ thể của tội phạm tham nhũng là một loại chủ thể

    đặc biệt, đòi hỏi đó phải là những ngời có chức vụ, quyền hạn. ở đây, ngoài hai

    dấu hiệu thông thờng là độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự, bắt buộc phải

    có dấu hiệu thứ ba là ngời có chức vụ, quyền hạn. Điều 277 – BLHS 1999 quy

    định: ” Ngời có chức vụ là ngời do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do

    một hình thức khác, có hởng lơng hoặc không hởng lơng, đợc giao thực hiện

    một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”.

    Có thể thấy ngời có chức vụ quyền hạn có một só đặc điểm nh sau:

    – Là ngời đợc giữ chức vụ thờng xuyên hoặc tạm thời trong cơ quan Nhà

    nớc, tổ chức xã hội. Chức vụ này có thể do bổ nhiệm hoặc do bầu cử, hợp đồng

    hay hình thức khác (uỷ quyền, đại diện), có hởng lơng hoặc không hởng lơng

    của Nhà nớc.

    – Là ngời thực hiện một trong các chức năng: đại diện quyền lực Nhà nớc,

    tổ chức điều hành quản lý hành chính; hoặc chức năng tổ chức sản xuất kinh

    doanh theo công vụ đã đợc giao cho họ.

    – Là những ngời thực hiện trách nhiệm nhất định theo thẩm quyền chuyên

    môn mà họ đảm nhận.

    3.4. Mặt chủ quan của tội phạm tham nhũng

    Trong khoa học Luật Hình sự thì tội phạm là thể thống nhất của hai mặt

    khách quan và chủ quan. Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của

    tội phạm. Vậy mặt chủ quan là: hoạt động tâm lý bên trong của ngời phạm tội

    và nó luôn đợc gắn liền với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm. Nội dung của

    mặt chủ quan bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    9

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Bài Tiểu Luận, Luận Văn Về Phòng Chống Tham Nhũng
  • Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng
  • Việt Nam Học Hỏi Kinh Nghiệm Chống Tham Nhũng Của Các Thành Viên Apec
  • Nhiều Giải Pháp Phòng Ngừa Trong Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Cần Xây Dựng Các Biện Pháp Có Tính Đột Phá Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng
  • 6 Giải Pháp Trọng Tâm Phòng Chống Tham Nhũng, Lãng Phí

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng, Tiêu Cực Từ Xây Dựng Đảng
  • Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Bộ Tài Chính Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Luận Văn: Các Biện Pháp Hành Chính Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Nhận Diện, Phát Hiện Và Các Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng Vặt
  • Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Kết luận (số 21-KL/TW) Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI). Theo đó, Ban Chấp hành Trung ương tán thành cơ bản với Tờ trình, Báo cáo của Bộ Chính trị về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí.

    Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), với sự quyết tâm, nỗ lực của các tổ chức Đảng, Nhà nước, MTTQ và cả hệ thống chính trị, công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức, hành động và đạt được những kết quả bước đầu, nhất là trong phòng ngừa, công khai, minh bạch hóa, cải cách thủ tục hành chính, quản lý tài sản công.

    Trên một số lĩnh vực, tham nhũng, lãng phí đã từng bước được kiềm chế. Tuy nhiên, công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

    Phòng chống tham nhũng, lãng phí là công việc khó khăn, phức tạp, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, đảng viên tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đồng bộ mục tiêu, quan điểm và các giải pháp được nêu trong Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X. Tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:

    1 – Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Cơ quan Kiểm tra của Đảng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có chức năng phòng chống tham nhũng của Nhà nước để kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời và công khai kết quả xử lý tổ chức, cán bộ, đảng viên có vi phạm.

    3 – Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách về công tác tổ chức, cán bộ để phòng chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ, nhất là trong các khâu tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật…

    Có quy định cụ thể để điều chuyển, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều dư luận, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nghiên cứu ban hành quy định về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Từng bước thực hiện chế độ tiền lương theo hướng bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức có nguồn thu nhập chủ yếu bằng lương, sống bằng lương và có mức sống khá trong xã hội.

    4 – Tiếp tục hoàn thiện thể chế và tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí. Đẩy nhanh tiến độ xử lý các vụ việc tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng, phức tạp mà dư luận xã hội quan tâm. Tập trung kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với một số lĩnh vực trọng điểm; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thanh tra, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc, vụ án tham nhũng; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm, gây lãng phí.

    5 – Tăng cường vai trò giám sát của cơ quan dân cử và nhân dân trong phòng chống tham nhũng, lãng phí. Ban hành quy chế về việc nhân dân giám sát tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên. Có biện pháp bảo vệ an toàn và kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ, đảng viên, người dân dũng cảm tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng, lãng phí và những tập thể, cá nhân có thành tích đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.

    6 – Đổi mới, nâng cao năng lực của cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo và cơ quan thường trực, tham mưu về công tác phòng chống tham nhũng. Ở Trung ương, thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Lập lại Ban Nội chính Trung ương là cơ quan tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương, mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, về chủ trương, chính sách lớn thuộc lĩnh vực nội chính; đồng thời, là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng.

    Ở địa phương, không tổ chức ban chỉ đạo tỉnh, TP về phòng chống tham nhũng. Tỉnh ủy, Thành ủy trực tiếp lãnh đạo công tác phòngchống tham nhũng và có trách nhiệm phối hợp với Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng khi có vụ việc tham nhũng nghiêm trọng xảy ra ở địa phương. Giao Bộ Chính trị xem xét, quyết định cụ thể việc lập Ban Nội chính Tỉnh ủy, Thành ủy để tham mưu cho cấp ủy về công tác nội chính và công tác phòng chống tham nhũng.

    Các Tỉnh ủy, Thành ủy, Đảng đoàn, Ban Cán sự Đảng, Đảng ủy trực thuộc Trung ương quán triệt Kết luận này đến đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng kế hoạch thực hiện một cách cụ thể, phù hợp và thiết thực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cục Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội
  • Một Số Vấn Đề Thực Trạng Và Giải Pháp Chủ Yếu Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa Cơ Sở, Đấu Tranh Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội Nghiêm Trọng, Đặc Biệt Mại Dâm Ma Túy
  • Các Nguyên Nhân Dẫn Đến Tệ Nạn Xã Hội Và Cách Khắc Phục, Hạn Chế
  • Chuyên Đề Tình Hình Và Giải Pháp Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội Ở Các Tỉnh Miền Bắc Và Hòa Bình Hiện Nay
  • Bài 13: Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội
  • Biện Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phòng Chống Tham Nhũng: Một Số Biện Pháp Còn Hình Thức, Hiệu Quả Thấp
  • Vấn Đề Bạo Lực Học Đường Hiện Nay Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Một Số Giải Pháp Về Phòng Ngừa Bạo Lực Học Đường Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Để Hạn Chế Bạo Lực Học Đường Hiện Nay
  • 5 Kĩ Năng Giúp Trẻ Phòng Chống Bạo Lực Học Đường
  • Một trong những biện pháp phòng, chống tham nhũng là thực hiện công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước.

    1- Quy định cụ thể các trường hợp xung đột lợi ích, trách nhiệm thông tin, báo cáo về các trường hợp xung đột lợi ích và công khai, phổ biến, tập huấn cho toàn thể người lao động, thành viên của doanh nghiệp, tổ chức;

    2- Quy định và thiết lập cơ chế tiếp nhận, xử lý thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích trong doanh nghiệp, tổ chức, bao gồm việc giám sát và áp dụng các biện pháp phù hợp khác theo thẩm quyền để kiểm soát xung đột lợi ích;

    3- Có biện pháp bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động đã thông tin, báo cáo về xung đột lợi ích trong doanh nghiệp, tổ chức khi bị thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại;

    4- Báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trong trường hợp xung đột lợi ích dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật cần phải ngăn chặn, xử lý kịp thời.

    Xử lý trách nhiệm người đứng đầu để xảy ra tham nhũng

    Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước khi để xảy ra tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức do mình quản lý

    1- Quy định cụ thể trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức do mình quản lý;

    2- Quy định hình thức xử lý trách nhiệm, các trường hợp được xem xét loại trừ, miễn, giảm hoặc bị tăng nặng trách nhiệm đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức do mình quản lý;

    3- Quy định trình tự, thủ tục xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức do mình quản lý.

    Phương Nhi/Chinhphu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Diện, Phát Hiện Và Các Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng Vặt
  • Luận Văn: Các Biện Pháp Hành Chính Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Bộ Tài Chính Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Biện Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng, Tiêu Cực Từ Xây Dựng Đảng
  • Tổng Bí Thư Nhấn Mạnh 6 Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Những Giải Pháp Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam
  • Đánh Giá Điện Thoại Samsung Note 10 Plus Có Tốt Không, Giá Bao Nhiêu
  • Review Có Nên Mua Dép Y Khoa Spenco Không, Tác Dụng Gì, Giá Bao Nhiêu
  • Những “người Đi Trước” Nói Về Giải Pháp Pen
  • Một là, phải tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham nhũng.

    Công tác tuyên truyền phải khẳng định rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; làm cho mọi người thấy rõ việc chỉnh đốn Đảng, xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm “chậm lại” sự phát triển, mà ngược lại, càng làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    Tăng cường phối hợp, kịp thời cung cấp, công khai thông tin, định hướng tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng, nhất là chủ động thông tin về kết quả kiểm tra, thanh tra, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm; về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế; về những vấn đề nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm trong xử lý tham nhũng.

    Chú trọng thông tin tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử.

    Bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng phòng, chống tham nhũng để chống phá Đảng, Nhà nước; xử lý nghiêm khắc việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt gây hậu quả xấu.

    Kiên trì rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hoá tiết kiệm, không tham nhũng trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Trước hết là phải xây dựng ý thức tự giác chấp hành, thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chủ động xử lý khi có xung đột lợi ích; xây dựng, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; phê phán, lên án, đấu tranh với tham nhũng, lãng phí; trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân tham nhũng, lãng phí.

    Đặc biệt, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng phải cổ vũ, động viên sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, huy động sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng vạn, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”, như lời Bác Hồ đã căn dặn.

    Hai là, phải tập trung chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; phấn đấu từ nay đến hết nhiệm kỳ cơ bản hoàn thành một bước về xây dựng một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”.

    Tập trung hoàn thành việc xây dựng các quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng theo nghị quyết Trung ương 4, Trung ương 6 và Trung ương 7 khoá XII, nhất là: Hoàn thiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; quy định về việc ngăn chặn những người có chức, có quyền lợi dụng cương vị công tác để trục lợi; quy định về cho thôi, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; quy định về điều chuyển, thay thế cán bộ khi có dư luận hoặc có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, uy tín thấp; cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung…

    Đề nghị Quốc hội, Chính phủ tập trung chỉ đạo khẩn trương tiếp thu, hoàn thiện luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) bảo đảm khả thi và hiệu quả; sớm ban hành luật Bảo vệ bí mật nhà nước; sửa đổi, bổ sung luật Giám định tư pháp, luật Thanh tra, luật Cán bộ công chức, luật Viên chức và các văn bản quy định chi tiết thi hành để khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong phòng, chống tham nhũng. Đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, khắc phục những sơ hở trong quản lý kinh tế-xã hội và phòng, chống tham nhũng, nhất là ở các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng.

    Ba là, tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới.

    Tiếp tục làm tốt công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, “lợi ích nhóm”. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước; đối với những người vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai.

    Các cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cường quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu sai phạm; tiến hành mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng. Mục đích kỷ luật là để “trị bệnh cứu người”, cảnh tỉnh, răn đe, do đó phải quán triệt phương châm phòng ngừa chặt chẽ, ngăn chặn từ gốc, phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn.

    Tăng cường giám sát của tổ chức đảng từ trên xuống, giám sát từ dưới lên, phát huy vai trò giám sát lẫn nhau trong cùng cấp, tăng cường quản lý, giám sát thường ngày đối với đảng viên và cán bộ lãnh đạo. Xử lý nghiêm kỷ luật của Đảng, đồng thời kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử lý của pháp luật; đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Đảng viên ở bất cứ cương vị công tác nào vi phạm đều phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới; nơi nào tự kiểm tra không phát hiện, hoặc phát hiện nhưng xử lý vi phạm nương nhẹ thì cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương đó phải chịu trách nhiệm và có hình thức xử lý đúng mức, không “rút kinh nghiệm” chung chung. Giao cho uỷ ban Kiểm tra Trung ương có thể chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng xuống đến cả đảng bộ cấp huyện và cơ sở khi cần thiết, tránh tình trạng bao che sai phạm trong nội bộ của các địa phương, cơ quan, đơn vị.

    Cần tập trung khắc phục bằng được những yếu kém trong công tác cán bộ, những sai phạm của cán bộ khiến dư luận bức xúc. Kiểm tra toàn diện công tác cán bộ; chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ có biểu hiện tham nhũng; có nhiều dư luận quần chúng phản ánh, tố cáo tham nhũng; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ được quy hoạch vào các vị trí lãnh đạo, quản lý.

    Cấp ủy, tổ chức đảng, bộ, ngành, chính quyền các cấp và cán bộ, đảng viên phải nhận diện rõ, đấu tranh quyết liệt, có hiệu quả với các việc làm sai trái, lợi ích nhóm, mưu lợi cá nhân, với các đối tượng có biểu hiện, hành vi chạy chức, chạy quyền; bảo vệ cái đúng, chỉ rõ cái sai, can ngăn những việc làm chưa đúng, phát hiện và xử lý kịp thời việc lạm dụng, lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; kiên quyết hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, có hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ; thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương. Kiên quyết thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ theo tinh thần nghị quyết Trung ương 6, Trung ương 7 khóa XII.

    Bốn là, tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng.

    Quyền lực luôn có nguy cơ bị “tha hóa”, tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, cho nên phải thiết lập cho được một cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực đối với người có chức vụ, quyền hạn theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn phải được ràng buộc với trách nhiệm, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền hạn càng cao, trách nhiệm càng lớn. Do vậy, phải tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát để bảo đảm quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, không bị “tha hóa”; phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời thực hiện nghiêm việc xử lý, điều chuyển, miễn nhiệm, thay thế cán bộ có biểu hiện tham nhũng gây nhiều dư luận; xử lý nghiêm trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; và quan trọng hơn là phải ngăn ngừa tận gốc những sai phạm, khuyết điểm một cách căn cơ, bài bản bằng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nói một cách hình ảnh là phải “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế”.

    Phải tăng cường giám sát việc sử dụng quyền lực của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, tăng cường giám sát trong nội bộ tập thể lãnh đạo; công khai quy trình sử dụng quyền lực theo pháp luật để cán bộ, nhân dân giám sát. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải ghi nhớ, bất cứ ai cũng không có quyền lực tuyệt đối ngoài pháp luật, bất kỳ ai sử dụng quyền lực đều phải phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và tự giác chịu sự giám sát của nhân dân. Công quỹ là của công cho nên một xu, một hào cũng không được chi dùng bừa bãi; công quyền là vì dân cho nên không được mảy may vì riêng tư; phải thật sự chí công vô tư, công tư phân minh, công trước tư sau, vì công mà quên tư; mọi việc đều xuất phát từ dân, vì dân.

    Năm là, nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, nhất là ở các địa phương, cơ sở; xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tệ “tham nhũng vặt”; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng.

    Cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt hơn trong phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở, khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Tập trung chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, kiểm toán vào những nơi có vấn đề phức tạp, dư luận quan tâm, các lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng; xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng vòi vĩnh, nhũng nhiễu, “gợi ý”, “lót tay”, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp trong giải quyết công việc. Đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế, nhất là các vụ việc, vụ án nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ.

    Bổ sung, hoàn thiện quy định về xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nhưng không phát hiện được sai phạm, sau đó sai phạm này lại được phát hiện bởi các đoàn kiểm tra, thanh tra, kiểm toán khác. Có các giải pháp phù hợp, thuận lợi, an toàn để khuyến khích và kịp thời xử lý thông tin do người dân phát hiện, phản ánh, tố cáo.

    Tích cực xác minh, kịp thời áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong toả tài khoản, thu hồi triệt để tài sản tham nhũng trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; khuyến khích người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả trong các vụ án tham nhũng, kinh tế.

    Sáu là, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng.

    Tiếp tục kiện toàn, phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan phòng, chống tham nhũng, giúp việc các cấp uỷ từ Trung ương đến cơ sở. Các cơ quan nội chính, kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử phải là những “thanh bảo kiếm” sắc bén, có dũng khí đấu tranh ngăn chặn những việc làm sai trái, lợi ích nhóm, mưu lợi cá nhân; có nghiệp vụ, bản lĩnh bảo vệ cái đúng, chỉ rõ cái sai, can ngăn những việc làm chưa đúng; có quy định để ngăn ngừa có hiệu quả những sự tác động không theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào hoạt động của các cơ quan này. Điều đặc biệt quan trọng có ý nghĩa quyết định là, những người làm công tác phòng, chống tham nhũng nói chung, những người trực tiếp làm việc trong các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng nói riêng phải thật sự liêm chính, trong sạch, biết gương mẫu giữ mình, trọng liêm sỉ, không chịu bất cứ sức ép không trong sáng nào, bất cứ sự cám dỗ, mua chuộc nào của những kẻ phạm tội.

    Theo báo Chính Phủ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Động Đề Xuất Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Cục Hải Quan Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Thảo Luận Về Tình Hình Tham Nhũng Và Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Hội Thảo Khoa Học “phòng, Chống Tham Nhũng
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Thái Bình Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Tội Phạm Tham Nhũng Và Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Tội Phạm Tham Nhũng
  • 6 Cách Để Phòng Chống Tham Nhũng
  • Biện Pháp Phòng, Chống Tệ Nạn Xã Hội Trong Học Đường
  • Tìm Hiểu Các Biện Pháp Phòng, Chống Tệ Nạn Xã Hội Trong Học Đường
  • Đẩy Mạnh Tuyên Truyền Phòng, Chống Tội Phạm Và Tệ Nạn Xã Hội
  • xâm hại với tỷ lệ cao hơn ở các nớc đang phát triển và nền kinh tế đang

    chuyển đổi. Tham nhũng ngăn cản nhiều nớc vợt qua những thách thức

    nghiêm trọng nhất của phát triển, cản trở đầu t trong nớc và nớc ngoài, làm xói

    mòn niềm tin trong các tổ chức công cộng, niềm tin của nhân dân đối với

    Chính phủ, và làm tồi tệ thêm vấn đề ngân sách bằng cách lấy đôi của Chính

    phủ các khoản thuế quan và thuế thu nhập đáng kể.

    Mặc dù tội phạm tham nhũng là một loại tội phạm nguy hiểm và có tính

    chất truyền thống nhng việc nghiên cứu và tìm ra các biện pháp phòng chống

    loại tội phạm này luôn là một vấn đề bức xúc đối với mọi nền kinh tế trên thế

    giới và đối với sự phát triển của nền Việt Nam nói riêng. Đó là một nhiệm vụ

    cấp thiết đang đặt ra cho các nhà luật học nói chung và ngời nghiêm cứu khoa

    học luật hình sự nói riêng.

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    2

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Dù vẫn đang là sinh viên nhng thông qua các phơng tiện thông tin đại

    chúng cũng nh trong thực tế đời sống xã hội, tôi cảm thấy rất quan tâm và bức

    xúc về vấn đề tội phạm tham nhũng hiện nay. Tôi đã tiến hành nghiên cứu trên

    sách báo, internet và thực tế để hoàn thành báo cáo khoa học này. Trong phạm

    vi một báo cáo kho học sinh viên chỉ xin đề cập về vấn đề này trên một số

    khía cạnh nh sau: tội phạm tham nhũng – một số vấn đề lý luận, thực tế và

    những ảnh hởng tới nền kinh tế, một số biện pháp đấu tranh phòng chống, t-

    ơng ứng với 3 chơng trong nội dung của báo cáo.

    Do tầm kiến thức còn hạn chế của sinh viên và thời gian thực hiện ngắn

    nên báo cáo này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận đợc

    những ý kiến phê bình và đóng góp của thầy cô cùng các bạn.

    Trong quá trình thực hiện báo cáo tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình

    của các thầy cô giáo và bạn bè. Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành

    tới ThS Chu Thị Trang Vân- giảng viên bộ môn LHS, ngời đã hớng dẫn tôi

    hoàn thành báo cáo này.

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    3

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Chơng 1

    Tội phạm tham nhũng – Một số vấn đề lý luận

    1. Khái niệm tham nhũng

    Tham nhũng là một hiện tợng xã hội tiêu cực xuất hiện cùng với sự phát

    triển của Nhà nớc, nó là biểu hiện của sự tha hoá của một bộ phận các quan

    chức đợc giao cho các quyền về chính trị – kinh tế – văn hoá – xã hội. Do vậy

    hiện tợng tiêu cực này đợc đề cập, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau ở

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    23

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    24

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Động Triển Khai Những Biện Pháp Phòng Và Chống Tham Nhũng Có Hiệu Quả
  • Chú Trọng Triển Khai Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Một Số Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • 10 Bài Tiểu Luận, Luận Văn Về Phòng Chống Tham Nhũng
  • Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng
  • Tham Nhũng Vặt Và Phòng, Chống Tham Nhũng Vặt

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Giải Pháp Ngăn Chặn “tham Nhũng Vặt”
  • Thực Hiện Dịch Vụ Công Trực Tuyến Là Một Biện Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Vặt
  • Nhiều Biện Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Vẫn Còn Mang Tính Hình Thức
  • Kinh Nghiệm Của Phần Lan, Singapore Và Trung Quốc Trong Phòng, Chống Tham Nhũng Và Một Số Liên Hệ Với Việt Nam
  • Kinh Nghiệm Phòng Chống Tham Nhũng Ở Singapore
  • Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

    Tóm tắt: Tham nhũng vặt là tệ nạn xã hội xảy ra phổ biến từ lâu ở nhiều quốc gia. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích khái niệm, đặc điểm, hậu quả và các biện pháp phòng, chống tham nhũng vặt ở một số quốc gia; đưa ra những nhận xét, đánh giá về khả năng vận dụng những kinh nghiệm đó ở Việt Nam.

    Từ khoá: Tham nhũng; tham nhũng lớn; tham nhũng vặt; biện pháp phòng, chống tham nhũng vặt.

    Keywords: Corruption; grand corruption; petty corruption; measures to pvent and fight gainst petty corruption.

    1. Khái niệm, đặc điểm của tham nhũng vặt

    Trong tài liệu của một số tổ chức quốc tế, khái niệm tham nhũng vặt ( petty corruption – có thể dịch là tham nhũng nhỏ hay tham nhũng vặt) thường được sử dụng để so sánh với một khái niệm tham nhũng lớn ( grand corruption).

    Xét về bản chất, grand hay petty corruption đều là sự lạm dụng quyền lực được giao để thu lợi riêng, đều là hành vi vi phạm pháp luật, đều là tệ nạn xã hội, và vì thế đều phải đấu tranh để xoá bỏ. Tuy nhiên, trong quản trị nhà nước, xuất hiện nhu cầu cần phân loại các hành vi tham nhũng theo các tiêu chí khác nhau, để có thể phòng, chống tham nhũng hiệu quả. Sự phân chia thành tham nhũng lớn, tham nhũng nhỏ không hàm ý có sự khác biệt về bản chất hay mức độ nguy hại của mỗi loại tham nhũng, mà chủ yếu là để xác định các điểm đặc thù, từ đó có chiến lược, giải pháp xử lý phù hợp.

    2. Hậu quả của tham nhũng vặt

    Tuy vậy, cần thấy rằng, những yếu tố để phân biệt tham nhũng lớn và tham nhũng vặt chủ yếu mang tính định tính, không phải định lượng. Vì thế, trong thực tế, sự phân loại này chỉ có ý nghĩa trong việc hoạch định chiến lược, chính sách, ít có ý nghĩa trong việc xác định các vi phạm và chế tài cụ thể với các hành vi tham nhũng. Đây chính là lý do dẫn tới những tranh cãi khi cố gắng xác định dạng hành vi, số tiền hối lộ, cấp quan chức… mà có thể được xem là tham nhũng lớn hay tham nhũng vặt trong những tình huống hay bối cảnh cụ thể.

    Một là, tham nhũng vặt có tác động lớn và trực tiếp đến người dân, đặc biệt là người nghèo.

    Có quan điểm sai lầm là tham nhũng vặt thì hậu quả cũng “vặt” (tức là ít nghiêm trọng), nhưng thực tế không phải như vậy. Khái niệm tham nhũng vặt chủ yếu chỉ hàm ý tính chất của hành vi (diễn ra một cách phổ biến trong đời sống nhưng các khoản hối lộ thường có giá trị nhỏ hơn so với tham nhũng lớn) chứ không hàm ý về hậu quả của nó. Trong thực tế, tham nhũng vặt hay tham nhũng lớn đều gây hậu quả nghiêm trọng, kể cả về kinh tế và xã hội (thể hiện qua việc phá hoại niềm tin của người dân vào nhà nước). Cần nhận thức rõ như vậy vì quan niệm sai lầm về hậu quả của tham nhũng vặt có thể dẫn đến coi nhẹ việc phòng, chống dạng tham nhũng này.

    Hai là, tham nhũng vặt tác động tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp.

    Marie Chêne. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của tham nhũng vặt với người nghèo nghiêm trọng hơn với người giàu, vì các khoản hối lộ thường chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập của người nghèo, trong khi chiếm tỷ lệ không đáng kể đối với thu nhập của người giàu. Về vấn đề này, một khảo sát ở Mexico ước tính rằng, số tiền phải hối lộ do tham nhũng vặt chiếm tới 30% thu nhập hàng tháng của một gia đình nghèo, trong khi chỉ chiếm 14% thu nhập hàng tháng của một gia đình trung lưu. Về mức độ tác động, một nghiên cứu ước tính tham nhũng vặt có ảnh hưởng đến một phần tư dân số thế giới, tức là gần hai tỷ người. Tại Việt Nam, tỷ lệ này là 65% số người được hỏi, trong đó lĩnh vực giáo dục công lập (57%) và chăm sóc sức khỏe (59%). Quan trọng hơn, sự phổ biến của tham nhũng vặt tạo ra những rủi ro về mặt thủ tục pháp lý (làm chậm hoặc sai lệch các quy trình, thủ tục hành chính), làm nản lòng các nhà đầu tư, phá hoại môi trường kinh doanh của quốc gia.

    3. Biện pháp phòng, chống tham nhũng vặt

    Về vấn đề này, một nghiên cứu ở châu Phi cho thấy, tham nhũng vặt có thể làm mất 2,5% đến 4,5% doanh thu, tương đương 20% chi phí trả cho lao động và lớn hơn tổng chi phí trả cho liên lạc (điện thoại, fax, Internet) và chi phí vận chuyển (không bao gồm nhiên liệu) của doanh nghiệp, đồng thời phải mất nhiều thời gian hơn cho hoạt động quản lý vì phải thương thảo với các quan chức tham nhũng – cả hai khoản thuế này đều góp phần làm giảm năng suất của doanh nghiệp. Nạn tham nhũng vặt khiến cho các quan chức tham nhũng có ít động lực để giải quyết tệ quan liêu, vì một hệ thống quan liêu chính là môi trường thuận lợi cho việc ăn hối lộ. Theo nghĩa rộng hơn, các khoản hối lộ dù lớn hay nhỏ cũng luôn dẫn đến việc thực thi pháp luật không nhất quán mà cuối cùng làm suy yếu nghiêm trọng nguyên tắc pháp quyền. Khi tình trạng đòi hối lộ hoành hành trong việc cung cấp dịch vụ công thì cũng sẽ làm xói mòn niềm tin của người dân vào thể chế chính trị cũng như tính chính danh của bộ máy nhà nước. Điều này đã được chứng minh qua một số công trình khảo sát, ví dụ như ở Mexico, khi tham nhũng vặt tăng lên thì niềm tin của người dân vào chính quyền giảm xuống. Ở Việt Nam, tham nhũng vặt cũng có tác động tương tự – điều mà Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã từng xem như là: “..như ghẻ ruồi, rất ngứa ngáy, khó chịu..”. Nghiên cứu của Afrobarometer ở 31 quốc gia châu Phi cho thấy tham nhũng vặt không chỉ làm giảm tinh thần đóng thuế của công dân, mà còn phá hoại niềm tin của công chúng với cơ quan thuế . Theo VCCI, hiện nay chi phí lót tay trong thanh tra, kiểm tra thuế đã giảm so với mấy năm trước đây, nhưng 30% doanh nghiệp cho biết vẫn phải trả khoản này cho cán bộ thanh tra; và ở đây có phần trách nhiệm của doanh nghiệp, khi bị phát hiện sai phạm thì muốn “giảm nhẹ tội nên lót tay cho cán bộ thuế” và một số tác giả khác đã nêu ra một loạt biện pháp phòng, chống tham nhũng vặt đã được áp dụng hiệu quả ở một số nước, ví dụ như cải cách khu vực công (đặc biệt là các ngành dễ xảy ra tham nhũng vặt như thuế, hải quan, giáo dục, y tế, cảnh sát giao thông.

    Nhiều nước khác cũng có những cách thức hiệu quả để vận dụng công nghệ thông tin nhằm phòng, chống tham nhũng vặt, như:

    – Mexico đã xây dựng một ứng dụng dành cho điện thoại thông minh nhằm chống tình trạng tham nhũng vặt của cảnh sát giao thông. Ứng dụng này cung cấp hướng dẫn cho các tài xế khi đối mặt với yêu cầu hối lộ của cảnh sát, trong đó bao gồm mọi thông tin cần thiết, từ các quy định của luật giao thông, cách tính tiền phạt vi phạm cho đến các chế tài thường được cảnh sát giao thông áp dụng…Ứng dụng này cũng cho phép kết nối nhanh đến các số điện thoại khẩn cấp để báo cáo tham nhũng. Ba tháng sau khi ra mắt, ứng dụng đã được tải xuống hơn 11.000 lượt.

    – Ngày càng có nhiều nước xây dựng các ứng dụng báo cáo tham nhũng dựa trên nền tảng quần chúng (crowd-based) mà cho phép người dân tố cáo ngay lập tức các vụ hối lộ một cách ẩn danh bằng điện thoại thông minh. Một số ứng dụng còn sử dụng dữ liệu để tạo ra “bản đồ điểm nóng” – xác định các ngành, khu vực hoặc cơ quan, tổ chức xảy ra nhiều tham nhũng nhất.

    – Một số nước còn sử dụng công cụ trực tuyến để nêu danh và phê phán những công chức tham nhũng, dựa trên niềm tin là sự lên án của xã hội có tác dụng ngăn chặn tham nhũng mạnh mẽ. Ở Indonesia, trang chúng tôi thường xuyên cập nhật danh sách các quan chức tham nhũng bị kết án, bao gồm tên, số tiền tham nhũng và phán quyết của toà án. Ngoài việc nêu đích danh để làm gương, nền tảng này còn nhằm ngăn chặn khả năng các quan chức tham nhũng có thể quay trở lại vị trí quyền lực nhờ có sự che giấu hay nâng đỡ.

    Tóm lại, do tính chất phổ biến và thường xuyên của nó, để phòng, chống hiệu quả tham nhũng vặt, việc huy động sự tham gia của công chúng là rất quan trọng. Việc này không chỉ giúp giám sát, gây áp lực với các quan chức tham nhũng, mà còn cho phép xác định và thực hiện những cải cách nhằm giảm tệ quan liêu, đơn giản hóa các thủ tục hành chính rườm rà. Ở Anh, công dân và đại diện của họ có thể đưa ra đề xuất giảm tệ quan liêu và đơn giản hóa các quy định trên một trang web chuyên dụng. Ở Mexico, công dân được khuyến khích nêu ý kiến về “thủ tục hành chính vô dụng nhất” và được thưởng nếu nêu ra được thủ tục quan liêu vô lý nhất hay đề xuất được giải pháp tốt nhất để xóa bỏ tệ quan liêu. Trong vấn đề này, kinh nghiệm của một số quốc gia cho thấy, khi chưa có đủ nguồn lực để “chiến đấu” một cách toàn diện, chính quyền nên ưu tiên tập trung giải quyết tệ nạn tham nhũng vặt trong một hoặc một số lĩnh vực mà ảnh hưởng lớn nhất đến người dân và doanh nghiệp, để tạo dựng niềm tin và huy động sự tham gia của công chúng vào các hoạt động này Về grand corruption, xem: TI, What is grand corruption and how can we stop it?, trên https://www.transparency.org/news/feature/what_is_grand_corruption_and_how_can_we_stop_it.

    Klarity Blog 2022, Why do we care so much about petty corruption?, tại

    https://medium.com/klarityorg/why-do-we-care-so-much-about-petty-corruption-22951e193ca2.

    Báo cáo Phong vũ biểu tham nhũng toàn cầu (GCB) của TI năm 2022.

    PricewaterhouseCooper 2008.

    Nawaz F. (2010), Exploring the Relationships between Corruption and Tax Revenue, tại https://www.gov.uk/dfid-research- outputs/exploring-the-relationships-between- corruption-and-tax-revenue

    (Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 14 (414), tháng 7/2020.)

    Kukutschka R. (2016), tài liệu đã dẫn.

    Marie Chêne (2013), tài liệu đã dẫn.

    [35] Marie Chêne (2019), tài liệu đã dẫn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Công Tác Phòng Chống Tham Nhũng Trong Trường Học
  • Trách Nhiệm Của Học Sinh Trong Phòng Chống Tham Nhũng
  • Đưa Nội Dung Phòng Chống, Tham Nhũng Vào Giảng Dạy Tại Các Cơ Sở Giáo Dục, Đào Tạo
  • Minh Bạch Là Biện Pháp Đơn Giản Để Chống Tham Nhũng Trong Giáo Dục
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trong Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Tại Cơ Sở
  • Luận Văn: Các Biện Pháp Hành Chính Phòng, Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Diện, Phát Hiện Và Các Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng Vặt
  • Biện Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Doanh Nghiệp
  • Phòng Chống Tham Nhũng: Một Số Biện Pháp Còn Hình Thức, Hiệu Quả Thấp
  • Vấn Đề Bạo Lực Học Đường Hiện Nay Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Một Số Giải Pháp Về Phòng Ngừa Bạo Lực Học Đường Ở Nước Ta Hiện Nay
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành luật hiến pháp với đề tài: Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN HỮU HOÀI BẢO CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, năm 2022
    2. 2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN HỮU HOÀI BẢO CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 60.38.01.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC chúng tôi LƢƠNG THANH CƢỜNG HÀ NỘI, năm 2022
    3. 4. LỜI CẢM ƠN Qua 2 năm học tập và nghiên cứu tại học viện Khoa học xã hội, được chúng tôi Lương Thanh Cường hướng dẫn khoa học, Tôi đã nỗ lực để hoàn thành công trình nghiên cứu “Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”. Trước hết, Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, Phòng Đào tạo, Văn phòng Khoa Luật, Cơ sở học viện Khoa học xã hội tại Thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ tích cực cho chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu, cung cấp cho chúng tôi hệ thống kiến thức và nhiều kinh nghiệm bổ ích. Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình. Học viên Nguyễn Hữu Hoài Bảo
    4. 5. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………..1 CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG …………………………………………………………………………….6 1.1. Khái quát chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng………………………6 1.2. Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng …………………………………14 1.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng………………………………………………………………………………………………………….33 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TẠI TỈNH QUẢNG NAM ………………………………….38 2.1. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Quảng Nam tác động đến biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng …………………………………………………………….38 2.2. Thực trạng tình hình phòng, chống tham nhũng và phòng, chống tham nhũng bằng các biện pháp hành chính tại tỉnh Quảng Nam ……………………………….40 2.3. Nhận xét chung về các biện pháp hành chính Phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Quảng Nam …………………………………………………………………………………………..57 CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM .64 3.1. Giải pháp chung bảo đảm biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam………………………………………………………………………….64 3.2. Các giải pháp riêng bảo đảm biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng đối với tỉnh Quảng Nam………………………………………………………………………78 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………..80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
    5. 6. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1. CB,CC,VC: Cán bộ, công chức, viên chức 2. HĐND: Hội đồng nhân dân 3. Luật PCTN: Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012 4. PCTN: Phòng, chống tham nhũng 5. TTHC: Thủ tục hành chính 6. UBND: Ủy ban nhân dân 7. UBMTTQVN: Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam
    6. 7. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tham nhũng là một hiện tượng có tính lịch sử, đang là vấn đề nhức nhối không chỉ ở các nước có tỷ lệ tham nhũng cao mà còn là vấn nạn của tất cả các nước trên thế giới. Theo Thống kê của Tổ chức minh bạch quốc tế năm 2022 (Transparency International), Việt Nam xếp hạng 112 trong số 167 nước được điều tra về tham nhũng . 1.1.2.3. Vai trò của phòng, chống tham nhũng Thứ nhất, PCTN góp phần bảo vệ chế độ, xây dựng Nhà nước pháp quyền Hoạt động PCTN luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt. Trong những năm gần đây, hoạt động PCTN ở Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên kết quả của hoạt động này vẫn chưa được như mong muốn. Tham nhũng vẫn được coi là “quốc nạn” của đất nước, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
    7. 31. 25 – Việc xác minh tài sản được tiến hành trong một số trường hợp nhất định. Đây là một điểm mới so với Pháp lệnh chống tham nhũng. Khi xem xét đề bạt, bổ nhiệm, bầu cử hoặc có hành vi tham nhũng thì thủ trưởng cơ quan tổ chức việc xác minh tài sản để xem cán bộ, công chức có kê khai trung thực hay không. – Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản được công khai trong một số trường hợp nhất định theo yêu cầu và trên cơ sở quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. – Người có nghĩa vụ kê khai tài sản sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật nếu kê khai không trung thực, nếu là người ứng cử thì sẽ bị loại khỏi danh sách bầu cử, người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn thì sẽ không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ dự kiến. Luật PCTN còn quy định việc xác minh tài sản là để đánh giá về tính trung thực của việc kê khai, góp phần đánh giá cán bộ, công chức hoặc người tham gia ứng cử vào các cơ quan quyền lực để bảo đảm bộ máy nhà nước có một đội ngũ cán bộ trung thực, liêm chính, không tham nhũng. Qua xác minh, nếu người bị kết luận là không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật sau: khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; hạ ngạch. Đối với người kê khai tài sản, thu nhập không trung thực là người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, người dự kiến được phê chuẩn, bổ nhiệm thì bị xử lý như: bị xoá tên khỏi danh sách người ứng cử, không được bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm. Thứ năm, chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng Luật PCTN đã khẳng định lại nguyên tắc: “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách” Có thể thấy rằng, hoạt động thanh tra, kiểm toán đã phát hiện ra rất nhiều sai phạm kinh tế có dấu hiệu tham nhũng hoặc có nguy cơ dẫn đến tham nhũng nếu không được ngăn chặn kịp thời. Chính vì vậy, các hoạt động này được quy định rất chặt chẽ và đầy đủ trong các văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước. Một mặt, pháp luật trao cho các cơ quan này quyền hạn lớn để có thể đấu tranh với những vi phạm pháp luật, mặt khác cũng quy định chặt chẽ để hoạt động của các cơ quan này phải tuân thủ pháp luật, bảo đảm tính chính xác, khách quan trong khi đánh giá, kết luận những vụ việc và người có hành vi vi phạm để tránh oan sai. Thứ ba, tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng Tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, các nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Tố cáo là một kênh quan trọng trong phát hiện hành vi tham nhũng. Luật PCTN quy định những nguyên tắc chung và nội dung cơ bản của tố cáo hành vi tham nhũng. Luật quy định cơ chế bảo vệ người tố cáo, quyền và nghĩa vụ của người tố cáo và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong tiếp nhận và xử lý tố cáo hành vi tham nhũng, khen thưởng người tố cáo… Vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật nói chung đã được quy định trong Luật tố cáo năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật PCTN quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng với hai nhóm nội dung sau: – Quyền của công dân trong việc tố cáo hành vi tham nhũng, trách nhiệm của công dân khi thực hiện quyền tố cáo. Người tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Người tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật [25, tr 47-48].
    8. 38. 32 Đối với người đứng đầu đơn vị, khi để xảy ra tham nhũng thì có thể chịu các hình thức kỷ luật: – Hình thức khiển trách được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng ít nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. – Hình thức cảnh cáo được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng rất nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. – Hình thức cách chức được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng rất nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Thứ hai,, xử lý tài sản tham nhũng Tham nhũng về bản chất là một hành vi có tính chất vụ lợi và một trong những hậu quả mà tham nhũng gây ra là tài sản công bị chiếm đoạt. Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng của đấu tranh chống tham nhũng là phải bảo vệ được lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích của tập thể và cá nhân. Chống tham nhũng cần quan tâm đến việc tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến việc xử lý người vi phạm về kỷ luật hay hình sự mà chưa quan tâm hoặc có biện pháp hữu hiệu để thu hồi lại số tài sản mà kẻ tham nhũng đã chiếm đoạt và có được từ việc thực hiện hành vi tham nhũng. Điểm mới khá quan trọng trong việc xử lý tài sản của người đưa hối lộ đó là khuyến khích người đưa hối lộ khai báo, phát giác hành vi nhận hối lộ. Mặc dù, còn khá nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề xử lý đối với người có hành vi hối lộ nhưng nhìn chung đều nhất trí rằng, cần có quy định theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm cho người đưa hối lộ để khuyến khích họ phát giác hành vi nhận hối lộ.
    9. 39. 33 Luật quy định về nguyên tắc tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu, trả lại cho chủ sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước. Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi hành vi đưa hối lộ bị phát giác thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ. Theo Điều 71 về thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài thì trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp. 1.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng 1.3.1. Điều kiện về pháp luật Từ năm 2005, Việt Nam ban hành Luật PCTN (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012). Trước khi có Luật, Pháp lệnh chống tham nhũng đã được ban hành năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000). Cùng với đó là các giải pháp PCTN được đưa ra như cải cách thủ tục hành chính; công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quan nhà nước, tài sản và thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức; tăng cường áp dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt… Nhưng thực tế từ năm 1998 đến nay, tình hình tham nhũng diễn ra ngày càng nhiều và nghiêm trọng cả về số vụ, tính chất, quy mô. Dưới góc độ quản lý nhà nước, hệ thống văn bản, quy phạm pháp luật phục vụ công tác PCTN ở nước ta còn thiếu đồng bộ, trên một số lĩnh vực còn sơ hở, chưa theo kịp sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đặc biệt là trong lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản; xây dựng đầu tư cơ bản; quản lý ngân sách; thu thuế, phí; quản lý, sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp nhà nước; tín dụng, ngân hàng; công tác tổ chức cán bộ; quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân và doanh nghiệp; hợp tác đầu tư với nước ngoài; sử dụng các nguồn vốn vay nước ngoài… Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng còn bất cập, kéo dài, nặng dưới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Tài Chính Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Biện Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng, Tiêu Cực Từ Xây Dựng Đảng
  • 6 Giải Pháp Trọng Tâm Phòng Chống Tham Nhũng, Lãng Phí
  • Cục Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội
  • Tổng Bí Thư Nhấn Mạnh 6 Giải Pháp Trọng Tâm Phòng Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Phong Vũ Biểu Tham Nhũng Ở Việt Nam: Người Dân Đánh Giá Các Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng Của Nhà Nước Ngày Càng Hiệu Quả
  • Các Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng Của Việt Nam Ngày Càng Hiệu Quả
  • Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Tiếp Tục Được Các Địa Phương Trên Toàn Quốc Tích Cực Triển Khai, Thực Hiện
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trong Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Tại Cơ Sở
  • (Chinhphu.vn) – Phát biểu kết luận Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, nhấn mạnh 6 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.

    Một là, phải tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham nhũng.

    Công tác tuyên truyền phải khẳng định rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; làm cho mọi người thấy rõ việc chỉnh đốn Đảng, xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm “chậm lại” sự phát triển, mà ngược lại, càng làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    Tăng cường phối hợp, kịp thời cung cấp, công khai thông tin, định hướng tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng, nhất là chủ động thông tin về kết quả kiểm tra, thanh tra, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm; về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế; về những vấn đề nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm trong xử lý tham nhũng. Chú trọng thông tin tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử. Bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng phòng, chống tham nhũng để chống phá Đảng, Nhà nước; xử lý nghiêm khắc việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt gây hậu quả xấu.

    Kiên trì rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hoá tiết kiệm, không tham nhũng trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Trước hết là phải xây dựng ý thức tự giác chấp hành, thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chủ động xử lý khi có xung đột lợi ích; xây dựng, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; phê phán, lên án, đấu tranh với tham nhũng, lãng phí; trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân tham nhũng, lãng phí.

    Đặc biệt, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng phải cổ vũ, động viên sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, huy động sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng vạn, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”([1]), như lời Bác Hồ đã căn dặn.

    Hai là, phải tập trung chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; phấn đấu từ nay đến hết nhiệm kỳ cơ bản hoàn thành một bước về xây dựng một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”.

    Tập trung hoàn thành việc xây dựng các quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng theo Nghị quyết Trung ương 4, Trung ương 6 và Trung ương 7 khoá XII, nhất là: Hoàn thiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; quy định về việc ngăn chặn những người có chức, có quyền lợi dụng cương vị công tác để trục lợi; quy định về cho thôi, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; quy định về điều chuyển, thay thế cán bộ khi có dư luận hoặc có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, uy tín thấp; cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung…

    Đề nghị Quốc hội, Chính phủ tập trung chỉ đạo khẩn trương tiếp thu, hoàn thiện Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) bảo đảm khả thi và hiệu quả; sớm ban hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước; sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp, Luật Thanh tra, Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức và các văn bản quy định chi tiết thi hành để khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong phòng, chống tham nhũng. Đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, khắc phục những sơ hở trong quản lý kinh tế-xã hội và phòng, chống tham nhũng, nhất là ở các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng.

    Ba là, tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới.

    Tiếp tục làm tốt công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, “lợi ích nhóm”. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước; đối với những người vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai.

    Các cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cường quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu sai phạm; tiến hành mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng. Mục đích kỷ luật là để “trị bệnh cứu người”, cảnh tỉnh, răn đe, do đó phải quán triệt phương châm phòng ngừa chặt chẽ, ngăn chặn từ gốc, phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Tăng cường giám sát của tổ chức đảng từ trên xuống, giám sát từ dưới lên, phát huy vai trò giám sát lẫn nhau trong cùng cấp, tăng cường quản lý, giám sát thường ngày đối với đảng viên và cán bộ lãnh đạo. Xử lý nghiêm kỷ luật của Đảng, đồng thời kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử lý của pháp luật; đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự. Đảng viên ở bất cứ cương vị công tác nào vi phạm đều phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới; nơi nào tự kiểm tra không phát hiện, hoặc phát hiện nhưng xử lý vi phạm nương nhẹ thì cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương đó phải chịu trách nhiệm và có hình thức xử lý đúng mức, không “rút kinh nghiệm” chung chung. Giao cho Uỷ ban Kiểm tra Trung ương có thể chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng xuống đến cả đảng bộ cấp huyện và cơ sở khi cần thiết, tránh tình trạng bao che sai phạm trong nội bộ của các địa phương, cơ quan, đơn vị.

    Cần tập trung khắc phục bằng được những yếu kém trong công tác cán bộ, những sai phạm của cán bộ khiến dư luận bức xúc. Kiểm tra toàn diện công tác cán bộ; chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ có biểu hiện tham nhũng; có nhiều dư luận quần chúng phản ánh, tố cáo tham nhũng; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ được quy hoạch vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Cấp ủy, tổ chức đảng, bộ, ngành, chính quyền các cấp và cán bộ, đảng viên phải nhận diện rõ, đấu tranh quyết liệt, có hiệu quả với các việc làm sai trái, lợi ích nhóm, mưu lợi cá nhân, với các đối tượng có biểu hiện, hành vi chạy chức, chạy quyền; bảo vệ cái đúng, chỉ rõ cái sai, can ngăn những việc làm chưa đúng, phát hiện và xử lý kịp thời việc lạm dụng, lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; kiên quyết hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, có hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ; thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương. Kiên quyết thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6, Trung ương 7 khóa XII.

    Bốn là, tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng.

    Quyền lực luôn có nguy cơ bị “tha hóa”, tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, cho nên phải thiết lập cho được một cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực đối với người có chức vụ, quyền hạn theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn phải được ràng buộc với trách nhiệm, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền hạn càng cao, trách nhiệm càng lớn. Do vậy, phải tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát để bảo đảm quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, không bị “tha hóa”; phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời thực hiện nghiêm việc xử lý, điều chuyển, miễn nhiệm, thay thế cán bộ có biểu hiện tham nhũng gây nhiều dư luận; xử lý nghiêm trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; và quan trọng hơn là phải ngăn ngừa tận gốc những sai phạm, khuyết điểm một cách căn cơ, bài bản bằng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nói một cách hình ảnh là phải “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế”.

    Phải tăng cường giám sát việc sử dụng quyền lực của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, tăng cường giám sát trong nội bộ tập thể lãnh đạo; công khai quy trình sử dụng quyền lực theo pháp luật để cán bộ, nhân dân giám sát. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải ghi nhớ, bất cứ ai cũng không có quyền lực tuyệt đối ngoài pháp luật, bất kỳ ai sử dụng quyền lực đều phải phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và tự giác chịu sự giám sát của nhân dân. Công quỹ là của công cho nên một xu, một hào cũng không được chi dùng bừa bãi; công quyền là vì dân cho nên không được mảy may vì riêng tư; phải thật sự chí công vô tư, công tư phân minh, công trước tư sau, vì công mà quên tư; mọi việc đều xuất phát từ dân, vì dân.

    Năm là, nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, nhất là ở các địa phương, cơ sở; xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tệ “tham nhũng vặt”; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng.

    Cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt hơn trong phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở, khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Tập trung chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, kiểm toán vào những nơi có vấn đề phức tạp, dư luận quan tâm, các lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng; xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng vòi vĩnh, nhũng nhiễu, “gợi ý”, “lót tay”, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp trong giải quyết công việc. Đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế, nhất là các vụ việc, vụ án nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ.

    Bổ sung, hoàn thiện quy định về xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nhưng không phát hiện được sai phạm, sau đó sai phạm này lại được phát hiện bởi các đoàn kiểm tra, thanh tra, kiểm toán khác. Có các giải pháp phù hợp, thuận lợi, an toàn để khuyến khích và kịp thời xử lý thông tin do người dân phát hiện, phản ánh, tố cáo.

    Tích cực xác minh, kịp thời áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong toả tài khoản, thu hồi triệt để tài sản tham nhũng trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; khuyến khích người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả trong các vụ án tham nhũng, kinh tế.

    Sáu là, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng.

    Tiếp tục kiện toàn, phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan phòng, chống tham nhũng, giúp việc các cấp uỷ từ Trung ương đến cơ sở. Các cơ quan nội chính, kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử phải là những “thanh bảo kiếm” sắc bén, có dũng khí đấu tranh ngăn chặn những việc làm sai trái, lợi ích nhóm, mưu lợi cá nhân; có nghiệp vụ, bản lĩnh bảo vệ cái đúng, chỉ rõ cái sai, can ngăn những việc làm chưa đúng; có quy định để ngăn ngừa có hiệu quả những sự tác động không theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào hoạt động của các cơ quan này. Điều đặc biệt quan trọng có ý nghĩa quyết định là, những người làm công tác phòng, chống tham nhũng nói chung, những người trực tiếp làm việc trong các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng nói riêng phải thật sự liêm chính, trong sạch, biết gương mẫu giữ mình, trọng liêm sỉ, không chịu bất cứ sức ép không trong sáng nào, bất cứ sự cám dỗ, mua chuộc nào của những kẻ phạm tội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Hướng Dẫn Các Biện Pháp Phòng Chống Dịch Bệnh
  • Lạng Sơn Thực Hiện Các Biện Pháp Phòng, Chống Dịch Bệnh Truyền Nhiễm
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng, Chống Dịch Bệnh Truyền Nhiễm Ở Người
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Phòng Chống Dịch Bệnh Truyền Nhiễm
  • Giáo Án Gdcd 10 Bài 15: Công Dân Với Một Số Vấn Đề Cấp Thiết Của Nhân Loại (Tiết 2)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100