5 Chức Năng Của Lãnh Đạo ( P1: Tạo Động Lực Và Lãnh Đạo Nhóm)

--- Bài mới hơn ---

  • Lò Vi Sóng Có Những Chức Năng Thông Minh Nào? Tại Sao Nên Mua?
  • Siêu Thị Điện Máy Chợ Lớn
  • Chức Năng Của Lò Vi Sóng
  • Tìm Hiểu Các Chức Năng Và Cách Sử Dụng Lò Vi Sóng
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Chức Năng Nướng Của Lò Vi Sóng
  • Đã lỡ viết 4 chức năng của quản lý trong đó có chức năng lãnh đạo thì đành viết nốt chức năng lãnh đạo cho nó xong.

    Khi quy mô quản lý ngày càng rộng, nhà quản lý càng ít có thời gian kiểm soát, kiểm tra vì vậy anh ta phải làm sao đó đển người thực hiện “tự nguyện” làm mà không phải làm trong sự “chống đối”. Mặt khác một người có động lực tốt sẽ mang lại kết quả vượt xa năng lực thực trong khi một người có động lực không đủ có thể tạo ra kết quả kém xa năng lực thực của anh ta.

    Tính chu kỳ của động lực

    Khi mới vào làm Kiên bị sức ép của thử việc cũng như còn sự phấn khích khi cái gì cũng mới nên động lực đã có sẵn thể hiện bằng sự nhiệt tình, hăng hái, thức đêm thức hôm. Sau một thời gian, nếu thực tế đúng hoặc hơn cả kỳ vọng Kiên càng thêm động lực làm việc; ngược lại nếu thực tế không bằng quá xa so với kỳ vọng thì động lực làm việc sẽ bị sụt giảm dần. Kiên sẽ tự động nghỉ việc trong thời gian thử việc hoặc vẫn nhận chính thức nhưng bắt đầu tìm cách nhảy việc.

    Chủ nhật vừa rồi, Pháp đã thắng Croatia 4-2, lên chức vô địch WC kể từ France 98. Cả Pháp và Croatia không ai là không ham vô địch, họ có động lực rất mạnh mẽ muốn dành chiến thắng. Kết quả cuối cùng là do giới hạn của năng lực mỗi đội và sự may mắn mà không phải hai đội thiếu động lực. Động lực của họ là bậc cao nhất , khẳng định bản thân (5); giả sử họ đạt được họ sẽ được cả đất nước tôn trọng (4), có chân chắc trong một đội bóng danh giá (3), đảm bảo một tương lai tươi sáng (2) cùng mức thưởng hậu hĩnh (1).

    Các công ty có hệ thống quản trị nhân sự tốt thường sẽ có lộ trình thăng tiến cho mỗi vị trí. Mỗi một vị trí sẽ biết rõ ràng tại sao anh ta đang ở vị trí hiện tại, làm thế nào và trong bao lâu để anh ta lên vị trí kế tiếp. Công ty sẽ chỉ cho anh ta điểm đến Hải Phòng bên cạnh chỉ từng mốc cụ thể trên đường từ Hà Nội.

    Một nhà quản lý cấp độ 4 sẽ khơi dậy được động lực 3.0 trong người dưới quyền kết hợp với kỹ năng quản lý là vẽ cho họ một lộ trình rõ ràng.

    Tôi chỉ muốn kết luận lại ở chức năng này rằng động lực tốt nhất là từ tự thân, người ngoài chỉ khơi gợi, không thể duy trì giúp động lực. Làm việc có động lực ngoài khiến hiệu quả công việc cao hơn còn khiến ta cảm thấy mình sống có ích hơn, thời gian trôi qua không tiếc nuối.

    Một nhóm (Team) là một tập hợp con người có tổ chức cùng nhằm tới một mục tiêu nào đó. Công ty, phòng ban, đội tổ, đoàn thanh niên, hội phu nữ,…. đều là một nhóm; nhìn rộng ra thì một đất nước cũng là mọt nhóm, toàn bộ loài người cũng là một nhóm.

    Một vài nhân viên bất mãn có thể hình thành lên một nhóm nhưng sẽ không được gọi là nhóm (team) nếu như thiếu sự tổ chức và cũng không có mục tiêu nào cả. Một nhóm bạn cấp 3 của bạn cũng không gọi là nhóm nếu như các bạn chỉ thỉnh thoảng tụ họp hàn huyên tâm sự. Tóm lại một đám người gọi là một nhóm (Team) khi:

    1. Có sự tổ chức (phân công nhiệm vụ trong nhóm)
    2. Có một mục tiêu chung

    Một nhóm có những đặc điểm sau:

    • Bầu không khí của nhóm: Một nhóm bất kỳ giống như tính cách một con người tồn tại một bầu không khí tích cực hoặc tiêu cực. Tiêu cực là khi các thành viên trong nhóm nghi kỵ lẫn nhau, thiếu tin tưởng nhau, chê bai, trách móc,..tóm lại các thái độ tiêu cực của mỗi thành viên trong nhóm tạo thành bầu không khí chung của nhóm. Một người tích cực khi gia nhập nhóm sẽ chịu chung bầu không khí đó, hoặc anh ta rời bỏ nhóm hoặc sẽ hình thành tư duy tiêu cực tương tự nhóm. Ngược lại bầu không khí tích cực là khi mọi người tương trợ lẫn nhau, không có sự nghi kỵ bon chen những hành vi chơi xấu. Chúng ta có thể cảm nhận được bầu không khí của nhóm ngay khi bước chân vào nhóm.
    • Tâm trạng nhóm: Một người tiêu cực nhất cũng có lúc cảm thấy vui và ngược lại. Một nhóm có bầu không khí tích cực vẫn có thể rơi vào trạng thái tiêu cực ở một giai đoạn nào đó.
    • Lan truyền tin trong nhóm: Một tin cho dù vô lý khi được phát ngôn bởi một thành viên trong nhóm sẽ lan truyền tới tất cả mọi người và sẽ có một lượng người tin. Chúng ta thấy rõ điều này ở cộng đồng mạng, một tin cho dù vô lý cũng rất nhiều người quan tâm thậm chí là tin ngay lập tức.
    • Hỗ trợ trong nhóm: Các thành viên trong nhóm có những năng lực riêng biệt mang tính bổ sung cho nhau để hình thành lên sức mạnh nhóm. Đặc biệt đối với nhóm thành lập vì một mục tiêu không mang tính lặp đi lặp lại nào đó sẽ lấy những người phù hợp nhất của nhiều nhóm khác nhau để thực hiện một mục tiêu tương ứng.
    • Phát triển trong nhóm: Một thành viên trong một nhóm có được sự hỗ trợ của người khác cho phần năng lực mình còn thiếu từ đó sẽ học hỏi được để gia tăng năng lực.

    Như vậy nhà quản lý bên cạnh tạo động lực cho mỗi cá nhân còn phải quan tâm tới một nhóm, có những hành vi lãnh đạo nhóm (mà không phải lãnh đạo cá nhân). Anh ta cần:

    • Tạo một bầu không khí tích cực trong nhóm. Một nhóm cần có đa số là người có tư duy tích cực, người có cấp bậc càng cao càng phải tích cực. Khi đa số là tích cực sẽ tạo nên một nhóm tích cự lôi kéo những người tiêu cực cũng có ý nghĩ tích cực.
    • Cảm nhận tâm trạng nhóm để phản ứng nhanh nhằm tránh nhóm rơi vào giai đoạn trầm cảm quá lâu.
    • Đặc điểm của nhóm chịu ảnh hưởng cực lớn của người quản lý nhóm. Các thành viên có xu hướng bắt chước trưởng nhóm vì vậy trưởng nhóm phải chú ý trở thành một hình mẫu phù hợp với mục tiêu của nhóm. Ngoài ra giống như chiến tranh, vị tướng nếu xông lên phía trước thì người lính cũng sẽ xông lên theo. Các công việc khó khăn đòi hỏi trưởng nhóm phải khởi xướng đi đầu nêu gương cho anh em theo.
    • Tuyển chọn thành viên nhóm cần dựa vào việc nhóm mình còn thiếu năng lực gì. Thay vì tuyển những người giống nhau thì nên tuyển những người khác nhau có thể bù đắp cho nhau.
    • Ủy quyền/ bắt buộc hướng dẫn lẫn nhau trong nhóm để bổ khuyết những năng lực mà mỗi thành viên còn thiếu (thay vì tự mình hướng dẫn). Trưởng nhóm nên thực hiện luân chuyển vị trí trong nhóm để học tập thực tế. Trong trường hợp cần thiết trưởng nhóm cũng là người huấn luyện để thúc đẩy năng lực các thành viên.
    • Điều hành cuộc họp nhóm sao cho tận dụng được sức mạnh tập thể nhưng không gây bất hòa trong nhóm.
    • Xử lý tình hình thiếu hụt nguồn lực: số lượng thành viên và năng lực của nhóm thường sẽ không đạt được tiêu chuẩn hoàn thành công việc đòi hỏi; nhà quản lý phải giỏi kỹ năng quản lý để sắp xếp tổ chức công việc được hiệu quả. Mặt khác anh ta phải tìm kiếm được các nguồn lực từ bên ngoài khi cần thiết như thành viên của nhóm khác hoặc phải thuyết phục cấp quản lý bổ sung thêm thành viên cho nhóm dựa trên tầm nhìn về khối lượng công việc trong tương lai.

    Một người đang làm ở một công ty nghỉ việc ra tự doanh hoặc thất nghiệp sẽ có cảm giác tự do những ngày đầu sau đó sẽ cảm thấy hụt hẫng vì mình bị mất đi nhu cầu tham gia một nhóm. Thời tiền sử, tham gia một nhóm là có cái ăn, được an toàn, được thể hiện mình, được tôn trọng; vì vậy nhu cầu gia nhập nhóm có tận trong tiềm thức của mỗi chúng ta. Chúng ta luôn có xu hướng tụ lại thành một nhóm vì nó sẽ giúp ta thỏa mãn các nhu cầu của mình. Nhu cầu được là thành viên của một nhóm ở tận bậc 3 mà lị.

    Bên cạnh nhóm chính thức được hình thành một cách rõ ràng theo cơ cấu tổ chức của công ty còn tồn tại nhóm phi chính thức. Nhóm phi chính thức được hình thành dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau trong đó mỗi thành viên tin rằng việc tham gia vào nhóm sẽ giúp mình đạt được nhu cầu nào đó.

    Lý tưởng nhất một nhóm phi chính thức chính là một nhóm chính thức khi đó người trưởng nhóm vừa có quyền lực cứng vừa có quyền lực mềm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Chức Năng Và Nhiệm Vụ Có Những Điểm Gì Khác Nhau?
  • Thực Phẩm Chức Năng Là Gì?
  • Phòng Chức Năng Là Gì? Khái Niệm, Chức Năng Phòng Chức Năng
  • Chức Năng Nào Sau Đây Không Đúng Với Răng Của Thú Ăn Thịt?
  • Không Bào Là Gì? Cấu Trúc Và Chức Năng Của Không Bào
  • Esflg: Khẩn Cấp Hỗ Trợ Chức Năng Lãnh Đạo Nhóm

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiểm Tra, Giám Sát Góp Phần Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Của Đảng
  • Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát, Kỷ Luật Đảng Làm Cho Đảng Ngày Càng Trong Sạch Vững Mạnh
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Kiểm Tra, Giám Sát Và Kỷ Luật Của Đảng Bộ Catư
  • Đảng Ủy, Ubkt Đảng Ủy Phường Phúc Đồng Làm Tốt Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Chi Bộ Năm 2022
  • Kỹ Năng Lãnh Đạo, Quản Lý Đơn Vị Sự Nghiêp Công Lập
  • ESFLG có nghĩa là gì? ESFLG là viết tắt của Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của ESFLG được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài ESFLG, Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    ESFLG = Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm

    Tìm kiếm định nghĩa chung của ESFLG? ESFLG có nghĩa là Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của ESFLG trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của ESFLG bằng tiếng Anh: Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, ESFLG được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm. Trang này là tất cả về từ viết tắt của ESFLG và ý nghĩa của nó là Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm. Xin lưu ý rằng Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm không phải là ý nghĩa duy chỉ của ESFLG. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của ESFLG, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của ESFLG từng cái một.

    Ý nghĩa khác của ESFLG

    Bên cạnh Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm, ESFLG có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của ESFLG, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Khẩn cấp hỗ trợ chức năng lãnh đạo nhóm bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Lớp Bồi Dưỡng Kỹ Năng Lãnh Đạo Quản Lý Cấp Phòng 2022
  • Yếu Tố Cần Và Đủ Của Một Nhà Lãnh Đạo? Mục Tiêu Hướng Đến Của Một Nhà Lãnh Đạo Thực Thụ
  • Tiểu Luận Môn Kỹ Năng Lãnh Đạo
  • 3 Câu Hỏi Giúp “định Nghĩa Lại Lãnh Đạo”
  • Nghệ Thuật Lãnh Đạo: Bảng Câu Hỏi Về Chức Năng Quản Lý.
  • 8 Kỹ Năng Lãnh Đạo Quan Trọng Của Nhóm Trưởng

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Người Lãnh Đạo Trong Quá Trình Phát Triển Đất Nước Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Bài 6: Chuyến Tham Quan Đến Thế Giới Tế Bào
  • Mạng Lưới Nội Chất – Du Học Trung Quốc 2022
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Lò Vi Sóng Electrolux
  • Lò Vi Sóng Sanyo Tốt Nhất Trên Thị Trường Hiện Nay Cho Người Tiêu Dùng
  • Là một doanh nhân, kỹ năng lãnh đạo rất quan trọng cho công việc kinh doanh ngày nay, đặc biệt là khi công việc thường được thực hiện bởi các đội và các thành viên của họ.

    Ngày nay, bất kỳ loại hình tổ chức nào không thể vận hành mà không có đội team mạnh. Các team mạnh sẽ trở nên mạnh mẽ chỉ khi họ có sự lãnh đạo mạnh mẽ của người đi đầu.

    Đội ngũ lãnh đạo mạnh mẽ bạn sẽ chỉ có nếu bạn có những người lãnh đạo đội mạnh với kỹ năng đội mạnh mẽ.

    Hãy nhìn vào tám kỹ năng lãnh đạo quan trọng nhất để giúp bạn trở thành một doanh nhân thành công.

    #1: Tầm nhìn

    Kỹ năng đầu tiên như là một phần của kỹ năng lãnh đạo nhóm là những kỹ năng nhìn xa trông rộng. Chúng tôi không thể mong đợi có đội ngũ lãnh đạo thực sự mạnh mẽ mà không có tầm nhìn mạnh mẽ cho tương lai.

    Điều này có ý nghĩa gì?

    Họ chỉ đơn giản biết làm thế nào để truyền đạt tầm nhìn của họ cho các thành viên khác, và theo cách như vậy tầm nhìn của họ trở thành tầm nhìn của một đội.

    #2. Kỹ năng quản lý nhân sự trong team

    Chúng ta không thể nói về kỹ năng lãnh đạo team mà không nói về mặt con người của các thành viên trong nhóm, hoặc nói kỹ năng giao tiếp của trưởng nhóm.

    Kỹ năng này có nghĩa đơn giản là một nhà lãnh đạo nhóm sẽ biết cách làm việc với mọi thành viên. 

    Các nhà lãnh đạo nhóm cần phải động viên các thành viên của họ nếu họ muốn hoàn thành công việc của mình theo cách tốt nhất có thể.

    Nhưng điều quan trọng hơn là họ cần phải có sự hiểu biết đầu tiên về phong cách hành vi khác nhau của các thành viên trong nhóm nếu họ muốn chọn cách phản ứng lãnh đạo tốt nhất có thể. Phong cách hành vi khác nhau sẽ yêu cầu các hành động và phản ứng của các nhà lãnh đạo khác nhau.

    Mặt khác, các nhà lãnh đạo nhóm xuất sắc nhất cũng biết làm thế nào, khi nào và với ai để khen ngợi trong môi trường làm việc nhóm.

    #3. Kỹ năng lắng nghe

    Tiếp theo, như là một phần của kỹ năng lãnh đạo nhóm quan trọng nhất là kỹ năng nghe. Bạn không thể mong đợi được là người lãnh đạo đội xuất sắc mà không có kiến thức và thói quen lắng nghe ý kiến của người khác.

    Lắng nghe trở thành một trong những chức năng quan trọng nhất trong các tổ chức hiện đại ngày nay.

    Trước khi kết luận, lãnh đạo nhóm tốt như là một người đầu tiên lắng nghe các thành viên trong nhóm của họ, và sau khi phân tích để kết luận hoặc quyết định.

    #4. Kỹ năng sáng tạo

    Bởi vì các đội tồn tại để giải quyết vấn đề và trong cùng một thời gian giải quyết vấn đề yêu cầu mức độ cao của sự sáng tạo của tất cả các thành viên trong nhóm, đội ngũ lãnh đạo tốt phải có kỹ năng sáng tạo.

    Họ cần sử dụng sáng tạo của mình để giải quyết vấn đề, đồng thời khuyến khích các thành viên khác sáng tạo hơn khi họ làm việc theo nhóm.

    Kỹ năng sáng tạo là một phần quan trọng của một nhà lãnh đạo đội xuất sắc.

    #5. Kỹ năng giao tiếp

    Làm việc theo nhóm sẽ cần giao tiếp hàng ngày giữa các thành viên trong nhóm.

    Người lãnh đạo có trách nhiệm tạo môi trường truyền thông hiệu quả trong đội của mình, bởi vì nếu không có điều này thì họ không thể quản lý hiệu quả các thành viên của đội.

    Ngày nay, mọi thứ đều dựa trên quá trình giao tiếp tốt.

    Kỹ năng giao tiếp xuất sắc sẽ nâng cao kỹ năng tổng thể của một nhà lãnh đạo nhóm.

    #6. Kỹ năng tổ chức

    Kỹ năng lãnh đạo nhóm cũng cần một số loại kỹ năng tổ chức, bởi vì mỗi thành viên của đội sẽ phải có trách nhiệm và đóng góp riêng cho công việc của đội.

    Làm thế nào quá trình công việc có thể được tổ chức ở mức độ lớn sẽ phụ thuộc vào kỹ năng tổ chức của nhà lãnh đạo nhóm.

    Họ sẽ phải lập kế hoạch nhiệm vụ, phân công nhiệm vụ, kiểm soát tiến độ công việc …

    #7. Kỹ năng đàm phán

    Làm việc theo nhóm sẽ tạo ra các đề xuất khác nhau, hướng khác nhau và các hành động khác nhau. Người lãnh đạo nhóm đôi khi họ sẽ chấp nhận và thực hiện ngay lập tức nhưng đôi khi họ sẽ trì hoãn vì mục đích chung của cả team 

    Một nhà lãnh đạo đội xuất sắc sẽ cần phải biết làm thế nào để đàm phán và tạo điều kiện cho quá trình nếu họ muốn thành công.

    #8. Kỹ năng quản lý thời gian

    Kỹ năng quản lý thời gian cũng là một phần quan trọng trong kỹ năng lãnh đạo nhóm tổng thể bởi vì người quản chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự cần thiết phải quản lý thời gian của các thành viên trong nhóm.

    Kỹ năng quản lý thời gian tốt sẽ làm tăng năng suất làm việc theo nhóm

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Câu Hỏi Giúp “Định Nghĩa Lại Lãnh Đạo”
  • Cơ Cấu, Chức Năng, Nhiệm Vụ Lãnh Đạo, Phòng Ban Thuộc Ubnd Huyện
  • Chức Năng Điều Hành – Phần I
  • 10 Cách Để Lãnh Đạo – Quản Lý Nâng Cao Hiệu Quả Làm Việc Nhóm
  • Top 6 Kỹ Năng Lãnh Đạo Giúp Bạn Thăng Tiến Trong Công Việc
  • ​năm Nhóm Rối Loạn Sinh Tủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Bệnh Lý Tủy Sống
  • Nén Tủy Sống Và Rối Loạn Chức Năng Từ Hẹp Cổ
  • Mô Tả Cấu Tạo Và Trình Bày Chức Năng Các Phần Của Não Bộ Và Tủy Sống
  • Mô Tả Cấu Tạo Và Trình Bày Chức Năng Các Phần Của Não Bộ Và Tủy Sống1. Mô Tả Cấu Tạo Của Thận Và Chức Lọc Máu Tạo Thành Nước Tiểu. Kể Một Số Bệnh Về Thận Và Đường Tiết Niệu Và Cách Phòng Tránh Các Bệnh Này. 2. Mô Tả Được Cấu Tạo Của Da Và Các Chức Năng Có Liên Quan. Nêu Và Giải T
  • Chất Xám Là Gì? Cấu Trúc Và Chức Năng Của Chất Xám
  • TS.BS Huỳnh Nghĩa – phó chủ nhiệm bộ môn huyết học Đại học Y dược chúng tôi – cho biết: Rối loạn sinh tủy là bệnh rối loạn từ tế bào gốc trong tủy xương. Rối loạn này tạo ra những tế bào bị kém chức năng.

    Cụ thể với dòng hồng cầu khi tế bào bị kém chức năng sẽ dẫn đến thiếu máu, với dòng bạch cầu sẽ dẫn đến giảm sức đề kháng của cơ thể, với dòng tiểu cầu sẽ không thực hiện được chức năng đông máu.

    Rối loạn sinh tủy là cơ cơ sở để các đột biến của tế bào xảy ra. Các đột biến này có thể đột biến ngay tại các dòng của tế bào gốc và nó thường làm thay đổi cấu trúc của nhiễm sắc thể rồi gây mất đoạn, đảo đoạn, chuyển đoạn gen và nhiều thứ khác.

    Dẫn đến bệnh nặng hơn

    Đáng tiếc là tại VN đa số bệnh nhân bị rối loạn sinh tủy đều được chẩn đoán rất trễ và đã ở nhóm thiếu máu nhiều hoặc giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu nhiều

    Triệu chứng của bệnh này diễn tiến rất âm thầm, thường chỉ bắt đầu bằng biểu hiện người thấy mệt mỏi, sụt cân, sốt dai dẳng, làm việc không hiệu quả. Từ từ bệnh mới diễn tiến đến tình trạng thiếu máu, nặng hơn là bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng rồi mới bị giảm tiểu cầu, xuất huyết.

    Cần lưu ý, rối loạn sinh tủy là cơ sở ban đầu để dẫn đến những bệnh lý nặng hơn mà đa số (80-90%) trường hợp sẽ chuyển sang ung thư máu. Tức là các tế bào đó vượt quá sự kiểm soát của cơ thể và trở thành ung thư luôn.

    Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới, rối loạn sinh tủy được chia thành năm nhóm, theo sự phức tạp của bệnh. Tuy nhiên việc phân loại này trên thế giới cũng chưa có sự đồng thuận, thống nhất hoàn toàn của các chuyên gia về huyết học.

    Cụ thể, nhóm 1 được gọi là thiếu máu, nhóm 2 là thiếu máu khó chữa, nhóm 3 là thiếu máu có vòng nhẫn (tăng lượng sắt trong máu), nhóm 4 là thiếu máu tăng tế bào non và nhóm 5 là thiếu máu có chuyển dạng (sang ác tính).

    Để xác định bệnh của bệnh nhân thuộc nhóm nào rất phức tạp và phải được bác sĩ có kinh nghiệm chuyên về huyết học thực hiện chọc tủy, làm xét nghiệm sinh học phân tử để đánh giá sự đột biến gen. Từ kết quả đó mới phân loại bệnh của bệnh nhân đang ở nhóm nào.

    Tại VN rất ít bệnh viện có thể thực hiện được việc phân nhóm rối loạn sinh tủy, ngoài Viện Huyết học – truyền máu trung ương và Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM.

    Cơ hội mong manh

    Bệnh này thường gặp ở người lớn tuổi. Trẻ em cũng có thể bị rối loạn sinh tủy nhưng ít. Tuy nhiên với trẻ em bệnh thường kèm theo những đột biến bẩm sinh khác. Ở người lớn bệnh thường do mắc phải. Tuy nhiên, mắc phải do cái gì thì đa số không biết được nhưng có thể do đột biến gen của tế bào.

    Cho đến nay 70-80% trường hợp bị rối loạn sinh tủy y học chưa xác định được nguyên nhân. 20-30% trường hợp còn lại xác định được là do những tác động của các yếu tố môi trường, hóa chất, nghề nghiệp (người thường tiếp xúc với tia xạ, thuốc trừ sâu, thuốc độc hại – trong đó có benzen)…

    Lưu ý ở người bước qua tuổi 55 khi thấy có sốt kéo dài, sụt cân hoặc đau khớp, đổ mồ hôi trộm vào ban đêm hoặc đau nhức trong xương không rõ nguyên nhân nên đến bác sĩ khám ngay. Nếu có các triệu chứng như thiếu máu nhẹ hoặc giảm bạch cầu một chút hoặc ho, sốt tái phát cần đi bác sĩ tầm soát liền.

    Đáng tiếc là tại VN đa số bệnh nhân bị rối loạn sinh tủy đều được chẩn đoán rất trễ và đã ở nhóm thiếu máu nhiều hoặc giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu nhiều. Do vậy, khi có những triệu chứng trên, bệnh nhân chỉ cần đến các bệnh viện xét nghiệm công thức máu là có thể phát hiện.

    Xét nghiệm này chỉ cần bác sĩ đa khoa đọc cũng nhìn ra vấn đề bất thường trong từng chỉ số của công thức máu và dự đoán có rối loạn sinh tủy hay không. Thường khi thấy bất thường, bác sĩ đều thông báo và đề nghị bệnh nhân đến bệnh viện chuyên khoa huyết học để làm xét nghiệm chuyên sâu hơn.

    Về điều trị, tùy bệnh nhân thuộc phân nhóm gì mà bác sĩ đưa ra quyết định điều trị phù hợp với phân nhóm đó. Tuy nhiên, cơ hội khỏi bệnh với bệnh nhân rối loạn sinh tủy rất mong manh.

    Ở nhóm 1 và nhóm 2, do bệnh diễn tiến âm thầm, lặng lẽ, từ từ và có thể kéo dài hai, ba năm nên nhiều khi người bệnh không biết. Bắt đầu từ nhóm 3 trở đi, diễn tiến bệnh phức tạp hơn và khó kiểm soát được nếu bệnh nhân không được đưa ra quyết định điều trị sớm.

    Trong trường hợp đưa ra quyết định điều trị sớm, nếu bệnh nhân dưới 60 tuổi thì còn có cơ may cứu chữa nếu có người cho tủy phù hợp và bác sĩ thực hiện ghép tủy luôn cho bệnh nhân.

    Nếu bệnh nhân trên 60 tuổi thì khả năng sống còn rất thấp mà chỉ có thể cải thiện, kéo dài chất lượng cuộc sống bằng thuốc Decitabin (trị ung thư máu) nhằm ổn định các rối loạn sinh tủy nhưng cũng chỉ được khoảng 1-2 năm bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn ác tính.

    Với những bệnh nhân bị rối loạn sinh tủy nếu không được điều trị kịp thời hoặc diễn tiến bệnh quá nhanh, có thể chuyển sang ác tính luôn. Nếu đã chuyển sang ác tính thì bệnh cực kỳ khó chữa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rối Loạn Sinh Tủy (Mds): Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Lấy Tủy Răng Có Đau Không?
  • Thành Phần, Chức Năng Và Rối Loạn Dịch Não Tủy / Khoa Học Thần Kinh
  • U Màng Não Tủy (Meningioma)
  • Sổ Tay Thần Kinh Học: Đặc Điểm Giải Phẫu Chức Năng Não Tủy Ứng Dụng Vào Thực Hành Lâm Sàng Thần Kinh
  • Rối Loạn Chức Năng Của Tuyến Tụy

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Chức Năng Của Tuyến Tụy Trong Việc Tiêu Hóa
  • Bài 377: Làm Sao Để Biết Được Chức Năng Tụy Tạng Không Hấp Thụ Và Chuyển Hóa Đường ?
  • Thuốc Hạ Thanh Đường Có Tốt Không? Đã Có Ai Dùng Chưa?
  • Tiểu Đường 30. Nguyên Nhân Ung Thư Tụy Tạng
  • 【Đánh Giá】 Tác Dụng Của Thuốc Đường Huyết Medi Happy?
  • Chức năng của tuyến tụy, giống như các cơ quan tiêu hóa khác, phần lớn bị ảnh hưởng bởi hệ thần kinh trung ương. Các tình huống căng thẳng khác nhau, đặc biệt là các tình trạng trầm cảm kéo dài, có thể đi kèm với những thay đổi tạm thời về chức năng của tất cả các hệ thống cơ thể, bao gồm sự thay đổi trong việc hút tụy.

    Trong trường hợp đầu tiên (với kích thích, căng thẳng), thông thường một số tăng sapping, trong thứ hai – sự ức chế tiết của nó (cũng như nhiều chức năng của cơ quan và hệ thống cơ thể). Nó đi mà không nói rằng tác động của các quy định của chính quyền trung ương hơn là trực tiếp ảnh hưởng đến chức năng của cơ thể, và bao gồm toàn bộ hệ thống các cơ chế pháp lý, trong đó bao gồm một số các hormone của tuyến nội tiết và số lượng các hormone tiêu hóa, prostaglandin, vv Hệ thống.

    Rối loạn chức năng của tụy thường đi kèm với các bệnh khác của bệnh đường tiêu hoá, viêm túi mật, viêm dạ dày mãn tính, viêm tá tràng …

    Các yếu tố nguy chính cho sự xuất hiện của rối loạn chức năng của tuyến tụy ở loét dạ dày là điển hình cho bệnh này là nghiêm trọng tá tràng rối loạn vận động, sự phát triển và tiến triển của duodenitis, một khoảng thời gian đáng kể của bệnh loét và tái phát thường xuyên của nó. Bản chất của những thay đổi chức năng của tuyến tụy trong bệnh loét dạ dày tá tràng ở những bệnh nhân khác nhau không phải là duy nhất, nhưng là thường xuyên hơn quan sát suy giảm trong hoạt động của các enzym tụy (amylase, trypsin, lipase) ở nội dung tá tràng (điều này được xác định bằng cách đặt nội khí quản tá tràng) và một sự gia tăng vừa phải trong máu. Một số nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một “phân ly của fermentovydeleniya tụy”: tăng hoạt động amylase trong nội dung tá tràng, giảm hoạt động lipase và những thay đổi khác.

    Nguyên nhân của rối loạn chức năng của tuyến tụy

    Các triệu chứng của rối loạn chức năng của tuyến tụy trong những trường hợp tương đối nhẹ có nguồn gốc thần kinh là không đáng kể: khó tiêu nhẹ, cảm giác cồn cào hoặc “truyền” ở bụng, một số phân thường xuyên hơn hoặc thực hiện nhất quán poluoformlennoy. Do đó, các biểu hiện rất khiêm tốn, chỉ có các đối tượng thần kinh có thể thu hút sự chú ý và gây lo lắng và mong muốn tham khảo ý kiến của bác sĩ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự suy giảm chức năng tuyến tụy và thần kinh suy giảm chức năng tụy thường không bị cô lập: tiết dịch dạ dày, tiết dịch của tuyến ruột giảm, và có thể là quá trình hấp thu bị gián đoạn. Vì vậy, rối loạn chức năng của tuyến tụy, đặc biệt là nếu họ tiếp tục trong một thời gian dài, không phải là độ lệch “vô hại” so với tiêu chuẩn hoặc vi phạm “chức năng”. Nếu các yếu tố ức chế tiêu cực hoạt động đủ lâu, thậm chí có thể làm co giật các mô của tuyến tụy.

    Các rối loạn về chức năng của tụy, như đã nói ở trên, có thể có những nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là không thể loại trừ phản xạ nội tạng-nội tạng từ các cơ quan bị bệnh.

    Triệu chứng rối loạn chức năng của tụy

    Điều trị rối loạn chức năng tuyến tụy

    , , , , [ 9]

    --- Bài cũ hơn ---

  • 👩⚕️💉👨⚕️điều Trị Tụy Cho Bệnh Tiểu Đường, Chỉ Định Cấy Ghép Nội Tạng
  • Phục Hồi Tuyến Tụy Đẩy Lùi Bệnh Tiểu Đường Với Kikuimo Seikatsu
  • Điều Trị Tiểu Đường Bằng Phương Pháp Hồi Phục Tuyến Tuỵ
  • Những Chức Năng Của Tuyến Tụy Không Phải Ai Cũng Biết
  • Top 5 Thực Phẩm Chức Năng Cho Người Bệnh Tiểu Đường Bỏ Thuốc Tây
  • Rối Loạn Chức Năng Gan, Khám Và Điều Trị Rối Loạn Chức Năng Gan Ở Đâu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Chuyển Hóa Và Rối Loạn Chức Năng Chuyển Hóa Glucid, Lipid, Protid Của Gan
  • Rối Loạn Chuyển Hóa Chức Năng Gan, Mật Và Cơ Chế Chống Độc Của Gan
  • Khái Quát Về Ngân Sách Nhà Nước
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Tiêu Hóa (Phần 2)
  • Sinh Lý Bào Thai Và Trẻ Sơ Sinh
  • Rối loạn chức năng gan là gì? Khi mà gan là bộ phận vô cùng quan trọng đối với cơ thể. Thực hiện hơn 500 chức năng và hoạt động không ngừng nghỉ để thanh lọc những chất độc đồng thời chuyển hóa các chất giúp cơ thể duy trì sự sống. Đây là một cơ quan không thể thiếu, vì vậy việc bảo vệ gan là một việc hết sức quan trọng. Tuy nhiên một bệnh vô cùng phổ biến hiện nay mà nhiều mắc phải chính là rối loạn chức năng gan.Cùng xem sự suy giảm chức năng gan có nguy hiểm không và khám rối loạn chức năng gan như thế nào? ở đâu?

    Rối loạn chức năng gan là tình trạng chức năng gan bị suy giảm và không thực hiện được hết các chức năng giải độc gan, chuyển hóa…của lá gan. Nói cách khác lúc này có thể gan phải làm việc quá sức khi cơ thể phải tiếp nhận quá nhiều năng lượng, quá nhiều chất độc hại…khiến cho lá gan phải gồng mình lên để làm việc tổng hợp, phân tích, chuyển hóa các chất. Theo thời gian sẽ gây rối loạn chức năng gan.

    Những bữa ăn thiếu sự cân bằng với quá nhiều lipid (dầu, mỡ…), hay những món ăn kém vệ sinh, hoặc thói quen sử dụng nhiều rượu, bia, cà phê, thuốc lá…, hay lao động quá sức, hoặc việc sử dụng các thuốc như thuốc kháng lao, kháng virus, quá liều paracetamol… có thể gây hại cho gan. Bên cạnh đó những công việc phải thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại đều là những yếu tố nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của lá gan, gây suy giảm và rối loạn chức năng gan.

    Gan có thể bị tổn thương bởi rất nhiều nguyên nhân

    Nguyên nhân thường gặp gây rối loạn chức năng gan chính là việc ăn uống không vệ sinh, ăn quá nhiều các chất béo, đặc biệt ăn uống đúng giờ giấc, quá nhiều năng lượng hoặc uống nhiều rượu bia, đồ uống có cồn, nước ngọt, nước uống có ga, ăn nhiều chất cay nóng, thức ăn chứa hoác hất, phụ gia, phẩm màu…

    • Ăn nhiều thịt và các loại chất đạm.
    • Lười ăn rau, trái cây.
    • Nghiện thuốc: Trong thuốc lá có hàng trăm loại chất độc hại với gan, hút thuốc khiến nồng độ nicotin trong máu tăng cao khiến gan cũng phải làm việc nhiều hơn, lâu dần gây suy giảm chức năng gan.
    • Chế độ sinh hoạt không hợp lý: thức khuya, mất ngủ, làm việc quá sức. Bị stress cũng làm cho chức năng thận và gan sẽ bị yếu đi.
    • Mắc một số bệnh như: đái tháo đường, bệnh truyền nhiễm, chức năng thận yếu… nguy cơ rối loạn chức năng gan tăng cao.
    • Sử dụng thuốc bừa bãi: uống nhiều thuốc kháng sinh, uống thuốc trong một thời gian dài, gan bị nhiễm hóa chất cũng gây ra rối loạn chức năng gan và gây ra các bệnh về gan.

    Khi bạn bị rối loạn chức năng gan thì các hoạt động của gan sẽ diễn ra không bình thường, khả năng thải độc và chuyển hóa của gan cũng kém đi…khiến cho các chất độc có thể tích tụ trong máu, giảm sức đề kháng của cơ thể. Nếu tình trạng này xảy ra trong thời gian dài cơ thể bạn có thể có một số biểu hiện ra bên ngoài như mệt mỏi, chán ăn, rối loạn tiêu hóa, đi ngoài phân sống, người có thể gầy yếu, có thể mọc mụn, mẩn ngứa, nổi mè đây, da vàng hoặc sạm đi…

    Các triệu chứng rối loạn chức năng gan

    Nếu bạn muốn kiểm tra bạn có bị rối loạn chức năng hay không thì cần phải đến các bệnh viện hoặc Phòng khám chuyên khoa về gan để được thăm khám và thực hiện các kiểm tra xét nghiệm theo chỉ định của bác sĩ

    Theo các bác sĩ chuyên khoa thì xét nghiệm chức năng sẽ bao gồm việc định lượng một số enzym, một số chất chuyển hóa tại gan bao gồm định lượng các transaminase, γGT (gamma-glutamyl transpeptidase), phosphatase kiềm và bilirubin.

    Ngoài các xét nghiệm chính trên cần bổ sung bằng một số xét nghiệm khác giúp đưa ra chẩn đoán chính xác hơn bao gồm như:

    Cholesterol máu (chủ yếu được sản xuất ở gan), điện di protein , albumin, fibrinogen, tỷ lệ prothrombin (TP), kiểm tra yếu tố đông máu V, enzym 5′-nucleotidase (enzym có mặt trong nhiều tế bào, đặc biệt là tế bào gan) hay là amoniac máu.

    Xét nghiệm máu có thể phát hiện rối loạn chức năng gan

    Khi bị rối loạn chức năng gan sẽ gây tích tụ các chất độc trong cơ thể, một số trường hợp nặng có thể gây hôn mê sâu do nhiễm độc nặng.

    Những người bị rối loạn chức năng gan nếu không kịp thời điều trị và thay đổi chế độ ăn uống, sinh hoạt lâu dần sẽ khiến các tế bào gan mất hẳn chức năng theo thời gian có thể hình thành nên các tổ chức xơ tăng nguy cơ xơ gan và ung thư gan.

    Bác sĩ Hà Nội chuyên khám và chữa các bệnh về gan – mật. Với đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm cùng hệ thống thiết bị máy móc hiện đại bạn hoàn toàn có thể yên tâm về độ chính xác của các xét nghiệm.

    Khám rối loạn chức năng gan là một kiểm tra không quá phức tạp tuy nhiên cần phải được kiểm tra bằng những bác sĩ chuyên khoa và có kinh nghiệm để có những chẩn đoán chính xác nhất. Vì thế nên lựa chọn các cơ sở uy tín để khám bệnh này.

    Tùy vào mức độ mà chi phí khám sẽ khác nhau. Tuy nhiên giá kiểm tra chức năng gan luôn áp dụng ngang bằng với một số bệnh viện công lập trên cả nước.

    Để điều trị rối loạn chức năng gan cần tìm hiểu rõ nguyên nhân gây bệnh, tuyệt đối không tự ý mua các thuốc bổ gan, mát gan về uống khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

    Tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ, không tự ý tăng, giảm liều thuốc kê đơn của bác sĩ, không được dùng thuốc kê đơn của người khác.

    Xây dựng một chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh. Ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi, hạn chế sử dụng rượu bia, đồ uống có cồn, thuốc lá và các chất kích thích, hạn chế ăn những đồ ăn nhiều dầu mỡ, thay thế mỡ động vật thành dầu thực vật, tránh căng thẳng, thức khuya…

    Nếu không may mắc các bệnh về gan trước đó thì cần điều trị dứt điểm.

    ➡️ Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi , muốn tìm hiểu thông tin sức khỏe , xin vui lòng gọi cho chúng tôi qua đường dây nóng 0985 153 292 hoặc chat trực tiếp trên website Bác sĩ Hà Nội để được các chuyên gia đầu ngành hỗ trợ hoàn toàn miễn phí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Biểu Hiện Rối Loạn Chức Năng Gan
  • Rối Loạn Chức Năng Gan: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Phòng Ngừa
  • Rối Loạn Chức Năng Gan: Mở Đầu Cho Những Bệnh Lý Gan Nguy Hiểm
  • Rối Loạn Chức Năng Gan, Nguyên Nhân, Dấu Hiệu Và Biện Pháp 2022
  • Zalo Là Gì? Các Tính Năng Của Zalo Mà Bạn Nên Biết
  • Rối Loạn Chức Năng Tuyến Giáp

    --- Bài mới hơn ---

  • Suy Giảm Chức Năng Thận
  • Suy Giảm Chức Năng Thận Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Suy Giảm Chức Năng Thận & Giải Pháp Hỗ Trợ Tăng Cường
  • Xét Nghiệm Chức Năng Thận Creatinine + Ure
  • Viên Tiểu Đêm Thái Minh
  • Sự cân bằng giữa sản xuất tại trung tâm và hoạt động của T3 và T4 ở ngoại biên là cần thiết cho tình trạng bình giáp. Suy giáp thường kết hợp với quá trình giảm sản xuất hormone tuyến giáp, mặc dù tình trạng giới hạn hoạt động của chúng ở ngoại biên có thể xảy ra. Ở các nước kém phát triển, tình trạng thiếu iod có thể giải thích phần lớn nguyên nhân suy giáp. Ở các nước phát triển, nguyên nhân suy giáp chủ yếu do bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto, điều trị quá liều phóng xạ iod hay sau mổ cắt tuyến giáp. Một số nguyên nhân khác, ngày càng nhiều, như dùng thuốc làm giảm chức năng tuyến giáp, đặc biệt là trong trường hợp dùng thuốc chống loạn nhịp tim như amiodarone. Các nguyên nhân hiếm gặp hơn như tình trạng khiếm khuyết tổng hợp hormone tuyến giáp do di truyền, bao gồm khiếm khuyết sản xuất men peroxidase và thyroglobuline. Các rối loạn phát triển tuyến giáp ở trẻ em bao gồm giảm sản hay thiểu sản tuyến giáp. Các rối loạn tại thần kinh trung ương do bệnh lý của tuyến yên hay vùng hạ đồi mà hậu quả là giảm TSH hay TRH. Đề kháng hormone tuyến giáp ở ngoại biên mà nguyên nhân có thể do giảm receptor cũng đã được mô tả.

    Bướu giáp cộng đồng (endemic goiter)

    Thiếu hụt iod có thể đưa đến một bệnh lý mà ta có thể phòng ngừa được đó là bướu giáp dịch tể, mà trong vài trường hợp có thể đưa đến chứng đần độn cộng đồng. Số lượng bệnh nhân có thể đến 1/3 dân số thế giới, đặc biệt là ở các nước kém phát triển.mà nguyên nhân là do thiếu hụt iod, và khoảng 12 triệu người bị tình trạng đần độn cộng đồng. Các nước Châu Á như Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc là những vùng có số người bị nguy cơ thiếu hụt Iod cao nhất trên thế giới, ít hơn là các nước Châu Âu như Italy, Tây Ban Nha, Hungary, Ba Lan và Nam Tư…Trong các vùng thiếu hụt Iod nặng, triệu chứng lâm sàng của bướu giáp xuất hiện ở độ tuổi rất trẻ. Tần suất tăng đặc biệt cao ở độ tuổi mới lớn hay dậy thì. Tần suất giảm ở độ tuổi trưởng thành; đặc biệt cao ở nữ giới.

    Hậu quả của chuyển hóa do thiếu hụt Iod

    Thay đổi sinh lý mạn tính do tình trạng thiếu hụt iod ảnh huởng đến một số thay đổi rõ rệt về cơ thể học và chuyển hóa. Sự giảm hấp thu iod lâu ngày có thể dẫn đến giảm sản xuất T3 và T4. Hậu quả là làm tăng từ từ sự thanh thải Iod ở tuyến giáp và giảm tiết ở thận. Do sự giảm sản xuất T3 hay gặp hơn T4 nện làm tăng quá trình chuyển T4 thành T3 ở ngoại vi. Do sự sản xuất T3 và thanh thải các hormone hoạt hóa chuyển hóa có hiệu lực, tình trạng suy giáp lâm sàng có thể tránh khỏi phần lớn các TH mà các xét nghiệm sinh hóa cho thấy giảm T4, tăng TSH và T3 gần ở mức bình thường. Trong các TH nặng, T3 và T4 có thể thấp, TSH cao. Trong tình huống này triệu chứng lâm sàng của suy giáp có thể xảy ra. Cùng với sự thay đổi về sinh lý do thiếu hụt Iod, phì đại tuyến giáp cũng có thể xảy ra. Các nang giáp phì đại, khoảng trống giữa các nang giảm. Khi thiếu hụt Iod nặng hơn, các nang trở nên bất hoạt và bị tràn ngập bởi các chất keo. Một số vùng có hiện tượng tăng sinh hạt và phát triển thành các nhân, một số thành nhân nóng và tự hoạt động, những nang khác thì bất hoạt và trì trệ. Hoại tử, xơ hóa hay xuất huyết có thể xảy ra tạo ra các tổ chức xơ. Tất cả các rối loạn này thường có sự phì đại của tuyến giáp và thường là không đồng nhất.

    Suy giáp sau xạ trị

    Suy giáp lâm sàng có thể từ quá trình điều trị phóng xạ Iod 131. Phương pháp điều trị này ngày càng phổ biến cho những bệnh nhân cường giáp, trong đó có bệnh Graves. Khoảng 50-70% các TH nhận liều điều trị hơn 10mCi có thể có biểu hiện suy giáp. Đối với những bệnh nhân này, theo dõi chức năng tuyến giáp hằng năm là cần thiết. Xạ trị ngoài trên những bệnh nhân Lymphôm trung thất hay ung thư đầu mặt cổ có thể gây ra suy giáp tiền lâm sàng. Điều đó rất quan trọng đối với những bệnh nhân đã được cắt tuyến giáp trước đó do bệnh lý tuyến giáp lành tính hay ác tính.

    Suy giáp sau mổ

    Phẫu thuật cắt tuyến giáp cho những bệnh nhân cường giáp hay bệnh Graves cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giáp. Cắt gần hết tuyến giáp hay trọn tuyến giáp có thể dẫn đến suy giáp sau mổ. Khả năng suy giáp vĩnh viễn xảy ra sau mổ phụ thuộc vào kỹ năng của phẫu thuật viên và khối lượng tuyến giáp bị cắt. Khả năng tổn thương thần kinh quặt ngược, hay suy tuyến phó giáp tăng dần với khối lượng tuyến giáp bị cắt. Các yếu tố khác tác động đến tình trạng suy giáp sau mổ bao gồm dùng thuốc kháng giáp, chế độ ăn kiêng iod và sự xâm nhập nang lympho (lymphocytic) ở mô giáp còn lại.

    Suy giáp do thuốc Cytokines

    Tác động của các cytokines trên viêm tuyến giáp có thể là nguyên nhân sinh bệnh và làm nặng thêm quá trình bệnh lý. Tác động chính xác của các cytokines trên bệnh lý viêm giáp Hashimoto là không rõ. Chỉ biết rằng, dùng interferon-alfa hay interleukin-2 điều trị một số bệnh lý ác tính có thể gây suy giáp và có thể hồi phục khi ngưng thuốc. Đây là điểm quan trọng cho các bệnh nhân viêm giáp Hashimoto và cần khai thác bệnh sử kỹ trên những bệnh nhân này.

    Lithium

    Điều trị một số rối loạn tâm thần đặc biệt là trầm cảm sợ hãi. Lithium có thể ức chế con đường tạo hormone phụ thuộc chu trình AMP. Suy giáp gặp nhiều trên những bệnh nhân Hashimoto dùng Lithium, mặc dù có thể gặp ở những bệnh nhân bình giáp.

    Amiodarone

    Điều trị hiệu quả trên những bệnh nhân rối loạn nhịp thất. Thuốc này chứa iod ở mức có thể làm nặng rối loạn chức năng tuyến giáp. Dùng thuốc kéo dài có thể gây viêm tuyến giáp và hậu quả là cường giáp và theo sau là tình trạng suy giáp thoáng qua. Tình trạng viêm giáp này thường kết hợp với tăng interleukine-6 huyết thanh, gợi ý quá trình đáp ứng viêm với cytokine. Rối loạn chức năng tuyến giáp nặng có thể xảy ra trên những bệnh nhân dùng amidarone đặc biệt là những bệnh nhân có tiên căn viêm giáp Hashimoto.

    Thuốc kháng giáp

    Các thuốc kháng giáp thông thường (carbimazole, methimazole, PTU) đều có thể gây suy giáp. Theo dõi cẩn thận những bệnh nhân dùng các loại này và biết được diễn tiến bệnh do chúng gây ra là bắt buộc khi theo dõi điều trị các bệnh nhân này.

    Kháng hormone TG ở mô ngoại vi

    Rối loạn có tính chất di truyền : kháng hormone TG ở mô ngoại vi có thể do bất thường receptor TG. Bất thuờng chức năng các receptor này có thể gây ra tình trạng suy giáp lâm sàng với tăng các hormone TG huyết thanh. Hai loại receptor là TR-α và TR-β được qui định trên 2 gen ở nhiễm sắc thể 17 và 3. Đột biến gen TR-β có vẻ như là nguyên nhân của hiện tượng này. TR-α có vẻ như không bị tác động bởi sự đột biến gen này.

    Dấu hiệu lâm sàng và chẩn đoán suy giáp

    Quá trình phát triển của thai và trẻ sơ sinh được bảo vệ khỏi tình trạng suy giáp nhờ sự thấm qua nhau thai của T4. Sau sinh, sự suy giảm chức năng TG nếu kéo dài có thể ảnh hưởng đến sự phát triển một cách rõ rệt và đôi khi không hồi phục : lớn chậm, chậm phát triển tâm thần, còi cọc. Đây có thể được xem là hội chứng đần độn (cretinism). Trong thời kỳ cuối của tuổi vị thành niên, suy giáp có thể gây ra giảm khả năng trí tuệ nhưng không hẳn là chậm phát triển tâm thần. Các dấu hiệu thực thể như sa trực tràng, chướng bụng hay thoát vị rốn cũng có thể xảy ra. Trong độ tuổi thanh niên, đây là tình trạng suy giáp thanh niên.

    Ở độ tuổi trưởng thành, suy giáp tự nhiên thường xảy ra ở phụ nữ (80%) và diễn tiến âm thầm kết hợp với suy giảm chậm và từ từ chức năng. Trong đa số các TH, diễn tiến này gây ra bởi viêm tuyến giáp dạng nang bạch huyết (lymphocystic). Triệu chứng kinh điển là mệt, đau đầu, tăng cân, da khô, lông tóc dòn, và vọp bẻ. Diễn tiến nặng của bệnh có thể biểu hiện bệnh lý tim mạch như cao huyết áp, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi. Chướng bụng và táo bón là triệu chứng nặng của suy giáp. Thiếu máu gặp khoảng 12% TH

    Chẩn đoán

    Đối với những bn có triệu chứng mệt mỏi, táo bón hay những bất thường về tim mạch, định lượng các hormone TG là cần thiết. Giảm T3 và T4, tăng TSH và cholesterol là các XN kinh điển.

    Điều trị

    L-thyroxine an toàn và hiệu quả. Liều 100μg đường uống có tác dụng hiệu quả đối với các thay đổi rộng về trọng lượng cơ thể người lớn và chỉ số cơ thể (BMI). Bn suy giáp nặng cần theo dõi sát và bắt đầu tăng liều từ từ do sự nhạy cảm của hormone như là hậu quả của sự thiếu hụt lâu dài của các catecholamines trên cơ tim.

    CƯỜNG GIÁP

    Hiện tượnng tăng tiết hormone tuyến giáp dẫn đến tăng quá trình chuyển hóa của cơ thể. Tăng tiết TG có thể do sự thay đổi nguyên phát trong TG (bệnh Graves, u giáp nhân độc, toxic adenoma) hay các rối loạn TK trung ương với tăng sản xuất TSH kích thích TG. Phần lớn các nguyên nhân cường giáp là do bất thường nguyên phát. Ngoài ra cường giáp cũng có thể do dùng thuốc hormone TG, thai trứng với tăng tiết human chorionic gonadotropin, hoặc hiếm hơn là do bệnh lý ác tính TG tiết nhiều hormone TG.

    1. Bệnh Graves

    Phần lớn cường giáp do bệnh Graves (u giáp độc lan tỏa). Bệnh này được một nhà lâm sàng người Ailen mô tả năm 1835- Bs Robert Graves. Đa số bn là phụ nữ từ 20-40. Trong thập niên 60, nguyên bệnh sinh được cho là do tác động lâu dài của kháng thể kích thích TG., và hậu quả là tăng tiết quá mức hormone TG. Gần đây, người ta phát hiện nhiều loại kháng thể kích thích TG gắn kết với receptor TSH ở tế bào nang TG. Globulin miễn dịch kích thích TSH-receptor cùng lúc với các loại globulin miễn dịch khác ức chế TSH trên cùng loại receptor. Mặc dù có 1 vài giả thiết về quá trình kích thích TG của các kháng thể này, vẫn chưa có một sự thống nhất về nguyên nhân sinh bệnh. Vấn đề di truyền cũng có thể. Đã có những trường hợp bệnh Graves trên cặp song sinh cùng trứng hay khác trứng.

    Bệnh học

    Những bệnh nhân Graves có sự phì đại của TG với hiện tượng tăng sinh mạch máu. U có thể lan tỏa hay không đối xứng, do sự phát triển của một thùy có thể thấy được gây ra sự biến dạng vùng cổ ảnh hưởng đến thẫm mỹ. U có thể đẩy lệch hay chèn ép khí quản.Trên vi phẫu, người ta thấy các nang TG nhỏ với tăng sinh các cột biểu mô. Tăng sản các tế bào này kích thích phân chia nhân nhanh và các tuyến nhú của biểu mô nang TG trong trung tâm các nang TG. Tăng sự lắng đọng lymphoid ở mô cũng thường thấy trên các Bn Graves.

    Chẩn đoán

    Khối u giáp mềm lan tỏa và các triệu chứng cường giáp gợi ý chẩn đoán. Hỏi bệnh sử, khám lâm sàng và các XN chức năng TG. T3 và T4 tăng, TSH giảm. Kháng thể tuyến giáp thường tăng. Chẩn đoán hình ảnh có thể cần thiết khi lâm sàng nghi ngờ. Iod phóng xạ 123 cho thấy sự hấp thu lan tỏa của u giáp. Siêu âm hay CT scan vùng cổ dùng để đánh giá các mốc giải phẫu. Tuy nhiên, sự cần thiết của hai phương tiện chẩn đoán hình ảnh trên trước mổ không được hoàn toàn đồng ý.

    Điều trị

    Khi đã chẩn đoán bệnh Graves, cần nhanh chóng điều trị. Đặc biệt là các bệnh nhân lồi mắt đe dọa đến thị lực. Có 3 pp cơ bản điều trị bệnh Graves : phóng xạ iod, phẫu thuật cắt bướu. và thuốc kháng giáp. Trong thập niên 80, phẫu thuật là pp phổ biến nhất để điều trị. Tuy nhiên, với sự phát triển của Iod phóng xạ và hiệu quả của thuốc kháng giáp đã nâng cao vai trò của điều trị không phẫu thuật, đặc biệt là ở Mỹ. Thật vậy, chỉ có một số ít bn cần phẫu thuật. Do vậy, Bn Graves cần được hướng dẫn kỹ về các lựa chọn pp điều trị, nguy cơ của mỗi pp và tiên lượng thành công.

    Đây là pp điều trị được lưa chọn bởi phần lớn các bệnh nhân Graves tại Mỹ. Phần lớn sử dụng nhân Iod 131.Cần điều trị bằng thuốc kháng giáp để đưa về tình trạng bình giáp trước khi ĐT bằng phóng xạ từ 3-4 tuần.Sau đó thuốc điều trị cần chấm dứt để cho phép quá trình hấp thu Iod hoạt động. Một chương trình thử trước điều trị cần thực hiện để tính toán liều chính xác của Iod 131 bằng cách uống liều điển hình là 8-12mCi. Sau khi uống liều từ 10-15mCi, khả năng điều trị khỏi có thể đến 90%. Nếu liều đầu tiên thành công, đa số các Bn có chức năng TG bình thường mà không cần dùng thuốc trong 8-12 tuần. 10-15% bị suy giáp trong 12 tháng, với khả năng 3% tăng sau mỗi năm tiếp theo. Điều quan trọng là theo dõi các Bn sau điều trị Iod 131 bằng các test hormone TG và TSH.Chỉ định lý tưởng cho pp này là các Bn có bướu giáp nhỏ hoạc trung bình hoặc ở những Bn mà thuốc kháng giáp không tác dụng. Chỉ định cho các Bn từ chối phẫu thuật hoặc chống chỉ định phẫu thuật.Ngoài ra còn chỉ định cho nhóm Bn bị tái phát sau mổ hay dùng thuốc. Đồng vị phóng xạ Iod có thể không hiệu quả tốt trên những Bn trẻ, bao gồm cả thanh niên, hay những Bn có bướu giáp to.Chống chỉ định cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú. Hoàn toàn không có chống chỉ định cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Thuận lợi của Iod phóng xạ là tránh phẫu thuật, nguy cơ tổn thương thần kinh quặc ngược, suy giáp sau mổ hay tái phát sau mổ. Bất lợi của PP này là có 10% các TH suy giáp ban đầu và tăng dần về lâu dài, cần ĐT bằng hormone thay thế, và tần suất cao tái phát sau lần ĐT đầu tiên và cần ĐT tiếp Iod 131. Các bất lợi khác là làm nặng thêm tình trạng rối loạn nhịp tim, đặc biệt là ở những Bn lớn tuổi, có khả năng hư thai ở sản phụ,nặng thêm tình trạng mắt, và hiếm hơn là cơn bão giáp có thể đe dọa tính mạng Bn.

    Tác động chính của các loại thuốc kháng giáp PTU, methimazole, carbimazole là ức chế sự tổ chức hóa của Iod trong tuyến giáp cũng như ức chế sự gắng kết các phân tử iodotyrosine để tạo ra T3 và T4.Ngoài ra PTU có vẻ còn có tác dụng chống chuyển T4 thành T3 ở ngoại biên. Tác động của T3 và T4 tại ngoại biên trên tuần hoàn và chuyển hóa, do đó thuốc ức chế sự chuyển T4 thành T3 ở ngoại biên có tác dụng kiểm soát được các triệu chứng do cường giáp. Ngoài ra, tác dụng adrenergic ở ngoại biên do cường giáp có thể kiểm soát bằng β-blocker như propanolol. Trong hoàn cảnh cấp, steroid và β-blocker phối hợp làm tăng khả năng kiểm soát các tác dụng của việc tăng T3 và T4 ngoại biên. Điều trị nội khoa các TH độc giáp nặng bằng β-blocker như propanolol, đặc biệt điều trị nhanh nhịp tim.Propylthiouracil, carbimazole, hay methimazole có thể kết hợp và cần theo dõi sát nồng độ T4 và TSH. Nếu sau vài tuần, Bn có biểu hiện suy giáp trên lâm sàng và XN, hormone thay thế cần sử dụng một cách cẩn thận. Thuốc kháng giáp có tác dụng kiểm soát cường giáp nhanh nhưng tỉ lệ tái phát rất cao (50%) sau khi ngừng thuốc 12-18 tháng. Bn cần được theo dõi sát các tác dụng phụ của thuốc, đặc biệt là PTU. Các thuốc này có thể gây các rối loạn huyết học nặng bao gồm giảm bạch cầu hạt, hiếm hơn như thếu máu suy tủy. Các tác dụng phụ khác như sốt, viêm đa khớp, nổi ban đỏ.

    Thuận lợi của phẫu thuật cắt tuyến giáp là nhanh chóng đạt hiệu quả điều trị mà không cần thuốc và các tác dụng phụ của thuốc.Khối lượng mô giáp để lại vẫn đang còn tranh cãi. Cắt hết mô giáp đòi hỏi phải thực hiện cắt bướu giáp toàn phần mà nguy cơ cao gây suy giáp, tổn thương thần kinh quặc ngược. Một vài nhóm tác giả cho rằng cắt TG toàn phần là một pp điều trị hiệu quả nhất bởi vì nó giảm hẳn tỉ lệ tái phát.Điều đó có nghĩa là những Bn cường giáp, đặc biệt là có bệnh lý mắt kèm theo, sẽ có thể hết bệnh với cắt toàn phần TG. Lấy tất cả các ổ antigenic có vẻ như là cách giải thích tốt nhất cho quan niêm này. Các pp khác như cắt gần hết ( cắt toàn bộ 1 thùy và chừa lại 1 mép mô giáp ở thùy đối bên) hay cắt bán phần (để lại 2 mép mô giáp ở hai bên thùy).1-2g mô giáp để lại tùy thuộc phẫu thuật viên giúp giảm thiểu nguy cơ tổn thương thần kinh quặc ngược nhưng có nguy cơ tái phát chính trên phần còn lại.Các Bn có chỉ định phẫu thuật bao gồm những Bn thất bại với điều trị bằng iod phóng xạ hay thuốc kháng giáp.Các Bn trẻ tuổi, đặc biệt là thanh thiếu niên, phụ nữ có thai hoặc những Bn có bướu giáp to cần phải phẫu thuật.Bn bị biến dạng cổ do bướu làm mất thẫm mỹ hoặc các TH chèn ép khí quản gây khó chịu cần phải phẫu thuật. Trước mổ cần giải thích cho Bn các nguy cơ bao gồm suy tuyến cận giáp, tổn thương TK quặc ngược cũng như khả năng tái phát nếu thực hiện pp cắt gần hết TG. Trước phẫu thuật, cần điều trị về bình giáp bằng các thuốc kháng giáp và có thể kết hợp với β-blocker. Cần sử dụng dung dịch Lugol trong vòng 7 ngày nhằm làm giảm các mạch máu tăng sinh trong mô giáp. Cần kiểm tra tình trạng bình giáp đối với tất cả các Bn trước mổ. Nếu Bn không được điều trị đúng, có nguy cơ bị cơn bão giáp có thể đe dọa đến tính mạng. Cơn bão giáp biểu hiện bằng nhanh nhịp tim nặng, sốt, lú lẫn, ói đến mất nước và kích thích quá mức adrenergic dẫn đến lơ mơ và hôn mê. Cơn bão giáp xảy ra sau cắt tuyến giáp trên những bn chưa kiểm soát được tình trạng cường giáp. Phương pháp điều trị chống cơn bão giáp tốt nhất là phòng ngưa và chuẩn bị trước mổ. Hơn nữa, các bn khi được gây mê cần được kiểm tra tình trạng cường giáp, mà chưa được chẩn đoán nếu lâm sàng nghi ngờ.. Điều trị cơn bão giáp bao gồm truyền dịch nhanh và nhanh chóng cho thuốc kháng giáp, β-blocker, dung dịch iod và steroid. Trong TH nguy hiểm tính mạcng, có thể thẩm phân phúc mạc hay lọc thận để làm giảm nồng độ T3 và T4.

    2. Bướu giáp nhân độc – toxic adenoma

    BG nhân độc còn được gọi là bệnh Plummer, đó là 1 nhân giáp nằm trong tuyến giáp lan tỏa mà chức năng họat động độc lập. Bệnh thường xảy ra trên những bệnh nhân có bướu giáp cộng đồng. Những bệnh nhân này thường ở độ tuổi trung bình hay già hơn các Bn Graves. Tuyến giáp Bn này thường to lan tỏa hay kết hợp có bướu thòng trung thất. Triệu chứng cường giáp thường nhẹ, T3 và T4 tăng, TSH giảm. Kháng thể kháng giáp thường giảm. Chẩn đóan dựa vô các triệu chứng lâm sàng và xạ hình I 131 thường cho thấy 1 hay 2 vùng họat động tự động trong khi đó những vùng còn lại họat động yếu. Điều trị bướu giáp nhân độc thường là cắt bỏ vùng độc bằng cách cắt thùy hay cắt gần hết TG, đặc biệt trong TH có triệu chứng báo động. Trong TH bướu giáp nhân đơn độc (adenom), cắt thùy là hiệu quả. Thuốc kháng giáp có thể kiểm sóat TC cường giáp nhưng tái phát cao. Đồng vị phóng xạ Iod không có tác dụng giống như trong bệnh Graves.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí Của Tuyến Giáp Và Chức Năng Của Nó
  • Xét Nghiệm Ung Thư Tuyến Giáp
  • Các Thể Ung Thư Tuyến Giáp: Cách Nhận Biết Và Chữa Trị
  • Các Thể Ung Thư Tuyến Giáp: Cách Nhận Biết Và Điều Trị
  • Siêu Âm Tuyến Giáp Có Tác Dụng Gì?
  • Triệu Chứng Của Rối Loạn Chức Năng Gan

    --- Bài mới hơn ---

  • Triệu Chứng Và Điều Trị Rối Loạn Chức Năng Gan
  • Rối Loạn Chức Năng Gan Là Gì? Phân Loại, Triệu Chứng Và Nguyên Nhân Gây Bệnh
  • Những Dấu Hiệu Rối Loạn Chức Năng Gan
  • 4 Dấu Hiệu Nhận Biết Sớm Rối Loạn Chức Năng Gan
  • Khám Và Điều Trị Rối Loạn Chức Năng Gan
  • Khi gan không thể hoạt động một cách chính xác, nhiều rối loạn chuyển hóa có thể xảy ra, bao gồm:

    – Nồng độ LDL – cholesterol (cholesterol “xấu”) tăng lên.

    – Nồng độ HDL- cholesterol (cholesterol “tốt”) giảm xuống.

    – Nồng độ Triglycerides (mỡ trong máu) tăng lên.

    Tình trạng này có thể dẫn tới các vấn đề như tăng cân, không có khả năng giảm cân, trao đổi chất diễn ra chậm, chất béo tích tụ bất thường trong các khu vực khác của cơ thể. Triệu chứng cực đoan hơn bao gồm xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

    Bởi vì gan sản xuất mật nên rối loạn chức năng gan có thể dẫn đến sỏi mật, cơ thể không dung nạp chất béo và rượu, chướng bụng, táo bón, hội chứng ruột kích thích và đau dạ dày.

    3. Kém hấp thu chất dinh dưỡng

    Khi gan có vấn đề, nó không thể chuyển đổi các chất dinh dưỡng đến các hình thức sinh học sẵn có của mình. Vì vậy, nhiều chất dinh dưỡng đi qua cơ thể mà không bị hấp thụ

    Rối loạn chức năng gan có thể dẫn đến lượng đường không ổn định, tiền thân cho sự kháng insulin và bệnh tiểu đường tuýp 2.

    Khi thức ăn không chuyển hóa hiệu quả do một rối loạn chức năng gan, não không nhận được các chất dinh dưỡng thích hợp nó cần để hoạt động một cách chính xác. Kết quả là, não bị thiếu chất dinh dưỡng quan trọng. Các triệu chứng bao gồm “sương mù não”, trầm cảm, thiếu kiểm soát sự tức giận, kém tập trung, trí nhớ kém.

    Gan giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Do đó khi gan có vấn đề, hệ miễn dịch không thể xử lý các chất thải độc hại hiệu quả. Các triệu chứng của rối loạn chức năng gan trong trường hợp này là dị ứng, không dung nạp thức ăn, nhạy cảm với hóa chất, da phát ban hoặc bị viêm, tăng nguy cơ mắc các bệnh tự miễn dịch như hội chứng mệt mỏi mạn tính và xơ cơ.

    Rối loạn chức năng gan có thể dẫn đến nồng độ bất thường của estrogen và testosterone (nam / nữ hormone), với các triệu chứng mãn kinh nghiêm trọng và trước kinh nguyệt ở phụ nữ. Trong cả hai giới, nồng độ hormone không bình thường có thể làm tăng đáng kể nguy cơ nhồi máu cơ tim.

    Các triệu chứng khác: bao gồm hôi miệng, phát ban, ngứa, cơ thể có mùi khó chịu, quầng thâm dưới mắt, mắt có mà vàng, mắt bị dị ứng sưng đỏ, mụn trứng cá đỏ, đốm nâu trên da (đốm gan), lòng bàn tay đỏ, lòng bàn chân ngứa và viêm, da mặt xuất hiện những vệt ửng đỏ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rối Loạn Chức Năng Gan: Biểu Hiện, Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị “triệt Để”
  • Tầm Quan Trọng Của Tầm Soát Bệnh Viêm Gan
  • Gs Khoa Gan Khuyên: Làm 3 Việc Trước Khi Ngủ, Gan Thải Độc Tốt, Giảm Nguy Cơ Mắc Bệnh
  • Tầm Quan Trọng Của Xét Nghiệm Chức Năng Gan
  • Bệnh Viêm Gan Và Tầm Quan Trọng Của Xét Nghiệm Chức Năng Gan
  • Rối Loạn Chức Năng Tuyến Tụy

    --- Bài mới hơn ---

  • 👩⚕️💉👨⚕️hiệu Quả Của Tuyến Tụy: Nó Phát Triển Và Bệnh Gì?
  • Chế Độ Ăn Có Thể Tái Sinh Tế Bào Tuyến Tụy, Giúp Đảo Ngược Tình Trạng Bệnh Tiểu Đường, Thử Nghiệm Thành Công Trên Chuột
  • 6 Bước Bấm Huyệt Chữa Bệnh Tiểu Đường Có Thể Thực Hiện Tại Nhà
  • Căn Nguyên Của Bệnh Tiểu Đường: Mấu Chốt Nằm Ở Tuyến Tụy
  • Xét Nghiệm Glucose Để Phát Hiện Chúng Ta Có Thể Bị Tiểu Đường Hay Không
  • Các yếu tố nguy chính cho sự xuất hiện của rối loạn chức năng của tuyến tụy ở loét dạ dày là điển hình cho bệnh này là nghiêm trọng tá tràng rối loạn vận động, sự phát triển và tiến triển của duodenitis, một khoảng thời gian đáng kể của bệnh loét và tái phát thường xuyên của nó. Bản chất của những thay đổi chức năng của tuyến tụy trong bệnh loét dạ dày tá tràng ở những bệnh nhân khác nhau không phải là duy nhất, nhưng là thường xuyên hơn quan sát suy giảm trong hoạt động của các enzym tụy (amylase, trypsin, lipase) ở nội dung tá tràng (điều này được xác định bằng cách đặt nội khí quản tá tràng) và một sự gia tăng vừa phải trong máu. Một số nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một “phân ly của fermentovydeleniya tụy”: tăng hoạt động amylase trong nội dung tá tràng, giảm hoạt động lipase và những thay đổi khác. Trong một số trường hợp, chức năng gia tăng của tuyến tụy giảm phần nào. Trong viêm dạ dày teo mãn tính với thất bại bài tiết cũng giảm thường quan sát chức năng tuyến tụy ngoại tiết: giảm so với chỉ tiêu tổng số sản phẩm nước trái cây phát hành mỗi đơn vị thời gian cả trước sự kích thích của tuyến tụy, và sau đó, giảm hàm lượng bicacbonat dịch tụy và các enzym ( một số tác giả cũng lưu ý sự hiện diện của “phân ly fermentovydeleniya”), độ cao của các enzym tụy trong máu. Có hyperamylasuria vừa phải; các vi phạm nhỏ thường được ghi nhận và chức năng tăng của tuyến tụy.

    Rối loạn chức năng của tuyến tụy với loét dạ dày tá tràng và viêm dạ dày mãn tính thường được xác định với một khoảng thời gian đáng kể của bệnh và thường không kèm theo triệu chứng của bệnh ung thư, thường có thể đảo ngược, biến mất với cải thiện dòng chảy của các bệnh này dưới ảnh hưởng của việc điều trị (ví dụ, thuyên giảm của bệnh loét dạ dày tá tràng), không kèm theo thay đổi hình thái của tuyến tụy, được xác định bằng các phương pháp chẩn đoán hiện đại (ví dụ, echography hoặc scan). Rối loạn chức năng trong các bệnh này được giải thích bởi các mối quan hệ chức năng chặt chẽ của hệ thống tiêu hóa, rối loạn (hormone tiêu hóa) quy định thần kinh và thể dịch của tuyến tụy. Trong một số ít trường hợp, với những bệnh này phát triển viêm tụy mãn tính. Đương nhiên sự phát triển của sự thâm nhập của viêm tụy loét tiêu hoá ở tuyến tụy, cũng như bệnh đồng thời hệ thống mật. Trong teo duodenitis khiếm sản xuất dịch tụy do giảm sản xuất niêm mạc của các chất kích thích tự nhiên tá tràng tiết tụy – các secretin hormone và pancreozymin.

    Một số tác giả đã tìm thấy sự thay đổi chức năng trong tuyến tụy cho bệnh viêm gan siêu vi mãn tính và xơ gan của gan. Trong một số trường hợp, những thay đổi hình thái như viêm tụy mãn tính và xơ tụy thậm chí phát hiện với bệnh xơ gan. Rối loạn mô tả chức năng của tuyến tụy trong viêm đại tràng mãn tính, đặc biệt là viêm loét đại tràng: enzyme phân ly trong nội dung tá tràng (tăng amylase, lipase và giảm trypsin), tăng hoạt động ataksilrezistentnoy lipase trong huyết thanh máu. Khoảng 1/3 bệnh nhân có vi phạm nhỏ về chức năng của bộ máy nội tiết của tuyến tụy, cũng có tính chất đảo ngược.

    Với rối loạn chức năng của tuyến tụy, tuy nhiên, nếu có sự sụt giảm về sạ tụ thì thường không xảy ra. Chỉ với những tổn thương hữu cơ của cơ quan này, chức năng ngoại lai của tụy có thể bị gián đoạn nghiêm trọng. Ahiliya tụy (hoặc giảm mạnh trong dịch tụy) có thể là tại các bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng, suy mòn ung thư (đối với bất kỳ nội địa hóa khối u, trong trường hợp này nó không phải là một dạng ung thư tuyến tụy) và cho bất kỳ nhiễm độc nghiêm trọng khác.

    , , ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 57. Tuyến Tụy Và Tuyến Trên Thận Bai 57 Tuyen Tuy Va Tuyen Tren Than Docx
  • 👩⚕️💉👨⚕️ Làm Thế Nào Để Kiểm Tra Tuyến Tụy: Những Xét Nghiệm Nào Cần Thiết Cho Bệnh
  • 【Đánh Giá】 Tác Dụng Của Thuốc Đường Huyết Medi Happy?
  • Tiểu Đường 30. Nguyên Nhân Ung Thư Tụy Tạng
  • Thuốc Hạ Thanh Đường Có Tốt Không? Đã Có Ai Dùng Chưa?
  • Rối Loạn Chức Năng Dạ Dày

    --- Bài mới hơn ---

  • Phục Hồi Chức Năng Liệt Dây Thần Kinh Số 7 Ngoại Biên Vật Lý Trị Liệu Đức Điệp
  • Chữa Liệt Dây Thần Kinh Số 7 Ngoại Biên
  • Liệt Dây Thần Kinh Số Vii (Liệt Mặt) Có Nguy Hiểm Không?
  • Dây Thần Kinh Số 7 Nằm Ở Đâu?
  • Liệt Dây Thần Kinh Số 7 Phải Làm Sao?
  • Khi chức năng co bóp và tiết dịch tiêu hóa thức ăn của dạ dày phối hợp không nhịp nhàng sẽ gây hiện tượng rối loạn chức năng dạ dày. Đối tượng thường gặp phải hiện tượng trên đó là người trẻ tuổi, trẻ đang dậy thì, người nhạy cảm hoặc bị rối loạn hệ thần kinh thực vật.

    Để hiểu rõ hơn nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết cũng như cách điều trị rối loạn chức năng dạ dày, người bệnh có thể tham khảo bài viết sau.

    I. Nguyên nhân nào gây rối loạn chức năng dạ dày?

    Thông thường, dạ dày đảm nhân hai nhiệm vụ chính là co bóp thức ăn và tiết dịch vị tiêu hóa thức ăn.

    Chức năng vận động của dạ dày sẽ do hai bộ phận đảm nhiệm: vùng thân vị – nơi khởi đầu cho trương lực co bóp của dạ dày và vùng hang vị – nơi đáp ứng sự giãn ra do thứ ăn từ hệ tiêu hóa, từ đó hoạt hóa cho vùng tạo nhịp nằm ở bờ cong đoạn giữa thân bị. Chức năng tiết dịch sẽ do thể dịch và các tế bào thần kinh chi phối.

    Khi hai chức năng này phối hợp không nhịp nhàng sẽ gây hiện tượng rối loạn, có thể là rối loạn tiết dịch hay rối loạn chức năng, đòi hỏi người bệnh cần tuân thủ điều trị nếu không muốn bị những triệu chứng hành hạ.

    Có khá nhiều nguyên nhân gây rối loạn chức năng dạ dày, có thể do sự bất ổn tâm lý hoặc do bệnh lý gây nên, xong có thể chia thành hai nhóm nguyên nhân chính:

    • Rối loạn chức năng dạ dày nguyên phát: Yếu tố tinh thần là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày nguyên phát. Cụ thể, những người thường hay bực dọc, phẫn nộ, lo âu, sợ hãi, sang chấn tâm lý có nguy cơ bị rối loạn chức năng dạ dày.
    • Rối loạn chức năng dạ dày thứ phát: Những người bị bệnh viêm ruột thừa mạn, viêm đại tràng, viêm tụy man, sai lầm trong cách ăn uống (ăn không no, nhai không kỹ, giờ giấc ăn uống thất thường, lao động nặng sau mỗi bữa ăn, ăn nhiều đồ ăn kích ứng dạ dày, đồ chứa chất kích thích như rượu, bia…) đều có nguy cơ bị rối loạn dạ dày.

    II. Phân loại rối loạn chức năng dạ dày

    Như đã trình bày, sở dĩ dạ dày bị rối loạn chức năng hoạt động là do sự phối hợp không ăn ý giữa chức năng vận động và chức năng tiết dịch. Do đó, có thể phân chia bệnh do rối loạn chức năng dạ dày thành 2 nhóm:

    Nhóm bệnh gây rối loạn chức năng vận động: Chức năng vận động có thể gây nên một số bệnh như giảm trương lực hay mất trương lực của dạ dày, giãn dạ dày cấp, tăng trương lực dạ dày.

    Nhóm bệnh gây rối loạn chức năng tiết dịch: Chức năng tiết dịch bị rối loạn có thể dẫn đến một số hiện tượng: vô toan, vô dịch vị, tăng tiết, tăng toan.

    III. Cách điều trị rối loạn chức năng dạ dày dựa vào biểu hiện

    Tùy thuộc nhóm nguyên nhân mà biểu hiện rối loạn chức năng dạ dày không giống nhau, cách điều trị cũng vì thế mà khác nhau.

    Khi bị giãn dạ dày cấp, người biểu hiện đau tức vùng thượng vị dữ dội, cơn đau đến đột như đau bụng cấp hoặc có thể âm ỉ, kéo dài đau ậm ạch. Ngoài ra, người bệnh còn bị nôn nhiều, kéo dài gây rối loạn nước, chất điện giải. Kết quả chụp Xquang cho thất dạ dày giãn to hợn bình thường, thức ăn bị ứ đọng.

    ➨ Điều trị: Bệnh nhân cần được điều trị ở tuyến chuyên khoa. # Giảm trương lực dạ dày

    Thần kinh căng thằng quá mức, bội thực sau một thời gian nhịn đói, mới bị chấn thương các loại, mắc một số bệnh lý như viêm đường mật, viêm tụy, viêm dạ dày… có thể làm giảm trương lực dạ dày.

    Các dấu hiệu để nhận dạng gồm: người mệt mỏi, sức lao động suy giảm. khó ngủ, bụng ậm ạch, đầy bụng, khó tiêu, ăn kém, chóng no, ăn kém, nóng rát, ợ hơi, trước bụng, sình ruột, táo bón…

    Kết quả Xquang cho thất dạ dày giãn dài, khả năng có bóp yếu.

    ➨ Điều trị: Người bệnh nên xoa bóp bụng, hỗ trợ hoạt động co bóp của dạ dày, thúc đẩy tiêu hóa thức ăn. Ăn uống điều độ. Dùng thuốc motilium và vitamin B. # Tăng trương lực dạ dày

    Chấn thương tâm thần, nhiễm độc kim loại nặng như thiếc, chì mãn tính có thể gây tăng trương lực dạ dày. Ngoài ra, những cơn đau ga, thận quặn thắt, đau do viêm loét dạ dày tá tràng đều có thể gây hiện tượng tăng trương lực cho dạ dày.

    Biểu hiện lâm sàn thường gặp là: vùng thượng vị thường xuyên đau rát, xơn đau tăng khi xúc động, khi lao động, người bệnh cảm thấy nôn nao, muốn buồn nôn, thường xuyên ợ nóng, ợ hơi, ợ chua…

    Kết quả chụp Xquang cho thất, dạ dày có hình sừng bò.

    ➨ Biện pháp điều trị: Không dùng chất kích thích. Thay vào đó, người bệnh dùng thêm sinh tố, thuốc chống co thắt cơ trơn, thuốc an thần… # Co thắt môn vị

    Loét dạ dày tá tràng, viêm dạ dày tăng toan, polyp dạ dày, nghiện thuốc lá, thiếu hụt vitamin B1 đều có nguy cơ gây co thắt môn vị.

    Khi môn vị bị co thắt, người bệnh đối mặt với một số triệu chứng sau: đau vùng hạ sườn bên phải như đau gan, có thể thấy khối u rắn ở hạ sườn khi nổi cơn đau, nôn nhiều gây thiếu hụt chất điện giải.

    Kết quả xét nghiệm Xquang cho thấy: ứ đọng baryt dạ dày.

    ➨ Điều trị: Người bệnh nên ăn nhẹ, tránh dùng chất kích thích thay vào đó dùng thuốc an thần, giãn cơ. Trường hợp nôn nhiều cần được truyền dịch. # Tăng toan

    Khi thần kinh căng thẳng, người bệnh nghiện thuốc lá, loét dạ dày, tá tràng, viêm dạ dày giai đoạn đầu. Người bị tăng toan thường có cảm giác đau rát vùng thượng vị, nặng bụng, Hcl tự do tăng trên 40mEq.

    ➨ Điều trị: Bệnh nhân cần ăn uống điều độ, không hút thuốc lá, thay vào đó nên bổ sung sinh tố, uống thuốc giảm tiết dịch, thuốc an thần. # Bệnh Achili

    Achili là tình trạng dịch vị dạ dày thiếu pepsin và Hcl. Nguyên nhân sự thiếu hụt trên là do thần kinh căn thẳng, ngộ độc rượu, im loại nặng…

    Khi bị bệnh, người bệnh có cảm giác nóng rát, nặng bụng, đau âm ỉ vùng thượng vị, thường xuyên cảm thấy buồn nôn và mốn nôn, ăn kém ngon. Nhiều trường hợp, người bệnh bị tiêu chảy, đi ngoài phân sống, thiếu máu, người gầy sút.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạ Dày Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Dạ Dày Trong Cơ Thể
  • Dạ Dày Của Người Có Cấu Tạo Thế Nào?
  • Dạ Dày Là Gì? Cấu Tạo, Chức Năng Của Dạ Dày Người
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Dạ Dày Trong Quá Trình Tiêu Hóa
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Dạ Dày
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100