Đề Xuất 2/2023 # Tổng Quan Về Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế Imf # Top 7 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Tổng Quan Về Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế Imf # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tổng Quan Về Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế Imf mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là một tổ chức quốc tế về tài chính và tiền tệ mà thành viên là chính phủ các nước. Buổi đầu thành lập, IMF chỉ là một tổ chức hợp tác để giám sát hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc tế, tuy nhiên nó cũng đồng thời hỗ trợ hệ thống này bằng những khoản tiền đôi khi với số lượng lớn dưới hình thức cho các nước thành viên vay.

Trên thực tế IMF có lẽ được dân chúng biết đến nhiều hơn nhờ sự kiện nó đã đưa hàng tỷ USD vào hệ thống này trong thời kỳ khủng hoảng nợ thập kỷ 80 và rót một lượng tiền khổng lồ vào Nga và Mêhicô hồi thập niên 90. Tuy nhiên IMF được thành lập với các tôn chỉ mục đích riêng của nó.

* Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua một thiết chế thường trực có trách nhiệm cung cấp một bộ máy tư vấn và cộng tác nhằm giải quyết các vấn đề tiền tệ quốc tế.

* Tạo điều kiện mở rộng và tăng trưởng cân đối hoạt động mậu dịch quốc tế và nhờ đó góp phần vào việc tăng cường và duy trì ở mức cao việc làm, thu nhập thực tế và việc phát triển nguồn lực sản xuất của tất cả các thành viên, coi đó là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách kinh tế.

* Tăng cường ổn định ngoại hối nhằm duy trì một cách có trật tự hoạt động giao dịch ngoại hối giữa các thành viên và tránh việc phá giá tiền tệ để cạnh tranh.

* Hỗ trợ việc thành lập một hệ thống thanh toán đa phương giữa các nước thành viên và xoá bỏ các hạn chế về ngoại hối gây phương hại tới sự tăng trưởng của mậu dịch quốc tế.

* Tạo niềm tin cho các nước thành viên bằng cách cung cấp cho họ nguồn lực dự trữ của quỹ được đảm bảo an toàn và tạo cơ hội cho họ sửa chữa mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế.

* Rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ cân bằng trong cán cân thanh toán của các nước thành viên.

Trong hơn 50 năm qua IF đã khẳng định được vai trò cũng như thực hiện mục tiêu của mình trong việc duy trì sự ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế thế giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trên quy mô ngày càng rộng với tốc độ ngày càng nhanh.

CƠ CẤU TỔ CHỨC 1. Quá trình hình thành và phát triển của IMF

Vào thập kỷ 30, đã có nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức để giải quyết những vấn đề tiền tệ thế giới. Tuy nhiên điều đó không có kết quả. Những giải pháp bộ phận và mang tính chất thăm dò đã hoàn toàn tỏ ra không đáp ứng được yêu cầu. Ðiều cần có là một sự hợp tác với quy mô lớn chưa từng có giữa tất cả các quốc gia để xây dựng nên một hệ thống tổ chức tiền tệ cách tân và một tổ chức để điều hành hệ thống này.

Mùa hè năm 1940, một sự trùng hợp kỳ lạ đã xảy ra. Hai tư tưởng độc đáo và táo bạo của Harry Dester White – Người Mỹ và John Maynard Keynes – Người Anh đã gần như đồng thời đưa ra dự thảo xây dựng một tổ chức tiền tệ quốc tế mà hành động của nó được giám sát thường xuyên bởi một tổ chức hợp tác chứ không phải bằng những cuộc gặp gỡ quốc tế thoảng hoặc. Tuy nhiên, phải sau nhiều lần thương thuyết trong điều kiện khó khăn của thời chiến, cộng đồng quốc tế mới chấp nhận một hệ thống tiền tệ mới và một tổ chức để giám sát nó. Những thương thuyết cuối cùng về thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (viết tắt là IMF) đã diễn ra ở Bretton Woods, NewHamsphire, Hoa kỳ vào tháng 7/1944 giữa 44 quốc gia. Bắt đầu từ 1-3-1947 tổ chức IMF chính thức đi vào hoạt động như một cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc (xem phụ lục 1). Khi đó IMF có 49 thành viên.

Trụ sở chính của IMF ở Washington D.C và có hai chi nhánh tại Paris và Geneve. Một nước có thể trở thành thành viên của IMF nếu nó sẵn sàng gắn bó, trung thành với các chức năng và nguyên tắc chủ đạo của IMF (xem biểu đồ 1). Từ l945 đến nay con số thành viên của IMF lên tới 182 Quốc gia. Số lượng thành viên tăng đều đặn, không có biến động chứng tỏ uy tín của IMF theo năm tháng là không thay đổi và ngày càng được zcủng cố.

Theo nhận định chung thì IMF được coi là một tổ chức uy tín lớn có tính độc lập cao và cho rằng Quỹ đề ra những chính sách kinh tế tối ưu cho các nước thành viên theo đuổi và áp đặt các quyết định cho các nước thành viên và sau đó giám sát việc thực hiện. Nhưng trái lại, chính các nước thành viên đã định ra các chính sách mà IMF phải thực hiện. Các mệnh lệnh đi từ Chính phủ các nước thành viên đến IMF mà không có lệnh ngược lại. Khi đưa ra các quy định về nghĩa vụ của từng thành viên đối với Quỹ hoặc đưa ra những điều mục của hợp đổng cho vay với một thành viên nào đó, IMF không tự hành động mà chỉ đóng vai trò trung gian giữa ý kiến đại đa số thành viên của quỹ đối với các nước thành viên đó.

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của IMF là Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị gồm đại diện của các nước thành viên và do mỗi nước bổ nhiệm, 5 năm 1 lần. Hiện nay IMF có 182 ủy viên ban quản trị, mỗi ủy viên đại diện cho 1 nước khác nhau. Hội đồng quản trị họp mỗi năm 1 lần. Trong kỳ họp, Hội đồng quản trị phê chuẩn báo cáo hàng năm về hoạt động của IMF, xem xét việc kết nạp thành viên mới và khai trừ thành viên ra khỏi tổ chức, xem xét việc thay đổi vốn pháp định…(xem phụ lục 2).

Cơ quan chấp hành của IMF là Hội đồng giám đốc (còn gọi là Hội đồng điều hành). Hội đồng giám đốc gồm 22 giám đốc chấp hành trong đó 6 giám đốc do 5 nước có mức đóng góp lớn nhất và Arập xêút bổ nhiệm; 16 giám đốc do Hội nghị toàn thể bầu ra có tính đến khu vực địa lý.

Ủy ban lâm thời (Imterm Committee) Hội đồng quản trị của IMF là cơ quan tư vấn về các vấn đề quan hệ tiền tệ được thành lập tháng 10 năm 1974. Thành viên của Ủy ban lâm thời là các Bộ trưởng Tài chính của 22 thành viên. Nhiệm vụ chính của Ủy ban lâm thời là kiểm tra việc quản lý hệ thống tiền tệ thế giới và kiến nghị với Hội đồng quản trị. Nếu Hội đồng quản trị thấy cần thiết, có thể cải tổ Ủy ban lâm thời thành cơ quan thường trực có quyền thông qua nghị quyết.

Một Ủy ban khác là Ủy ban phát triển (Development Committee), phối hợp giữa IMF và ngân hàng phát triển thế giới cố vấn cho Hội đồng quản trị về những nhu cầu đặc biệt của nước nghèo.

Bởi vì các ủy viên của Hội đồng quản trị và các ủy viên của Hội đồng giám đốc đều bận bịu với công việc ở nước mình nên họ chỉ gặp mặt trong các cuộc họp định kỳ hàng năm để cùng giải quyết các vấn đề của IMF.

IMF có khoảng 2600 nhân viên, đứng đầu là Giám đốc điều hành, đồng thời cũng là Chủ tịch Hội đồng điều hành (hội đồng tự bầu chủ tịch của mình). Theo truyền thống, Giám đốc điều hành là người Châu Âu, nếu không thì cũng phải là người Mỹ. Hiện nay, Tổng giám đốc IMF là ông Michel Camdessus quốc tịch Pháp, nhận chức tháng 1/1992, phó tổng giám đốc là Richard Erb người Mỹ. Nhân viên của IMF là người của khoảng 120 nước và đa phần là nhà kinh tế học, song cũng có cả các nhà thống kê, bác học, các chuyên gia về tài chính công cộng và thuế khoá, các nhà ngôn ngữ học, nhà văn và các nhân viên phục vụ. Ða số các nhân viên đều hoạt động tại trụ sở nhỏ ở Paris, Geneve, Tokyo, tại trụ sở của Liên hợp quốc ở NewYork hoặc tại các văn phòng của IMF được thành lập tạm thời ở các nước thành viên. Khác với các giám đốc chấp hành là những đại diện của từng nước thành viên, các nhân viên của Quỹ chỉ là nhân viên quốc tế, họ có trách nhiệm thực thi chính sách của IMF chứ không đại diện cho lợi ích của bất cứ quốc gia nào.

CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA IMF 1. Xác định hệ thống ngang giá tiền tệ và tỷ giá hối đoái của các thành viên

Theo quy định của văn bản hiệp định đầu, các nước thành viên đều áp dụng hệ thống ngang giá tiền tệ và TGHÐ cố định. Trong hiệp định có ghi : “Tất cả các thành viên công nhận là chỉ cho phép diễn ra trên lãnh thổ nước mình những hoạt động hối đoái giữa các đồng tiền của mình với đồng tiền của những nước thành viên nào tôn trọng một sự cách biệt không quá 1% chế độ đồng giá”.

Do sức ép của Mỹ, Hội nghị Bretton Woods phải chấp nhận 1 tỷ lệ vàng USD là 35 USD – 1 ounce vàng. Cuối 1947 Bộ Trưởng Tài chính Mỹ, ông Johw Suyder đã tuyên bố với Tổng giám đốc của IMF là Mỹ bán và mua vàng bằng USD với giá 35 USD/ ounce cho tất cả các NHTW nào có yêu cầu. Ðiều này biến hệ thống Bretton Woods thành một hệ thống bản vị USD.

Để giải quyết vấn đề dự trữ của quỹ tháng 6-1967 Hội đồng Thống đốc IMF đã nhóm họp ở Rio de Janeiro, thủ đô Brazil và đã chấp nhận nguyên tắc tạo ra một loại dự trữ quốc tế mới là SDR (Special drawing right). Dự trữ SDR được thể hiện dưới hình thức bút tệ, được ghi trong tài khoản đặc biệt của mỗi nước thành viên và có thể sử đụng qua chuyển khoản. Giá trị của mỗi đơn vị SDR lúc ban đầu được ấn định là 0,888671 gram vàng, tương đương với hàm lượng vàng của 1 USD. Ðến năm 1973 vì có sự thả nổi hối suất của USD, giá trị của SDR được quy định căn cứ vào giá trị tổng hợp của 16 loại tiền tệ có cân nhắc tỷ trọng theo tầm quan trọng của mỗi đơn vị tiền tệ thể hiện qua phần giá trị xuất khẩu của mỗi quốc gia trong tổng giá trị xuất khẩu của thế giới. Năm 1981, giá trị tổng hợp đó chỉ còn căn cứ vào 5 đồng tiền của 5 nước có khối lượng xuất khẩu lớn nhất thế giới từ 1975-1979 là USD 40; FRF 11%; GDB 11%; JPY 17%; DEM 21%; Cứ 5 năm duyệt lại một lần: một lần vào đầu năm 1986, một lần vào đầu năm 1991.

Tuy nhiên sau hơn hai thập kỷ, hệ thống này đã bộc lộ nhiều yếu kém. Ðến đầu thập kỷ 70 khủng hoảng kinh tế đã các thành viên của quỹ làm cho nó không thể duy trì hệ thống ngang giá tiền tệ và tỷ giá hối đoái cố định giữa các quốc gia. Hệ thống Bretton Woods sụp đổ hoàn toàn vào năm 1973 khi Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố ngừng chuyển đổi USD ra vàng. Lý do chính là Mỹ không còn đủ khả năng về dự trữ vàng để tiếp tục quy đổi với USD theo tỷ giá 35 USD/ounce vàng. Ðể đáp ứng được yêu cầu dự trữ ổn định quỹ tiền tệ quốc tế trong hoàn cảnh mới của nền kinh tế quốc dân, IMF yêu cầu các nước thành viên thực hiện bảy nghĩa vụ cũ là:

– Thi hành chính sách tự do mua bán vàng trên thị trường.

– Tạo điều kiện cho đồng tiền của các nước được chuyển đổi tự do.

– Loại bỏ dần các hành chế về hối đoái.

– Tôn trọng quy định của các thành viên khác về hối đoái phù hợp với quy định của IMF.

– Cung cấp thông tin tài chính cho IMF

– Hợp tác với các nước khác việc ký kết và thực hiện các thỏa thuận quốc tế về tiền tệ .

– Duy trì 1 tỷ giá hối đoái cố định .

Hệ thống tiền tệ mà IMF quản lý từ 1978 đến nay được gọi là hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý (hệ thống Jamaica). Nhiều cường quốc ấn định tỷ giá của mình theo cơ chế thả nổi có quản lý. Theo cơ chế này IMF có vai trò lớn và thường kiến nghị, tác động đến chính sách quản lý tỷ giá của các nước thông qua các điều kiện tín dụng. Tuy tác động, quản lý hệ thống tiền tệ quốc tế theo nhiều cách gián tiếp nhưng IMF đã thực hiện chức năng duy trì ổn định hệ thống tỷ giá hối đoái cố định tương đối l cách có hiệu quả. Bên cạnh đó, việc thực hiện chức năng này còn được hỗ trợ bởi các hoạt động thực hiện các chức năng khác.

Ðể đáp ứng nhu cầu về vốn, IMF đã thực hiện nhiều biện pháp để tăng vốn. Năm 1962, IMF ký kết tổng nghị định thư về vay mượn (General Agreement to Borrow) GAB với thời hạn 4 năm. Sau đó tổng nghị định GAB được gia hạn nhiều lần và đến nay đã hoạt động ổn định. Tham gia vào GAB có 10 nước tư bản chủ chốt (Mỹ, Anh, Hà Lan, Canada, Pháp, Tây Ðức, Thụy Ðiển, Thụy Sỹ và Nhật Bản). Số vốn GAB tăng từ 6,4 tỷ SDR lên 17 tỷ SDR vào 2/83. Ðối tượng vay vốn theo GAB này ban đầu chỉ là các nước thành viên, nhưng từ năm 1984 các nước không phải thành viên cũng được tham gia. Thời hạn cho vay không quá 5 năm. Gần đây Hội đồng quản trị đã chấp nhận Hiệp định vay mượn mới (New Agreement to Borrow – NAB) cùng với 10 nước trên cũng được thực hiện với Arập Xêút và đã tạo ra một nguồn vốn 1,5 tỷ SDR. Các khoản vay NAB này sẽ có hiệu lực cho đến 26/12/1998.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính Mêhicô hồi cuối 1994 đầu năm 1995, Hội đồng quản trị IMF đã tăng cường khả năng vay vốn để đối phó với tình trạng khẩn cấp trong tương lai bằng cách thông qua NAB vào tháng l/1997. Theo NAB thì 25 nước và tổ chức có thể sẵn sàng cho IMF vay 34 tỷ SDR (47 tỷ USD) để bổ sung cho nguồn vốn đóng góp của quý khi cần thiết, ngăn chặn hoặc đối phó với tình huống bất thường có thể đe doạ sự ổn định của hệ thống.

3. Theo dõi tình hình của hệ thống tiền tệ quốc tế và chính sách kinh tế của các nước thành viên

Theo Hiệp định thành lập thì mục tiêu và hoạt động trọng tâm của IMF là “thực hiện sự giám sát chặt chẽ tỷ giá hối đoái của các nước thành viên”. Ðồng thời IMF có quyền áp đụng các nguyên tắc cụ thể để hướng dẫn các thành viên trên cơ sở tôn trọng chính sách của họ. Ðể thực hiện nhiệm vụ này IMF kiểm tra các vấn đề tiền tệ quốc tế và phân tích các khía cạnh của chính sách đó có thể tạo ra tác động đến hệ thống TGHÐ.

Trong những năm gần đây, tầm quan trọng của việc giám sát kịp thời và hiệu quả đã tăng lên do nhiều biến chuyển cơ bản trong nền kinh tế toàn cầu : tăng trưởng nhanh chóng của thị trường vốn tư nhân, hội nhập khu vực và thế giới, gia tăng, chỉnh đốn tài khoản vãng lai và cải cách kinh tế theo hướng thị trường của nhiều nước. Cuộc khủng hoảng Mêhicô năm 1995 và khủng hoảng tài chính Ðông Á 7/1997 cho thấy sự cần thiết và vai trò giám sát quan trọng của IMF. Năng l995, IMF đẩy mạnh chức năng giám sát, nhấn mạnh vào việc các thành viên cung cấp đầy đủ, chính xác các số liệu.

Theo Ðiều 4 về quan hệ hợp tác giữa IMF và thành viên, IMF được phép xem xét một cách có hệ thống sự phát triển kinh tế và chính sách kinh tế của thành viên, đánh giá tác động của các chính sách đối với tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán.

HOẠT ĐỘNG

Bất kỳ một nước thành viên nào, khi gia nhập IMF đều phải cho các thành viên khác trong quỹ biết dự định về chuẩn giá trị đồng tiền của nước mình so với đồng tiền của các nước khác để tự kiềm chế và hạn chế việc đổi đồng tiền của họ lấy ngoại tệ, và để theo đuổi những cơ sở kinh tế sẽ làm tăng của cải của nước thành viên đó và của cả cộng đồng các nước thành viên bằng con đường hòa hợp và có lợi. Các nước thành viên có trách nhiệm phải tuân theo điều luật này.

l. Vốn hoạt động của quỹ và quyền rút vốn đặc biệt (SDR)

*Vốn hoạt động:

Khi gia nhập IMF, mỗi nước thành viên đều phải đóng một khoản tiền nhất định được coi là một khoản lệ phí hội viên. Tuy nhiên khoản đóng này chỉ thực hiện khi quỹ có nhu cầu: khi có ai cần vay tiền của quốc gia đó thì quốc gia đó mới phải đóng. Chẳng hạn, nếu một nước muốn vay Bảng Anh thì khi đó IMF mới yêu cầu Anh phải đóng. Số tiền này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:

+ Thứ nhất, nó tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các thành viên vay mỗi khi họ gặp khó khăn về tài chính.

+ Thứ hai, nó là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được vay và là cơ sở để phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho các nước thành viên. Dĩ nhiên, nước thành viên nào càng đóng góp nhiều thì khi cần nó càng được vay nhiều.

+ Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của nước thành viên.

Bản thân IMF là người quyết định số tiền mỗi nước thành viên phải nộp vào quỹ sau khi phân tích đánh giá mức độ giàu có và tình hình kinh tế của nước đó. Nước càng giàu, lệ phí càng cao (xem phụ lục 3). Mức đóng góp của mỗi nước thành viên vào IMF rất khác nhau. Năm 1985, Mỹ đóng 20,l%, khối EEC đóng 27,9%, còn các nước đang phát triển đóng 32,4%. Mức lệ phí này cứ 5 năm lại được xem xét lại, có thể tăng lên hoặc giảm đi tùy theo nhu cầu của IMF và mức độ phát đạt của nước thành viên. Tuy nhiên từ l/4/1978, với sự sửa đổi điều lệ lần thứ hai, việc xem xét và điều chỉnh phần đóng góp của mỗi nước thành viên được quy định 3 năm một lần. Năm 1945, 35 thành viên khi đó đóng góp vào IMF 7,6 tỷ USD, năm 1977 con số đó khoảng 200 tỷ USD. Ngày 6/2/1998 Hội đồng quản trị của IMF đã phê chuẩn kế hoạch tăng 45% ngân quỹ của tổ chức này, từ 199 tỷ USD lên 288 tỷ USD. Cho đến nay, Mỹ là nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, đóng góp nhiều nhất cho IMF, chiếm khoảng 19% tổng số (40 tỷ USD); Marshall Island, một nước cộng hoà đảo ở Thái Bình Dương đóng ít nhất khoảng 3,6 triệu USD.

Khoản tiền đóng góp của các nước thành viên tạo nên nguồn tài chính cho IMF sử dụng. Tổng số tiền đóng góp các nước thành viên cho đến nay khoảng 210 tỷ USD, mặc dù trên thực tế số tiền sử dụng được không thể coi là lớn bởi vì các nước thành viên nộp 75% số lệ phí của họ bằng tiền nội địa và bởi vì hầu hết đồng tiền quốc gia của nhiều nước không phổ biến trong thanh toán quốc tế.

Maxi-Forex.com

Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế Là Gì? Vai Trò Của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế

Quỹ Tiền tệ Quốc tế là gì?

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (tiếng Anh là International Monetary Fund, viết tắt IMF) là một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng cách theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế được mô tả như “Một tổ chức của 189 quốc gia” thực hiện việc “nuôi dưỡng” tập đoàn tiền tệ toàn cầu, thiết lập tài chính an toàn. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế, đẩy mạnh việc làm và tăng trưởng kinh tế cao cũng như giảm bớt đói nghèo. IMF chịu sự điều hành và chịu trách nhiệm trước 189 quốc gia thành viên.

IMF có cơ cấu tổ chức gồm những bộ phận chính như sau:

Hội đồng thống đốc: Đây là cơ quan quyết định tối cao, bao gồm một thống đốc và một thống đốc thay thế đến từ các quốc gia thành viên. Thống đốc được chỉ định bởi quốc gia thành viên và thông thường là bộ trưởng tài chính hoặc thống đốc ngân hàng trung ương.

Các ủy ban Bộ trưởng: Hội đồng thống đốc được tham vấn bởi hai Ủy ban Bộ trưởng là: Ủy ban Tiền tệ và Tài chính quốc tế (IMFC- International Monetary and Financial Committee) và Ủy ban Phát triển (Development Committee).

Lịch sử hình thành và phát triển của Quỹ Tiền tệ Quốc tế

IMF được hình thành vào tháng 7/1944 tại Hội nghị Bretton Woods của Liên hợp quốc ở New Hampshire, Hoa Kỳ. Lúc này 44 quốc gia tham dự đã tìm cách xây dựng khuôn khổ hợp tác kinh tế quốc tế và tránh lặp lại tình trạng phá giá tiền tệ cạnh tranh đã góp phần vào cuộc Đại suy thoái những năm 1930. Ngày 1/3/1947 IMF bắt đầu hoạt động và được hưởng quy chế cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc. Ngày 8/5/1947, IMF tiến hành cho vay khoản đầu tiên.

IMF xây dựng quỹ tài chính của mình thông qua phí thành viên, được gọi là hạn ngạch. Mỗi quốc gia thành viên trả tiền cho một hạn ngạch dựa trên quy mô kinh tế của quốc gia đó, vì vậy các nền kinh tế lớn phải trả nhiều tiền hơn. Như vậy, nguồn vốn hoạt động chủ yếu của quỹ là do các nước thành viên đóng góp. IMF đã xây dựng một hạn mức cho vay và hạn mức đóng góp với các nước thành viên. Số phiếu biểu quyết của mỗi nước tùy thuộc vào mức độ đóng góp của nước đó cho IMF. Các nước thành viên có cổ phần lớn nhất trong IMF hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và Pháp.

Trải qua các thời kỳ biến chuyển của nền kinh tế và hệ thống tiền tệ thế giới, IMF đã cố gắng phát triển hoạt động của mình theo hai hướng: ổn định các tỷ giá hối đoái và đấu tranh chống những biện pháp hạn chế và phân biệt đối xử.

Năm 1972, theo Hiệp định Jamaica, các tỷ giá hối đoái được thả nổi. Điều này đã đẩy các nước thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) không duy trì tỷ giá đồng tiền của mình theo đồng đôla nữa mà mỗi nước tự do quy định, tuyên bố hay không tuyên bố tỷ giá đồng tiền của mình. Lúc này vàng bị gạt ra khỏi hệ thống tiền tệ và được thay thế bằng quyền rút vốn đặc biệt (special drawing rights – SDR) để tăng thêm mức cung về phương tiện thanh toán quốc tế.

Về quy mô thành viên, hiện IMF có 189 thành viên. Đây là con số lớn hơn gấp nhiều lần so với con số 44 thành viên khi IMF được thành lập.

Có thể thấy IMF hiện đang là một tổ chức lớn mạnh, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Bạn có thể truy cập vào trang web Quỹ tiền tệ quốc tế để tìm hiểu các thông tin chi tiết về quá trình thành lập cũng như hoạt động của IMF.

Chức năng và nhiệm vụ của IMF

Nhiệm vụ chính của IMF là đảm bảo sự ổn định của hệ thống tiền tệ quốc tế – hệ thống tỷ giá hối đoái và thanh toán quốc tế cho phép các quốc gia và công dân của họ giao dịch với nhau.

Quỹ tiền tệ Quốc tế hỗ trợ các nước thành viên thông qua 3 chức năng chính sau đây:

– Giám sát: Giám sát tình hình kinh tế tài chính toàn cầu và các nước thành viên, đồng thời tư vấn về chính sách kinh tế cho các nước thành viên. Điều này được thực hiện thông qua việc nghiên cứu, thống kê, phân tích và dự báo các nền kinh tế quốc gia, khu vực hoặc toàn cầu. Ngoài ra, IMF sẽ cung cấp lời khuyên cho các nước thành viên và thúc đẩy các chính sách được thiết kế để thúc đẩy sự ổn định kinh tế, giảm tính dễ bị tổn thương trước các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính, và nâng cao mức sống.

– Hỗ trợ tài chính: Cung cấp hỗ trợ tài chính ngắn và trung hạn cho các nước thành viên khi họ gặp phải những khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán. Cụ thể như đưa ra các nguồn vốn cho vay không lãi suất với thời gian đáo hạn dài. Nhiệm vụ hỗ trợ tài chính này chính là trách nhiệm cốt lõi của IMF.

– Phát triển năng lực: Trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên nhằm cải thiện khả năng điều hành kinh tế. Ví dụ như thiết kế và thực hiện các chính sách hiệu quả hơn đối với thuế và quản lý, quản lý chi tiêu, chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái, giám sát và điều tiết hệ thống ngân hàng và tài chính, khuôn khổ lập pháp và thống kê kinh tế.

Các loại tín dụng của Quỹ Tiền tệ Quốc tế

IMF là một tổ chức được thành lập nhằm mục đích nuôi dưỡng tập đoàn tiền tệ toàn cầu. Từ đó thiết lập tài chính an toàn và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế cũng như đẩy mạnh việc làm, tăng trưởng kinh tế cao và giảm bớt đói nghèo. Xuất phát từ mục đích này IMF cũng đưa ra các loại tín dụng để hỗ trợ các nước thành viên trong việc phát triển kinh tế. Cụ thể như sau:

– Tín dụng thông thường: Loại này yêu cầu nước được vay phải có chương trình điều chỉnh kinh tế ngắn hạn.

Mức cho vay tối đa là 100% cổ phần của nước đó tại qũy

Thời hạn vay từ 3 – 5 năm

Thời gian ân hạn 3 năm

Lãi suất khoảng 5% – 7,5%/năm

– Vốn vay bổ sung: Loại tín dụng này có:

Mức vay có thể từ 100% – 350% cổ phần của nước đó tại quỹ (tuỳ theo mức độ thiếu hụt)

Thời hạn vay từ 3 – 5 năm

Thời gian ân hạn 3,5 năm

Lãi suất được tính theo lãi suất thị trường

– Vay dự phòng: Loại tín dụng này của IMF có các đặc điểm:

Mức vay tối đa được 62,5% cổ phần

Thời hạn vay 5 năm

Thời gian ân hạn 3,5 năm

Lãi suất áp dụng theo thị trường

– Vay dài hạn: Nước đi vay phải có chương trình điều chỉnh kinh tế trung hạn và mọi khoản vay phải theo sát với việc thực hiện chương trình theo từng quý, năm. Trong đó:

Mức vay bằng 140% cổ phần tại quỹ

Thời hạn vay 10 năm

Thời gian ân hạn 4 năm

Lãi suất từ 6 – 7,5%/năm

– Vay bù đắp thất thu xuất khẩu: Đây là khoản vay cho các nước đang phát triển có đột biến thiếu hụt cán cân thương mại trong năm. Theo đó:

Mức vay tối đa bằng 100% cổ phần của nước đó tại quỹ

Thời hạn vay từ 3 – 5 năm

Lãi suất khoảng 5% – 7,5%/năm

– Vay chuyển tiếp nền kinh tế: Đây là loại tín dụng mới xuất hiện của IMF để hỗ trợ cho các nước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, theo đó:

Thời hạn vay 5 năm

Thời gian ân hạn 3,25 năm

Lãi suất theo mức lãi suất thị trường.

Bên cạnh đó, IMF còn có một số loại tín dụng khác như: vay để duy trì dự trữ điều hòa, vay để điều chỉnh cơ cấu…

Nếu gặp khó khăn về cán cân thanh toán các nước thành viên có thể rút vốn. Tức là mua đồng tiền nước ngoài của IMF bằng đồng tiền của nước mình trong giới hạn bằng 125% hạn mức của mình, trong đó các nước có thể rút 25% đầu tiên bất kì khi nào có nhu cầu.

Khi muốn rút một hay cả bốn phần 25% còn lại, các nước phải nhất trí với IMF về một chương trình bao gồm các biện pháp xử lý thâm hụt cán cân thanh toán của mình.

Các nước thành viên phải hoàn trả lại phần rút vốn của mình trong khoảng thời gian từ 3 – 5 năm.

Trong hoạt động kinh tế nói chung và tiền tệ nói riêng, IMF đóng vai trò vô cùng quan trọng. Theo đó:

– IMF đóng vai trò trong việc phát triển các công cụ để các nước đo lường, đánh giá và cải thiện tình hình kinh tế vĩ mô, bao gồm chính sách tài khóa và tiền tệ, cũng như ổn định tài chính, tiền tệ và giá cả. Theo đó, IMF sẽ giúp các nước tìm ra giải pháp tốt hơn để thực hiện các biện pháp trong tất cả các lĩnh vực nói trên và xác định những bài học từ kinh nghiệm của nhiều nước, qua đó có thể làm sáng tỏ các lựa chọn mà một quốc gia cụ thể bất kỳ có thể có.

– Thông qua đối thoại, nghiên cứu, tư vấn, cũng hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo, IMF sẽ giúp tạo ra một cộng đồng toàn cầu các chuyên gia thực hành.

– IMF đóng vai trò thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua một thiết chế thường trực có trách nhiệm cung cấp một bộ máy tư vấn và cộng tác nhằm giải quyết các vấn đề tiền tệ quốc tế.

– Quỹ tiền tệ Quốc tế tạo điều kiện mở rộng, tăng trưởng cân đối hoạt động mậu dịch quốc tế, từ đó góp phần vào việc tăng cường và duy trì ở mức cao việc làm, thu nhập thực tế và việc phát triển nguồn lực sản xuất của tất cả các thành viên.

– Tăng cường ổn định ngoại hối để duy trì một cách có trật tự các hoạt động giao dịch ngoại hối giữa các thành viên. Từ đó tránh việc phá giá tiền tệ để cạnh tranh giữa các nước.

– Hỗ trợ việc thành lập một hệ thống thanh toán đa phương giữa các nước thành viên cũng như xoá bỏ các hạn chế về ngoại hối có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của mậu dịch quốc tế.

– Bằng việc cung cấp các nguồn lực dự trữ của quỹ, đảm bảo an toàn, tạo ra cơ hội cho các nước sửa chữa mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế, IMF đã tạo niềm tin cho các nước thành viên.

– Có vai trò quan trọng trong việc rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ cân bằng trong cán cân thanh toán của các nước thành viên.

Giải đáp các câu hỏi về Quỹ Tiền tệ Quốc tế

Việt Nam tham gia Quỹ Tiền tệ Quốc tế năm nào?

Việt Nam Cộng hòa gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế năm 1956. Năm 1975 ghế hội viên chuyển cho Cộng hoà Miền Nam Việt Nam kế thừa. Năm 1976 thì CHXHCN Việt Nam chính thức tham gia chiếu theo hội viên của hai quốc gia trước, chính thức kế tục quy chế hội viên của Việt Nam tại IMF và được quyền hưởng các khoản vay từ IMF.

Trong giai đoạn 1976 – 1981, IMF đã cho Việt Nam vay khoảng 200 triệu USD nhằm giải quyết những khó khăn trong cán cân thanh toán. Khoảng thời gian từ 1985 đến tháng 10/1993, quan hệ giữa Việt Nam – IMF được duy trì thông qua đối thoại chính sách chủ yếu dưới hình thức tham khảo thường niên về kinh tế vĩ mô. Tháng 10/1993, Việt Nam nối lại quan hệ tài chính với IMF.

Giai đoạn 1993 – 2004, IMF đã cung cấp cho Việt Nam 4 khoản vay với tổng vốn cam kết 1.094 triệu USD, giải ngân được 670,8 triệu USD – trong đó 209,2 triệu USD của chương trình Tăng trưởng và Xoá đói Giảm nghèo PRGF. Từ tháng 4/2004 đến nay, quan hệ Việt Nam – IMF tiếp tục được duy trì tốt đẹp dù giữa hai bên không còn chương trình vay vốn.

Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ Quốc tế hiện tại là ai?

Người hiện tại trên cương vị Tổng Giám đốc Quỹ tiền tệ Quốc tế là bà Kristalina Georgieva, người Bulgaria. Bà được bổ nhiệm vào cương vị Tổng Giám đốc mới của thể chế tài chính gồm 189 nước thành viên.

Nhiệm kỳ của bà Georgieva tại IMF có thời hạn 5 năm, bắt đầu từ ngày 1/10/2019. Bà Georgieva đã trở thành nữ tổng giám đốc thứ hai của IMF sau bà Christine Lagarde.

Chuyên gia IMF là gì?

Chuyên gia IMF là nhân viên cao cấp làm việc cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Chuyên viên IMF có nhiệm vụ giám sát, tư vấn về chính sách kinh tế cho các nước thành viên. Điều này được thực hiện thông qua việc nghiên cứu, thống kê, phân tích và dự báo các nền kinh tế quốc gia, khu vực hoặc toàn cầu.

Giống nhau

– Đều được thành lập tại Bretton Woods, New Hampshire vào tháng 07/1944 nhằm hỗ trợ nền kinh tế thế giới.

– Cả hai đều có trụ sở tại Washington, D.C (Mỹ)

Mục đích

Giám sát chính sách kinh tế của các thành viên và sự trao đổi tiền tệ tự do trong hệ thống tỷ giá cố định. IMF hoạt động như một nhà cung cấp các khoản vay khẩn cấp cho các thành viên gặp khó khăn.

– WB bao gồm hai tổ chức: Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển (IBRD) và Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA). IBRD cho các quốc gia đang phát triển vay với lãi suất ưu đãi, còn IDA chỉ cho các nước nghèo nhất vay và không tính lãi suất.

Có thể thấy Quỹ Tiền tệ Quốc tế – IMF đang ngày càng phát triển và có những chính sách hướng đến mục tiêu phát triển, hỗ trợ tiền tệ cũng như kinh tế cho các nước thành viên. Từ đó đảm bảo phát triển kinh tế toàn diện. Tạo ra các chương trình mới có lợi cho tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo chính là những nỗ lực phát triển của IMF trong tương lai.

Chính Sách Tiền Tệ Quốc Gia

Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 quy định: “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”.

Định hướng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2015:

Trên cơ sở bám sát mục tiêu của Quốc hội tại Nghị quyết số 77/2014/QH13 ngày 10/11/2014 về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2015 và kết quả đạt được trong điều hành năm 2014, NHNN xác định mục tiêu và các giải pháp lớn về điều hành chính sách tiền tệ năm 2015 như sau:“Điều hành chủ động và linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, không chủ quan với lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn thanh khoản của các TCTD. Điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặc biệt là diễn biến của lạm phát, bảo đảm giá trị đồng Việt Nam, tiếp tục khắc phục tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế. Thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng; tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh; tiếp tục triển khai các chương trình gắn kết tín dụng ngân hàng với chính sách ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại các TCTD, đảm bảo thực hiện đúng lộ trình của Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tăng cường phối hợp với các chính sách vĩ mô khác”.

Tiền Tệ Và Chính Sách Tiền Tệ

Published on

1. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệI Tổng quan về tiền tệ1 Khái niệm2 Lịch sử phát triển3 Chức năng của tiền4 Đo lường khối lượng tiềnII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền1 Khái niệm về NHTM2 Lịch sử phát triển của NHTM3 Cơ sở tiền tệ và cung tiền4 Hoạt động của NHTM và quá trình tạo tiền5 Mô hình cung tiền6 NHTW và các cung cụ điều tiết cung tiền

2. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIII Thị trường tiền tệ1 Cầu tiền2 Cung tiền3 Cân bằng thị trường tiền tệIV Chính sách tiền tệ1 Khái niệm2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ3 Cơ chế tác động của chính sách tiền tệ4 Hiệu quả của chính sách tiền tệ: các yếu tố tác độngV Sự khác nhau giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

3. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệI Tổng quan về tiền tệ1 Khái niệmTiền được định nghĩa là “bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để đổi lấy hàng hóa hay dịch vụ hoặc sử dụng trong việc trả các món nợ”2 Lịch sử phát triển Hóa tệ (tiền tệ hàng hóa): phi kim đến kim loại (vàng, bạc)→ Tiền giấy: đổi đươc ra vàng đến không đổi được ra vàng (tiền pháp định)→ Tiền tín dụng (séc) → Tiền điện tử

4. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệI Tổng quan về tiền tệ3 Chức năng của tiền- Chức năng trao đổi (medium of exchange)- Chức năng cất trữ có giá trị (store of value)- Chức năng thước đo giá trị/hạch toán (unit of value)→tiền là bất kỳ cái gì mà có thể thực hiện được 3 chức năng nêu trên

5. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệI Tổng quan về tiền tệ4 Đo lường khối lượng tiền- M0 hay C: tiền giấy (paper bill) và tiền xu (coin) đang lưu hành- M1: bao gồm M0 và các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn có thể rút theo yêu cầu (demand deposit)- M2: bao gồm M1 và các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn (time deposit)(Ở các nước phát triển còn có M3: bao gồm M2 và các loại giấy tờ có giá khác như: cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu…)

6. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệI Tổng quan về tiền tệ4 Đo lường khối lượng tiềnNgười ta chia tiền thành M0, M1, M2 dựa trên khả năng thanh khoản (liquidity) của các thành phần tạo nên chúng. Khả năng thanh khoản hay tính hoán đổi của một tài sản đề cập đến mức độ dễ dàng để chuyển tài sản đó thành phương tiện trao đổi trong mua bán, trả nợ (tiền)

7. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và cung tiền1 Khái niệm về NHTMNHTM là một loại hình trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ sau đây:- Nhận tiền gửi và cho vay (cho vay tiêu dùng, cho vay thương mại, cho vay sản xuất, cho vay đầu tư)- Cung cấp các dịch vụ thanh toán- Buôn bán, trao đổi ngoại tệ

8. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và cung tiền2 Lịch sử phát triển của NHTM- Thời kỳ sơ khai (3500 năm TCN)- Từ thế kỷ V đến thế kỷ XVII- Từ thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX- Từ thế kỷ XX đến nay

9. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền3 Cơ sở tiền tệ và cung tiền- Cung tiền (MS – monetary supply) MS = Cu + Dtrong đó Cu là lượng tiền mặt ngoài hệ thống NH, D là lượng tiền gửi trong hệ thống NH.→ MS chính là M2- Cơ sở tiền tệ (B – monetary base, high powered money) B = Cu + Rtrong đó R là lượng tiền mặt dự trữ của hệ thống NH→ B chính là M0: số tiền mà NHTW phát hành

10. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và cung tiền4 Hoạt động ngân hàng thương mại và quá trình tạo tiềnNgân hàng hoạt động theo nguyên tắc dự trữ 100%- Nếu không có ngân hàng trong nền kinh tế thì cung tiền bằng lượng tiền mặt vì không có tiền gửi- Điều tương tự xảy ra khi NHTM hoạt động theo nguyên tắc dự trữ 100% R = D

11. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và cung tiền4 Hoạt động ngân hàng thương mại và quá trình tạo tiềnNgân hàng hoạt động theo nguyên tắc dự trữ một phần và quá trình tạo tiền

12. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và cung tiền4 Hoạt động ngân hàng thương mại và quá trình tạo tiềnNgân hàng hoạt động theo nguyên tắc dự trữ một phần và quá trình tạo tiền

13. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và cung tiền4 Hoạt động ngân hàng thương mại và quá trình tạo tiềnNgân hàng hoạt động theo nguyên tắc dự trữ một phần và quá trình tạo tiềnSố lần lượng tiền trong nền kinh tế tăng lên do hoạt động của hệ thống ngân hàng tạo ra từ một đồng mà Ngân hàng trung ương bơm vào lưu thông được gọi là số nhân tiềnTrong ví dụ ở trên số nhân tiền sẽ bằng 1/tỷ lệ dự trữ = 10, có nghĩa là ban đầu NHTW bơm thêm vào lưu thống 1000 triệu VND thì số lượng cung tiền tăng thêm thực tế (do hoạt động tạo tiền của hệ thống NHTM tạo ra) gấp 10 lần: 10.000 triệu VND

14. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền5 Mô hình cung tiềnXét mối quan hệ giữa MS và B →Đặt Cu/D = cr tỷ lệ tiền mặt ngoài NH so với tiền gửi R/D = rr tỷ lệ dự trữ thực tế của các NHTM

15. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền5 Mô hình cung tiềnBiểu thức trên chính là biểu thức tính số nhân tiền mMKhi cr = 0 thì mM= 1/rr→ MS = mM * B

16. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền5 Mô hình cung tiềnNhững yếu tố có tác động đến lượng cung tiền trong nền kinh tế- Cơ sở tiền tệ (B): cơ sở tiền tệ tăng/giảm thì lượng cung tiền tăng/giảm- Số nhân tiền mM:+ rr: rr bao gồm rrr (tỷ lệ dự trữ bắt buộc) và err (tỷ lệ dự trữ dôi ra); rr tăng/giảm thì mM giảm/tăng+ cr: cr tăng/giảm thì mM giảm/tăng

17. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền6 Ngân hàng trung ương và các công cụ điều tiết cung tiền- Khái niệm: Ngân hàng trung ương là một định chế công cộng, có thể độc lập hoặc trực tiếp thuộc chính phủ; thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng.

18. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền6 Ngân hàng trung ương và các công cụ điều tiết cung tiền- Mô hình:

19. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền6 Ngân hàng trung ương và các công cụ điều tiết cung tiền- Chức năng:+ Chức năng của ngân hàng quốc gia: ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các ngân hàng (mở tk tiền gửi cho các NHTM, cấp tín dụng cho các NHTM, trung tâm thanh toán bù trừ), ngân hàng của cp (mở tài khoản cho kho bạc, quản lý dự trữ quốc gia, cấp tín dụng cho cp, làm đại diện cho cp)

20. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền6 Ngân hàng trung ương và các công cụ điều tiết cung tiền- Chức năng:+ Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng: xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, thanh tra giám sát hoạt động của hệ thống NH (đảm bảo sự ổn định của hệ thống NH, bảo vệ khách hàng)

21. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền6 Ngân hàng trung ương và các công cụ điều tiếtcung tiền- Các công cụ điều tiết cung tiền của NHTW:+ Nghiệp vụ thị trường mở (open market operation)+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc (reserve requirement)+ Lãi suất chiết khấu (discount rate)

22. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệII Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)và cung tiền6 Ngân hàng trung ương và các công cụ điều tiếtcung tiềnNHTW không bao giờ có thể kiểm soát được lượng tiền cung ứng một cách hoàn hảo, bởi vì NHTW không thể chi phối trực tiếp mọi nhân tố của số nhân tiền:+ NHTW không kiểm soát được số lượng tiền mà các hộ gia đình nắm giữ dưới dạng tiền gửi tại các ngân hàng (cr)+ NHTW cũng không thể kiểm soát được lượng tiền mà các ngân hàng cho vay (err)Ngoài ra còn có các công cụ khác trong CSTT: hạn mức tín dụng, khung lãi suất, các công cụ về tỷ giá hối đoái (chế độ quản lý tỷ giá hối đoái, biên độ dao động của tỷ giá hối đoái)…

23. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIII Thị trường tiền tệ ( theory of liquidity preference – lý thuyết ưa thích thanh khoản của Keynes)1 Cầu tiền3 động cơ của việc giữ tiền- Động cơ giao dịch (transaction motivation)- Động cơ dự phòng (reserve motivation)- Động cơ đầu cơ (speculation motivation)

24. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệ III Thị trường tiền tệ 1 Cầu tiền Lãi suất danh nghĩa với tư cách là chi phí cơ hội của việc giữ tiền Lãi suất càng cao thì cầu tiền càng giảm, ngược lại lãi suất càng thấp thì cầu tiền càng cao Tác động của thu nhập đến cầu tiền Thu nhập càng cao thì cầu tiền càng nhiều tại cùng một mức lãi suất Thu nhập càng thấp thì cầu tiền càng thấp tại cùng một mức lãi i MD’ suất MD → MD (monetary demand) = kY – hi Y tăng10%5% Lượng tiền 5 tỷ 10 tỷ

25. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIII Thị trường tiền tệ1 Cầu tiềnPhân biệt cầu tiền danh nghĩa, cầu tiền thực tế MDn (nominal Money Demand), là cầu tiền tính theo mức giá của kỳ nghiên cứu MDr (real Money Demand), là cầu tiền tính theo mức giá của kỳ gốc) không đổi.+ P tăng → MDn tăng nhưng MDr không đổi+ P giảm → MDn giảm nhưng MDr không đổi

26. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIII Thị trường tiền tệ1 Cung tiền i MS Lượng tiềnĐường MS dịch chuyển hoàn toàn do các quyết định về chính sách tiền tệ của NHTWPhân biệt cung tiền danh nghĩa cung tiền thực tế+ Nominal MS được tính bằng số lượng tổng phương tiện thanh toán lưu thông trên thị trường+ Real MS (MS/P) được tính bằng lượng hàng hóa được sử dụng riêng làm chức năng thanh toán hàng hóa dịch vụ và trả nợ (tiền)

27. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIII Thị trường tiền tệ1 Cân bằng trên thị trường tiền tệ i MS0 Sử dụng cung, cầu i2 tiền danh nghĩa i0 i1 MD0 Lượng tiền M2 M0 M1- Thị trường tiền tệ đạt cân bằng tại giao điểm của MS0 với MD0- Đường MS0 dịch chuyển khi NHTW thay đổi cung tiền, đường MD dịch chuyển khi Y thay đổi

28. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIII Thị trường tiền tệ1 Cân bằng trên thị trường tiền tệ r MS/P r2 Sử dụng cung, cầu tiền thực tế r0 r1 MDr Lượng tiền M2 M0 M1- Thị trường tiền tệ đạt cân bằng tại giao điểm của MS/P với MDr- Đường MS/P dịch chuyển khi NHTW thay đổi cung tiền MS hoặc P thay đổi, đường MDr dịch chuyển khi Y thực tế thay đổi

29. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệVai trò của P ở hai mô hình+ Mô hình với trục tung là lãi suất danh nghĩa: P thay đổi sẽ tác động vào cầu tiền là đường cầu tiền dịch chuyển (P tăng chúng ta cần nhiều tiền hơn để chi tiêu dẫn đến cầu tiền tăng và ngược lại)+ Mô hình với trục tung là lãi suất thực tế: P thay đổi sẽ tác động vào cung tiền thực tế làm đường cung tiền thực tế dịch chuyển còn cầu tiền thực tế không bị tác động do cầu tiền thực tế lấy theo giá của thời kỳ gốc

30. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIV Chính sách tiền tệ (Monetary policy)1 Khái niệmChính sách tiền tệ (CSTT) là những hành động của Ngân hàng trung ương nhằm quản lý cung tiền và lãi suất với mục đích theo đuổi các mục tiêu kinh tế vĩ mô- CSTT mở rộng (expansionary monetary policy): là CSTT của NHTW làm tăng cung tiền, giảm lãi suất- CSTT thắt chặt (contractionary monetary policy): là CSTT của NHTW làm giảm cung tiền, tăng lãi suất

31. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIV Chính sách tiền tệ (Monetary policy)2 Mục tiêu của CSTT- Ổn định giá cả- Tỷ lệ thất nghiệp thấp- Tăng trưởng kinh tế- Ổn định thị trường tiền tệ và giám sát hoạt động của các tổ chức tài chính

32. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIV Chính sách tiền tệ (Monetary policy)3 Cơ chế tác động của CSTTXét trường hợp CSTT mở rộng r MS0/P MS1/P P AS r0 r1 AD1 MDr AD0 Lượng tiền Y Y0 Y1NHTW tăng cung tiền (MS0→MS1) làm giảm lãi suất (r0→r1)→ tăng đầu tư I → dịch chuyển AD sang bên phải → sản lượng cân bằng tăng (Y0→Y1)Cách thức sử dụng: khi nền kinh tế rơi vào suy thoái

33. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIV Chính sách tiền tệ (Monetary policy)3 Cơ chế tác động của CSTTTuy nhiên các nhà kinh tế học vẫn chưa thống nhất được về 2 vấn đề:+ hiệu ứng số lượng: sản lượng tăng khi cung tiền thay đổi một lượng nhất định ra sao+ các kênh qua đó chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế.

34. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIV Chính sách tiền tệ (Monetary policy)3 Cơ chế tác động của CSTTHiệu ứng số lượng P AS AD1 … AD0 Y

35. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIV Chính sách tiền tệ (Monetary policy)3 Cơ chế tác động của CSTTCác kênh truyền tác động+ Kênh lãi suất (M↑→i↓→I↑→Y↑)+ Kênh giá tài sản (M↑→i↓→E↑→X↑→Y↑; M↑→Pstock↑→Chỉ số Tobin↑→I↑→Y↑)+ Kênh tín dụng (M↑→Tiền gửi NH↑→Tiền vay↑→I↑→Y↑)

36. Mở rộng: Cung tiền tăng có làm cholãi suất giảm (Milton Friedman)Khi cung tiền tăng có 4 hiệu ứng xảy ra(2)Hiệu ứng lỏng: MS tăng →lãi suất giảm (thị trường tiền tệ) (-)(3)Hiệu ứng thu nhập: MS tăng → thu nhập tăng → cầu tiền tăng → lãi suất tăng (+)(4)Hiệu ứng giá cả: MS tăng → giá cả tăng → cầu tiền tăng → lãi suất tăng (+)(5)Hiệu ứng lạm phát dự tính: MS tăng → mọi người dự tính lạm phát cao trong tương lai → giá cả tăng thật → lãi suất tăng (+)Vậy lãi suât tăng giảm phụ thuộc vào mức độ và thời gian phát huy tác động của các hiệu ứng

37. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIV Chính sách tiền tệ (Monetary policy)4 Hiệu quả của CSTT: các yếu tố tác động- Hệ số co dãn của cầu tiền với lãi suất, của cầu tiền với thu nhập: cầu tiền càng ít nhạy cảm với lãi suất, thu nhập thì CSTT càng hiệu quả- Sự nhạy cảm của đầu tư với lãi suất: đầu tư càng nhạy cảm với lãi suất thì CSTT càng hiệu quả- Giá trị của số nhân chi tiêu: số nhân chi tiêu càng lớn (đường APE dốc – MPC lớn, t nhỏ, MPM nhỏ) thì CSTT càng hiệu quả

38. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệIV Chính sách tiền tệ (Monetary policy)4 Hiệu quả của CSTT: các yếu tố tác độngVí dụ về trường hợp CSTT không hiệu quả

39. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệV Sự khác nhau giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ- Ảnh hưởng đến cơ cấu sản lượng+ CSTK: tăng G, C trong ngắn hạn (demand side) (có thể thúc đẩy I, NX trong dài hạn nếu G đầu tư cho cơ sở hạ tầng – supply side)+ CSTT: tăng C, I, NX trong ngắn hạn

40. Bài 8 Tiền tệ và chính sách tiền tệV Sự khác nhau giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ- Hiệu quả chính sách+ CSTK: hiệu quả khi nền kt rơi vào suy thoái; không hiệu quả trong nền kinh tế mở (hiệu ứng lấn át lớn hơn là khi nền kinh tế đóng)+ CSTT: không hiệu quả khi nền kt rơi vào suy thoái; hiệu quả trong nền kinh tế mở (tác động không những đến I, C mà đến cả NX)- Độ trễ của chính sách+ CSTK: có độ trễ trong (inside lag) lớn hơn CSTT+ CSTT: có độ trễ ngoài (outside lag) lớn hơn CSTK

41. Các thuật ngữ quan trọng- Tiền (money), M0 M1 M2- Tính thanh khoản (liquidity)- Lý thuyết ưa thích thanh khoản (theory of liquidity preference)- Cung tiền (monetary supply) cầu tiền (monetary demand)- Chính sách tiền tệ (monetary policy) chính sách tiền tệ mở rộng (expansionary monetary policy) chính sách tiền tệ thắt chặt (contractionary monetary policy)

42. Câu hỏi tư duyCó khi nào thay đổi cung tiền không tác động đến đầu tư (đương nhiên cũng không tác động đến sản lượng)Nếu điều này xảy ra người ta gọi hiện tượng đó là “Bẫy thanh khoản (liquidity trap)”

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tổng Quan Về Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế Imf trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!