Đề Xuất 5/2022 # Tổng Quan Về Bệnh Lý Hệ Thần Kinh Ngoại Vi # Top Like

Xem 3,861

Cập nhật nội dung chi tiết về Tổng Quan Về Bệnh Lý Hệ Thần Kinh Ngoại Vi mới nhất ngày 28/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 3,861 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Liệt Dây Thần Kinh Vii Ngoại Vi
  • Hệ Thống Thần Kinh Trung Ương Và Ngoại Vi: Cấu Trúc Và Chức Năng
  • Hệ Thần Kinh Giao Cảm Có Tác Dụng Gì Đối Với Cơ Thể Của Mỗi Người
  • Tìm Hiểu Và Phân Tích Kiến Trúc, Chức Năng Và Hoạt Động Của Hệ Điều Hành Android
  • Tìm Hiểu Về Hệ Điều Hành Android
  • Hệ thống thần kinh ngoại biên là những phần của hệ thống thần kinh nằm ngoài não và tủy sống. Nó bao gồm các dây thần kinh sọ não và các dây thần kinh tủy sống từ nguyên ủy cho đến tận cùng. Các tế bào sừng trước tủy sống, mặc dù về nguyên lý là một phần của hệ thần kinh trung ương, nhưng đôi khi được cho rằng là một phần của hệ thống thần kinh ngoại biên bởi vì chúng là một phần của đơn vị vận động.

    Bệnh lý thần kinh vận động dẫn đến yếu hoặc liệt cơ. Bệnh lý thần kinh cảm giác gây ra dị cảm hoặc mất cảm giác. Một số bệnh lý có thể tiến triển nặng và gây tử vong.

    Một đơn vị vận động bao gồm

    Các tế bào sừng trước tập trung ở trong chất xám của tủy sống và theo định nghĩa, chúng thuộc hệ thần kinh trung ương. Trái ngược với hệ vận động, các thân tế bào sợi thần kinh cảm giác hướng tâm nằm bên ngoài tủy sống, ở hạch gai.

    Các sợi thần kinh bên ngoài tủy sống tập hợp thành các rễ vận động phía trước (rễ bụng) và các rễ cảm giác phía sau (rễ lưng) Rễ bụng và rễ lưng kết hợp với nhau tạo thành một dây thần kinh sống Ba mươi trong số 31 cặp dây thần kinh cột sống có rễ lưng và rễ bụng; riêng C1 không có rễ cảm giác (xem Hình: Dây thần kinh tủy sống.).

    Các dây thần kinh sống thoát khỏi cột sống qua một lỗ gian đốt sống. Bởi vì chiều dài tủy sống ngắn hơn chiều dài của cột sống, càng về phần cuối của tủy sống, lỗ gian đốt sống mà dây thần kinh sống chui qua càng xa so với đoạn tủy mà chúng bắt nguồn. Do đó, ở vùng thắt lưng cùng, các rễ thần kinh từ các đoạn tủy cuối tập hợp thành một bó thẳng đứng sát nhau, tạo thành đuôi ngựa. Khi vừa chui qua lỗ gian đốt sống, các dây thần kinh cột sống phân thành nhiều nhánh.

    Các nhánh của dây thần kinh sống cổ và thắt lưng cùng chằng chịt nối liền với nhau thành các đám rối, sau đó phân ra thành các dây thần kinh kéo dài đến 1 m trong các cấu trúc ngoại biên (xem Hình: Các đám rối thần kinh). Các dây thần kinh liên sườn thì tách biệt theo các đốt sống riêng.

    Vỏ myelin tăng cường sự dẫn xung thần kinh. Các sợi thần kinh được myelin hóa nhiều nhất dẫn truyền với tốc độ lớn nhất; chúng dẫn truyền các xung động vận động, cảm giác xúc giác và cảm giác bản thể Các sợi myelin hóa ít hơn hoặc là không được myelin hóa dẫn truyền chậm hơn; chúng dẫn truyền các xung động về cảm giác đau, nhiệt độ và xung động hệ thần kinh tự chủ.

    Bởi vì thần kinh là các mô chuyển hóa mạnh, chúng cần các chất dinh dưỡng, được cung cấp bởi các mạch máu gọi là mạch của hệ thần kinh (nervorum vasa).

    Các bệnh lý thần kinh ngoại vi có thể là kết quả của tổn thương hoặc rối loạn chức năng của một trong những thành phần sau đây:

    Bệnh thần kinh ngoại vi có thể ảnh hưởng

    Hơn một vị trí bị ảnh hưởng; ví dụ, trong thể phổ biến nhất của hội chứng Guillain-Barré, nhiều dây thần kinh sọ, thường là 2 dây thần kinh mặt, có thể bị ảnh hưởng.

    Một số nguyên nhân gây bệnh lý hệ thần kinh ngoại biên

    Được chuyển thể từ Tandan R, Bradley WA: Xơ cứng cột bên teo cơ Phần I: Các đặc điểm lâm sàng, bệnh lý và các vấn đề đạo đức trong quản lý. Annals of Neurology 18: 271-280, năm 1985; được sử dụng với sự cho phép của Little, Brown và Company.

    Bởi vì các thân dây thần kinh cảm giác và vận động nằm ở các vị trí khác nhau, một tổn thương thân nơ-ron thần kinh thường ảnh hưởng đến thành phần cảm giác hoặc vận động, nhưng hiếm khi cả hai.

    Tổn thương vỏ myelin ( demyelination) làm chậm dẫn truyền thần kinh. Tổn thương vỏ myelin ảnh hưởng nặng nề đến sự myelin hóa các sợi, gây ra rối loạn chức năng cảm giác sợi lớn (cảm giác kiến bò râm ran), liệt vận động và giảm phản xạ. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh thoái hóa myelin đa dây thần kinh là yếu cơ vận động mức độ nặng và có teo cơ mức độ tối thiểu.

    Vì các mạch nuôi dưỡng không tới đến trung tâm của dây thần kinh, nên vị trí này dễ bị tổn thương nhất trong các bệnh lý mạch máu (ví dụ như viêm mạch máu, thiếu máu cục bộ). Những bệnh lý này dẫn đến rối loạn chức năng cảm giác sợi nhỏ (cảm giác đau chói và cảm giác bỏng rát), yếu cơ tỷ lệ với teo cơ và ít ảnh hưởng nghiêm trọng tới các phản xạ so với các loại tổn thương thần kinh khác. Hai phần ba phía ngọn của chi thường bị ảnh hưởng nhiều nhất Ban đầu, thiếu nuôi dưỡng thường có xu hướng xảy ra bất đối xứng vì quá trình viêm mạch hay thiếu máu xảy ra ngẫu nhiên. Tuy nhiên, khi có nhiều tổn thương xảy ra có thể kết hợp lại, gây ra sự giảm đối xứng (bệnh lý nhiều dây thần kinh đơn).

    Tổn thương sợi trục phản ánh tổn thương các thành phần trong tế bào, đặc biệt là các vi ống và vi sợi gây ra những tổn thương đáng kể của sợi trục. Thành phần đầu tiên bị ảnh hưởng là các sợi nhỏ hơn (vì chúng có yêu cầu về trao đổi chất lớn hơn) ở phần xa nhất của dây thần kinh. Sau đó, sự thoái hoá của sợi trục từ từ tăng lên, tạo ra các triệu chứng từ ngọn đến gốc (mất cảm giác kiểu đi găng, tiếp theo là yếu liệt).

    Tổn thương bao myelin (ví dụ do chấn thương hoặc hội chứng Guillain-Barré) thường được sửa chữa bởi các tế bào Schwann còn sót lại trong khoảng 6 đến 12 tuần.

    Sau khi bị tổn thương, sợi trục có thể phục hồi trở lại trong ống tế bào Schwann với tốc độ khoảng 1 mm/ngày khi quá trình bệnh lý kết thúc. Tuy nhiên, sự phục hồi có thể bị sai lệch, dẫn đến những bệnh lý bất thường (ví dụ như đến các sợi cơ sai, thụ cảm ở sai vị trí hoặc là receptor nhiệt độ thay vì receptor cảm giác).

    Không thể hồi phục lại khi nhân của tế bào chết và khi sợi trục bị mất hoàn toàn.

    Khai thác bệnh sử nên tập trung vào loại triệu chứng, khởi phát, tiến triển và vị trí, cũng như thông tin về các nguyên nhân tiềm ẩn (ví dụ như tiền sử gia đình, nhiễm độc, tiền sử bênh).

    Khám lâm sàng và khám thần kinh cần xác định thêm loại khiếm khuyết thần kinh (ví dụ, khiếm khuyết về vận động, cảm giác, hoặc kết hợp cả hai). Cảm giác (dùng kim châm và nhiệt độ cho sợi nhỏ, thử nghiệm rung và cảm giác bản thể cho sợi lớn), cần đánh giá cả cơ lực và phản xạ gân xương. Thăm khám thần kinh sọ não cũng như chức năng thần kinh trung ương và ngoại vi. Cần xem yếu cơ có tỷ lệ với mức độ teo cơ được ghi nhậnn, cũng như là loại và phân bố của các phản xạ bất thường. Đánh giá chức năng thần kinh tự động.

    Các bác sĩ nên nghi ngờ bệnh lý hệ thống thần kinh ngoại biên dựa trên kiểu và loại khiếm khuyết thần kinh, đặc biệt là nếu khiếm khuyết tập trung đến các rễ thần kinh cụ thể, các dây thần kinh sống, đám rối, dây thần kinh ngoại biên cụ thể, hoặc phối hợp. Nghi ngờ bệnh lý này ở những bệnh nhân có giảm cảm giác và vận động hỗn hợp, nhiều vị trí, hoặc với một vị trí không tương thích với vùng giải phẫu duy nhất trong hệ thần kinh trung ương

    Nghi ngờ bệnh lý hệ thần kinh ngoại biên ở những bệnh nhân có yếu cơ toàn thể hoặc lan tỏa mà không có rối loạn cảm giác; trong những trường hợp này, bệnh lý thần kinh ngoại biên có thể bị bỏ qua vì chúng thường không phải là nguyên nhân có thể gây ra các triệu chứng như vậy. Các bằng chứng của bệnh lý thần kinh ngoại biên có thể là nguyên nhân gây ra sự yếu cơ toàn thể bao gồm:

    Các bằng chứng mà nguyên nhân có thể không phải là bệnh lý thần kinh ngoại biên bao gồm

    Những khiếm khuyết này cho thấy một bệnh lý nơ-ron vận động trên là nguyên nhân của sự yếu cơ Giảm phản xạ thường xuất hiện trong trường hợp tổn thương hệ thần kinh ngoại biên nhưng không đặc hiệu. Ví dụ, tổn thương cột sống cổ có thể có những triệu chứng giống hội chứng Guillain-Barre, đặc biệt ở những bệnh nhân có bệnh lý thần kinh trước đây.

    Những dấu hiệu lâm sàng hướng tới tổn thương thần kinh ngoại biên

    Đánh giá lâm sàng giúp thu hẹp những chẩn đoán nghi ngờ và hướng tới những thăm dò xa hơn.

    Thông thường, Khảo sát sự dẫn truyền và điện cơ (gọi chung là điện học chẩn đoán) Các xét nghiệm này giúp xác định mức độ tổn thương (dây, đám rối, rễ) và phân biệt các bệnh lý mất myelin (dẫn truyền rất chậm) với bệnh lý sợi trục. Các xét nghiệm khác, ví dụ như chẩn đoán hình ảnh, phụ thuộc vào việc có cần loại trừ tổn thương hệ thần kinh trung ương (ví dụ, MRI nếu các chi đều bị ảnh hưởng, để loại trừ việc chèn ép tủy cổ).

    Sinh thiết thần kinh đôi khi được thực hiện để giúp phân biệt thoái hóa myelin với các bệnh lý viêm mạch các sợi thần kinh lớn. Nếu nghi ngờ viêm mạch, mẫu sinh thiết phải bao gồm da và cơ để tăng khả năng chẩn đoán chính xác. Nếu nghi ngờ là một bệnh thần kinh sợi nhỏ, có thể làm sinh thiết bấm da; mất đoạn tận cùng của thần kinh có thể hướng tới chẩn đoán đó.

    Xét nghiệm di truyền nếu nghi ngờ bệnh thần kinh di truyền.

    Bệnh nhân yếu cơ nhưng không có tổn thương về cảm giác cần đánh giá mức độ yếu. Xét nghiệm điện học chẩn đoán giúp phân biệt bệnh lý thần kinh ngoại biên với các nguyên nhân khác của yếu cơ và giúp phân biệt giữa các bệnh lý thần kinh ngoại biên (ví dụ như rễ, đám rối, dây thần kinh ngoại biên, bản vận động thần kinh cơ, sợi cơ). Nó cũng giúp phân biệt giữa các bệnh sợi trục thần kinh và mất myelin.

    Điều trị bệnh lý cơ bản khi có thể. Nếu không, điều trị hỗ trợ. Cách tiếp cận theo nhóm đa chuyên khoa giúp bệnh nhân đối phó với tình trạng mất chức năng thần kinh tiến triển:

    Trước những nguy cơ tử vong, các bác sĩ chăm sóc cần thẳng thắn trao đổi với bệnh nhân, thành viên trong gia đình và người chăm sóc để xác định mức độ can thiệp có thể chấp nhận được. Bệnh nhân được khuyến khích đưa ra quyết định bằng văn bản ( chỉ thị trước) trước khi họ mất khả năng. Những quyết định này cần được xem xét ở các giai đoạn khác nhau của bệnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Thần Kinh Tự Trị Quy Định Về Chức Năng Của Tất Cả Các Bộ Phận Cơ Thể Con Người. Chức Năng, Giá Trị Và Vai Trò Của Hệ Thần Kinh Tự Trị
  • Dây Thần Kinh Chẩm Có Cấu Trúc Và Chức Năng Gì Trong Cơ Thể Người?
  • Tìm Hiểu Chức Năng Của Các Hệ Thống Bên Trong Cơ Thể Con Người
  • Giới Thiệu Về Đặc Điểm Giải Phẫu, Chức Năng Của Hệ Thần Kinh Thực Vật
  • Chức Năng Của Hệ Thần Kinh Thực Vật
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Tổng Quan Về Bệnh Lý Hệ Thần Kinh Ngoại Vi trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100