Đề Xuất 11/2022 # Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa / 2023 # Top 12 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đề đọc hiểu Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Đọc văn bản:

Mẹ ta không có yếm đào nón mê thay nón quai thao đội đầu rối ren tay bí tay bầu váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa Cái cò…sung chát đào chua… câu ca mẹ hát gió đưa về trời ta đi trọn kiếp con người cũng không đi hết mấy lời mẹ ru. (“Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” – Nguyễn Duy)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản?

Câu 2. Hình ảnh người mẹ được khắc họa qua những từ ngữ, chi tiết nào?

Câu 3. Văn bản thể hiện tâm tư, tình cảm gì của tác giả đối với người mẹ?

Câu 4. Chỉ ra hiệu quả biểu đạt của chất liệu ca dao được sử dụng trong văn bản?

Câu 5

. Hai câu thơ: ” Ta đi trọn kiếp con người/Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru ” gợi suy nghĩ gì về lời ru của mẹ đối với những đứa con?

Đáp án đề đọc hiểu Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa số 1

Câu 1: Phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là: Tự sự, miêu tả, biểu cảm.

Câu 2: Hình ảnh người mẹ được khắc họa qua những từ ngữ, chi tiết là: ” không có yếm đào“, ” Nón mê thay nón quai thao đội đầu“, ” Rối ren tay bí tay bầu” ” váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa “. Đó là một người mẹ nghèo, lam lũ, vất vả.

Câu 3: Văn bản thể hiện: Nỗi nhớ, lòng biết ơn sâu sắc và tình yêu thương to lớn dành cho người mẹ

Câu 4: Hiệu quả biểu đạt của chất liệu ca dao được sử dụng trong văn bản là: Trong ca dao ta thường gặp: ” Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng hát nỉ non” hay ” Cái cò đậu cọc cầu ao /Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua” và ” Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

” . Chính những “cái cò”, “sung chát đào chua”, cây cải về trời đó lại hiển hiện trong kí ức bằng lặng, đẹp đẽ hồn nhiên của ngày thơ. Tác giả đã vận hình ảnh cánh cò vào đời “mẹ ta”, như một niềm tri ân thành kính trong nỗi xót xa thương cảm vô bờ. Nhờ đó hình ảnh người mẹ tảo tần, lam lũ hiện lên càng thấm thía và cảm động hơn.

Câu 5: Hai câu thơ: ” Ta đi trọn kiếp con người/Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru” gợi suy nghĩ là: Lời ru của mẹ không xa lạ trong thi ca như ta thường thấy, vậy mà những ngôn ngữ rất đời thường của Nguyễn Duy lại khiến ta xốn xang trước phận mình bởi nhà thơ đã nhận ra ” kiếp con người” dễ gì sánh được ” mấy lời mẹ ru “. “Mấy lời” thôi nhưng là sự kết tinh của một cuộc đời và cả nhiều cuộc đời. Nó không chỉ chứa đựng tình mẹ bao la mà còn là những bài học làm người vô cùng quý giá mà chúng ta phải dành cả cuộc đời để học, để thấm và để biết ơn. Nói cách khác, hai câu thơ đã thức tỉnh muôn người, hãy nhìn lại mình trên nẻo về với cõi thiêng liêng.

Đọc đoạn trích:

Cái cò… sung chát đào chua câu ca mẹ hát gió đưa về trời ta đi trọn kiếp con người cũng không đi hết mấy lời mẹ ru Bao giờ cho tới mùa thu trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm bao giờ cho tới tháng năm mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao Ngân hà chảy ngược lên cao quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm bờ ao đom đóm chập chờn trong leo lẻo những vui buồn xa xôi Mẹ ru cái lẽ ở đời sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn bà ru mẹ… mẹ ru con liệu mai sau các con còn nhớ chăng (Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Theo Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2010)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1: Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh nào trong đoạn trích được lấy từ chất liệu văn học dân gian?

Câu 3: Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai.

Câu 4: Anh/chị suy nghĩ như thế nào về thông điệp được tác giả gửi gắm trong hai dòng thơ: Mẹ ru cái lẽ ở đời/ sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn.

Đáp án đề đọc hiểu Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa số 2

Câu 1: Đoạn trích trên được viết theo thể thơ là: Lục bát

Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh được lấy từ chất liệu văn học dân gian là: cái cò, sung chát đào chua, gió đưa về trời, lời mẹ ru, quạt mo – thằng Bờm.

– Biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai là:

Lặp cấu trúc/điệp ngữ: Bao giờ cho tới…

Nhân hóa: trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm

– Hiệu quả: nhấn mạnh, khơi gợi khao khát về kỉ niệm thời thơ ấu với những hình ảnh gần gũi, thân quen.

Câu 4: Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm ở hai dòng thơ:

Mẹ ru cái lẽ ở đời sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn

– Thể hiện được suy nghĩ chân thành, sâu sắc về thông điệp của tác giả:

Ngợi ca công lao to lớn của mẹ.

Làm con phải luôn ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ, đừng làm mẹ phải buồn mà hãy luôn sống xứng đáng với niềm tin, sự kì vọng của mẹ.

Đọc và trả lời

Bao giờ cho tới mùa thu trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm bao giờ cho tới tháng năm mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao Ngân hà chảy ngược lên cao quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm bờ ao đom đóm chập chờn trong leo lẻo những vui buồn xa xôi Mẹ ru cái lẽ ở đời sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn bà ru mẹ mẹ ru con liệu mai sau các con còn nhớ chăng (Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Theo Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2010)

Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.

Câu 2: Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng đầu của đoạn thơ trên.

Câu 3: Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên

Câu 4: Anh/chị hãy nhận xét quan niệm của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: Mẹ ru cái lẽ ở đời – sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng.

Đáp án đề đọc hiểu Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa số 3:

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên là: biểu cảm.

Câu 2: 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng đầu của đoạn thơ trên là:

– Lặp cấu trúc (ở hai dòng thơ bao giờ cho tới…)

– Nhân hóa (trong câu trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm).

Câu 3: Nội dung chính của đoạn thơ trên là: Đoạn thơ thể hiện hồi tưởng của tác giả về thời ấu thơ bên mẹ với những náo nức, khát khao và niềm vui bé nhỏ, giản dị; đồng thời, cho thấy công lao của mẹ, ý nghĩa lời ru của mẹ và nhắn nhủ thế hệ sau phải ghi nhớ công lao ấy.

Câu 4: Quan niệm của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: Lời ru của mẹ chứa đựng những điều hay lẽ phải, những kinh nghiệm, bài học về cách ứng xử, cách sống đẹp ở đời; sữa mẹ nuôi dưỡng thể xác, lời ru của mẹ nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta. Đó là ơn nghĩa, là tình cảm, là công lao to lớn của mẹ. Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. Từ đó, nhận xét về quan niệm của tác giả (đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp…).

Còn rất nhiều những đề tài, những bài văn, đoạn văn nói về tình mẫu tử như Đoạn văn 200 chữ nghị luận về tình mẫu tử mà Đọc tài liệu đã biên tập muốn các em tham khảo để qua đây các em có thể cảm nhận và tự mình viết ra được những bài văn về mẹ thật sâu sắc

Bài Thơ: Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa… (Nguyễn Duy / 2023

Thế là một mùa thu, một mùa Vu Lan nữa lại về. Nhớ mẹ, đó là nỗi nhớ đằng đẵng, khôn nguôi, nhất là đối với những người đã và đang đi vào lứa tuổi “xưa nay hiếm” như chúng tôi bây giờ. Ta vẫn như thấy đâu đây thấp thoáng bóng mẹ ta đi về cùng năm tháng. Từ ngàn xưa, đã có biết bao nhiêu bài thơ viết về Mẹ, nhưng nhân mùa Vu Lan này, xin giới thiệu đến mọi người, bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa của nhà thơ Nguyễn Duy. Đây cũng là bài thơ đã neo đậu theo dòng thời gian trong lòng bạn đọc những cảm xúc thơ mà hình như mỗi chúng ta ai cũng đều thấy bóng dáng người mẹ thân yêu của chính mình, trong những vần thơ – ca dao của Nguyễn Duy.

Bài thơ chính là nỗi nhớ cảm động của người con về mẹ. Trong một lần tiếp chuyện Nguyễn Duy ở Đà Lạt, nhà thơ đã giãi bày với chúng tôi: “Mẹ tôi mất sớm. Tôi và em gái tôi ở với bà ngoại. Hình ảnh về mẹ trong bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa chính là hình ảnh bà ngoại tôi hồi đó… Những đêm hè trời trong, gió mát bà tôi thường trải chiếu cói trên mặt đê sông Mã, cùng các cháu nằm ngắm trăng, kể chuyện “Hằng Nga”, chuyện “Thằng Cuội” hoặc là đếm “một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng…”

Tiêu đề và câu kết của bài thơ chính là một trong những câu ca dao nổi tiếng về mẹ của ông cha ta, có từ ngàn xưa. Đây có lẽ cũng chính là mạch nguồn vô tận chảy suốt bài thơ. Bài thơ được mở đầu bằng những tâm tình xót xa đến khôn nguôi, giữa bầu không khí đầy tâm linh thành kính:

Bần thần hương huệ thơm đêmKhói nhang vẽ nẻo đường lên Niết bànChân nhang lấm láp, tro tànXăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào.

Trong đêm, hình bóng mẹ theo khói nhang hiện về trong hồi ức đầy thông cảm. Mẹ đã đi xa, nhưng “chân nhang lấm láp” và “xăm xăm bóng mẹ” đã đưa ta đến với mẹ. Và quả thật, “mẹ ta” đã hiện về, rõ ràng trong nỗi “bần thần” khó tả của một đời nghèo khó:

Mẹ ta không có yếm đàoNón mê thay nón quai thao đội đầuRối ren tay bí, tay bầuVáy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa.

Chỉ với mấy câu thơ ngắn ngủi này, Nguyễn Duy đã nói lên tất cả. Đã đưa ta về với người mẹ nghèo khó, bần hàn. Mẹ ta “không có yếm đào”, “không nón quai thao” và cũng chẳng có áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, mà hiện lên trong đó chỉ là một người mẹ nông thôn, bình dị, chân lấm, tay bùn cả đời gieo neo, vất vả. Chính việc sử dụng tài tình các từ láy “bần thần”, “lấm láp”, “xa xăm”, “rối ren” trong những câu thơ này càng tô đậm thêm cuộc sống lam lũ của mẹ, nhưng đó cũng là thủ pháp để tôn vinh đấng sinh thành cao cả. Lời thơ dung dị, gần gũi với mọi người:

Cái cò… sung chát… đào chuaCâu ca mẹ hát gió đưa về trờiTa đi trọn kiếp con ngườiCũng không đi hết mấy lời mẹ ru.

Kỷ niệm về mẹ dồn nén để rồi cứ thế ùa vào tâm tưởng mỗi người con. Ta nhớ tới mẹ mình, không chỉ ở những lời ru mộc mạc, chân tình mà còn ở những món quà quê giản dị – đó là những “trái hồng”, “trái bưởi”, là những đêm “Mẹ ra trải chiếu, ta nằm đếm sao” và “Bờ ao đom đóm chập chờn”… Những hồi ức này khiến mỗi chúng ta như thấy một góc nhỏ của tuổi thơ mình đang hiện hữu trong những câu lục – bát tài hoa của nhà thơ.

Sợi chỉ xuyên suốt bài thơ và là nguồn cảm hứng chủ đạo của bài thơ là lời ru của mẹ. Lời ru ấy không chỉ đưa ta vào giấc ngủ khi còn ấu thơ, mà nó còn theo ta đi trọn cuộc đời:

Mẹ ru cái lẽ ở đờiSữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn.

Và rồi nhà thơ đã nói lên sự lo lắng về hát ru đã và đang ngày một biến mất trong đời sống ngày nay:

Bà ru mẹ… mẹ ru conLiệu mai sau các con còn nhớ chăng?

Quả thật sự lo lắng của nhà thơ là hoàn toàn có cơ sở. Ngày nay, tiếng hát ru con hầu như không còn được các bà mẹ trẻ sử dụng. “Bà ru mẹ… mẹ ru con” tưởng như là một quy luật muôn đời, bất biến, một nét đẹp văn hoá từ ngàn xưa của dân tộc, đáng trân trọng, giữ gìn và phát huy thì đang dần bị lãng quên, mai một!?

Thơ Nguyễn Duy mộc mạc, đằm thắm và thấm đậm chất trữ tình nhưng vẫn mang tính triết luận như là một tổng kết cuộc đời:

Ta đi trọn kiếp con ngườiCũng không đi hết những lời mẹ ru.

Ở đây, ta bắt gặp sự đồng điệu của Nguyễn Duy với Chế Lan Viên, dù phong cách viết giữa hai nhà thơ hoàn toàn khác nhau. Sự đồng điệu ấy thể hiện ở câu thơ của Chế Lan Viên:

Con dù lớn vẫn là con của mẹĐi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con…

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa là một dòng hồi ức tuyệt đẹp về người mẹ. Nhân mùa Vu Lan về, lại càng nhớ mẹ nhiều hơn, càng cám ơn nhà thơ đã cho ta những câu thơ – ca dao đẹp về mẹ. Điều đó càng nhắc nhở chúng ta: những ai còn mẹ càng phải biết trân trọng hơn đức sinh thành, dưỡng dục của mẹ. Những ai mẹ đã khuất lại càng thấy xao xuyến, nhớ mẹ tha thiết như lời ru êm dịu của những câu thơ lục bát tài hoa mà Nguyễn Duy đã sáng tạo.

Có thể khẳng định, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa là một trong những bài thơ hay nhất viết về mẹ. Hay bởi đó là tình cảm chân tình từ đáy lòng nhà thơ khi nhớ với người mẹ thân yêu của mình. Hay còn bởi đó là giá trị nhân văn, là truyền thống dân gian từ ngàn đời nay, hơn nữa nó không chỉ là một giọng thơ dịu dàng, đằm thắm, mà còn triết lý nhân văn của tình mẫu tử. Nhà thơ Nguyễn Duy đã từng tâm sự: “văn chương thời nào cũng cần đụng đến kinh mạch của xã hội, nếu không được như vậy thì nó chỉ là thú kể chuyện vặt qua ngày… Để có văn thật đã khó, được người đời chấp nhận lại càng khó hơn. Làm văn chương thật là phải rũ gan ruột mình ra”. Phải chăng, nhờ vậy mà bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa sẽ sống mãi cùng năm tháng, sống mãi trong lòng mỗi người yêu thơ đất Việt.

Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tự Tình 2 / 2023

Đề đọc hiểu Tự tình 2 – Hồ Xuân Hương

Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi phía dưới:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non. Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại. Mảnh tình san sẻ tí con con!

Câu 1: Bài thơ trên có tựa đề là gì? Của tác giả nào? Giới thiệu đôi nét về tác phẩm

Câu 2: Ý nghĩa nhan đề của bài thơ là gì?

Câu 3: Nếu giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ trên.

Câu 4: Hãy kể tên một số tác phẩm khác cùng viết về thân phận người phụ nữ mà em đã học?

: Phân tích bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

Đáp án đề đọc hiểu Tự tình 2 số 1

Câu 1: Tựa đề của bài thơ trên là: Tự tình II của Hồ Xuân Hương.

– Đôi nét về tác phẩm:

Bài thơ “Tự tình II” nằm trong chùm thơ Tự tình gồm 3 bài của Hồ Xuân Hương.

Được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

Câu 2: Ý nghĩa nhan đề của bài thơ là:

Tự tình có nghĩa là bộc lộ tâm tình, tâm tình ở đây không phải che đậy hay vay mượn bất cứ cảnh vật nào để bộc lộ. Xuân Hương nói về chính mình, về nỗi cô đơn của kiếp người, nỗi bất hạnh của kiếp má hồng.

Bài thơ là nỗi tự tình của riêng Xuân Hương nhưng cũng là nỗi đau đáu, bẽ bàng của một lớp phụ nữ bị chèn ép, bị chế độ phong kiến làm cho dang dở, lẻ loi.

Câu 3: Giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ là:

– Giá trị nội dung:

Bài thơ nói lên bi kịch tình yêu, gia đình của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Đồng thời đó là tâm trạng vừa buồn tủi, vừa phẫn uất trước duyên phận éo le và cuộc sống, số phận cay đắng của họ, dù đã gắng gượng vương lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch của cuộc đời.

Bài thơ cũng cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc – những điều vô cùng giản đơn, bình dị nhưng lại là khao khát, niềm mơ ước cả cuộc đời của Hồ Xuân Hương nói riêng, của tất cả những người phụ nữ trong xã hội phong kiến nói chung.

– Giá trị nghệ thuật:

Tác giả đã vận dụng sáng tạo thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật với ngôn ngữ tiếng Việt nhưng không làm mất đi giá trị của thể thơ mà trái lại nó còn mang đến cho thể thơ cổ điển ấy một vẻ đẹp mới, gần gũi, thân thuộc hơn với người Việt.

Sử dụng từ ngữ giản dị mà đặc sắc với những động từ mạnh (xiên ngang mặt đất/ đâm toạc chân mây), từ láy tượng thanh đã thể hiện khao khát đến cháy bỏng và sự nổi loạn trong tâm hồn của Hồ Xuân Hương

Sử dụng những hình ảnh giàu sức gợi (trăng khuyết chưa tròn, rêu từng đám, đá mấy hòn,…) để diễn tả các cung bậc cảm xúc, sự tinh tế, phong phú trong tâm trạng của người phụ nữ khi nghĩ đến thân phận của mình.

Câu 4: Tên một số tác phẩm khác cùng viết về thân phận người phụ nữ mà em đã học là: Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương), Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều).

Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại. Mảnh tình san sẻ tí con con!

Câu 1: Tác dụng của từ láy “văng vẳng” và từ “dồn” trong việc thể hiện tâm trạng nhà thơ?

Câu 2: Nghĩa của từ “trơ” trong câu thơ “Trơ cái hồng nhan với nước non” là gì?

Câu 3: Tác dụng của biện pháp đảo ngữ và các động từ được sử dụng trong hai câu

Xiên ngang, mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

Câu 4: Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Sử dụng phương thức biểu đạt nào là chủ yếu?

Đáp án đề đọc hiểu Tự tình 2 số 2

Câu 1: Tác dụng của từ láy “văng vẳng” và từ “dồn” trong việc thể hiện tâm trạng nhà thơ là: Gợi bước đi vội vã, dồn dập, gấp gáp của thời gian, gợi không gian quạnh hiu, vắng lặng và tâm trạng rối bời, lo âu, buồn bã, cô đơn của con người khi ý thức được sự trôi chảy của thời gian, của đời người.

Câu 2: Nghĩa của từ “trơ” trong câu thơ “Trơ cái hồng nhan với nước non” là: trơ trọi, cô đơn, có gì như vô duyên, vô phận, rất bẽ bàng và đáng thương.

– Sự bền gan, thách thức, sự kiên cường, bản lĩnh của con người

Câu 3: Tác dụng của biện pháp đảo ngữ và các động từ được sử dụng trong hai câu

Xiên ngang, mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

– Miêu tả hình ảnh thiên nhiên như muốn vùng lên, phá ngang, phẫn uất với đất trời.

– Đó là hình ảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang sẵn niềm phẫn uất và sự bộc lộ cá tính, bản lĩnh không cam chịu như muốn thách thức số phận của Hồ Xuân Hương

Câu 4: Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ: nghệ thuật.

– Sử dụng phương thức biểu đạt biểu cảm là chủ yếu.

Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non. Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con!

(Tự tình 2,Hồ Xuân Hương, Ngữ văn 11, tập 1, NXBGDVN 2010, tr.18).

Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Xác định các từ Hán Việt trong bài thơ.

Câu 3: Xác định biện pháp tu từ cú pháp được sử dụng trong 2 câu đầu của bài thơ? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.

Câu 4: Từ xuân trong hai câu thơ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại có nghĩa là gì?

Đáp án đề đọc hiểu Tự tình 2 số 3

Câu 1: Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú đường luật/ tám câu bảy chữ đường luật/ thất ngôn bát cú.

Câu 2: Từ Hán Việt trong bài thơ là: hồng nhan.

Câu 3: Biện pháp tu từ cú pháp được sử dụng trong 2 câu đầu của bài thơ là: Biện pháp tu từ đảo ngữ (trơ cái hồng nhan…).

– Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó là: lột tả được thái độ buồn, chán và bực dọc của nhân vật trữ tình.

Câu 4: Từ xuân trong hai câu thơ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại có nghĩa là:

từ (xuân lại lại): mùa xuân của trời đất;

từ (xuân đi) chỉ tuổi xuân, tuổi trẻ của người con gái.

Đề Đọc Hiểu Đoạn Thơ Việt Nam Quê Hương Ta / 2023

Đề đọc hiểu đoạn thơ Việt Nam quê hương ta- Nguyễn Đình Thi

Đề đọc hiểu đoạn thơ Việt Nam quê hương ta- Nguyễn Đình Thi

Bộ đề đọc hiểu luyện thi THPT Quốc gia môn văn,Tuyển tập đề đọc hiểu văn bản thơ ngoài chương trình. Đọc hiểu văn bản Việt Nam quê hương ta của nhà thơ Nguyễn Đình Thi.Đề bài : Đọc văn bản sau và trả lời cân hỏi:

Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều Quê hương biết mấy thân yêu Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau Mặt người vất vả in sâu Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn Đất nghèo nuôi những anh hùng Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên Đạp quân thù xuống đất đen Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa Việt Nam đất nắng chan hoà Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh Mắt đen cô gái long lanh Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung Đất trăm nghề của trăm vùng Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem Tay người như có phép tiên Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ

Câu 1: Chỉ ra thể thơ của bài thơ trên.Câu 2: Chỉ ra 01 biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn trích trên,Câu 3: Đoạn trích trên được viết bởi những phương thức biểu đạt nào? Phương thức biểu đạt đó có biểu hiện như thế nào?Câu 4: Phân tích nội dung chính của đoạn trích trên, có học sinh viết: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là những người anh hùng trong gian khó vẫn luôn kiên cường, nhẫn nại, làm nên vẻ đẹp của đất nước muôn đời. Hãy chi ra lỗi sai trong diễn đạt của lời phân tích đó. ” ■HƯỚNG DẪN LÀM BÀI CHI TIẾTCâu 1: thể thơ lục bát.Học sinh lưu ý chi cần chỉ ra tên gọi của thể thơ, không cần giải thích những đặc điểm của ngôn ngữ thể hiện thể’ thơ đó nếu đề bài không yêu cầu.Câu 2: Học sinh có thể chỉ ra một trong số những biện pháp nghệ thuật sau:Biện pháp so sánh: Tay người như có phép tiênBiện pháp nói quá: Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lênCâu 3: Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích là biểu cảm và miêu tả.Biểu hiện của phương thức biếu cảm là bộc lộ cảm xúc tự hào, tâm thế hào sảng của tác giả về hình tượng đất nước.Miêu tả khi tác giả nói về những vẻ đẹp của đất nước về cảnh vật, thiên nhiên và con người: Đó là cảnh vật Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn/ Cánh cò bay lả rập rờn/ Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều, là những tấm gương anh hùng Đấi nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên, là những người lao động làm nghề thù công Đất trăm nghề của trăm vùng/ Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem.Câu 4: Lời phân tích Nhân vật trữ tình trong bài thơ là những người anh hùng trong gian khó vẫn luôn kiên cường, nhẫn nại, làm nên vẻ đẹp của đất nước muôn đời sai ở chỗ đã hiểu sai về bản chất của nhân vật trữ tình. Nhân vật trữ tình không phải là nhân vật được miêu tả trong tác phẩm mà là nhân vật bộc lộ những cảm xúc, tình cảm trong tác phẩm.Ở đoạn trích trên, nhân vật trữ tình là một người yêu nước, tự hào với vẻ đẹp của đất nước.

Nguyễn Thế Hưng

Bài viết gợi ý:

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!