Đề Xuất 12/2022 # Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Trong Kỷ Nguyên Mới / 2023 # Top 16 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Trong Kỷ Nguyên Mới / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Trong Kỷ Nguyên Mới / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

– “Phát triển thị trường vốn – Cơ hội trong kỷ nguyên mới, là Diễn đàn tạo nên sự kết nối giữa cơ quan xây dựng chính sách với các chuyên gia, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp để cùng nhau chia sẻ tầm nhìn, mục tiêu và nhận diện bức tranh thị trường vốn trong kỷ nguyên mới…”, Tổng Biên tập Tạp chí Kinh tế và Dự báo Nguyễn Lệ Thủy, phát biểu khai mạc Diễn đàn Phát triển thị trường vốn – Cơ hội trong kỷ nguyên mới.

Sáng nay, ngày 30/3 tại Trung tâm hội nghị Quốc tế, 35 Hùng Vương, Hà Nội, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Diễn đàn “Phát triển thị trường vốn – Cơ hội trong kỷ nguyên mới”, với sự tham dự của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, nhà hoạch định chính sách…

Về phía cơ quản lý, tham gia Diễn đàn có ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính; ông Nguyễn Tú Anh, Vụ trưởng Vụ kinh tế tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương; bà Tạ Thanh Bình, Vụ trưởng Vụ phát triển thị trường, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước. Về phía doanh nghiệp, tham dự Diễn đàn có ông Nhữ Đình Hòa, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Bảo Việt; ông Nguyễn Đức Hậu, Phó tổng giám đốc Tập đoàn HAPACO; ông Khổng Phan Đức, Chủ tịch HĐQT Công ty Quản lý quỹ Vietinbank; ông Trần Hải Hà, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán MB… Diễn đàn còn có sự tham gia của Chuyên gia Kinh tế Cấn Văn Lực; ông Nguyễn Thanh Kỳ, Phó chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam… TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, điều phối kết nối các phần trong Diễn đàn.

Diễn đàn được tổ chức với sự đồng hành của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank), Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Tổng Biên tập Tạp chí Kinh tế và Dự báo Nguyễn Lệ Thủy cho biết, sau hơn 20 năm Việt Nam xây dựng thị trường chứng khoán, cấu trúc thị trường vốn Việt Nam đã được định hình rõ nét, gồm hai cấu phần chính là thị trường chứng khoán và thị trường tín dụng trung, dài hạn. Sự phát triển của thị trường chứng khoán trong 2 thập kỷ đầu tiên phải trải qua nhiều thăng trầm, nhưng đã tạo nên một kênh dẫn vốn hữu hiệu trong nền kinh tế. Nếu như năm 2000, khi thị trường chứng khoán mới mở cửa, vốn hóa thị trường chỉ đạt 986 tỷ đồng, tương đương 0,28% GDP, các doanh nghiệp hầu như phải huy động vốn qua kênh tín dụng ngân hàng, thì sau 2 thập kỷ, mức vốn hóa thị trường cổ phiếu Việt Nam tính đến cuối năm 2020 tương đương 83% GDP năm 2019. Hàng trăm ngàn tỷ đồng đã được các doanh nghiệp, các ngân hàng huy động qua thị trường chứng khoán, tạo nên bức tranh cân đối của thị trường vốn Việt Nam, khi mà kênh tín dụng ngân hàng cũng có sự phát triển mạnh mẽ trong 20 năm qua.

Tổng Biên tập Tạp chí Kinh tế và Dự báo Nguyễn Lệ Thủy phát biểu khai mạc Diễn đàn

Tuy nhiên, bà Nguyễn Lệ Thủy nhìn nhận, thị trường vốn Việt Nam đang phải đối diện với nhiều thách thức. Trên thị trường tín dụng, thách thức hiện hữu là các ngân hàng khó tăng năng lực tài chính, trong khi nguy cơ nợ xấu ngày một dày lên, do hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh đều chịu ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19. Cùng với đó, nhiều hình thái tín dụng, thanh toán gắn công nghệ với tài chính xuất hiện, trong khi Việt Nam chưa có chính sách để quản lý.

Trên thị trường chứng khoán, Luật Chứng khoán có hiệu lực thi hành từ đầu năm 2021 với nhiều chính sách được cải thiện nhằm nâng tầm thị trường. Tuy nhiên, tình trạng nghẽn lệnh trên sàn chứng khoán tạo nên thách thức hiện hữu cho các mục tiêu lớn và dài hạn, như nâng hạng thị trường, tăng quy mô, tăng tính chuyên nghiệp và thu hút dòng vốn nước ngoài vào thị trường vốn Việt Nam.

Nhiều chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp… tham gia Diễn đàn

Dù phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhưng bà Nguyễn Lệ Thủy cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang cho thấy khả năng phục hồi tích cực. Nếu như năm 2020 GDP tăng trưởng 2,91% vì chịu ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, thì quý I/2021, GDP ước tăng 4,48% so với cùng kỳ năm trước. Sự tăng trưởng của nền kinh tế chính là nền tảng vững chắc cho thị trường vốn Việt Nam phát triển mạnh mẽ và cân bằng trong thời gian tới.

Trong kỷ nguyên mới, thị trường vốn kỳ vọng sẽ phát triển và thực hiện tốt vai trò huyết mạch trong nền kinh tế, góp sức thúc đẩy phát triển kinh tế và hoàn thành các mục tiêu chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn 2021-2030. Kỷ nguyên mới cũng được kỳ vọng sẽ chứng kiến sự thay đổi toàn diện của đời sống kinh tế, xã hội khi Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy sự phát triển của các nền kinh tế, các loại thị trường nhanh hơn, gắn kết hơn bao giờ hết.

Phát Triển Thị Trường Vốn Việt Nam: Cần Những Giải Pháp Xứng Tầm / 2023

– Ý kiến đa chiều của nhiều chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp… tại Diễn đàn “Phát triển thị trường vốn – Cơ hội trong kỷ nguyên mới”, do Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hôm nay (30/3), đã đưa ra nhiều gợi mở đáng chú ý về hướng phát triển thị trường vốn trong thập niên mới. Xin giới thiệu một số ý kiến tại Diễn đàn.

Diễn đàn “Phát triển thị trường vốn – Cơ hội trong kỷ nguyên mới” được tổ chức tại Trung tâm hội nghị Quốc tế, 35 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội vào sáng 30/3/2021. Diễn đàn do Tạp chí Kinh tế và Dự báo tổ chức, nhằm tạo nên một sự kết nối, chia sẻ tầm nhìn và nhận diện bức tranh thị trường vốn trong kỷ nguyên mới.

Các nhà quản lý, chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp đã cùng chia sẻ những đánh giá của mình về 20 năm phát triển thị trường vốn và gợi mở những giải pháp, tầm nhìn cho kỷ nguyên mới

SÁNG KIẾN TỪ DOANH NGHIỆP

“Cần quan tâm hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp yếu”

Ông Khổng Phan Đức, Chủ tịch HĐQT Công ty Quản lý quỹ Vietinbank

Ông Khổng Phan Đức, Chủ tịch HĐQT Công ty Quản lý quỹ Vietinbank

Khi định mức rủi ro của doanh nghiệp cao, thì khó tiếp cận vốn ngân hàng, nên phải tiếp cận vốn trên thị trường tài chính (phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc các công cụ phái sinh). Chúng ta hay nói đến những đơn vị huy động vốn thành công trên thị trường tài chính, nhưng lại thường không quan tâm đến những doanh nghiệp vì nhiều lý do mà không còn tốt nữa nên gặp khó khăn trong huy động vốn.

Thực tiễn trong suốt quá trình phát triển, công ty không phải lúc nào cũng thuận lợi, có những lúc họ suy yếu, rơi vào tình trạng mất thanh khoản… Lúc đó họ rất khó khăn và cần vốn, cần hơn cả khi họ đang phát triển tốt. Song các quy định pháp lý dường như ít quan tâm đến nhu cầu huy động vốn của các đơn vị yếu kém này. Do đó, cần có chính sách tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp yếu, có điều kiện tài chính chưa được tốt để tiếp cận vốn trên thị trường. Khi họ không thể tiếp cận được vốn ngân hàng, thì vẫn cần có cửa khác để cho họ huy động được vốn.

“Cần phát triển mạnh ngành bảo hiểm và quản lý tài sản…”

Ông Phạm Tiến Dũng, Giám đốc phân tích, Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC)

Ông Phạm Tiến Dũng, Giám đốc phân tích, Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC)

Để thúc đẩy sự phát triển của 2 ngành này, cần nghiên cứu và cho phép triển khai một số loại hình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí… với đặc điểm là chi phí tham gia bảo hiểm được giảm trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân, để khuyến khích người dân tiết kiệm tham gia bảo hiểm, từ đó hỗ trợ sự phát triển của thị trường vốn.

Cơ quan quản lý TTCK cần thiết lập các quỹ nghiên cứu, cơ chế để hỗ trợ các nghiên cứu, các dự án khởi nghiệp về fintech trong lĩnh vực chứng khoán, quản lý tài sản, quản lý quỹ…

Cũng cần đổi mới chính sách theo hướng gia tăng khả năng cho các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ trong việc sở hữu, mua/bán doanh nghiệp. Thực tế phát triển cho thấy, đang có xu hướng các công ty chứng khoán, quản lý quỹ cần mua lại, hoặc liên doanh với các công ty phát triển công nghệ để tạo ra các đột phá trong cung cấp dịch vụ, sản phẩm…

“HAPACO chỉ có thể thực hiện tốt khát vọng bứt phá, nếu thị trường vốn tiếp tục phát triển…”

Ông Nguyễn Đức Hậu, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn HAPACO

Ông Nguyễn Đức Hậu, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn HAPACO

Từ khi thị trường chứng khoán (TTCK) mở ra, HAPACO và rất nhiều doanh nghiệp khác đã huy động được hàng trăm nghìn tỷ đồng vốn từ nhà đầu tư đại chúng, nên đã mở rộng đầu tư, mở rộng cổ đông, đối tác, mở rộng quy mô thị trường.

Để doanh nghiệp đại chúng hoạt động ổn định, phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay, đại đa số các doanh nghiệp lựa chọn song hành cả 2 kênh huy động vốn, đó là qua TTCK và qua kênh vay các ngân hàng để bảo đảm sự chủ động. Qua đó giúp doanh nghiệp tăng năng lực tài chính, bảo đảm cho các kế hoạch hoạt động sản xuất, kinh doanh, mở rộng và đầu tư phát triển trong ngắn hạn và dài hạn.

Bước sang thập niên mới, giai đoạn 2021-2030, trên nền tảng những gì HAPACO đã đạt được và nhìn thấy cơ hội tương lai còn rộng mở phía trước, Hội đồng quản trị của Tập đoàn kỳ vọng, HAPACO sẽ trở thành Tập đoàn kinh tế lớn đa ngành tầm cỡ khu vực, với việc nâng vốn điều lệ lên gần 6.600 tỷ đồng và nâng vốn chủ sở hữu trên 35.000 tỷ đồng. Tập đoàn sẽ thực hiện 5 dự án lớn trong 5 năm tới, trong đó có Dự án Xây dựng Nhà máy điện gió tại Gia Lai, công suất 100 mW; Dự án xây dựng Bệnh viện Quốc tế Green thứ hai với quy mô gấp 3 lần hiện nay; Dự án xây nhà ở xã hội cho người lao động…

HAPACO chỉ có thể thực hiện tốt khát vọng bứt phá, nếu thị trường vốn Việt Nam, nhất là TTCK vượt qua các khó khăn hiện hữu, tiếp tục phát triển, thu hút được nhiều nhà đầu tư rót vốn vào thị trường. Khi đó, các doanh nghiệp như HAPACO sẽ huy động được vốn mới, mở rộng cổ đông, mở rộng đối tác, tạo thành một sức mạnh lớn hơn, mang lại lợi ích lớn hơn cho doanh nghiệp và đất nước.

KHUYẾN NGHỊ TỪ CHUYÊN GIA

“Rất cần thị trường vốn lớn hơn nữa…”

Ông Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia

Ông Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia

Tăng trưởng tín dụng 14,4% trong vòng 10 năm qua thuộc nhóm cao nhất trong khu vực. Tăng trưởng tín dụng thực, đâu đó vẫn là 10%, cao nhất trong các nước ASEAN. Vì thế, rất cần thị trường vốn Việt Nam lớn hơn nữa để cân bằng hơn với thị trường tín dụng. Đến hết tháng 2/2021, vốn hóa thị trường cổ phiếu Việt Nam ước đạt 5.600 nghìn tỷ đồng (89% GDP 2020). Trong rổ hàng hóa, có 880 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết trên 2 Sở giao dịch chứng khoán; 909 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM. Lượng tài khoản nhà đầu tư đạt 2,8 triệu tài khoản; số tài khoản giao dịch thường xuyên ước đạt 1,6 triệu tài khoản.

Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đang xây dựng Chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2021-2030. Dự kiến quy mô thị trường cổ phiếu đạt mức 120% GDP, thị trường trái phiếu đạt 55% GDP vào năm 2025. Số lượng nhà đầu tư trên thị trường đạt 5% dân số vào năm 2025.

Hiện có gần 3% dân số tham gia TTCK, nên còn nhiều dư địa phát triển TTCK. Cơ hội phát triển cân bằng thị trường vốn Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, còn rất nhiều thách thức trên con đường phát triển thị trường vốn. Đó là triển vọng phục hồi kinh tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro; quy mô thị trường vẫn còn khá nhỏ so với các nước trong khu vực, thiếu tính ổn định; các sản phẩm còn ít, chưa đa dạng; tính minh bạch, chuyên nghiệp chưa cao; chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Hạn chế về hạ tầng dẫn đến tình trạng nghẽn lệnh, ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư. Nguy cơ bong bóng trên thị trường do lượng vốn lớn từ các nhà đầu tư mới (F0) chưa có nhiều kiến thức về TTCK đổ vào thị trường. Nền tảng nhà đầu tư chưa bền vững, tính chuyên nghiệp chưa cao…

Trong kỷ nguyên mới, để phát triển thị trường vốn cân bằng với thị trường tín dụng, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán 2019; vận hành Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam; tiếp tục triển khai các giải pháp tái cấu trúc TTCK; chú trọng phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp hơn.

Cần đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) gắn với niêm yết và đăng ký giao dịch trên TTCK. Thực hiện các giải pháp nâng hạng TTCK Việt Nam lên nhóm thị trường mới nổi vào năm 2023. Nâng cao năng lực quản lý, giám sát rủi ro hệ thống; tăng tính độc lập của UBCKNN.

Đặc biệt, kỷ nguyên mới đòi hỏi những nỗ lực nâng tầm quản trị doanh nghiệp, tính chuyên nghiệp của cộng đồng nhà đầu tư và khả năng điều hành thị trường của cơ quan quản lý.

Dự báo con người và công nghệ là 2 đột phá cho sự phát triển tới đây trên thị trường vốn Việt Nam. Cụ thể là phát triển nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp nhiều hơn. Cần nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu thị trường; xây dựng và thực thi Chiến lược phát triển TTCK đến năm 2030 với 2 cấu phần quan trọng là nâng hạng và chuyển đổi số. Đặc biệt, tính minh bạch, chuyên nghiệp là kim chỉ nam cho thị trường vốn phát triển lành mạnh, bền vững.

PHẢN HỒI TỪ NHÀ QUẢN LÝ, HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH

“3 nhóm giải pháp thúc đẩy DNNN tham gia thị trường vốn”

Ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính

Ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính

Phát triển thị trường vốn sẽ góp phần thúc đẩy các DNNN sớm hoàn thành quy trình quản trị công ty minh bạch, rõ ràng, đặc biệt là các công ty đại chúng có vốn nhà nước, qua đó thúc đẩy tăng khối lượng giao dịch trên thị trường, tăng tính thanh khoản cho cổ đông nhà nước.

Phát triển thị trường vốn cũng sẽ thúc đẩy các DNNN tham gia huy động vốn theo hướng giảm tỷ trọng vay tín dụng thương mại, đa dạng các hình thức huy động bổ sung vốn. Thị trường vốn là tấm gương phản chiếu kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp phải đổi mới quản trị, minh bạch thông tin, tăng cường sức cạnh tranh, chấp hành nghiêm quy định cuả pháp luật, nguyên tắc thị trường.

Để gắn sự phát triển của thị trường vốn với lộ trình tái cấu trúc DNNN giai đoạn 2021-2025 cần triển khai 3 nhóm giải pháp.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm của người đứng đầu. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành, chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chủ tịch hội đồng thành viên các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước với phê duyệt phương án cơ cấu lại doanh nghiệp, tổ chức và giám sát việc triển khai thực hiện có hiệu quả phương án được duyệt.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, khuôn khổ pháp lý về tổ chức quản lý và hoạt động của DNNN về sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN và Nghị quyết số 60/2018/QH14 của Quốc hội; xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia thống nhất, đồng bộ về doanh nghiệp và vốn, tài sản của Nhà nước.

Hoàn thiện chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp, trong đó:

+ Thực hiện nghiêm quy định về đăng ký lưu ký, đăng ký giao dịch, đăng ký niêm yết trên TTCK. Thí điểm một số DNNN sau cổ phần hóa đăng ký giao dịch, niêm yết trên TTCK khu vực và thế giới.

+ Các doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng chưa đạt tỷ lệ vốn nhà nước theo tiêu chí phân loại DNNN, thì phải tổ chức lập kế hoạch và triển khai công tác thoái vốn theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo tỷ lệ nhà nước nắm giữ.

“Cần nâng cao hiệu quả của hệ thống cảnh báo sớm trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính”

TS. Nguyễn Tú Anh, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương

TS. Nguyễn Tú Anh, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương

Để thị trường vốn phát triển tích cực trong thời gian tới cần triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển TTCK và thị trường tiền tệ.

Cùng với đó là tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động kinh doanh chứng khoán; sáp nhập, mua, bán doanh nghiệp; hạn chế tình trạng nhà đầu tư thao túng thị trường và thâu tóm doanh nghiệp Việt Nam. Giám sát chặt chẽ, cảnh báo và có các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động phát hành và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp. Rà soát, hoàn thiện các quy định về đăng ký phát hành trái phiếu doanh nghiệp, bảo đảm tính minh bạch, khả năng đánh giá rủi ro đầu tư trái phiếu doanh nghiệp. Khuyến khích phát triển những tổ chức xếp hạng tín nhiệm chuyên nghiệp, tin cậy. Tăng cường vai trò của quản lý nhà nước đối với giám sát việc phát hành, phân phối, cung cấp dịch vụ trái phiếu doanh nghiệp. Phát triển cơ sở hạ tầng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, nghiên cứu tổ chức thị trường giao dịch đối với trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.

Đẩy nhanh cơ cấu thị trường chứng khoán theo Đề án đã được phê duyệt. Cùng với việc hoàn thiện cơ cấu bộ máy, xây dựng lại thị trường cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh theo hướng chuyên môn hóa, tiếp tục tái cơ cấu hệ thống các định chế trung gian

Thúc đẩy triển khai kế hoạch cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước. Thực hiện kiểm tra, xử lý kịp thời các doanh nghiệp không tuân thủ quy định về niêm yết/đăng ký giao dịch sau khi cổ phần hóa.

Đẩy mạnh việc triển khai các giải pháp nâng hạng TTCK từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi theo đánh giá của MSCI và FTSE.

Đảm bảo an toàn, ổn định hệ thống giao dịch, đưa hệ thống công nghệ thông tin mới vào hoạt động đồng bộ. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục đưa ra các sản phẩm mới vào thị trường.

Tăng cường giám sát, nâng cao hiệu qủa quản lý, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đảm bảo kỷ cương kỷ luật của thị trường để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và hoạt động lành mạnh của doanh nghiệp.

Nghiên cứu triển khai số hóa các tài sản tài chính trên TTCK, áp dụng các công nghệ tài chính mới (Fintech); chuẩn hóa hoạt động mở tài khoản trực tuyến (e-contract); xác thực khách hàng trực tuyến (EKYC).

Với thị trường tiền tệ, các chính sách của Ngân hàng Nhà nước một mặt cần duy trì môi trường lãi suất thấp, mặt khác cũng cần củng cố uy tín, độ tin cậy của Ngân hàng Nhà nước trong việc bảo vệ ổn định giá cả và điều hành chính sách tiền tệ. Việc duy trì lãi suất thấp và tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp cho phép họ giảm chi phí sản xuất, qua đó sẽ giảm áp lực lên lạm phát khi nền kinh tế đang hoạt động dưới mức sản lượng tiềm năng. Môi trường lãi suất thấp có thể giúp các ngân hàng thương mại đang thiếu vốn có điều kiện thuận lợi tăng vốn đáp ứng các yêu cầu đủ vốn theo nguyên tắc Basel II. Khi các ngân hàng thương mại đều áp dụng chung chuẩn mực quản lý rủi ro, thì mặc dù thanh khoản dư thừa nhưng tín dụng không thể ra ồ ạt (do các khoản cấp tín dụng phải đáp ứng đủ các chuẩn mực mới có thể thực hiện), do đó áp lực lên lạm phát là thấp. Tuy nhiên, môi trường lãi suất thấp sẽ khuyến khích các hoạt động đầu cơ vào thị trường bất động sản, TTCK, nên có thể tạo ra các bong bóng tài sản, tiềm ẩn bất ổn trong tương lai. Do đó, cùng với chính sách duy trì lãi suất thấp, Chính phủ cũng cần có các giải pháp đồng bộ để thực hiện kiểm soát thị trường bất động sản, tránh để thị trường phát triển quá nóng.

Sắp tới, cùng với sự phát triển của năng lực sản xuất trong nước, sự chuyển dịch của chuỗi giá trị sản xuất vào Việt Nam, cán cân vãng lai vẫn tiếp tục xu hướng thặng dư, thậm chí thặng dư lớn. Do đó áp lực lên giá VND là rất lớn, nên đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải tiếp tục mua dự trữ ngoại hối để ổn định đồng tiền, trong khi Mỹ luôn đe dọa sẽ có biện pháp đáp trả đối với những nước bị xem là thao túng tiền tệ. Cân bằng được hai áp lực này là thách thức lớn đối với Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện thuận lợi để cho phép tỷ giá biến động linh hoạt hơn, chấp nhận một biên độ lên giá nhất định của đồng VND. Việc đồng VND lên giá giúp giảm nợ nước ngoài, giảm áp lực lạm phát, nhưng có tác động tiêu cực nhất định đối với hàng xuất khẩu và hàng trong nước cạnh tranh hàng nhập khẩu. Để trung hòa tác động tiêu cực này, thì việc giảm lãi suất cho vay là cần thiết. Do VND có xu hướng lên giá, nên vấn đề USD hóa tự được giải quyết và không cần thiết duy trì lãi suất VND cao hơn quá nhiều so với lãi suất USD.

Kiểm soát rủi ro trong hệ thống ngân hàng vẫn là yêu cầu then chốt đảm bảo phục hồi kinh tế bền vững. Các biện pháp áp dụng trong thông tư 01/2020/TT-NHNN cần được giám sát chặt chẽ tránh tình trạng khi các biện pháp này hết hạn áp dụng thì nợ xấu tăng vọt. Đẩy nhanh lộ trình áp dụng quy tắc Basel II trong toàn hệ thống, vì đây là công cụ then chốt nâng cao năng lực quản lý rủi ro và khả năng chống chịu thua lỗ.

Cần nâng cao hiệu quả của hệ thống cảnh báo sớm trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính, để giúp phát hiện rủi ro tiềm ẩn từ các ngân hàng và thị trường tài chính. Từ đó, xây dựng các phương án điều hành cụ thể về cách thức phản ứng với diễn biến mới. Cùng với sớm xử lý triệt để nợ xấu, tránh nợ xấu tồn đọng kéo dài, cần có cơ chế rõ ràng nhằm xử lý các ngân hàng yếu kém…

“Động lực nâng hạng TTCK chính là các doanh nghiệp đại chúng…”

Bà Tạ Thanh Bình, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCKNN

Bà Tạ Thanh Bình, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCKNN

Theo bộ tiêu chí FTSE Russell (cập nhật tháng 9/2020), TTCK Việt Nam đã thỏa mãn 7/9 tiêu chí nâng hạng. Tiêu chí “Chu kỳ thanh toán-DvP” bị đánh giá “Hạn chế” do nhà đầu tư phải ký quỹ đủ tiền mặt trước khi đặt lệnh. Tiêu chí “Thanh toán – Tỷ lệ hiếm khi giao dịch thất bại” không được đánh giá, do yêu cầu thanh toán (ký quỹ trước) hiện tại dẫn tới việc khả năng giao dịch thất bại gần như không tồn tại.

Về thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, với các quy định tại Luật Đầu tư, Nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán, không gian cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ được mở hơn nữa.

Ngành chứng khoán sẽ tập trung triển khai các giải pháp nâng hạng TTCK gắn với phát triển bền vững, minh bạch, trong đó một số mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm như: Tập trung nỗ lực đưa các quy định, chính sách mới của Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn vào thực tiễn, để hỗ trợ cho doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; tổng kết, xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2021 – 2030 để định hình mục tiêu, giải pháp về lộ trình phát triển TTCK – thị trường vốn về dài hạn, nhằm hiện thực mục tiêu nâng hạng TTCK.

Tuy vậy, việc nâng hạng TTCK không phải là nỗ lực của riêng ngành chứng khoán hay cơ quan quản lý TTCK. Động lực nâng hạng thị trường chính là các doanh nghiệp đại chúng. Chỉ khi doanh nghiệp minh bạch, tuân thủ kỷ luật công bố thông tin; làm quen và thực thi chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS), phát triển bền vững, sẽ là hạt nhân để phát triển nội lực TTCK, là cái gốc của nâng hạng thị trường. Cũng còn nhiều yếu tố khác cần cải thiện để phục vụ cho mục tiêu nâng hạng thị trường như: Mức độ tự do trên thị trường ngoại hối; giảm thiểu sự can thiệp hành chính của nhà nước vào hoạt động doanh nghiệp; cải thiện độ mở của thị trường đối với các nhà đầu tư nước ngoài; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp… Đây là những công việc cần sự nỗ lực và vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành…/.

Tìm Kiếm Giải Pháp Hỗ Trợ Phát Triển Thị Trường Khoa Học / 2023

Vào 8h ngày 25/09 tới đây, trường Đại học Kinh tế quốc dân hợp tác với Bộ Khoa học và Công nghệ và Tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp V-Startup tổ chức hội thảo: “Giải pháp chính sách hỗ trợ phát triển các tổ chức trung gian trên thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam” tại Phòng Hội thảo tầng G nhà A1, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.

Hội thảo nằm trong khuôn khổ đề tài khoa học – công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu đề xuất giải pháp chính sách hỗ trợ phát triển các tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam” và dự án “Hỗ trợ phát triển tổ chức trung gian của thị trường khoa học công nghệ trong trường đại học khối ngành kinh tế”.

Yếu tố khoa học & công nghệ (KH&CN) đã trở thành yếu tố cốt lõi đối với bất kì quốc gia nào trên thế giới nếu muốn phát triển nhanh, vững chắc. Trong thời gian qua, Bộ KH&CN đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương trình Chính phủ ban hành các văn bản quy định cơ chế khuyến khích, hỗ trợ hoạt động liên kết công – tư thực hiện các dự án đầu tư đổi mới công nghệ, xác lập quyền sở hữu công nghiệp, công nhận, đăng ký lưu hành sản phẩm mới, công nghệ mới cho tổ chức, cá nhân thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Thị trường KH&CN đã bước đầu phát huy vai trò cầu nối, gắn kết hoạt động KH&CN với sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh những thuận lợi, công tác phát triển thị trường KH&CN vẫn còn gặp những khó khăn. Đó là mối liên kết giữa nghiên cứu với thị trường, nhà khoa học với DN còn yếu. Vai trò của các tổ chức trung gian chưa thể hiện được chức năng kết nối cung cầu, tư vấn chuyển giao công nghệ còn mờ nhạt. Các tổ chức trung gian chưa đủ mạnh có thể thúc đẩy hoạt động sáng tạo, kết nối với các quỹ đầu tư mạo hiểm, các doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tăng trưởng nhanh, các viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức tài chính, nhà khoa học, v.v..

Hội thảo Giải pháp chính sách hỗ trợ phát triển các tổ chức trung gian trên thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam được Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp cùng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp V-Startup tổ chức vào ngày 25/09 sẽ tổng hợp các kiến nghị của các nhà khoa học, của các chuyên gia, của các doanh nghiệp, nhà quản lý để đề xuất giải pháp, chính sách thực sự hỗ trợ phát triển các tổ chức trung gian trên thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam.

Đại diện nhiệm vụ phát triển thị trường cho doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ, bà Nguyễn Thy Nga đã phát biểu: “Chúng tôi luôn tìm kiếm các nhà khoa học có sản phẩm, công nghệ hoặc dịch vụ sáng tạo cao với lĩnh vực nghiên cứu đa dạng để hỗ trợ kết nối chuyển giao công nghệ và phát triển thị trường. Các tiêu chí để đánh giá bao gồm: tính mới, tính sáng tạo và hiệu quả của giải pháp sáng tạo; tính khả thi, quy mô thị trường mục tiêu của giải pháp sáng tạo; tiềm năng đóng góp cho sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam; năng lực và tiềm năng của ứng viên trong việc thực hiện kế hoạch kinh doanh…”.

Hội thảo là diễn đàn để các nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp, nhà khoa học nhà nghiên cứu, các tổ chức trung gian hỗ trợ, các đại diện khối Ban, bộ, ngành học hỏi và trao đổi về các chính sách thúc đẩy sự phát triển của tổ chức trung gian khoa học công nghệ. Đây cũng là cơ hội để các nhà nghiên cứu, giảng viên, cao học viên có thể chia sẻ học thuật, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, cung cấp thêm bằng chứng khoa học và các giải pháp, kiến nghị tới các cơ quan quản lý nhà nước trong bối cảnh mới của nền kinh tế.

* Mời quý độc giả theo dõi các chương trình đã phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam trên TV Online!

Phát Triển Thị Trường Vốn: Năm Trụ Cột Cần Tập Trung / 2023

Thị trường trái phiếu Chính phủ đã có sự tham gia của đa dạng các nhà đầu tư

Ngân hàng – thị trường vốn: Song hành và bổ sung cho nhau

Cả lý thuyết kinh tế và các thực chứng ở các quốc gia đều cho thấy tăng trưởng kinh tế luôn song hành với sự phát triển của các thị trường tài chính. Mối tương quan đó cũng thể hiện rõ trong suốt hơn 2 thập kỷ qua ở Việt Nam khi tăng trưởng kinh tế cao luôn song hành với tỷ lệ tín dụng tăng mạnh (từ mức chỉ 17% GDP năm 1996 lên khoảng trên 130% GDP hiện nay). Thị trường tài chính ngày càng phát triển nhưng một điểm dễ nhận thấy là vẫn chủ yếu tập trung ở kênh tín dụng ngân hàng. Các thị trường và công cụ khác như trái phiếu, cổ phiếu… tuy tỷ trọng đã tăng nhanh trong những năm qua nhưng vẫn rất nhỏ bé so với các quốc gia phát triển hơn. 

Ông Alaweed Altabani – chuyên gia trưởng ngành tài chính của WB cho rằng, trong khi nguồn cung và cơ cấu tín dụng dài hạn của khu vực ngân hàng bị hạn chế (nguyên nhân chủ yếu do tính chất ngắn hạn của nguồn huy động khi trên 80% là tiền gửi từ một năm trở xuống), hay các nguồn vốn vay ưu đãi không còn khi Việt Nam đã “tốt nghiệp ODA” thì việc phát triển các thị trường vốn là giải pháp tốt để huy động vốn cho những dự án dài hạn và rủi ro hơn thông qua sử dụng các công cụ nợ và cổ phiếu. Áp lực và gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế – vốn dựa chủ yếu vào tín dụng – nhờ đó sẽ giảm bớt.

“Hiện Việt Nam đang thiếu thị trường huy động tài chính dài hạn”, ông Alaweed Altabani nói. Thị trường vốn ở Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây nhưng giá trị vốn hóa của thị trường cổ phiếu và trái phiếu vẫn rất thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN.

Nếu có chiến lược và các giải pháp triển khai tốt, khu vực ngân hàng và các thị trường vốn sẽ bổ sung cho nhau. Trong đó khu vực ngân hàng chuyên sâu hơn về các cơ chế cố định, mang tính chuẩn hóa, dựa vào thế chấp để huy động vốn cho các hoạt động đầu tư kinh doanh truyền thống và ngắn hạn hơn, còn thị trường vốn chuyên sâu theo cơ chế hợp đồng được thiết kế phù hợp theo hoàn cảnh và hầu hết không có đảm bảo. Khả năng chia sẻ lợi nhuận (thị trường cổ phiếu) và chuyển nhượng tài sản (thanh khoản trên thị trường thứ cấp) khiến cho các thị trường vốn trở nên hấp dẫn hơn với các NĐT chấp nhận rủi ro ở mức cao hơn.

Và “luật chơi” cần được quan tâm hơn nữa vì kinh nghiệm cho thấy minh bạch và cạnh tranh là điều kiện cần để đảm bảo thị trường vốn thực hiện hiệu quả vai trò cung cấp nguồn tài chính dài hạn. Trong đó, các cấp có thẩm quyền cần cân đối giữa bảo vệ NĐT và duy trì lòng tin của NĐT về định hướng phát triển thị trường, đồng thời cho phép linh hoạt hơn nữa trong quá trình đầu tư và huy động vốn”, ông Alaweed Altabani đề xuất.

Chính phủ nên là nhà phát hành trái phiếu lớn 

Trong báo cáo “Điểm lại” mới nhất vừa công bố, WB cũng dành một phần đáng kể để đánh giá tầm quan trọng của phát triển thị trường vốn ở Việt Nam và đề xuất các trụ cột cần cải cách. Trong đó, hoàn thiện khung khổ quy phạm pháp luật được nhấn mạnh mạnh nhất bởi một hệ thống pháp luật đầy đủ và ổn định cùng với hạ tầng thị trường hiệu quả là những nền tảng để các thành viên thị trường yên tâm tham gia.   

Hiện nay đang có những quy định như yêu cầu phải chuẩn bị vốn trước và xác nhận trước khi giao dịch…  gây tốn kém cho các thành viên thị trường và làm hạn chế thanh khoản, làm tăng chi phí, cản trở giao dịch và đầu tư. Nếu Việt Nam muốn được nâng cấp trở thành thị trường mới nổi trong các chỉ số về cổ phiếu và trái phiếu toàn cầu thì những quy định này cần phải được bãi bỏ.

Bên cạnh đó, cải thiện cơ chế thị trường, quản trị DN và đánh giá định mức tín nhiệm cũng cần được tập trung. Đồng thời là phát triển các sản phẩm sáng tạo để đáp ứng nhu cầu của thị trường. WB đã gợi ý các công cụ mới để huy động vốn cho khu vực kinh tế thực (như cho các dự án hạ tầng và nhà ở) có thể là trái phiếu dự án, quỹ đầu tư hạ tầng… Để thúc đẩy hình thành thêm các cơ hội đầu tư, luật pháp và quy định cần tạo điều kiện, các thủ tục phát hành cần thuận lợi hơn để khuyến khích DN phát hành sản phẩm mới và phù hợp, tạo đủ chiều sâu và bề rộng của thị trường.  

Mở rộng mạng lưới NĐT cũng là yếu tố quan trọng để phát triển các thị trường vốn, qua đó không chỉ giúp duy trì tăng trưởng thị trường, mà còn giúp tăng thanh khoản và giảm biến động. Các giải pháp có thể tiến hành như mở rộng cơ chế đầu tư cho Bảo hiểm xã hội – NĐT lớn nhất trên thị trường Trái phiếu Chính phủ hiện nay; tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư vào thị trường vốn của các DN bảo hiểm nhân thọ; tiếp tục xây dựng các quy định để hướng dẫn và thúc đẩy sự phát triển của các quỹ hưu trí tư nhân và quỹ tương hỗ; cải thiện chương trình phát hành theo mốc chuẩn và xác định quy mô mục tiêu để phát hành theo mốc chuẩn ở mức cao hơn để thu hút sự tham gia của NĐT nước ngoài…

Cuối cùng, cần tăng cường vai trò của Chính phủ trong phát triển các nguồn huy động tài chính dài hạn. Bên cạnh vai trò quản lý Nhà nước Chính phủ cũng là tổ chức phát hành trái phiếu lớn. Kinh nghiệm ở các thị trường mới nổi cho thấy, Chính phủ có thể gây ảnh hưởng đến đường cong lợi suất của trái phiếu bằng cách kéo dài trục kỳ hạn. Cách làm này sẽ khuyến khích các DN phát hành, thông qua hình thành giá tham chiếu dựa trên đường cong lợi suất. Chính phủ cũng có thể tác động đến khối lượng thanh khoản trên thị trường bằng cách cam kết về phát hành trong khả năng dự liệu sao cho các NĐT tiềm năng có thể lập kế hoạch đầu tư từ sớm. 

Và một trong những vấn đề cần cải thiện thêm là phát triển đường cong lợi suất thông qua nâng quy mô của trái phiếu mốc chuẩn và rút gọn số lượng công cụ. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sử dụng các công cụ tự bảo hiểm rủi ro trên thị trường (như tự bảo hiểm tỷ giá, lãi suất). Các công cụ tự bảo hiểm nếu được phát triển sẽ khuyến khích các NĐT nước ngoài tham gia ngày càng tăng. 

Các cấp có thẩm quyền cũng cần cân nhắc hình thành lãi suất tham chiếu ngắn hạn đáng tin cậy hơn để hoàn tất đường cong lợi suất từ phân khúc ngắn hạn đến phân khúc dài hạn. Điều này sẽ giúp cải thiện việc định giá cho các công cụ có lãi suất thả nổi và tạo ra mốc neo vững chắc cho các công cụ có kỳ hạn dài hơn. Việc có được mốc lãi suất ngắn hạn đáng tin cậy cũng là cách để nâng cao hiệu quả định giá các công cụ tự bảo hiểm qua đó giúp cho thanh khoản thị trường tốt hơn.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Trong Kỷ Nguyên Mới / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!