Đề Xuất 2/2023 # Tìm Giải Pháp Bảo Tồn Rừng Ngập Mặn # Top 8 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Tìm Giải Pháp Bảo Tồn Rừng Ngập Mặn # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tìm Giải Pháp Bảo Tồn Rừng Ngập Mặn mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Rừng ngập mặn Khánh Hòa đang đứng trước nguy cơ xóa sổ. Các nhà quản lý và khoa học đang tìm biện pháp bảo tồn.

Nguy cơ xóa sổ

Theo số liệu khảo sát về rừng ngập mặn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2017, rừng ngập mặn Khánh Hòa chỉ còn hơn 60ha. Trong khi đó số liệu trước năm 1975 là 2.500ha. Điều đó cho thấy, rừng ngập mặn Khánh Hòa đã bị tàn phá nghiêm trọng. 

Các nhà quản lý và khoa học cùng nhận định, thời kỳ mất rừng nhiều nhất là giai đoạn 1990 – 2000, khi con tôm “lên ngôi”, nhiều khu rừng ngập mặn bị tiêu diệt để làm đìa nuôi tôm. Toàn tỉnh bị mất rừng hàng ngàn héc-ta, đặc biệt là những khu vực có nguồn lợi to lớn như: đầm Nha Phu, Thủy Triều, rừng Tuần Lễ, khu vực Vĩnh Thái – Phước Đồng (TP. Nha Trang)… Rừng mất đồng nghĩa với sinh thái biến đổi, một thời gian sau con tôm bị dịch bệnh triền miên. Người nuôi tôm thua lỗ, không còn đủ sức duy trì con tôm, khi nhận thức được quay lại giữ rừng thì đã muộn. Diện tích rừng ngập mặn phục hồi không đáng kể so với trước. 

Không chỉ phá rừng ngập mặn nuôi tôm, các dự án phát triển kinh tế – xã hội cũng ảnh hưởng tới việc thu hẹp rừng ngập mặn. Điển hình như việc xây dựng đường Cổ Mã – Đầm Môn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến rừng bần Tuần Lễ (xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh) cả trăm năm tuổi. “Việc ngăn nước mặn vào các ô rừng bần sau khi làm đường đã tác động xấu tới rừng bần khiến nhiều cây bần bị chết do điều kiện sống thay đổi. Cây bần – một cây điển hình của rừng ngập mặn, không thể sống khi thiếu nước mặn”, Kỹ sư Trần Giỏi – Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường cho hay. 

Thời gian gần đây, một số tổ chức, cá nhân nhận thức được vấn đề về môi trường, vai trò của rừng ngập mặn đã gầy lại rừng. Song việc gây rừng cũng như “muối bỏ biển”. Năm 2013, Nhà máy Đường Cam Ranh phối hợp Viện Hải dương học Nha Trang trồng lại rừng sau nhà máy tiếp giáp với đầm Thủy Triều. Đơn vị đã cố gắng gầy lại rừng vừa tạo sinh cảnh vừa giúp thanh thải những chất không có lợi đến môi trường. Tuy nhiên, hiện nay, rác thải nhựa đã uy hiếp sức sống của cánh rừng này. Rác thải nhựa đang bủa vây, bấu víu, bám vào thân cây mấm, gây tác động không tốt đến sức sinh trưởng và phát triển của cây mấm. 

Rừng ngập mặn của Công ty Cổ phần Du lịch Long Phú.

Tìm giải pháp bảo tồn

Theo các nhà khoa học, rừng ngập mặn trên bán đảo Hòn Hèo rất đa dạng, phong phú với 54 loài (19 loài thực thụ và 35 loài tham gia thuộc 34 họ, 50 chi). Không chỉ đa dạng về thành phần loài mà rừng ngập mặn Hòn Hèo còn đa dạng về giá trị sử dụng như: làm gỗ, dược liệu, tinh dầu, tanin, thực phẩm, cây cảnh… Tổng diện tích rừng ngập mặn Hòn Hèo chỉ còn khoảng 30ha. Nhiều loài có nguy cơ cần khẩn cấp nhân giống bảo tồn. Các loài cây ưu tiên là: Bát nha, Bàng vuông, Phong ba, Hếp, Bằng phi, Tâm mộc tim, Đa tử biển, Vẹt dù…

Ông Lê Đình Quế – Kiểm lâm viên địa bàn Ninh Phú, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa cho biết, việc phục hồi rừng ngập mặn nói riêng hay rừng nói chung bằng cách giao rừng cho người nghèo, người khó khăn không còn phù hợp. Bởi, hộ nghèo không có điều kiện chăm sóc, bảo vệ rừng, dẫn đến rừng tiếp tục bị tàn phá. Cần xem xét giao rừng cho những hộ có điều kiện, để họ thuê mướn người nghèo làm việc, việc giữ rừng mới có hiệu quả. Một khó khăn hiện nay của lực lượng kiểm lâm là thiếu kinh phí và phương tiện giữ rừng. Việc khoán gọn định mức kinh phí không còn phù hợp để kiểm lâm có thể thường xuyên tuần tra, bảo vệ rừng, chưa kể nhiều nơi còn thiếu phương tiện để tuần tra rừng (cụ thể như tuần tra rừng ngập mặn phải có phương tiện thủy).  

Sự chung tay bảo vệ rừng ngập mặn rất cần sự trợ sức của các doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị kinh doanh du lịch sinh thái. Ông Nguyễn Văn Hưởng – Trưởng phòng Tổ chức, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển, Công ty Cổ phần Du lịch Long Phú cho biết, kể từ khi đơn vị chuyển sang hình thức cổ phần hóa đã định hướng phát triển du lịch sinh thái. 2 đảo Hoa Lan và đảo Khỉ do đơn vị quản lý phát triển mạnh loại hình này. Trong đó, đảo Hoa Lan có rừng ngập mặn, đơn vị tổ chức bảo vệ nghiêm ngặt và không ngừng phát triển mở rộng, hiện nay là 4,3ha, tương lai 10ha. “Việc huy động các doanh nghiệp tham gia bảo vệ phát triển rừng ngập mặn là hướng đi đúng. Hiện nay có nhiều đơn vị đã làm. Tỉnh cần có cơ chế phát huy, khuyến khích…”, ông Hưởng nói. 

Theo Tiến sĩ Lưu Hồng Trường – Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, Khánh Hòa cần khẳng định giá trị của rừng ngập mặn đối với phát triển kinh tế – xã hội – môi trường. Việc tỉnh xây dựng đề tài nghiên cứu khảo sát rừng ngập mặn Hòn Hèo thể hiện sự quan tâm và định hướng cho sự phát triển bảo tồn nguồn gen quý của rừng ngập mặn. Do đó, tỉnh cần có nghiên cứu tổng thể về rừng ngập mặn toàn tỉnh, từ đó có kế hoạch bảo vệ toàn diện. Bảo vệ, bảo tồn đi đôi với tuyên truyền, quản lý, nâng cao nhận thức cộng đồng, đồng thời có cơ chế, chế tài xử lý nghiêm hành vi xâm hại. Ngoài ra, tỉnh cần nghiên cứu xây dựng vườn bảo tồn cây giống rừng ngập mặn, đặc biệt là các loài cây quý hiếm, có nguy cơ bị xâm hại để làm cơ sở phục hồi rừng ngập mặn căn cơ, bền vững. 

V.LẠC

Bảo Vệ Rừng Ngập Mặn

(WIP) – Rừng ngập mặn không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp nguồn dinh dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh vật cửa sông ven biển, đồng thời là nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển.

Tầm quan trọng của rừng ngập mặn đối với môi trường sinh thái đã được các nhà khoa học khẳng định từ lâu. Đặc biệt trong tương lai, rừng ngập mặn còn là cứu cánh của con người trong việc ứng phó với sự biến đổi khí hậu, khi mực nước biển dâng cao. So với các tỉnh miền Tây Nam bộ, diện tích rừng ngập mặn của Quảng Ngãi không nhiều nhưng nó có một vai trò quan trọng đối việc bảo vệ môi trường ven biển. Mặc dù vậy, nhưng lâu nay rừng ngập mặn lại ít được quan tâm khôi phục, bảo vệ và phát triển. Ở Quảng Ngãi diện tích rừng ngập mặn ngày càng thu hẹp lại do sự tàn phá của con người.

Quảng Ngãi có chiều dài bờ biển 130 km. Do đặc điểm tự nhiên nên tỷ lệ diện tích rừng ngập mặn rất ít, phần lớn rừng hiện có ở các huyện ven biển là rừng phòng hộ ven biển (trên 18.000 ha). Tuy nhiên, cả hai loại rừng này đều không được quan tâm đúng mức của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng. Bên cạnh sự xâm hại nghiêm trọng từ việc phát triển nuôi trồng thủy sản tự phát của người dân cũng như do sự tác động tiêu cực của việc biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao dẫn đến tình trạng sạt lở bờ biển, cửa biển và các khu dân cư ven biển ngày càng nghiêm trọng.

Khu vực bờ tràn, giáp ranh giữa xã Tịnh Hòa và Tịnh Khê (huyện Sơn Tịnh), cách đây khoảng 12 năm, quần thể động thực vật nơi đây vô cùng phong phú với loài chiếm ưu thế là cây bần. Khi nghề nuôi tôm nước lợ bắt đầu xuất hiện cũng là lúc quần thể sinh vật này bị đe dọa, tiêu diệt. Không biết bao nhiêu cây bần đã bị chặt phá để nhường chỗ cho các ao nuôi tôm,… kéo theo đó là sự biến mất của rất nhiều loài động, thực vật khác. Mất đi cây bần, có nghĩa là mất đi thức ăn tự nhiên cho tôm, mất đi những vi sinh vật trong tự nhiên giúp tôm kháng bệnh. Cây bần bị mất đi, nghề nuôi tôm nước lợ cũng bị khốn đốn. Những năm gần đây, các hồ tôm này cũng lại bị bỏ hoang và môi trường sinh thái nơi đây bị hủy hoại. Bởi lẽ người ta đã không biết rằng, chính môi trường tự nhiên trước kia mới là điều kiện thuận lợi để con tôm phát triển.

Tại Quảng Ngãi, rừng ngập mặm bị tàn phá, nhường chỗ cho những đìa tôm, ao cá không phải là ít. Hiện chưa có số liệu thống kê về diện tích rừng ngập mặn đã bị tàn phá bởi chính bàn tay con người và của quá trình công nghiệp hóa.

Theo quy luật tự nhiên, thực vật ngập mặn phát triển ở nơi giao nhau giữa sông và biển, nơi thường xuyên có sự biến đổi mực nước, độ mặn cũng như môi trường theo thay đổi của thủy triều. Do đó, động thực vật ở đây đa dạng, phong phú, vừa sống được dưới nước, vừa sống được trên cạn, lại thích nghi với môi trường nước lợ. Nhiều loài cá đều trải qua một phần thời gian sinh trưởng trong vòng đời của mình ở rừng ngập mặn. Những loài giáp xác như tôm, cua sinh ra ở biển khơi, ấu trùng của chúng được dòng chảy trong đại dương đưa chúng vào rừng ngập mặn, nơi đây chúng sinh trưởng đến lúc sinh sản chúng lại di cư trở lại ở vùng nước sâu để đẻ. Nhiều loài chim đến rừng ngập mặn theo mùa để kiếm ăn hoặc trú ẩn và có thể hình thành các đàn lớn. Mất đi rừng ngập mặn cũng đồng nghĩa với việc mất đi nguồn sống của bà con ngư dân đánh bắt hải sản ven bờ.

Bên cạnh các giá trị về đa dạng sinh học, rừng ngập mặn còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, hạn chế bão lũ, triều cường. Rừng ngập mặn có khả năng hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm. Hệ rễ cây chằng chịt trên mặt đất làm giảm cường độ của sóng nên hạn chế dòng chảy vào nội địa khi triều cường. Khi mực nước biển dâng cao, chúng ta phải đối diện với nguy cơ mất đất ở, đất sản xuất, đồng thời nước ngầm cũng sẽ bị nhiễm mặn. Trong khi đó, rừng ngập mặn lại có khả năng giữ và cố định vật chất lơ lửng, phù sa, từ đó sẽ tạo nên một vùng đất mới. Nhờ có hệ rễ dày đặc trên mặt đất, cây rừng ngập mặn còn góp phần vào việc giảm tốc độ dòng chảy của thuỷ triều, giảm sự xói lở do sóng biển gây ra. Hạt nảy mầm khi còn ở trên cây, mầm rơi xuống nước và trôi đến chỗ cạn, nếu gặp điều kiện thuận lợi cho hệ rễ phát triển thì nơi đó bắt đầu cho sự hình thành một hòn đảo mới. Nhờ cây con, quả, hạt có khả năng sống dài ngày trong nước cho nên cây ngập mặn có thể phát tán rộng vào đất liền. Nước biển dâng đến đâu thì cây mọc đến đó.

Có thể thấy những lợi ích, hiệu quả mà rừng ngập mặn mang lại. Rừng ngập mặn có thể được xem như “vị cứu tinh” của con người khi mực nước biển dâng cao. Song những diễn biến phức tạp, khó lường của thiên tai, nhiệt độ trái đất đang ấm dần lên, mực nước biển dâng lên ngày càng cao,…vấn đề đặt ra là hiện nay là làm thế nào để bảo vệ, khôi phục và trồng lại những khu rừng ngập mặn đã bị tàn phá, tiếp tục mở rộng diện tích trồng rừng mới vẫn đang là bài toán khó. Vì lợi ích kinh tế, vì kế sinh nhai, rừng vẫn có thể bị chặt phá nếu không được trông coi, giám sát chặt chẽ.

Theo ông Nguyễn Quốc Tân- Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, Tuy vai trò của rừng ngập mặn đã được khẳng định từ lâu nhưng thực tế, chúng ta vẫn chưa quan tâm nhiều đến rừng ngập mặn. Trước kia có bao nhiêu, mất bao nhiêu thì cũng chưa có thống kê cụ thể. Còn hay mất gì thì cũng không ai quan tâm. Quảng Ngãi cũng là một trong những địa phương sẽ chịu hậu quản nặng nề do sự biến đối khí hậu. Và rừng ngập mặn đóng vai trò lớn giúp chúng ta chống chọi với vấn nạn này. Từ trước đến nay, chúng chỉ đề cập đến rừng ngập mặn về tính ta dạng sinh học chứ ít nói đến vấn đề này. Đặc tính của rừng ngập mặn là hướng ra biển, do đó, chúng sẽ là một bức tường thành vững chắc bảo vệ con người.

Đề án “Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ven biển, giai đoạn 2008-2015” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với mục tiêu thiết lập hệ thống rừng ngập mặn để phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường một cách ổn định. Trong giai đoạn đầu, sẽ trồng và nâng cao chất lượng rừng với diện tích trên 32.800 ha, trồng thêm hơn 97.500 ha, nâng tổng diện tích rừng ngập mặn cả nước lên trên 307.200 ha vào năm 2015.

Tại Hội nghị quốc gia “Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn Việt Nam nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu” tổ chức tại TP Hồ Chí Mịnh vào tháng 11/2008, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT phát biểu: “Với bờ biển dài và những đồng bằng dài có nhiều sông ngòi, Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu”. Hơn 1/3 dân số và khoảng 16% diện tích đất sẽ bị ảnh hưởng nếu mực nước biển dâng cao. Hàng trăm loài động thực vật sẽ bị đe doạ tuyệt chủng bởi sự suy giảm các dải san hô ngầm hay sự thu hẹp các khu rừng ngập mặn.

Việc khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ở Quảng Ngãi là vấn đề hết sức cấp thiết và bảo vệ môi trường ven biển bền vững. Tuy nhiên, việc khôi phục và trồng lại những khu rừng ngập mặn là vô cùng khó khăn, tốn kém. Nhưng với quyết tâm cao, những khó khăn trở ngại từ nhận thức của người dân đến công tác chỉ đạo, triển khai, tuyên truyền, vận động trồng và bảo vệ rừng sẽ được tháo gỡ và dự án sẽ phát huy tác dụng nhiều mặt, đặc biệt là phòng ngừa thảm họa thiên tai.

Trích nguồn: www.agroviet.gov.vn

Giải Pháp Phục Hồi Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn Nam Trung Bộ

Nam Trung Bộ là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, có tiềm năng phát triển các ngành nghề du lịch, khai thác và nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hàng hải và ngành công nghiệp chế xuất.

Tuy vậy, các hiện tượng thiên tai, bão, lũ thường gây thiệt hại nặng nề cho khu vực này. Đặc biệt, do điều kiện địa hình dốc, lũ lụt diễn ra nhanh chóng và thất thường.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tần suất của các hiện tượng thời tiết cực đoan như thay đổi lượng mưa, nhiệt độ… diễn ra ngày càng phức tạp, nhất là vùng duyên hải ven biển, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của rừng ngập mặn nơi đây.

Đánh giá hiện trạng

Theo kết quả điều tra, khảo sát thực địa của nhóm các nhà khoa học Đỗ Quý Mạnh, Nguyễn Quốc Huy, Lê Văn Tuất thuộc Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình, diện tích rừng ngập mặn tại khu vực Nam Trung Bộ trên 360ha (đất ngập mặn trên 465ha), phân bố tập trung ở vùng đầm, vùng cửa sông bao gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.

Thành phần loài thực vật đơn giản, chủ yếu là một số loài mắm trắng, mắm biển, đước đôi, bần chua và bần trắng… nhưng thay đổi mạnh theo thời gian và không gian và do phương thức sử dụng… nên biến động lớn về diện tích và chất lượng. Vì vậy, việc đánh giá hiện trạng rừng ngập mặn khu vực Nam Trung Bộ là cần thiết, qua đó đề xuất các giải pháp tác động tích cực vào rừng ngập mặn, lựa chọn loài cây trồng, xây dựng bản đồ lập địa ngập mặn, trồng rừng ngập mặn trong điều kiện địa hình, khí hậu khó khăn và rất khó khăn hiện nay.

Khu vực ven biển Nam Trung Bộ có tổng chiều dài trên 1.200km, là nơi thường xuyên phải gánh chịu nhiều thiên tai, gió bão, lũ lụt, sóng lớn, triều cường; đặc biệt là hiện tượng nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu.

Khu vực có đặc trưng khí hậu gió mùa mang tính chất cận xích đạo; chế độ thủy triều thuộc dạng chế độ nhật triều không đều. Độ cao thủy triều trong kỳ nước cường trung bình 1,2-2m và tăng dần về phía Nam.

Với đặc trưng địa hình dốc lớn, bị chia cắt nhiều, hàm lượng phù sa ít, độ mặn cao làm cho diện tích rừng ngập mặn khu vực Nam Trung Bộ kém phát triển hơn các khu vực khác. Nhất là biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát sinh, sinh trưởng và phát triển của rừng ngập mặn.

Hiện tượng nước biển dâng kèm theo đó là thời gian ngập bãi tăng lên làm cho cây ngập mặn ngày một khó thích nghi hơn với điều kiện bãi bồi. Cùng với nước biển dâng là các hiện tượng gió bão, triều cường cũng tăng lên, mạnh mẽ hơn, công phá bờ biển nhiều hơn làm mất đi đáng kể bãi sinh trưởng của cây ngập mặn.

Theo Kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2016 cho khu vực ven biển Nam Trung Bộ, cuối thế kỷ 21 nhiệt độ ở khu vực này có thể tăng 1,6 độ C, 2-3 độ C, 2,5-3,7 độ C tương ứng theo kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao.

Lượng mưa hàng năm tăng phổ biến khoảng trên 6%, 2-7%, 2-10%; mực nước biển dâng tương ứng trong khoảng 49-64cm, 57-73cm và 78-95cm. Do đó, việc lựa chọn loài cây phù hợp với sự thay đổi của điều kiện tự nhiên như nhiệt độ, lượng mưa, sự thay đổi mực nước biển… là vấn đề cần được nghiên cứu và có giải pháp phù hợp đối với khu vực Nam Trung Bộ.

Đề xuất giải pháp

Diện tích đất quy hoạch cho trồng rừng ngập mặn khu vực Nam Trung Bộ hiện tại là hơn 824ha. Cơ cấu đất ngập mặn của khu vực rất đơn giản, diện tích đất trống còn ít, lại tập trung ở các khu vực ngập triều sâu, sóng lớn, dải đất hẹp… thuộc dạng lập địa rất khó khăn và khó khăn. Diện tích đất trống tập trung chủ yếu ở Bình Định trên 448ha, Quảng Nam trên 12ha và Ninh Thuận 5ha.

Thành phần loài cây ngập mặn trong khu vực ven biển Nam Trung Bộ bước đầu đã xác định được 21 loài, thuộc 12 chi và 10 họ thực vật. Số lượng các loài cây ngập mặn biến động lớn.

Các tỉnh Bình Định, Bình Thuận, Khánh Hòa, Quảng Nam có số lượng trên 15 loài thực vật ngập mặn. Trong khi đó thành phố Đà Nẵng, tỉnh Phú Yên chỉ bắt gặp được 4 đến 5 loài thực vật ngập mặn.

Điều này có thể nhận thấy đa dạng loài cây ngập mặn ở những vùng này rất nghèo nàn. Chỉ có những loài như đước đôi, mắm biển, cóc trắng,… đều có hầu hết trong khu vực. Điều này cho thấy biên độ sinh thái của ba loài này khá rộng, sinh trưởng trên nhiều dạng lập địa khác nhau.

Các loài mắm biển, cóc trắng và đước đôi trong khu vực thuộc loại sinh trưởng trung bình và kém, nguyên nhân do đặc điểm đất về lý hóa tính trong khu vực thuộc loại đất nghèo dinh dưỡng, lượng phù sa bồi tụ hàng năm không được giữ lại, đất có hàm lượng dinh dưỡng các chất như đạm, lân, kali thuộc loại nghèo. Vì vậy cần có giải pháp để cải tạo đất, giữ lượng phù sa bồi tụ hằng năm, chống rửa trôi và xói mòn bề mặt thể nền.

Mặt khác, một số diện tích rừng ngập mặn ở tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đã và đang bị một số loài động vật gây hại, làm suy giảm và gây chết rừng ngập mặn hàng chục ha, như khu vực đầm Thị Nại (Bình Định).

Qua khảo sát đánh giá, các nhà khoa học Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình bước đầu xác định được loài sinh vật gây hại rừng bần trắng trên ba năm tuổi là một loài giáp xác chân đều, thuộc lớp mai mềm có tên khoa học là Sphaeroma terebrans Bate, 1866, thuộc họ Sphaeromatideae, bộ Chân đều Isopoda. Đây là một vấn đề mới cần được quan tâm nghiên cứu, để lựa chọn ra giải pháp hữu hiệu trong phòng trừ sinh vật gây hại rừng ngập mặn trong khu vực này.

Trên cơ sở lựa chọn bảy tiêu chí phân chia lập địa ngập mặn cho khu vực, bao gồm loại đất ngập mặn, độ mặn nước biển, thời gian phơi bãi, độ thành thục của đất, tỷ lệ phần trăm hạt cát, cao trình đất ngập mặn, hiện trạng rừng và đất ngập mặn.

Các nhà khoa học đã xác định được diện tích của từng nhóm dạng lập địa ngập mặn khu vực ven biển Nam Trung Bộ có ba nhóm. Đó là khu vực có điều kiện rất thuận lợi, khu vực có điều kiện thuận lợi và khu vực có điều kiện khó khăn.

Nhóm lập địa I (rất thuận lợi) là dạng bãi triều đang được bồi tụ nên trồng mắm biển, đước đôi, bần trắng. Nhóm lập địa II (thuận lợi) dạng bãi triều xói mặt trồng mắm biển, mắm trắng, đước đôi; cần phải áp dụng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh như chọn loài, kỹ thuật trồng, chăm sóc kết hợp với các giải pháp về thủy lợi như xây dựng tường mềm giảm sóng, tạo bãi phù hợp, sau đó tiến hành trồng và chăm sóc rừng ngập mặn thì mới có khả năng thành công.

Bí Thư Tỉnh Ủy Nguyễn Văn Đọc::có Giải Pháp Bảo Vệ, Khôi Phục Hệ Sinh Thái Rừng Ngập Mặn Vùng Cửa Sông Tiên Yên

Tuy nhiên, trong nhiều năm trước do quá trình khai thác chặt phá rừng bừa bãi, khai thác các nguồn lợi hải sản dưới tán rừng không được kiểm soát dẫn đến đất ngập mặn, rừng ngập mặn bị suy thoái, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái, sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương.

Để giữ gìn và khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn quan trọng này, trong những năm gần đây, huyện Tiên Yên đã thực hiện nhiều giải pháp và bước đầu khôi phục lại được một số diện tích rừng đã bị chết và thay đổi tư duy khai thác, nuôi trồng thủy sản của người dân địa phương theo hướng dựa vào rừng, phát triển bền vững.

Khảo sát thực tế hệ sinh thái rừng ngập mặn khu vực này, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy ghi nhận các giải pháp thực hiện của huyện Tiên Yên trong bảo vệ và khôi phục diện tích rừng ngập mặn khu vực Đồng Rui, Hải Lạng.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: Ở các khu vực còn rừng ngập mặn thì những tác động của thiên tai do bão lũ, xói mòn, xâm nhập mặn được giảm thiểu đáng kể và đây là nơi nuôi dưỡng nguồn lợi thủy hải sản duy trì sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Trước đây hơn 1.000 ha rừng ngập mặn của Hải Lạng, Đồng Rui là vùng sinh thái ngập nước rất có giá trị của tỉnh. Do công tác quy hoạch, bảo vệ không tốt nên rừng bị suy giảm nhanh. Trước sự biến đổi về khí hậu, sự suy giảm về tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên rừng buộc chúng ta phải xem xét, đánh giá lại và có giải pháp bảo vệ tốt nhất vốn tài sản thiên nhiên đã ban tặng. Vì vậy huyện Tiên Yên chủ động phối hợp với các sở, ngành và vận động nhân dân tiếp tục bảo vệ và khôi phục diện tích rừng ngập mặn đúng quy trình, đảm bảo chất lượng sống.

Cùng với nhân rộng, phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy gợi ý nghiên cứu gắn việc phát triển du lịch sinh thái bền vững ở khu vực này, tăng cường nhận thức cho du khách cho nhân dân về tầm quan trọng của việc bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn, bảo vệ môi trường, góp phần phát triển bền vững đa dạng sinh học.

Cùng ngày, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cũng đi kiểm tra một số công trình dân sinh và các hoạt động chuẩn bị cho Tuần văn hóa, thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc trên địa bàn huyện Tiên Yên.

Qua kiểm tra thực tế, đồng chí yêu cầu huyện Tiên Yên đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình đang xây dựng trên địa bàn, sớm ổn định đời sống cho dân cư; đảm bảo tốt các điều kiện về an ninh trật tự, PCCC, an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm, công tác trang trí khánh tiết, lễ tân hậu cần phục vụ cho Tuần văn hóa, thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc sẽ diễn ra vào đầu tháng 8 tới đây.

Lan Hương- Hùng Sơn

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tìm Giải Pháp Bảo Tồn Rừng Ngập Mặn trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!