Đề Xuất 11/2022 # Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Có Hiệu Quả Ở Tây Nguyên / 2023 # Top 15 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Có Hiệu Quả Ở Tây Nguyên / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Có Hiệu Quả Ở Tây Nguyên / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kết quả thống kê đất đai năm 2011 do Tổng cục quản lý đất đai thực hiện, nếu căn cứ vào mục đích sử dụng đất, 5,4 triệu ha đất Tây Nguyên được sử dụng như sau:

Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 36,29%; đất lâm nghiệp chiếm 51,8%; đất phi nông nghiệp chiếm 6,48% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó, 15% diện tích là đất ở, 83% là đất chuyên dùng. Đất chưa sử dụng chiếm 5,23% tổng diện tích tự nhiên. Hầu hết diện tích (92,7%) là đất đồi núi. So sánh với các số liệu điều tra đất đai năm 2000, kiểm kê đất đai năm 2005 và 2010 thì diện tích, cơ cấu sử dụng đất đã biến động rất lớn và liên tục theo hướng tăng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất ở và đất chuyên dùng, giảm diện tích đất lâm nghiệp và đất chưa sử dụng.

Tính từ năm 2000 đến năm 2011, diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã tăng 60,92%; trong đó, đất trồng cây hằng năm tăng 67%, đất trồng cây lâu năm tăng 57,23%. Diện tích đất ở tăng 59,85%, trong đó đất ở đô thị tăng 92%, đất ở nông thôn tăng 51,5%. Diện tích đất chuyên dùng tăng 47,94%. Phần diện tích tăng thêm của các loại đất nói trên được bổ sung từ việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp và khai thác quỹ đất chưa sử dụng. Cùng với đó, diện tích đất lâm nghiệp trong thời gian tương ứng đã giảm 5,44%; trong đó đất rừng sản xuất giảm 2,13%, đất rừng phòng hộ giảm 7,08%, đất rừng đặc dụng tăng 18,83% do tăng số lượng và mở rộng diện tích các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Diện tích đất chưa sử dụng cũng giảm 27,23%.

Căn cứ theo đối tượng sử dụng đất thì hộ gia đình, cá nhân được giao sử dụng 39,45%; các tổ chức trong nước sử dụng 60,22% tổng diện tích đất tự nhiên; trong đó, UBND cấp xã sử dụng 0,26%, tổ chức kinh tế sử dụng 29,64%; cơ quan, đơn vị của nhà nước sử dụng 29,33%, các tổ chức khác sử dụng 0,99%. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng 0,11%, cộng đồng dân cư sử dụng 0,22%, hai đối tượng này chủ yếu sử dụng đất lâm nghiệp.

Phần lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp được giao cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng (84,63% diện tích đất sản xuất nông nghiệp; 92,41% diện tích đất trồng cây hằng năm và 78,75% diện tích đất trồng cây lâu năm). Các tổ chức kinh tế sử dụng 13,96% diện tích đất sản xuất nông nghiệp, 6,45% đất trồng cây hằng năm và 19,36% đất trồng cây lâu năm.

Trong khi đó thì việc sử dụng đất lâm nghiệp lại diễn biến theo chiều ngược lại, phần lớn diện tích đất lâm nghiệp được giao cho các tổ chức kinh tế (42,09%) và cơ quan, đơn vị nhà nước (52,8%) sử dụng. Trong đó, tổ chức kinh tế sử dụng 67,58% diện tích đất rừng sản xuất, 17,53% diện tích đất rừng phòng hộ và 1,29% diện tích đất rừng đặc dụng; cơ quan, tổ chức nhà nước sử dụng 24,4% diện tích đất rừng sản xuất, 79,78% diện tích đất rừng phòng hộ và hầu hết diện tích đất rừng đặc dụng (98,71%). Các hộ gia đình và cá nhân chỉ sử dụng 3% diện tích đất lâm nghiệp, hầu hết (99,98%) là đất rừng sản xuất, trong đó 70% là đất rừng tự nhiên.

Kết quả phân tích là vậy song trên thực tế việc sử dụng đất trong một số trường hợp lại không diễn ra như các con số và mong muốn của các nhà quản lý. Gia tăng dân số cộng với sự lên ngôi của một số loại cây, nhất là một số cây công nghiệp lâu năm đã làm cho quan hệ quản lý, sử dụng đất đai bị biến dạng, không theo quy định của pháp luật và các quy hoạch đã được phê duyệt.

Tại Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg về việc định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Nguyên ngày 30/10/2001 và Quyết định số 25/2008/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội đối với các tỉnh vùng Tây Nguyên đến năm 2010 đều xác định mục tiêu nâng độ che phủ rừng lên 65% với diện tích rừng tương ứng là 3,54 triệu ha nhưng trên thực tế diện tích rừng bị suy giảm nhanh cả về diện tích và chất lượng.

Theo số liệu thống kê, năm 2001 Tây Nguyên có 3,02 triệu ha rừng thì đến năm 2005 diện tích này còn 2,97 triệu ha, độ che phủ rừng còn 54,54% và đến năm 2010 diện tích rừng giảm xuống còn 2,87 triệu ha, độ che phủ 51,9% (thấp hơn 13,1% so với mục tiêu). Năm 2011, theo thống kê diện tích rừng Tây Nguyên còn 2,81 triệu ha, độ che phủ 51,34% nhưng theo kết quả giải đoán ảnh viễn thám thì diện tích rừng Tây Nguyên chỉ còn 2,66 triệu ha, độ che phủ 48,6% (trong đó rừng tự nhiên và rừng trồng có trữ lượng chỉ còn 2,03 triệu ha, độ che phủ 37,2%). Như vậy, so với mục tiêu, diện tích rừng năm 2011 theo thống kê thấp hơn so với mục tiêu 730 ngàn ha, độ che phủ thấp hơn 13,66%; theo kết quả giải đoán ảnh viễn thám thì diện tích rừng thấp hơn mục tiêu 880 ngàn ha, độ che phủ thấp hơn 16,4%.

Đối với diện tích đất trồng một số cây công nghiệp tăng rất nhanh so với mục tiêu. Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg xác định mục tiêu đến năm 2005 Tây Nguyên có 31 ngàn ha và năm 2010 có 60 ngàn ha điều nhưng đến năm 2005 diện tích điều của Tây Nguyên đã đạt 102,62 ngàn ha và đến năm 2010, mặc dù phải tranh chấp với cây cao su và các cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, diện tích điều vẫn còn 91,14 ngàn ha. Tại Quyết định số 25/2008/QĐ-TTg xác định mục tiêu đến năm 2010 “giảm diện tích cà phê ở những nơi thiếu nước, sản xuất kém hiệu quả, để ổn định diện tích khoảng từ 33 – 35 vạn ha” nhưng đến năm 2010 diện tích cà phê của vùng đã đạt 49,86 vạn ha và đến năm 2011 tăng lên 52,76 vạn ha. Cũng tại Quyết định số 936/QĐ-TTg ngày 18/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Nguyên đến năm 2020 xác định mục tiêu “ổn định diện tích cây cà phê” nhưng 9 tháng đầu năm 2012, các tỉnh Tây Nguyên vẫn tiếp tục trồng mới 4.321 ha cà phê.

Phần lớn diện tích tăng thêm của các cây trồng nói trên được chuyển đổi mục đích một cách tự phát. Người dân phá rừng trái phép để lấy đất hoặc tự chuyển đổi diện tích từ loại đất (theo mục đích sử dụng) khi loại cây trồng này có giá trị kinh tế cao hơn cây trồng khác. Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do sự yếu kém trong quản lý đất đai, sự bất cập của các quy hoạch sử dụng đất khi không căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất thực tế tại địa phương và các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; một phần do việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế – xã hội còn nặng về sử dụng biện pháp hành chính, chưa có giải pháp kinh tế phù hợp cũng như nguồn lực bảo đảm cho việc thực hiện các giải pháp đó.

Xét theo thời gian, nếu như trước ngày giải phóng miền Nam, hầu hết đất đai ở Tây Nguyên do các cộng đồng dân cư và các hộ gia đình (phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên) quản lý và sử dụng nhưng từ sau ngày giải phóng miền Nam, cùng với việc chuyển đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước đã thực hiện việc điều động dân cư, lao động để xây dựng hàng loạt nông, lâm trường, các khu kinh tế mới; quan hệ đất đai ở Tây Nguyên đã có sự thay đổi căn bản. 21% diện tích đất trồng cây công nghiệp lâu năm và hầu hết diện tích đất lâm nghiệp (95%) do các tổ chức trong nước sử dụng. Các hộ gia đình chỉ sử dụng 39% tổng diện tích tự nhiên. Trong số diện tích do các hộ gia đình sử dụng, các chủ trang trại và hộ gia đình người Kinh và dân tộc thiểu số phía Bắc do có vốn, có kinh nghiệm sản xuất, cũng thông qua việc chuyển nhượng đất đai của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ để giành quyền sử dụng những diện tích lớn và thuận lợi cho sản xuất. Do đó, đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ vốn sống nhờ rừng thông qua việc săn bắn, hái lượm và canh tác theo lối luân canh trên rất nhiều mảnh rẫy ở trong rừng bị thu hẹp môi trường sản xuất truyền thống, không theo kịp tiến bộ kỹ thuật mà người Kinh và các dân tộc thiểu số nơi khác đến ứng dụng, sản xuất và đời sống tuy được nâng lên nhưng họ vẫn cảm thấy bị thua thiệt, khó khăn.

Trong những năm gần đây, chính quyền các cấp đã giành nhiều nguồn lực để hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất, việc làm cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nhưng đến nay vẫn còn hàng ngàn hộ thiếu đất sản xuất và con số này còn tiếp tục gia tăng do áp lực tăng dân số. Nếu không có những giải pháp cơ bản, lâu dài để giải quyết tình trạng thiếu đất dẫn tới thiếu việc làm – thu nhập thì sẽ rất khó khăn cho việc duy trì sự ổn định của Tây Nguyên. Bên cạnh đó, trong những năm qua việc triển khai các dự án kinh tế – xã hội trên địa bàn Tây Nguyên đã chiếm dụng nhiều diện tích đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến sản xuất của người dân. Riêng việc triển khai các dự án thuỷ điện, với 163 dự án đã và đang nghiên cứu, đầu tư xây dựng, đã có 25.269 hộ dân bị ảnh hưởng (trong đó 5.617 hộ dân phải tái định cư); chiếm dụng 65.239,2 ha đất các loại (tương đương 1,2% tổng diện tích đất tự nhiên toàn khu vực), trong đó có 452 ha đất ở, 742,1 ha đất trồng lúa, 21.819,7 ha đất trồng màu và các cây lâu năm.

Song, khi thu hồi đất, một số địa phương và chủ đầu tư không căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất của dân cư địa phương để bố trí mà thường căn cứ vào định mức hỗ trợ đất sản xuất cho hộ dân tộc thiểu số nghèo theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng chính phủ (Mức giao đất sản xuất tối thiểu một hộ là 0,5 ha đất nương, rẫy hoặc 0,25 ha đất ruộng lúa nước một vụ hoặc 0,15 ha đất ruộng lúa nước hai vụ) để cấp đất tái định canh cho các hộ bị mất đất phải di dời, phần còn lại bồi thường bằng tiền. Do đó, chỉ sau một thời gian, người dân lại thiếu đất sản xuất và khi tiêu hết tiền bồi thường thì cuộc sống lại gặp rất nhiều khó khăn. Tại một số dự án nông, lâm nghiệp, chủ đầu tư không lưu ý đến phong tục tập quán của đồng bào địa phương, cho san ủi cả những diện tích nghĩa địa, rừng thiêng, rừng giàng, gây bức xúc cho cộng đồng tại địa phương.

Từ thực tế trên, qua trao đổi, ông Trần Đức Thanh, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế – xã hội Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đã đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần quản lý, sử dụng có hiệu quả hơn quỹ đất Tây Nguyên trong thời gian tới như sau:

Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần gắn liền với việc xây dựng các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và nhu cầu sử dụng đất tại địa phương. Quy hoạch sử dụng đất trước hết phải bảo đảm nhu cầu đất ở, đất sản xuất của nhân dân địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các thành phần kinh tế trong từng thời kỳ. Quy hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp cần căn cứ điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội để bố trí quỹ đất cho các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng; đồng thời chú trọng bảo vệ và phát triển rừng, vừa bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế, vừa bảo đảm mục tiêu bảo vệ môi trường, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử của đồng bào các dân tộc tại chỗ, góp phần khắc phục tình trạng phá rừng bừa bãi, phát triển nông lâm nghiệp không có hoặc không theo quy hoạch. Quy hoạch sử dụng đất cho xây dựng hạ tầng và phát triển các ngành, các dự án kinh tế phải căn cứ vào dự báo về nhu cầu và khả năng phát triển của ngành, địa phương, tránh tình trạng quy hoạch treo, thu hồi đất của dân rồi bỏ hoang không sử dụng.

Bên cạnh đó, cần xây dựng quy hoạch, kế hoạch giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào gốc Tây Nguyên. Để làm tốt điều này, trước hết cần xây dựng các chỉ tiêu thống kê để tổ chức thu thập, tổng hợp tình hình sử dụng đất trong đồng bào dân tộc thiểu số làm căn cứ cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch. Quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch cần ưu tiên giải quyết đất sản xuất cho các hộ hiện đang thiếu đất sản xuất, đồng thời tính đến sự gia tăng nhu cầu sử dụng đất trong dài hạn do gia tăng dân số. Nghiên cứu, ban hành các quy định nhằm chấm dứt tình trạng bán đất dẫn tới thiếu đất trong đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên.

Ở góc nhìn văn hóa, cần thực hiện thí điểm tiến tới nhân rộng mô hình chuyển một phần diện tích đất rừng sản xuất hiện do các tổ chức kinh tế đang sử dụng để xây dựng thí điểm mô hình buôn làng Tây Nguyên truyền thống (có đất sản xuất nông nghiệp, rừng, sông suối…) để góp phần bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào Tây Nguyên.

Một giải pháp cần chú ý là khi triển khai các dự án kinh tế – xã hội trên địa bàn, cần nghiên cứu kỹ điều kiện kinh tế – xã hội và nhu cầu sử dụng đất của số dân bị thu hồi đất để có giải pháp bồi thường phù hợp, không để người dân thiếu đất sản xuất. Cụ thể: Đối với số dân sinh sống hoàn toàn bằng sản xuất nông nghiệp thì chỉ bồi thường bằng tiền sau khi đã bảo đảm bố trí đủ quỹ đất để họ có thể duy trì sản xuất, bảo đảm cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ như chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, có giải pháp hỗ trợ về hạ tầng, điều kiện và kiến thức sản xuất… để họ từng bước thích nghi được với điều kiện sản xuất và sinh sống tại nơi ở mới. Đối với các dự án nông – lâm nghiệp, doanh nghiệp – đơn vị triển khai dự án phải bảo đảm cho người bị thu hồi đất tham gia và hưởng lợi từ dự án (cho thuê đất, góp cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng đất, tuyển dụng lao động…) để họ có thu nhập ổn định, phát triển kinh tế và bảo đảm cuộc sống lâu dài.

Và cuối cùng việc giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số phải kết hợp với đào tạo nghề và giải quyết việc làm (kể cả xuất khẩu lao động). Phải kiên trì vận động, thuyết phục để đồng bào thích nghi dần với tác phong công nghiệp và sinh hoạt tập thể. Từ đó, chuyển dần một bộ phận lao động trẻ sang khu vực công nghiệp – dịch vụ để giảm dần áp lực thiếu đất dẫn tới phá rừng tập thể. 

Đề Tài Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Nguồn Vốn Oda / 2023

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG .2

I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NHẬN THỨC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ – VỐN ĐẦU TƯ .2

1. một số khái niệm . 2

1.2. vốn đầu tư. 2

1.3. Hoạt động đầu tư. 3

2.Những lý luận chung về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). 4

21.Nguồn gốc của nguồn vốn ODA. 4

22.Khái niệm về hỗ trợ phát triển chính thức. 4

23.Phân loại nguồn vốn ODA. 5

231.theo tính chất: 5

232.theo mục đích: 5

233.Theo điều kiện: 5

234.Theo hình thức: 6

24.Tình hình hoạt động nguồn vốn ODA trên thế giới. 6

2.5.tầm quan trọng của nguồn vốn ODA đối với các nước đang phát triển . 10

CHƯƠNG II 13

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM .13

I. CÁC NGUỒN ODA ĐỐI VỚI VIỆT NAM. 13

1.các nguồn ODA hiện nay .13

1.1. Nguồn ODA đa phương. 13

1.2. Nguồn ODA song phương. 14

1.ODA trong một số nghành , lĩnh vực chủ yếu. 17

1.1.Nghành năng lượng : 17

1.2 Nghành giao thông vận tải. 17

1.3Lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường. 17

1.4.lĩnh vực phát triển con người. 18

1.5 lĩnh vực phát triển nông thôn. 18

1.6.Hỗ trợ về chính sách và thể chế. 19

2.Đánh giá chung về hiệu quả và biện pháp mà chính phủ áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA thời gian qua. 19

2.1. Đánh giá chung về tình hình thực hiện nguồn vốn ODA trong thời gian qua. 19

2.2.Những biện pháp chính phủ áp dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA. 21

CHƯƠNG III 23

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TẠI VIỆT NAM

I.NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI. 23

1.Những kết qủa đạt được . 23

2.Những vấn đề còn tồn tại. 24

2.2.Về cơ chế quản lý : 25

2.3Năng lục và khả năng làm việc của các nhân viên trong môi trường ODA. 25

II.CÁC GIẢI PHÁP CẦN THỰC HIỆN ĐÊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA. 26

1.hài hoà thủ tục dự án 26

2.Giải quyết vốn đối ứng 27

3. Cải thiện chất lượng đầu vào 28

4.Tiếp tục hoàn thiện chính sách đền bù tái định cư 28

5.Tăng cường năng lực quản lý dự án ODA 29

6.Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng và bồi dưỡng cán bộ dự án 29

III.ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT VÀ SỦ DỤNG ODA TRONGTHỜI GIAN TỚI

Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Chính Sách, Pháp Luật Về Quy Hoạch, Quản Lý Và Sử Dụng Đất Đai Tại Đô Thị / 2023

(Quanlynhanuoc.vn) – Đẩy mạnh việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của Nhà nước ta chính là để bảo đảm công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí có hiệu lực, hiệu quả, ngăn ngừa nguy cơ tham nhũng cao ở lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai nói chung và ở đô thị nói riêng. Bài viết phân tích những kết quả đạt được cũng như chỉ ra hạn chế, nguyên nhân của chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị ở nước ta từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực; trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị trong giai đoạn tới.

Kết quả ban hành chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị ở nước ta từ khi có Luật Đất đai năm 2013

Trước khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, Chính phủ đã chủ động tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành kịp thời các chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Các chủ trương, chính sách này được thể hiện tập trung trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và được ghi nhận tại Kết luận số 36-KL/TW ngày 06/9/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW. Điều này cũng đặt ra yêu cầu cụ thể trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý (QHQL) và sử dụng đất đai (SDĐĐ), nhất là đất đai tại đô thị.

Để thể chế các quan điểm, đường lối của Đảng, Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014); Chính phủ đã ban hành 13 nghị định (gồm 10 nghị định ban hành mới và 3 nghị định sửa đổi, bổ sung các nghị định); các bộ, ngành đã ban hành 48 thông tư, thông tư liên tịch, trong đó Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì ban hành 33 thông tư 1. Chính phủ đã chỉ đạo các địa phương chủ động rà soát các điều, khoản được giao trong Luật và các nghị định để quy định chi tiết thi hành. Đến nay, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành hơn 1.141 văn bản, quy định cụ thể đối với 41 nội dung theo phân cấp. Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản thi hành đã thể chế khá đầy đủ các quan điểm, định hướng của Nghị quyết số 19-NQ/TW 2.

Theo đó, đã khắc phục được những hạn chế, vướng mắc về thất thoát, lãng phí; bảo đảm nguyên tắc thị trường, đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế trong tình hình mới; làm tăng nguồn lực tài chính từ phát triển đất đai tại đô thị; đưa công tác quản đất đai tại đô thị đi vào nền nếp, công khai, minh bạch và dân chủ hơn. Các nghị định, thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm kịp thời có hiệu lực ngay khi Luật Đất đai có hiệu lực thi hành.

Từ định hướng chỉ đạo tại Nghị quyết số 19-NQ/TW, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành Luật Xây dựng năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1210/2016/ UBTVQH13 ngày 25/5/2016 về phân loại đô thị; theo đó, Bộ Xây dựng trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các nghị định, quyết định, thông tư để triển khai thực hiện các luật và nghị quyết (gồm 6 nghị định, 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 18 thông tư, 2 quy chuẩn, trong đó có 17/32 văn bản được ban hành trước thời điểm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành) 3.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch xây dựng, quản lý phát triển đô thị từng bước được hoàn thiện nhằm tạo ra khuôn khổ pháp luật đồng bộ trong công tác quy hoạch xây dựng, quản lý phát triển đô thị, nhà ở để quản lý, SDĐĐ tại đô thị một cách tiết kiệm, hiệu quả.

Những hạn chế và nguyên nhân của chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị

Thứ nhất, hiện nay, một số chủ trương, chính sách của Đảng có tính chất định hướng lâu dài, có tính chiến lược nhưng chưa được thể chế hóa kịp thời do việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa đầy đủ, đặc biệt như: vấn đề kinh tế, tài chính đất đai; định giá đất theo cơ chế thị trường; quy hoạch sử dụng đất; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai; giải quyết các vấn đề phức tạp, có tính lịch sử qua các thời kỳ (đất nông, lâm trường, công ty nông, lâm nghiệp, đất quốc phòng kết hợp làm kinh tế). Thực tiễn cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế đã phát sinh vấn đề mới nhưng cơ chế, chính sách hiện hành chưa có quy định đầy đủ để kịp thời điều chỉnh, như: chính sách sử dụng đất cho người nước ngoài,…

Những hạn chế, vướng mắc nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, cụ thể: một số vấn đề về lý luận quản lý, SDĐĐ gắn với quan hệ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được nghiên cứu căn cơ, thấu đáo để định hình khi xây dựng chính sách, pháp luật. Sự phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các cơ quan nghiên cứu trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật ở cấp trung ương và địa phương chưa được chặt chẽ. Việc tổ chức lấy ý kiến góp ý phản biện của người dân, việc đánh giá tác động và thẩm định chính sách, pháp luật trước khi ban hành đôi lúc còn hình thức, chưa hiệu quả, đầu tư cho công tác này còn hạn chế. Chưa có quy định cụ thể về chính sách đất đai giữa các dự án đầu tư sản xuất – kinh doanh, dự án công nghệ cao với các dự án đầu tư phát triển bất động sản để thu hút đầu tư phát triển sản xuất…

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị trong thời gian tới

Để phát huy kết quả, khắc phục hạn chế, vướng mắc của chính sách, pháp luật về QHQL và SDĐĐ tại đô thị ở nước ta từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay, trong thới gian tới, cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt những nhiệm vụ và giải pháp sau đây:

Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất nội dung chính sách về chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai. Trong đó, cần xây dựng nghị định của Chính phủ để tháo gỡ các vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng bảo đảm hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội; sớm giải quyết vấn đề đất quốc phòng ở các doanh nghiệp quân đội cổ phần hóa, thoái vốn, quản lý, sử dụng nguồn thu từ đất đai do Bộ Quốc phòng quản lý.

Cụ thể, cần triển khai lập đồng bộ các loại quy hoạch đô thị, khẩn trương lập các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết theo quy định; lập kế hoạch đầu tư và đầu tư đồng bộ giữa hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội với phát triển nhà ở, công trình thương mại dịch vụ và công trình khác theo quy hoạch được duyệt; rà soát các quy hoạch, kế hoạch SDĐĐ đã quá thời hạn thực hiện, có biện pháp xử lý dứt điểm để bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất.

Bên cạnh đó, cần tăng cường thông tin, bảo đảm tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận thông tin trong QHQL và SDĐĐ tại đô thị; đăng tải hồ sơ điều chỉnh quy hoạch đô thị trên trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền thẩm định để xin ý kiến cộng đồng dân cư trước khi thẩm định hoặc phê duyệt. Cơ quan có trách nhiệm lập quy hoạch có trách nhiệm công bố, công khai ý kiến đóng góp và việc tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp này. Khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân, tổ chức xã hội – nghề nghiệp tham gia phản biện xã hội đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về QHQL và SDĐĐ.

Ba là, trong công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Để triển khai thực có hiệu quả, cần tổ chức thực hiện việc giao đất, cho thuê đất công khai, minh bạch cho các đối tượng đáp ứng các điều kiện quy định trong pháp luật về đất đai. Thực hiện nghiêm việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội thông qua phương thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; có biện pháp ngăn chặn tình trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép. Kiểm soát chặt chẽ và công khai, minh bạch việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, hoạt động sản xuất và đời sống của người có đất thu hồi.

Bốn là, định giá đất, khai thác nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế – xã hội. Cần tổ chức nghiên cứu, đề xuất việc đổi mới chính sách tài chính về đất đai và giá đất theo hướng hiệu quả, bền vững. Tổ chức kiện toàn và phát huy vai trò của Tổ chức phát triển quỹ đất và Quỹ Phát triển đất trong việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, quản lý, khai thác và tạo quỹ đất; bố trí hợp lý ngân sách địa phương và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác cho Quỹ Phát triển đất; bố trí quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội, giải quyết nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập thấp.

Bố trí dự toán ngân sách tối thiểu từ 10% nguồn thu ngân sách địa phương từ đất đai để đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai và phát triển đô thị, đặc biệt là cơ sở dữ liệu về quy hoạch, giá đất và hệ thống hồ sơ địa chính hiện đại. Phấn đấu hoàn thiện và vận hành cơ sở dữ liệu đất đai tại các đô thị trong cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Đối với các địa phương còn khó khăn về ngân sách, để hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ về phương án hỗ trợ thực hiện theo quy định.

Sáu là, về kiện toàn bộ máy, tổ chức. Tiếp tục rà soát và nâng cao trình độ, năng lực bộ máy làm công tác quản lý đất đai, đô thị; phát huy vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành trong quản lý tài nguyên đất, thanh tra việc quản lý, SDĐĐ tại đô thị. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, gắn với chương trình xây dựng nền hành chính hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đô thị.

Bảy là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm QHQL và SDĐĐ. Cụ thể, cần tiến hành thanh tra các dự án, công trình có dấu hiệu vi phạm pháp luật về QHQL và SDĐĐ tại đô thị và thanh tra việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại khu vực đô thị. Rà soát, đánh giá thực trạng người Việt Nam đứng tên thay cho người nước ngoài để mua nhà, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê đất trái pháp luật để có cơ sở đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Đẩy nhanh công tác điều tra các vụ án về quản lý, SDĐĐ tại đô thị; chấn chỉnh các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt; kiên quyết thu hồi theo quy định của pháp luật đối với những dự án đất không đưa vào sử dụng, dự án triển khai chậm tiến độ, dự án đã bị chấm dứt chủ trương đầu tư, dự án sử dụng đất sai mục đích, vi phạm pháp luật về đất đai, quy hoạch đô thị, xây dựng và bảo vệ môi trường.

Tổ chức thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và quy hoạch đô thị; xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành để xảy ra sai phạm trong quản lý, SDĐĐ tại đô thị, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; khắc phục vi phạm trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch đô thị, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để xảy ra vi phạm và có biện pháp xử lý cụ thể; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất để phát triển đô thị bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, đồng bộ giữa pháp luật về đất đai và pháp luật về đô thị, bảo đảm quyền lợi của người có đất thu hồi; kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch đô thị để hạn chế các vụ việc khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong dư luận xã hội 8.

1, 2, 3, 4. Báo cáo số 143/BC-CP ngày 18/4/2019 của Chính phủ việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến hết năm 2018. 5. Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định người sử dụng đất là tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, trong khi Luật Nhà ở năm 2014 cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở; Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư năm 2014 quy định là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài… 6. Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 quy định về các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất và không đấu giá quyền sử dụng đất; Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 quy định về việc đấu thầu dự án có sử dụng đất. 7. Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 quy định căn cứ vào thẩm quyết quyết định đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ để xác định sự cần thiết phải thu hồi đất; tuy nhiên, theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014 thì ngoài Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ còn có thẩm quyền của Chính phủ và Bộ trưởng. 8. Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 06/12/2019 của Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 82/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị.

PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc HoaHọc viện Báo chí và Tuyên truyền

Một Số Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Công Tác Quản Lý Đất Đai Trên Địa Bàn Huyện Cẩm Khê / 2023

Thứ sáu – 24/02/2017 15:01

Trong những năm qua, đặc biệt từ khi Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực thi hành, công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước đi vào nề nếp.

Việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn góp phần tích cực trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Tuy nhiên trong công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện cũng bộc lộ những hạn chế như: cấp Ủy Đảng, chính quyền một số địa phương thiếu sự quan tâm chỉ đạo, có lúc, có nơi còn buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn vẫn xảy ra. Tình trạng lấn chiếm, xây dựng công trình trái phép trên đất nông nghiệp; tự ý chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông, lâm nghiệp sang đất nông nghiệp khác; quản lý, sử dụng đất công ích không đúng quy định, kém hiệu quả.

Để chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, lập lại kỷ cương đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp. UBND huyện đã ban hành Chỉ thị số 10/CT-UBND ngày 11/10/2016 và yêu cầu Chủ tịch UBND các xã, thị trấn, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn huyện thực hiện tốt một số nhiệm vụ như sau:

– Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp Luật Đất đai, Luật Khoáng sản và Luật Bảo vệ môi trường và các nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ nhằm làm chuyển biến nhận thức của cấp Ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, cán bộ và nhân dân trong huyện; tạo sự đồng thuận trong dư luận đối với quá trình xử lý hành vi vi phạm theo quy định của Pháp luật.

– Chủ tịch UBND các xã, thị trấn: Thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn theo đúng quy định của Luật Đất đai, Luật Khoáng sản, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành; Có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm sử dụng đất như: Lấn chiếm xây dựng công trình trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất; Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chủ tịch UBND huyện khi để tình trạng vi phạm sử dụng đất xảy ra trên địa bàn mình quản lý mà không kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý dứt điểm; Khẩn trương rà soát, thống kê mọi trường hợp vi phạm sử dụng đất trên địa bàn mình quản lý trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch triển khai việc xử lý vi phạm; Kiểm tra lại việc quản lý, sử dụng, cho thuê đất công ích theo đúng quy định của Pháp luật.

Với một số giải pháp quan trọng và thiết thực nêu trên, chắc chắn rằng trong thời gian tới tình trạng vi phạm đất đai sẽ không còn xảy ra tại một số địa phương trên địa bàn huyện. Công tác quản lý đất đai ngày càng đi vào nề nếp, ổn định và phát huy được giá trị, tiềm năng của đất.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Có Hiệu Quả Ở Tây Nguyên / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!