Đề Xuất 5/2022 # Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng, Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc Trong Giai Đoạn Hiện Nay # Top Like

Xem 17,127

Cập nhật nội dung chi tiết về Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng, Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc Trong Giai Đoạn Hiện Nay mới nhất ngày 22/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 17,127 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Cho Nền Nông Nghiệp Sạch
  • Những Giải Pháp Cho Một Nền Nông Nghiệp Thông Minh
  • Tìm Giải Pháp Cho Nền Nông Nghiệp Thông Minh
  • Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Giải Pháp Nào Cho Vấn Nạn Thất Nghiệp?
  • 12/13/2020 3:40:00 PM thanhnga 55 lượt xem Giới thiệu

    Thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học năm 2022, sáng ngày 10 tháng 12 năm 2022, Hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học khoa Lý luận đại cương, Trường CĐ VHNT Nghệ An tổ chức nghiệm thu đề tài khoa học Thực trạng và giải pháp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện nay của TS Phạm Thị Thanh Nga, giảng viên khoa Lý luận đại cương. Trong đề tài của mình, TS Phạm Thị Thanh Nga đã đề cập đến thực trạng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đường lối, chính sách của Đảng xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc qua các kỳ đại hội, đặc biệt là qua Cương lĩnh của Đảng năm 2011.

    Nếu Đại hội VI của Đảng mở đầu cho công cuộc đổi mới thì với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sau đây gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991), Đại hội VII đã hoạch định đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có đường lối về văn hóa. Trên cơ sở xác định “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là một trong sáu đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Cương lĩnh năm 1991 chỉ ra nội dung, phương hướng căn bản xây dựng, phát triển nền văn hóa đất nước nhằm “tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ”.

    Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI của Đảng đã tổng kết, đánh giá những kết quả to lớn đạt được cùng với những hạn chế, khó khăn và những vấn đề còn tiếp tục phải giải quyết. Từ những bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình tổng kết thực tiễn ấy, Đảng ta đã có nhiều nhận thức mới về mặt lý luận làm cơ sở cho việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh của Đảng – Cương lĩnh năm 2011. Đối với lĩnh vực văn hóa, từ quan điểm nhất quán về một “nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ”, Cương lĩnh năm 2011 và Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Nghị quyết số 33-NQ/TW), đã tiếp tục làm sâu sắc hơn nội dung, tính chất, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, cũng như mối quan hệ giữa văn hóa với con người và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

    Trong định hướng đường lối, Nghị quyết số 33-NQ/TW yêu cầu ” Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội “. Đây là một đòi hỏi xuất phát từ nhận thức về bản chất, tầm quan trọng của văn hóa. Đồng thời, đó cũng chính là yêu cầu từ thực tiễn đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Trên thực tế, trong khi những thành tựu về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của chúng ta rất to lớn, thì thành tựu trong lĩnh vực văn hóa là “chưa tương xứng”, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra với tính chất “nền tảng tinh thần” cho sự phát triển đất nước. Sự hạn chế về văn hóa thể hiện trên nhiều khía cạnh, từ đạo đức, lối sống, môi trường văn hóa, cơ sở hạ tầng văn hóa, đến đời sống văn hóa, quản lý, giáo dục văn hóa, văn hóa truyền thông, chất lượng các công trình văn hóa, nghệ thuật… Nguyên nhân của những hạn chế đó bắt nguồn từ nhận thức về văn hóa chưa rõ, chưa đủ, dẫn đến tập trung quan tâm cho chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác mà chưa coi trọng đúng tầm cho văn hóa, chưa có những giải pháp tích cực, cách làm hiệu quả, chưa có sự đầu tư các nguồn lực hợp lý để xây dựng, phát triển nền văn hóa đất nước.

    Cương lĩnh năm 2011 cũng đã có bước đi quan trọng trong nhận thức về con người. Đó là sự kế thừa nhất quán, sáng tạo những nhận thức đúng đắn, nhân văn của Đảng ta về con người, thể hiện ở mục đích của cuộc cách mạng do Đảng phát động và lãnh đạo thực hiện chính là vì giải phóng con người, vì hạnh phúc nhân dân. Nhưng muốn đạt đến mục đích chung nhất ấy cần phải nắm được tính chất, yêu cầu của vấn đề con người, mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa con người với văn hóa và các lĩnh vực khác trong những điều kiện cụ thể. Trong điều kiện đất nước bị thực dân đô hộ, đế quốc giày xéo, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn và cũng là đặt ra mục tiêu cụ thể của cách mạng là “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi công cuộc đổi mới đã thu được những thành tựu có tính lịch sử, đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện, đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề con người được Đảng quan tâm toàn diện hơn, sâu rộng hơn. Bởi thế, Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển”. Từ nhận thức con người là nhân tố quyết định, là mục tiêu của phát triển, đồng thời là “tác giả”, là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển, Nghị quyết số 33-NQ/TW triển khai thành quan điểm chỉ đạo: “Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế”. Cương lĩnh năm 2011 cũng đồng thời đề ra yêu cầu quan tâm đầy đủ hơn, toàn diện hơn đến con người về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, về điều kiện, khả năng phát triển một cách toàn diện, về việc được bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng trong mối quan hệ hài hòa với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân. Và toàn bộ sự phát triển xã hội là nhằm mục đích “vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao”, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ trong mối quan hệ gắn bó với “quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”. Nhận thức đó cũng là sự kế thừa, tiếp nối quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”, dựa vào “sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người” để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Tóm lại, x ây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được đề cập trong nhiều văn bản quan trọng, đặc biệt từ Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII , ngày 16 tháng 7 năm 1998. Trong đó, tính tiên tiến và bản sắc dân tộc được hòa quyện, gắn bó hữu cơ trong các yếu tố cấu thành của nền văn hóa, đảm bảo tính kế thừa và phát triển, vừa giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời đảm bảo tính mở, tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại. Đồng thời, nội hàm của tính tiên ti ến và bản sắc văn hóa cũng được xác định rõ, phù hợp với mục tiêu, đặc điểm, truyền thống của đất nước trong quá trình đi lên CNXH. Theo đó, tiên tiến trong văn hóa trước hết là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ, nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tất cả vì con người, vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa tự nhiên và xã hội; tiên tiến không chỉ thể hiện ở nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức thể hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung; bản sắc văn hóa dân tộc, là các giá trị đặc trưng, tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, bản chất riêng của nền văn hóa, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác, đó cũng là tổng hòa các khuynh hướng sáng tạo văn hóa, được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, thể chế chính trị…trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Bản sắc văn hóa được thể hiện rõ trong truyền thống dân tộc, là các giá trị văn hóa tiêu biểu được trao truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, được khai thác và phát huy, tiếp tục bồi đắp, tạo nên dòng chảy văn hóa của dân tộc từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.

    Mục tiêu chung hướng đến của quá trình xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam là phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, hướng tới chân-thiện-mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có bước đi phù hợp, thích ứng với điều kiện, trình độ phát triển về kinh tế, xã hội, bối cảnh trong nước và quốc tế. Trong quá trình đó, việc từng bước xây dựng nền văn hóa tiên tiến, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa hết sức quan trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh 2011 đã chỉ rõ, để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đòi hỏi: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người”, Nghị quyết 33-NQ/TW, khóa XI ngày 9 tháng 6 năm 2014, đưa ra 5 quan điểm: (1) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. (2) Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. (3) Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, có lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. (4) Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế. (5) Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khẳng định: “Trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội đều phải đề cao nhân tố văn hóa, con người. Mọi hoạt động văn hóa, từ bảo tồn, phát huy các di sản lịch sử, văn hóa; phát triển văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản đến bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, văn hóa tôn giáo, xây dựng các thiết chế văn hóa,… đều phải phục vụ thiết thực sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, con người”.

    Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới xây dựng, phát triển đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã giúp cho đời sống vật chất được cải thiện không ngừng – một điều kiện cơ bản, hàng đầu bảo đảm cho sự phát triển của con người Việt Nam. Thu nhập bình quân đầu người trong cả nước năm 2022 đã tăng hơn 2 lần so với thời điểm năm 2010. Đầu tư của Nhà nước cho khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, nhất là đường giao thông, hạ tầng giáo dục, được quan tâm hơn. Tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước từ 14,2% giảm còn dưới 3% năm 2022 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Chương trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được những kết quả quan trọng, thực sự góp phần cải thiện toàn diện cuộc sống của cư dân nông thôn. Dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao về chất lượng, thuận lợi về điều kiện tiếp cận. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh, từ 60,9% năm 2010 lên 90,7% năm 2022. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam được cải thiện từng năm, thuộc nhóm nước có chỉ số phát triển con người trung bình cao của thế giới. Công tác bảo vệ môi trường sống, ứng phó với những nguy cơ từ an ninh phi truyền thống, như nước biển dâng, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường… được chú trọng, bắt đầu từ hoàn thiện thể chế, chính sách đến việc dự báo, phát hiện và xử lý kịp thời.

    Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện rộng rãi với những chế định bảo đảm ngày càng chặt chẽ. Việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở đã đóng góp tích cực vào việc thực hiện quyền làm chủ của người dân, bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của họ trong các quyết định về kinh tế – xã hội ở các địa phương. Việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã thúc đẩy sự hình thành văn hóa đảng, văn hóa trong chính trị, với nội dung cơ bản là tôn vinh và bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh, các đức tính cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu đi đầu trước nhân dân của cán bộ, đảng viên và toàn hệ thống chính trị. Hàng loạt các phong trào, như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2022 – 2022”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, xây dựng gia đình văn hóa mới, văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân… đã góp phần tạo nên chuyển biến to lớn trong xây dựng con người, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, xuống cấp về đạo đức xã hội, tạo lập môi trường xã hội lành mạnh, tích cực.

    Các hoạt động văn hóa, như văn học, nghệ thuật, thư viện, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, đều được quan tâm phát triển, có những công trình, tác phẩm có giá trị, có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. Chỉ tính riêng năm 2022, 59 nhà xuất bản trong cả nước đã xuất bản trên 33.000 đầu sách với 400 triệu bản in, hàng nghìn sách điện tử đã được phát hành. Hệ thống báo chí, truyền thông đại chúng phát triển nhanh, ngày càng hiện đại. Hàng trăm kênh phát thanh, truyền hình đang hoạt động, trong đó có nhiều kênh kết nối, hợp tác quốc tế. Theo số liệu thống kê năm 2022, ở Việt Nam đang có 64 triệu người sử dụng in-tơ-nét, chiếm 66% dân số, 143,3 triệu thuê bao điện thoại, bằng 148% dân số, trong đó phần lớn người dân sử dụng điện thoại thông minh, loại phương tiện có thể truy cập in-tơ-nét mọi nơi, mọi lúc trên lãnh thổ Việt Nam. Sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại tạo điều kiện mở và thuận lợi cho người dân Việt Nam có nhiều cơ hội để mở mang tri thức, giao lưu, kết nối văn hóa với các dân tộc, các nền văn hóa trên thế giới. Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao đều có sự mở rộng, đạt nhiều kết quả tích cực.

    Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích . Cơ chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho văn hóa chưa cụ thể, rõ ràng. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp.

    Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế, bất cập. T ình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ.

    Cùng với những kết quả to lớn trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011, lĩnh vực văn hóa cũng đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên lĩnh vực này cũng còn không ít hạn chế.

    về văn hóa và mối quan hệ giữa xây dựng văn hóa với phát triển con người, về vai trò, vị trí của văn hóa trong xây dựng, phát triển đất nước, có nơi, có lúc chưa đầy đủ, chưa sâu sắc. Triển khai đường lối xây dựng văn hóa của Đảng trong Cương lĩnh và các nghị quyết Đại hội Đảng chưa thật đồng bộ và toàn diện. Một số cấp ủy đảng, chính quyền còn lúng túng trong việc thể chế hóa yêu cầu coi văn hóa ngang bằng với chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh. Việc xây dựng và xác định hệ giá trị chuẩn mực văn hóa, con người Việt Nam còn chậm, kéo theo sự lúng túng, không thống nhất trong việc xây dựng các quy định, chuẩn mực văn hóa trong chính trị, kinh tế, trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị.

    Trong , tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội tuy đã được cải thiện, song vẫn còn diễn biến phức tạp. Hưởng thụ văn hóa giữa đô thị với nông thôn, giữa đồng bằng, trung du với khu vực vùng sâu, vùng xa còn chênh lệch. Tệ nạn xã hội, tội phạm còn phức tạp, tồn tại nhiều hiện tượng trái với thuần phong, mỹ tục, làm cho môi trường văn hóa chưa thật lành mạnh. Những kết quả trong hoạt động văn học, nghệ thuật, trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển nhanh nhưng chưa hợp lý; còn có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích trong một số cơ quan, đơn vị; công tác quản lý các phương tiện truyền thông mới chưa chặt chẽ, nhiều thông tin tiêu cực, sai trái trên mạng in-tơ-nét và các kênh truyền thông xã hội gây nhiễu loạn nhận thức, bức xúc cho người dân. Đấu tranh phản bác các tư tưởng sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc còn nhiều hạn chế. Nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực văn hóa còn nhiều hạn chế, bất cập. Hợp tác quốc tế về văn hóa hiệu quả chưa cao, chưa theo kịp yêu cầu phát triển.

    Từ yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới, trên cơ sở nghiên cứu, xem xét tình hình và kết quả thực hiện Cương lĩnh năm 2011, người nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp để xây dựng nền văn hóa đất nước trong thời gian tới

    hát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng

    ở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa; đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước con người Việt Nam với thế giới

    Có thể khẳng định rằng, cho đến nay những đánh giá về thực trạng văn hóa nước ta; về phương hướng, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển văn hóa mà các nghị quyết từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết trong thời gian tới, mỗi cấp ủy và chính quyền, đoàn thể, mỗi cán bộ, đảng viên cần xem xét nghiêm túc trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của mình, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa, đẩy mạnh công tác phát triển văn hóa, xây dựng và chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh”chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phải, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”… Chú trọng xây dựng văn hóa trong Đảng, trong bộ máy nhà nước. Tăng cường các biện pháp quản lý cán bộ, đảng viên; tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người suy thoái, tha hóa về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI, XII)về xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Phải tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội, địa phương, đơn vị”.

    Hội đồng bỏ phiếu đánh giá xếp loại đề tài đạt loại xuất sắc. Kết luận phiên nghiệm thu, T h.S Lê Thị Thắng , Chủ tịch Hội đồng ghi nhận và đánh giá cao những kết quả đạt được của đề tài, yêu cầu t ác giả tiếp thu đầy đủ những ý kiến đánh giá, nhận xét của Hội đồng để chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện đề tài đạt chất lượng cao hơn và sớm đưa vào thực hiện, phục vụ hiệu quả cho công tác đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc
  • Bai 10 Chủ Trương, Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc”.
  • Những Định Hướng Xây Dựng Nền Văn Hóa Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc
  • Tim Giải Pháp Cho Giao Thông Hà Nội
  • Quy Hoạch Chung Chưa Quyết Định Giải Pháp Cho Giao Thông Hà Nội
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng, Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc Trong Giai Đoạn Hiện Nay trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100