Đề Xuất 12/2022 # Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Ocop Trên Địa Bàn Tỉnh Khánh Hòa / 2023 # Top 13 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Ocop Trên Địa Bàn Tỉnh Khánh Hòa / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Ocop Trên Địa Bàn Tỉnh Khánh Hòa / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

LĨNH VỰC CHUYÊN NGÀNH - PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN – DIÊM NGHIỆP A+ A A-

Thực trạng và giải pháp thực hiện Chương trình OCOP trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa

Thực trạng và giải pháp thực hiện Chương trình OCOP trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.

Qua 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, cùng với cả nước, Khánh Hòa đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: Kinh tế nông thôn phát triển; đời sống nông dân được cải thiện, cơ sở hạ tầng, nhà ở nông thôn được xây dựng, nâng cấp, cải tạo; bộ mặt nông thôn từng bước được khởi sắc; các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao quần chúng được đẩy mạnh, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng, hệ thống chính trị cơ sở không ngừng được củng cố, phong trào thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới được nhân dân và xã hội đồng tình hưởng ứng; các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp được phát huy, hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung, chuyên canh; nhiều hàng hóa nông sản được chứng nhận nhãn hiệu và chất lượng.

Giai đoạn 2021-2025, tiếp tục thực hiện Chương trình với mục tiêu nâng cao số xã, số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao; duy trì thành quả và nâng cao chất lượng tiêu chí đối với xã đã đạt chuẩn nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững.

Để đạt các mục tiêu đó cần có nhiều Chương trình, dự án đi vào chiều sâu của từng lĩnh vực; một trong những Chương trình, dự án đó là Chương trình mỗi xã một sản phẩm (Chương trình OCOP). Đây là Chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018– 2020; Chương trình có mục tiêu: Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (ưu tiên phát triển hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa) để sản xuất các sản phẩm truyền thống, dịch vụ có lợi thế đạt tiêu chuẩn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần phát triển kinh tế nông thôn;  Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống cho nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới; thông qua việc phát triển sản xuất tại khu vực nông thôn, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn hợp lý (hạn chế dân di cư ra thành phố), bảo vệ môi trường và bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của nông thôn Việt Nam.

Khánh Hoà là tỉnh thuộc khu vực duyên hải Nam Trung bộ có tổng diện tích tự nhiên 513.780 ha; diện tích đất sản xuất nông nghiệp 100.000 ha, trong đó, diện tích các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao như xoài 8.169 ha, sầu riêng 1.700 ha, bưởi da xanh 1.398 ha, dừa 1.766 ha, chuối 3.817 ha, tỏi 439 ha…; diện tích đất có rừng 239.000ha; diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 6.767 ha, đất sản xuất muối là 1.021 ha. Sản lượng nông sản chủ yếu sản xuất hàng năm: 110.000 tấn thủy sản; 70.000 tấn thịt gia súc gia cầm; 276.000 tấn lương thực; 100.000 tấn quả các loại. Giá trị kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 800 triệu USD, trong đó xuất khẩu thủy sản trên 600 triệu USD; là vùng kinh tế tiềm năng để “triển khai thực hiện sâu rộng chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị” giai đoạn 2020-2025 như trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVIII đã nêu.

Thực hiện Quyết định số 490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Quyết định số 3253/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2018-2020.

1.     Kết quả triển khai thực hiện giai đoạn 2018-2020

a) Về Công tác tổ chức bộ máy thực hiện Chương trình OCOP

Đã bổ sung nhiệm vụ triển khai Chương trình OCOP vào nhiệm vụ của Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 các cấp.

Sở Nông nghiệp và PTNT là cơ quan thường trực Chương trình cấp tỉnh; Phòng Kinh tế/ Nông nghiệp và PTNT là cơ quan thường trực Chương trình OCOP cấp huyện; Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức triển khai thực hiện, có 1 cán bộ kiêm nhiệm phụ trách OCOP, được lồng ghép trong nhiệm vụ nông thôn mới tại xã.

b) Về Công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực và tuyên truyền.

– Cấp tỉnh và cấp huyện đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho các đối tượng cán bộ quản lý các cấp và chủ thể tham gia như hội nghị hướng dẫn xây dựng và thực hiện Kế hoạch Chương trình; hội nghị triển khai Chương trình OCOP và Tập huấn đánh giá xếp hạng sản phẩm; tập huấn hướng dẫn xây dựng ý tưởng sản phẩm và xét chọn sản phẩm, xây dựng phương án kinh doanh và thẩm định phương án kinh doanh, xây dựng câu chuyện sản phẩm và hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ tham gia đánh giá và xếp hạng sản phẩm. Quá trình tập tuấn điều có mời Hội, đoàn thể các cấp đặc biệt là hội nông dân.

Ngoài các lớp tập huấn, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức đoàn của Tổ Tư vấn giúp việc Hội đồng OCOP cấp tỉnh là cán bộ chuyên môn của các Sở, ban ngành hướng dẫn trực tiếp tại các địa phương, các chủ thể phát triển, hoàn thiện các sản phẩm tham gia; đã tổ chức đoàn cấp tỉnh cho các địa phương, sở ban ngành tham quan học tập kinh nghiệm tại tỉnh Quảng Nam – một trong các tỉnh thí điểm thực hiện Chương trình OCOP của Trung ương và đang có những thành tích nổi trội thực hiện Chương trình OCOP trên cả nước.

– Việc thông tin, tuyên truyền về Chương trình OCOP trên địa bàn tỉnh được thực hiện thường xuyên, liên tục qua Báo, Đài Phát thanh và Truyền hình Khánh Hòa và hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng từ tỉnh, huyện đến cấp xã, thôn. Đồng thời, trên Website  của Sở Nông nghiệp và PTNT và tại chuyên trang Chi cục Phát triển nông thôn, Văn phòng Điều phối tỉnh thường xuyên đăng tải các Văn bản của Trung ương và địa phương về Chương trình để các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh biết thực hiện.

 Ngoài ra, Sở Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Bưu điện tỉnh Khánh Hòa tổ chức họp lấy ý kiến của các Sở ban ngành về việc đưa sản phẩm thuộc Chương trình OCOP lên sàn giao dịch thương mại điện tử của Bưu điện Việt Nam.

c) Số sản phẩm, chủ thể đăng ký tham gia chương trình

Giai đoạn 2018-2020, tỉnh Khánh Hòa triển khai xây dựng kế hoạch tập trung chuẩn hóa 52 sản phẩm đã có; trong đó, triển khai trên địa bàn tất cả các xã có sản phẩm chủ lực của địa phương như sầu riêng, chuối, mía tím (Khánh Sơn), xoài (Cam Lâm) và bưởi da xanh (Khánh Vĩnh); ngoài ra, thực hiện trên địa bàn cấp xã cụ thể có các phẩm đặc trưng như Vạn Ninh (08 đơn vị), Ninh Hòa (07 đơn vị), Diên Khánh (05 đơn vị), Nha Trang (03 đơn vị), Cam Ranh (03 đơn vị).

Về sản phẩm tham gia có nhóm thực phẩm: 43 sản phẩm; nhóm đồ uống: 03 sản phẩm; nhóm lưu niệm – nội thất – trang trí: 06 sản phẩm.

d) Kết quả đánh giá, phân hạng sản phẩm

Theo chu trình đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP, cấp huyện tổ chức Hội đồng đánh giá, chuyển hồ sơ và sản phẩm mẫu của các sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên (50-100 điểm) đề nghị cấp tỉnh đánh giá, phân hạng.

– Năm 2019: Các địa phương đã tổ chức đánh giá, phân hạng 27 sản phẩm (chiếm 93% số sản phẩm tham gia chương trình năm 2019) của 23 chủ thể. Sau đánh giá đã chuyển hồ sơ và sản phẩm mẫu của 20 sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên (50-100 điểm) đề nghị cấp tỉnh đánh giá, phân hạng.

Hội đồng đánh giá cấp tỉnh đã họp đánh giá và xếp hạng sản phẩm, trình UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2466/QĐ-UBND ngày 16/9/2020 công nhận kết quả đánh giá, xếp hạng sản phẩm tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (Chương trình OCOP) tỉnh Khánh Hòa năm 2019 cho 18 sản phẩm đạt 3 sao của 14 chủ thể gồm: 2 sản phẩm chả cá, 1 sản phẩm nấm linh chi, 01 sản phẩm gạo Ngọc Quang, 04 sản phẩm nấm (nấm linh chi, nấm bào ngư, nấm hương, nấm mèo), 01 sản phẩm dưa lưới Ô Xanh, 01 sản phẩm Bưởi da xanh, 01 sản phẩm xoài sấy dẻo,  06 sản phẩm sầu riêng và 01 sản phẩm mía tím.Trong 14 chủ thể có 04 Hợp tác xã, 6 Tổ hợp tác, 03 doanh nghiệp, 1 hộ kinh doanh.

– Năm 2020: Các địa phương đã tổ chức đánh giá, phân hạng 13 sản phẩm của 12 chủ thể. Sau đánh giá đã chuyển hồ sơ và sản phẩm mẫu của 12 sản phẩm của 11 chủ thể đạt từ 3 sao trở lên (50-100 điểm) đề nghị cấp tỉnh đánh giá, phân hạng. Ngày 25/12/2020, Hội đồng cấp tỉnh đã tổ chức đánh giá và xếp hạng sản phẩm; trong đó, có 01 sản phẩm đạt 4 sao (dưa lưới ô xanh) và 07 sản phẩm đạt 03 sao gồm 03 sản phẩm sầu riêng, 01 sản phẩm xoài úc, 01 sản phẩm Nếp Quạ Ninh Đông, 01 sản phẩm gạo thảo dược và 01 sản phẩm rau muống.

e) Kết quả triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm

Nhằm quảng bá, giới thiệu các sản phẩm đăng ký tham gia Chương trình OCOP của tỉnh đến với người tiêu dùng. Trong 02 năm 2019 và 2020, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức gian hàng triển lãm Festival OCOP tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn  mới giai đoạn 2010 – 2020 do Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương tổ chức tại Nam Định từ ngày 17/10/2019 – 19/10/2019; trưng bày và giới thiệu sản phẩm OCOP được UBND tỉnh công nhận đạt 03 sao trở lên tại Phiên chợ Tuần nông sản an toàn thực phẩm năm 2020 do Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức từ ngày 16/10/2020 – 18/10/2020 tại Trung tâm thương mại Big C, đường 19/5, Khu đô thị Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang.

Nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể đưa sản phẩm đã được chứng nhận tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong và ngoài tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tiến hành in nhãn hiệu chứng nhận OCOP đạt 3 sao và cấp phát cho các chủ thể gắn lên sản phẩm; đã in Catologue sản phẩm OCOP tỉnh Khánh Hòa và dự kiến Tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá Chương trình OCOP giai đoạn 2018-2020 kết hợp trao quyết định công nhận sản phẩm đạt 3, 4 sao và kết nối cung cầu tiêu thụ sản phẩm OCOP vào đầu tháng 01/2021.

Đồng hành với ngành Nông nghiệp và PTNT, ngày 25/12/2020, Sở Công Thương đã tổ chức khai trương điểm bán và giới thiệu sản phẩm OCOP tại Siêu thị Co.opmart Nha Trang.

2. Khó khăn, tồn tại

– Chương trình OCOP là Chương trình mới, việc triển khai Chương trình OCOP ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn do không bố trí được nhân lực. Phần lớn các cán bộ được giao kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau ngoài Chương trình OCOP. Cán bộ được bố trí không đủ thời gian thực hiện, chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nhân lực trong triển khai Chương trình.Trình độ quản lý, nghiệp vụ của cán bộ cấp huyện (cấp hướng dẫn, thực hành), cấp xã (cấp triển khai, phối hợp, thực hành) của một số địa phương trên địa bàn tỉnh còn gặp khó khăn trong việc thẩm định các dự án, phương án kinh doanh của các chủ thể tham gia. Việc tổ chức đánh giá của một số địa phương còn chưa thật sự quan tâm, hồ sơ đề nghị đánh giá và xếp hạng sản phẩm đạt 03 sao ở cấp huyện đề nghị đánh giá ở cấp tỉnh còn nhiều sai sót và thiếu những yêu cầu bắt buộc để đạt từ 03 sao theo quy định tham gia Chương trình, dẫn đến gây khó khăn trong quá trình thẩm định và đánh giá hồ sơ của Tổ Tư vấn giúp việc Hội đồng cấp tỉnh mặc dù các địa phương đã được tập huấn và hướng dẫn cách đánh giá và xếp hạng sản phẩm, hồ sơ tham gia đánh giá.

– Quá trình triển khai chưa thật sự đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; cơ chế, chính sách hỗ trợ được thực hiện lồng ghép từ nhiều chính sách đã được ban hành, tuy khá đầy đủ, nhưng lại thiếu đồng bộ, luôn thay đổi, chưa được xác định rõ ràng, dẫn đến sự lúng túng và khó khăn cho các địa phương dẫn đến không thực hiện hết nguồn kinh phí hỗ trợ; năm 2019, kinh phí thực hiện chỉ đạt 15,5% (692/4.440 triệu đồng).

– Tiềm lực sản phẩm tham gia OCOP của tỉnh là rất lớn nhưng việc tuyên truyền sâu rộng để người dân tham gia còn hạn chế; muốn các chủ thể tham gia OCOP, ngành nông nghiệp cấp tỉnh, cấp huyện đều phải đến tận nơi vận động, thuyết phục, hỗ trợ toàn diện chu trình OCOP từ thủ tục kiểm định chất lượng, mẫu mã bao bì cho đến xây dựng câu chuyện sản phẩm. Rất ít chủ thể (doanh nghiệp, cơ sở sản xuất) chủ động tìm đến để được hỗ trợ đưa sản phẩm tham gia OCOP. 

Sản phẩm tham gia Chương trình đa phần là sản phẩm chủ lực của các địa phương, chủ yếu là sản phẩm thực phẩm tươi, chưa qua chế biến (chưa gia tăng giá trị). Các sản phẩm này chủ yếu là do các hộ gia đình, HTX, THT sản xuất với quy mô nhỏ lẻ, tính liên kết thấp; chưa chủ động trong phân phối và tiếp thị sản phẩm, có phần hạn chế trong xây dựng ý tưởng sản phẩm, phương án kinh doanh,… Sản phẩm tuy là chủ lực nhưng vẫn chưa đạt được một số  yêu cầu theo tiêu chí sản phẩm đạt OCOP.

Số lượng chủ thể tham gia vẫn còn e dè và hạn chế do biểu mẫu, hồ sơ tham gia đánh giá quá nhiều và quá khó đối với các chủ thể sản xuất (DNNVV, HTX, THT, hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh). Bộ tiêu chí đánh giá phân hạng sản phẩm theo Quyết định số 1048/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ còn nhiều điểm chưa phù hợp với một số sản phẩm của các địa phương; một số nội dung phân công hướng dẫn thuộc các lĩnh vực chuyên ngành của các Sở, ban ngành trong Bộ tiêu chí còn chưa cụ thể nhất là đối với các sản phẩm thuộc Bộ sản phẩm thủ công mỹ nghệ trang trí và thủ công mỹ nghệ gia dụng (nhất là đối với sản phẩm có chất liệu trầm hương – một sản phẩm đặc hữu, có thương hiệu của Khánh Hòa).

3. Đánh giá chung

– Chương trình OCOP triển khai trên địa bàn tỉnh trong thời gian ngắn song đã nhận được sự quan tâm của Tỉnh ủy, được Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2020-2025 đưa vào báo cáo chính trị định hướng cho giai đoạn đến đó là “đẩy mạnh chương trình OCOP theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị”; HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã quan tâm bố trí nguồn vốn để hỗ trợ phát triển Chương trình; đồng thời chỉ đạo các Sở ban ngành, các cấp tăng cường thực hiện để đảm bảo Kế hoạch đề ra. Để có một Chương trình OCOP nâng cao, sâu rộng và đồng bộ cho giai đoạn 2021-2025, UBND tỉnh Khánh Hòa đã quan tâm phê duyệt đề cương và cấp kinh phí thực hiện; Ngành Nông nghiệp và PTNT đã gọi mời Công ty Cổ phần Phát triển Dược Khoa tư vấn lập đề án; Công ty có chúng tôi Trần Văn Ơn, giảng viên cao cấp, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Cổ phần Phát triển Dược Khoa – người thầy có thể nói là đầu tiên trong Chương trình OCOP Việt Nam, đã và đang tư vấn cho nhiều tỉnh thực hiện hiệu quả Chương trình này để tư vấn lập đề án trên địa bàn tỉnh.

– Tuy chưa sâu rộng nhưng qua triển khai Chương trình nhận thấy từng bước đã có sự quan tâm, chú ý của các chủ thể từ 26 sản phẩm đăng ký ban đầu, đã có thêm 26 sản phẩm đăng ký bổ sung, nâng tổng số sản phẩm tham gia giai đoạn 2018-2020 lên 52 sản phẩm; điều đó cho thấy ý nghĩa thực sự của Chương trình đã được các chủ thể sản xuất đồng tình hưởng ứng.

Chương trình đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhất là về mặt nhận thức của xã hội và cấp ủy, chính quyền các cấp và cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã về vị trí của Chương trình OCOP trong phát triển kinh tế nông thôn. Thông qua việc tham gia Chương trình các chủ thể sản xuất đã hiểu rõ được lợi ích của Chương trình, giúp chủ thể hoàn thiện sản phẩm hơn nhằm đáp ứng các yêu cầu của thị trường, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống cho nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới. Chương trình nhận được sự hưởng ứng cao của các chủ thể sản xuất. Các sản phẩm OCOP được xếp hạng đã có bước tiến về chất lượng, đa dạng về mẫu mã, bao bì, đảm bảo điều kiện, quy định về tem, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

4. Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh thực hiện Chương trình

Một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao việc triển khai thực hiện Chương trình OCOP theo hướng nâng cao, sâu rộng và đồng bộ trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến

a) Đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức

– Phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể để phổ biến rộng rãi Chương trình về nội dung, chu trình, bộ tiêu chí đánh giá, xếp hạng sản phẩm; những thành tựu và kết quả thực hiện Chương trình; những gương điển hình tiên tiến và mô hình sản xuất tiêu biểu trong tổ chức sản xuất, phát triển thị trường, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm khu vực nông nghiệp, nông thôn dưới dạng bản tin, chuyên đề, câu chuyện gắn với hình ảnh, khẩu hiệu cụ thể. Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc và những bất cập, tồn tại trong quá trình triển khai Chương trình OCOP ở các địa phương.

– Tập trung công tác đào tạo, tập huấn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ nhà nước trong hệ thống OCOP (tỉnh, huyện, xã); tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về phát triển sản phẩm tại các địa phương nhằm hỗ trợ các chủ thể sản xuất có điều kiện tham gia.

b) Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức chỉ đạo thực hiện Chương trình

Rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy điều hành, triển khai Chương trình OCOP các cấp; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu/phần mềm quản lý chương trình; xây dựng hệ thống quản lý, giám sát chất lượng sản phẩm OCOP.

c) Xây dựng cơ chế chính sách

Cần ban hành cơ chế, chính sách cụ thể cho Chương trình OCOP để hỗ trợ, tạo động lực thúc đẩy sâu rộng và đồng bộ; cơ chế chính sách quan tâm đến việc hỗ trợ phát triển theo hướng nội sinh và gia tăng giá trị nhằm khai thác sản phẩm thế mạnh, đặc hữu của địa phương, tạo tiền đề cho phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập trên địa bàn.

d) Nâng cao chất lượng công tác đánh giá, phân hạng sản phẩm

Số hóa, hướng cụ thể hồ sơ minh chứng các tiêu chí theo từng bộ tiêu chí đánh giá để tạo điều kiện cho các chủ thể có thể truy cập và lập hồ sơ tham gia đánh giá, phân hạng một cách chính xác và nhanh nhất.

Tổ chức đánh giá, phân hạng sản phẩm 02 lần trong năm; đợt 1 vào mua thu hoạch sản phẩm nông nghiệp (tháng 7, 8); đợt 2 vào tháng 11 trong năm.

e) Đổi mới và đẩy mạnh công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm

Đổi mới hình thức, phương pháp xúc tiến thương mại để quảng bá các sản phẩm chủ lực thông qua các cuộc hội chợ, triển lãm. Hình thành các điểm bán hàng; trung tâm OCOP để giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm OCOP (đạt 3 sao trở lên) ở cấp tỉnh và cấp huyện;

Đẩy mạnh việc đưa sản phẩm OCOP lên sàn giao dịch điện tử nhằm tăng cường kết nối cung cầu;

Tổ chức Hội chợ OCOP thường niên 01 lần/năm, tập trung vào các sự kiện văn hóa, du lịch lớn của tỉnh dần tiến tới hoạt động xã hội hóa; lồng ghép các gian hàng giới thiệu và bán sản phẩm OCOP trong các hội chợ thương mại tại các địa phương;

Xây dựng sản phẩm OCOP gắn với du lịch, thúc đẩy hoạt động quảng bá, tiêu thụ sản phẩm, nhất là đẩy mạnh tiêu thụ tại chỗ thông qua khách du lịch tại các điểm du lịch sinh thái cộng đồng, qua đó góp phần đa dạng ngành du lịch Khánh Hòa.

 Tổ chức Hội nghị đối tác OCOP, xây dựng “Mạng lưới Đối tác OCOP Khánh Hòa” với sự tham gia của các tổ chức OCOP (chia sẻ thông tin, gặp gỡ, đàm phán, ký kết thỏa thuận, hợp đồng,….) nhằm liên kết các chủ thể thực hiện chương trình với các doanh nghiệp trong và ngoài nước; hình thành các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị gắn với chuẩn hóa vùng trồng đối với các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh như xoài, sầu riêng, bưởi, tỏi…qua đó, hỗ trợ một phần kinh phí để các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư máy móc, trang thiết bị nhằm tạo ra chuỗi sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao như tinh dầu bưởi, trà hoa bưởi, xoài sấy, tỏi đen, tinh dầu tỏi…..

Tác giả: Huỳnh Quang Thành – Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn Khánh Hòa.

CÁC TIN KHÁC Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2021 Triển khai thực hiện Quyết định 167/QĐ-TTg ngày 03/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ Triển khai Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 28/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ Hội thảo lấy ý kiến góp ý Đề án thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2021 – 2025. Hội nghị toàn quốc Tổng kết Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 – 2020. HỘI NGHỊ CÁN BỘ CÔNG CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CHI CỤC PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN KHÁNH HÒA UBND tỉnh Khánh Hòa công nhận 26 sản phẩm đạt từ 03 sao OCOP giai đoạn 2018-2020 Hội nghị đánh giá và xếp hạng sản phẩm Chương trình OCOP năm 2020 Mời tham gia Hội chợ triển lãm Nông nghiệp Quốc tế lần thứ 20 – AgroViet 2020. UBND tỉnh Khánh Hòa công nhận 18 sản phẩm đạt 03 sao OCOP năm 2019.

1

234

Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Hợp Tác Xã Trên Địa Bàn Tỉnh Bến Tre / 2023

ThS. Võ Thái Bình

Phó Trưởng Khoa NN&PL

Ngày 09/3/2020 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận của Bộ Chính trị số 70-KL/TW về thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể (KTTT). Điều này, một lần nữa Đảng ta khẳng định vị trí vai trò của KTTT dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đây là điều có ý nghĩa chiến lược trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thực trạng phát triển KTTT ở Bến Tre

Tổng quan về quy mô, cơ cấu Hợp tác xã

Tính đến tháng 7/2020, toàn tỉnh có 152 Hợp tác xã (HTX), trong đó chia theo loại hình: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây lắp điện 12 HTX; nông nghiệp 98 HTX; Thủy sản 13 HTX; Quỹ tín dụng nhân dân 09 quỹ; Thương mại – Dịch vụ, kinh doanh tổng hợp 08 HTX; Giao thông – Vận tải 07 HTX; Tài nguyên – Môi trường 05 HTX.

Tổng vốn điều lệ là 306,382 tỷ đồng (bình quân hơn 2 tỷ/đồng/HTX), tăng 37,03 tỷ đồng so cùng kỳ năm 2019, tổng số thành viên 40.718; trong đó 141 HTX đang hoạt động và chuẩn bị hoạt động, 11 HTX ngừng hoạt động thuộc diện giải thể; 03 HTX đã giải thể, xóa tên (gồm: HTX nông nghiệp huyện Giồng Trôm, HTX Cây có múi Lương Hòa, HTX xoài cát chu Thạnh  Hải).

Tổng số cán bộ quản lý HTX là 627 người, trong đó số cán bộ quản lý HTX có trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 126 người, chiếm tỷ lệ 20% trong tổng số cán bộ quản lý HTX; số cán bộ quản lý HTX có trình độ sơ, trung cấp là 218 người, chiếm tỷ lệ 34,7% trong tổng số cán bộ quản lý HTX; số còn lại chưa qua đào tạo là 283 người, chiếm tỷ lệ 45% trong tổng số cán bộ quản lý HTX.

Tổng doanh thu các HTX ước  đạt 45 tỷ đồng, bình quân khoảng 330  triệu đồng/HTX, lãi 80 triệu đồng/HTX.

Toàn tỉnh có 1.329 Tổ hợp tác (THT), trong đó có 968 THT hoạt động theo Nghị định số 77/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ. Nhìn chung, THT tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các THT hoạt động tương đối ổn định, có sự  liên kết giữa các hộ sản xuất.

Đặc điểm chất lượng Hợp tác xã

Đánh giá theo lĩnh vực hoạt động, nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) hiện có 98  HTX, với  8.987 thành viên, vốn điều lệ đăng ký 49,521 tỷ đồng, chiếm 64,47% về số lượng HTX và 16% tổng vốn; bình quân mỗi HTX nông nghiệp có 92 thành viên, vốn điều lệ khoảng 505 triệu đồng; doanh thu đạt khoảng 880 triệu đồng/năm, lợi nhuận bình quân 28 triệu đồng/HTX. Tỷ lệ HTX chưa hoạt động chiếm khoảng 60%, có khoảng 28 HTX (chiếm  28,57%)  hoạt động tương đối khá, có thực hiện dịch vụ đầu vào đầu ra cho thành viên, số còn lại hoạt động ở mức trung bình  –  yếu. Có 48 HTX nông nghiệp bước đầu đã xây dựng được mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ theo chuỗi giá trị, nhất là các sản phẩm chủ lực của địa phương.

Lĩnh vực thủy sản có 13 HTX với 17.224 thành viên, vốn điều lệ 7.548 triệu đồng,  chiếm 8,55% về số lượng HTX và chiếm 2% trong tổng vốn; có 01 HTX không hoạt động, chờ giải thể (HTX thủy sản Vĩnh Tiến  –  Chợ Lách), 6 tháng đầu năm ước đạt khoảng 20 tỷ  đồng, thấp hơn 7,5 lần so với cùng kỳ năm 2019.

Lĩnh vực công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây lắp điện có 12  HTX 138 thành viên, vốn điều lệ đăng ký 13.460  triệu đồng, chiếm 8% về số lượng HTX và chiếm 4% tổng vốn; trong đó 7 HTX đang hoạt động gồm 04 HTX công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp; 03 HTX xây lắp điện; 04 HTX thuộc diện giải thể và 01 HTX đang  hoàn tất hồ sơ củng cố. Các HTX lĩnh vực này hoạt động ổn định, có hiệu quả, doanh thu ước đạt 12,5 tỷ đồng, thu nhập bình quân người lao động của các HTX từ 5 đến 6 triệu đồng/người/tháng; các HTX thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với nhà nước; tham gia thực hiện tốt công tác an sinh xã hội ở địa phương.

Lĩnh vực thương mại – dịch vụ, kinh doanh tổng hợp có 08  HTX, 216 thành viên, tổng vốn điều lệ đăng ký 23.315 triệu đồng, chiếm 5,3% số lượng HTX và  chiếm  8% tổng vốn.  HTX  lĩnh vực này giải quyết việc làm thường xuyên cho 42 lao động tại địa phương, với mức thu nhập bình quân 5 triệu đồng/người/tháng. Các HTX hoạt động ổn định, chú trọng cải tiến phương thức bán hàng, đề ra nhiều biện pháp thích hợp tiêu thụ hàng hóa của thành viên, phát huy thế mạnh tập trung vào lĩnh vực khai thác bán lẻ; doanh thu tại thời điểm báo cáo đạt khoảng  2,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, còn một số HTX hoạt động khó khăn, do giá thuê  đất làm địa điểm kinh doanh chưa hợp lý. Một số HTX còn lúng túng, chưa triển khai được các hoạt động kinh doanh do chưa đảm bảo nguồn vốn đầu tư kinh doanh và liên kết.

Lĩnh vực tín dụng toàn tỉnh có 09 Quỹ tín dụng nhân dân  (QTDND),  tổng số thành viên là 12.928 thành viên, chiếm 6% về số lượng HTX, với tổng vốn điều lệ đăng ký 22.314 triệu đồng, chiếm 7% tổng vốn, doanh thu bình quân  hoạt động trên địa bàn 26  xã, phường, thị trấn của 5 huyện và thành phố Bến Tre  là 2.546 triệu đồng/QTDND, lãi bình quân 365 triệu đồng/QTDND. Nhìn chung, hoạt động của hệ thống QTDND trên địa bàn tỉnh ổn định, phát huy được ưu thế trong công tác huy động vốn, cho vay trên địa bàn hoạt động, các chỉ tiêu cơ bản đều tăng trưởng, kinh doanh có lãi, nợ xấu chiếm tỷ lệ thấp, công tác phát triển, củng cố lại thành viên tiếp tục được quan tâm.

Lĩnh vực giao thông vận tải hiện có 07 HTX, tống số thành viên là 830 thành viên, chiếm 4,6% về số lượng HTX, với tổng vốn điều lệ đăng ký  là 179,681 tỷ đồng, chiếm 59% tổng vốn; doanh thu bình quân 01 HTX là 1,1 tỷ đồng, do tình hình dịch Covid-19 diễn ra phức tạp 06 tháng đầu năm 2020 nên ảnh hưởng nặng nề đến các HTX giao thông vận tải, các HTX  không tạo ra lợi nhuận, thu nhập bình quân của lao động làm việc thường xuyên là 04 triệu đồng/tháng. Hoạt động của các HTX tương đối ổn định, tuân thủ tốt các quy định chuyên ngành vận tải.

Lĩnh vực tài nguyên – môi trường hiện có 05 HTX kinh doanh khai thác cát sông, với tổng số 78 thành viên chiếm 3,3% về số lượng HTX, với tổng vốn điều lệ 11,935 tỷ đồng, chiếm 4% tổng vốn. Tuy nhiên các HTX trong lĩnh vực này ngừng hoạt động, thuộc diện giải thể do thời hạn cấp phép khai thác đã hết. Khó khăn lớn nhất đối với các HTX lĩnh vực này là không có nguyên liệu để khai thác (cát sông) do chủ trương của tỉnh là ngừng cấp phép khai thác các mỏ cát sông.

Những hạn chế

Công tác quản lý nhà nước về HTX: Một số địa phương chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và tầm quan trọng của HTX kiểu mới, chưa nắm được mục tiêu phát triển kinh tế hợp tác, HTX nên việc triển khai vận động thực hiện chưa thật sự hiệu quả. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp có lúc chưa đồng bộ, sâu sát; công tác tuyên truyền, vận động triển khai chưa sâu rộng, chưa đều. Một số cán bộ quản lý nhà nước về KTTT, HTX chưa kịp thời nắm bắt diễn biến tình hình  hoạt động THT, HTX để tác động, hỗ trợ  và giải quyết những vướng mắc, khó khăn của HTX.

Đa số các HTX chưa là đối tượng để được thụ hưởng chính sách hỗ trợ phát triển của Nhà nước, đối tượng nhận được hỗ trợ hiện nay là các thành viên của HTX, từ đó các cơ quan Nhà nước gộp và gán kết quả này cho HTX.

Điều kiện cơ sở vật chất của HTX chưa đầy đủ, đa phần chưa có trụ sở giao dịch; nhà xưởng chế biến, phương tiện, công cụ, dụng cụ văn phòng còn chưa đáp ứng nhu cầu giao dịch. Trong khi đó, các chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển HTX đã ban hành và có hiệu lực thi hành, nhưng HTX chưa tiếp cận được. Do một số ngành, địa phương chưa chủ động, rà soát, tổng hợp nhu cầu và hướng dẫn HTX thực hiện; các khó khăn, vướng mắc chậm tháo gỡ, nên chưa có nhiều HTX được hưởng các chính sách.

Trình độ, năng lực của bộ phận quản lý, điều hành và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của đa số HTX còn nhiều hạn chế, các ngành các cấp trong thời gian qua tổ chức rất nhiều lớp tập huấn nhưng HTX chưa thể vận dụng vào hoạt động của HTX. Nhiều HTX chưa thu hút được cán bộ trẻ, sinh viên có trình độ chuyên môn về tham gia xây dựng HTX. Phần lớn các HTX chưa có nhân viên kế toán chuyên trách nên việc quản lý, báo cáo tài chính, sổ sách kế toán còn nhiều bất cập.

Dịch vụ HTX cung cấp cho các thành viên của mình chưa đa dạng, còn nghèo nàn, đơn lẻ; liên kết sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị còn thấp; trình độ ứng dụng KH&CN chưa cao.

Nguyên nhân

Công tác lãnh đạo thực hiện các bước chuẩn bị thành lập HTX chưa chặt chẽ, chưa đảm bảo chất lượng, nhất là công tác tuyên truyền, lựa chọn nhân sự chủ chốt để quản lý điều hành và xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh.

Chính quyền địa phương chưa thật sự quyết liệt, đồng bộ giữa các cấp, các ngành trong việc tập trung theo dõi, xử lý những vướng mắc, khó khăn để HTX phát triển.

Nhiều HTX hoạt động chưa hiệu quả, do đó nhiều người dân chưa thấy rõ được lợi ích khi tham gia vào HTX; phương thức sản xuất tự do, nhỏ lẻ vẫn còn được ưa chuộng.

Giải pháp

Tiếp  tục tổ chức quán triệt, triển khai Kết luận số 70-KL/TW ngày 09/3/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 Khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Tập trung công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức hệ thống chính trị và nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của HTX trong phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn; huy động sự tham gia đồng bộ, quyết liệt của các tổ chức đoàn thể, chính trị từ huyện đến ấp trong tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân và hỗ trợ hoạt động HTX.

Chính phủ xem xét ban hành Nghị định hướng dẫn tổ chức hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển HTX cấp tỉnh. Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù cho KTTT, HTX về ứng dụng khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển, nếu áp dụng chung với doanh nghiệp thì HTX tiếp tục gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách này.

Ban hành hướng dẫn việc khoanh nợ, xóa nợ đối với các HTX thành lập trước Luật HTX năm 2012 có hiệu lực, nhưng không còn hoạt động, thuộc diện giải thể, nhằm tạo điều kiện thuân lợi cho công tác quản lý và tránh ảnh hưởng chung đến hoạt động của HTX.

Tập trung chỉ đạo, nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX. Quan tâm công tác nhân  sự quản lý, xây dựng phương án/kế hoạch sản xuất kinh doanh. Phân công nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ quản lý ở các phòng chuyên môn cấp huyện trong công tác phối hợp với cấp xã để hỗ trợ củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX. Thực hiện tốt các bước chuẩn bị trước khi tổ chức Hội nghị thành lập HTX, trên nguyên tắc: Dân biết, dân bàn và dân quyết định, nhất là phương án sản xuất kinh doanh, lựa chọn nhân sự quản lý HTX, phải thật sự công khai, minh bạch.

Quan tâm thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX phù hợp yêu cầu thực tế HTX và trình độ người học; chọn lựa cán bộ trẻ, con em thành viên HTX có tâm huyết để tổ chức thí điểm đào tạo dài hạn, bán tập trung (từ 06 tháng) đối với chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc.

Phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của Liên minh HTX trong xây dựng, phát triển HTX. Chủ động theo dõi, nắm bắt tình hình của HTX để kịp thời hỗ trợ cho HTX./.

Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Trên Địa Bàn Hà Tĩnh, Thực Trạng Và Giải Pháp / 2023

HOÀNG TRUNG DŨNG

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Chính trị học

Hà Nội – 2013

1

HOÀNG TRUNG DŨNG

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học Mã số: 60 31 02 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị Thu Hƣơng

Hà Nội – 2013

2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” là công trình khoa học của riêng tôi. Các nội dung, số liệu được nêu trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy, chính xác. Tôi xin chịu trách nhiệm về cam kết của mình.

Tác giả

Hoàng Trung Dũng

3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CNH

:

Công nghiệp hóa

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

HĐH

:

Hiện đại hóa

KTXH

:

Kinh tế – xã hội

MTTQ

:

Mặt trận Tổ quốc

QCDC

:

Quy chế dân chủ

QPAN

:

Quốc phòng – an ninh

UBND

:

Ủy ban nhân dân

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa

4

MỞ ĐẦU

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN

1.1. Nhận thức chung về Dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở 1.1.1. Một số khái niệm 1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ và Dân chủ xã hội chủ nghĩa 1.1.3. Thực hiện Quy chế dân chủ, nội dung quan trọng của dân chủ ở xã, phường, thị trấn ở nước ta 1.2. Thực hiện Quy chế dân chủ xã, phường, thị trấn là phương thức phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta 1.2.1. Tầm quan trọng của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn 1.2.2. Những định hướng phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Chƣơng 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY

Vị trí địa lý, tình hình kinh tế, chính trị, VHXH của tỉnh Hà Tĩnh 2.2. Những điều kiện tác động đến quá trình thực hiện Quy chế dân chủ 2.3. Nội dung, cách thức triển khai QCDC ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh 2.4. Kết quả trên các lĩnh vực, nguyên nhân thành công, hạn chế 2.5. Một số bài học kinh nghiệm trong việc triển khai Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN

31

2.1.

QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

Dự báo tình hình và phương hướng thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh Những giải pháp chủ yếu thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới

KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

1

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dân chủ là mục tiêu, là khát vọng hướng tới của con người và xã hội loài người, là nhu cầu khách quan đối với sự phát triển bền vững của tất cả các nước. Ngày nay, cuộc đấu tranh vì dân chủ, vì sự tiến bộ xã hội đang trở thành một xu thế tất yếu của thời đại. Đối với nước ta, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của dân chủ. Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề dân chủ lại càng được đề cao, dân chủ XHCN được khẳng định là bản chất của chế độ, là mục tiêu, động lực của sự phát triển. Nền dân chủ XHCN và việc đảm bảo dân chủ ở Việt Nam không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hoá và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, kể từ khi Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị 30 CT/TW, ngày 18/12/1998 về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, nền dân chủ XHCN được triển khai đồng bộ, rõ nét hơn. Theo đó, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đây là sự thể hiện quyết tâm củng cố, hoàn thiện, phát triển nền dân chủ XHCN trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta; phản ánh tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, đáp ứng nhu cầu và phù hợp với xu thế phát triển của đất nước theo định hướng XHCN. Là một địa phương ở khu vực Bắc miền Trung, sau hơn 15 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 30 – CT/TW của Bộ Chính trị về Quy chế dân chủ ở cơ sở, nhìn chung trên mọi mặt đời sống, chính trị, xã hội của tỉnh Hà Tĩnh có nhiều chuyển biến tích cực. Triển khai thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Dân chủ ở cơ sở) đã tạo động lực giúp Hà Tĩnh khơi dậy tiềm năng, nguồn lực

2

vật chất, tinh thần trong nhân dân; củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, nhân dân; là cơ sở để các địa phương xây dựng phong cách ứng xử của người lãnh đạo, quản lý; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp ủy, chính quyền; làm cầu nối cho nhân dân sát cánh bên Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra, việc triển khai thực hiện QCDC trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến quá trình sự phát triển. Nhận thức về QCDC của một số cấp ủy, chính quyền địa phương, của cán bộ, đảng viên, trong đó có một số người đứng đầu chưa đầy đủ. Một số quy định của Đảng và Nhà nước về thực hiện dân chủ chưa được cụ thể hóa phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Tình trạng phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với bình quân chung cả nước. Điều kiện tiếp cận các dịch vụ giáo dục, văn hóa trong nhân dân giữa các vùng, miền chưa đồng đều. Một số nơi quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm. Nhân dân chưa được hưởng đầy đủ quyền được biết, được bàn, được kiểm tra, thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ của địa phương, nhất là huy động nguồn lực đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, tham gia đền bù, giải phóng mặt bằng, thực hiện chế độ, chính sách, cung cấp thông tin về công tác quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, ngân sách…Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí của công, sách nhiễu chưa được ngăn chặn triệt để. Trình độ dân trí nhìn chung chưa đồng đều; ý thức về dân chủ chưa cao, khả năng nhận thức về văn hóa dân chủ còn nhiều bất cập; một bộ phận nhân dân chưa thấy hết nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, đi ngược lại lợi ích cộng đồng xã hội. Hiện tượng lợi dụng dân chủ, dân chủ quá trớn, vi phạm kỷ luật, kỷ cương, vi phạm pháp luật còn xảy ra ở không ít các địa phương. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, “tôn giáo” để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. 3

4

Các công trình nêu trên nhìn chung tập trung đề cập đến đặc điểm, tình hình, quá trình lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể trên lĩnh vực KTXH, QPAN, xây dựng đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị qua các thời kỳ. Bàn về dân chủ, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở chưa thực sự rõ nét. Như vậy, qua việc nghiên cứu các công trình, đề tài đề cập đến vấn đề dân chủ nói chung cũng như vấn đề dân chủ trong các lĩnh vực, địa bàn, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống đầy đủ, toàn diện về vấn đề dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở lý luận về dân chủ và dân chủ ở cơ sở của Việt Nam nói chung, cùng với việc phân tích đánh giá quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, luận văn chỉ ra thực trạng, đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ sở của tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ – Hệ thống hóa và làm rõ vấn đề lý luận về dân chủ, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. – Phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội, chính trị của tỉnh Hà Tĩnh tác động đến quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. – Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. – Đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn nghiên cứu quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1998 đến nay. 7

8

Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN 1.1. Nhận thức chung về dân chủ và Quy chế dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn 1.1.1. Một số khái niệm Dân chủ là hiện tượng lịch sử – xã hội, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người và xã hội loài người. Theo nguồn gốc của tiếng Hy Lạp, dân chủ gồm 2 từ “demos” có nghĩa là nhân dân, “kratos” có nghĩa là quyền uy, sự cai trị. Như vậy theo nghĩa gốc, dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân, là trạng thái tổ chức xã hội trong đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trong tiếng Việt, thuật ngữ dân chủ có ba hàm nghĩa: chỉ chế độ xã hội; chỉ quyền của người dân và chỉ một phương thức công tác, phong cách quản lý, lãnh đạo [59, tr.137]. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Dân chủ là có quyền tham gia, bàn bạc vào công việc chung, được tôn trọng quyền lợi của từng thành viên trong xã hội”. Dân chủ là khái niệm để chỉ “Chế độ chính trị theo đó quyền làm chủ thuộc về nhân dân”. Ban đầu, khái niệm dân chủ được xem xét về mặt chính trị và pháp luật, về sau mang ý nghĩa rộng hơn, thể hiện ở các lĩnh vực đời sống xã hội như kinh tế, VHXH, mối quan hệ giữa con người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với nhà nước… Khi xã hội loài người chưa phân chia giai cấp, dân chủ được thể hiện dưới hình thức tự quản của cộng đồng. Mọi thành viên có quyền tham gia và quyết định những công việc chung. Khi lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lên, sản phẩm làm ra dư thừa, xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt, hình thức tổ 9

chức xã hội Nhà nước ra đời, trạng thái sơ khai của dân chủ dần bị tan rã. Với sự xuất hiện của Nhà nước, quyền lực cộng đồng xã hội chuyển hoá thành quyền lực Nhà nước. Dân chủ mang bản chất giai cấp và trở thành mục tiêu đấu tranh, giành, giữ và phát triển của nhân loại. Lịch sử của dân chủ cũng cho thấy các giai cấp thống trị khác nhau hiện thực hoá chế độ dân chủ theo lập trường và lợi ích của mình. V.l Lê nin tổng kết: “Chế độ dân chủ là một hình thức Nhà nước, một trong những hình thái của Nhà nước. Cho nên cũng như mọi Nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta” [40, tr.123]. Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển đổi quyền lực từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ là quyền lực của nhân dân được thể hiện trong các tổ chức tự quản theo tập quán, truyền thống (của xã hội cộng sản nguyên thuỷ) biến thành quyền lực của giai cấp thống trị (trong xã hội chiếm hữu nô lệ) được thể chế hoá bằng chế độ nhà nước với sự cưỡng bức là chủ yếu. Chế độ dân chủ gắn với một chế độ xã hội cụ thể và một giai cấp cầm quyền nhất định, đó là chủ nô. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ phong kiến ra đời thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ. Quyền lực xã hội bị thâu tóm vào tay nhà vua, quyền dân chủ của nhân dân lao động bị thu hẹp. Với sự phát triển của nền đại công nghiệp, thương nghiệp, quan hệ sản xuất phong kiến dần bị xóa bỏ. Giai cấp tư sản ra đời, nền dân chủ tư sản xuất hiện với nhiều mặt tiến bộ so với các chế độ dân chủ trước đó nhưng phạm vi của nó chỉ bó hẹp trong một bộ phận là giai cấp tư sản. Khái niệm tự do, dân chủ, bình đẳng bị che lấp bởi quan hệ bóc lột. Nhân dân lao động và người nghèo vẫn chưa được hưởng quyền dân chủ thực sự. Khi giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đánh đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền, thiết lập nền dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân mới trở thành thực chất. Mục đích cao nhất của nền dân chủ XHCN là giải phóng con người và xã hội loài người, xây dựng một xã hội không có giai cấp, mọi người đều bình

10

đẳng, tự do; đây là nền dân chủ tiến bộ nhất. Nền dân chủ XHCN có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; tác động mạnh mẽ đến các quyền tự do về chính trị, tư tưởng, văn hóa và các lĩnh vực khác. Ở nền dân chủ XHCN, những giá trị dân chủ được thể chế hoá thành pháp luật, thành hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước là trụ cột. Dân chủ là mục tiêu, động lực của phát triển. Các giá trị dân chủ trở thành phổ biến, chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội. Mọi công dân và tổ chức xã hội đều có khả năng nhận thức, vận dụng làm chủ bản thân và làm chủ xã hội. Theo C.Mác một nền dân chủ thật sự phải gắn liền với sự nghiệp của nhân dân “Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình thức chế độ nhà nước…ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân” [42, tr.349]. Dân chủ XHCN là dân chủ của đa số nhân dân lao động, được thực hiện bằng Nhà nước “của dân, do dân, vì dân”, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trong nền dân chủ XHCN, nhà nước là công cụ quyền lực để thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, luôn chịu sự giám sát của nhân dân. Nhà nước và nhân dân có mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên. Cán bộ, công chức Nhà nước là người đại diện cho pháp luật để bảo vệ nhân dân. Để tồn tại và khẳng định rõ vị thế, Nhà nước phải đề ra những cơ chế, biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa, xử lý tệ quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm trong cán bộ; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức pháp luật. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quan hệ sản xuất XHCN đang trong quá trình phát triển, dân chủ từng bước được hoàn thiện nên quyền dân chủ của nhân dân có lúc, có nơi chưa được thực hiện đầy đủ. Sau cuộc cách mạng lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến, nền dân chủ mới được hình thành. Trong giai đoạn đổi mới, Đảng tập trung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển cơ sở vật chất cho nền dân chủ XHCN.

11

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể, trong đó có tư tưởng về dân chủ. Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng được củng cố, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Về khái niệm Quy chế được hiểu: Mang tính chất ràng buộc. Tùy vào phạm vi chức năng của cơ quan ban hành, quy chế có những tác động trong phạm vi khác nhau. Về khái niệm Quy chế dân chủ ở cơ sở: Đây là cụm từ viết tắt nói về Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Như vậy: Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn là những quy định cụ thể về trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân theo quy định của pháp luật; đảm bảo để nhân dân được biết, được bàn, được thực hiện, được kiểm tra các công việc của chính quyền cơ sở. 1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng dân chủ của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin vào điều kiện cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đề ra những quan điểm, giải pháp sát với yêu cầu thực tiễn, phù hợp với xu thế khách quan để xây dựng một nền dân chủ mới gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người trong thời đại mới. Khi bàn về vai trò dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới này không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân…dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân” [43, tr.279]. Người cho rằng làm cách mạng phải biết dựa vào sức dân, dựa vào quần chúng. Là cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn đức, luyện tài, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, chống tham ô, lãng phí, xây dựng một thiết chế vững mạnh để thực hành dân chủ. Dân chủ là động lực, là sức mạnh để xây dựng một xã hội ấm no, tự do, bình đẳng, hạnh phúc; dân chủ không chỉ

12

là quyền lực thuộc về nhân dân mà làm sao để nhân dân được hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền của mình để thể hiện trách nhiệm, bổn phận. Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [44, tr.698]. Để thực hiện quyền làm chủ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ có quyền mà điều quan trọng là phải có năng lực làm chủ. “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà” [43, tr.40]. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn biết khơi dậy sức mạnh của nhân dân bằng cách giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích, trách nhiệm, quyền hạn và bổn phận đối với nhiệm vụ xây dựng quê hương, đất nước. Người yêu cầu “Bất kỳ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành” [45, tr.233]. Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to, việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó [22, tr.368]. Trong các bài viết, bài nói chuyện, Hồ Chí Minh luôn nghiêm khắc phê bình tệ quan liêu, xa dân, độc đoán, gia trưởng, mất dân chủ của một bộ phận cán bộ. 13

Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi. Họ chỉ theo ý kiến của họ. Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất bình [44, tr.334]. Người khẳng định “Có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được, không có thì việc gì cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra” [44, tr.335]. Trong Di chúc của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” [43, tr.624]. Thực hiện tư tưởng của Người, hơn 82 năm qua, kể từ khi thành lập đến nay (3/2/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi dân chủ là nội dung quan trọng của đường lối cách mạng. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn gắn bó mật thiết với nhau. Nội dung dân chủ trong giai đoạn đầu của cách mạng là đem lại ruộng đất cho dân cày. Sau cách mạng dân tộc dân chủ thành công, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cách mạng XHCN nhằm mục đích giải phóng xã hội, giải phóng con người, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở trình độ cao hơn, toàn diện hơn để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, đem lại ấm no, hạnh phúc và những giá trị tiến bộ, cao cả cho nhân dân. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN là một trong bốn mục tiêu cơ bản của cách mạng XHCN. Đến Đại hội lần thứ V của Đảng (1982), quan điểm đó tiếp tục được cụ thể hoá.

14

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), mở đầu sự nghiệp đổi mới của Đảng đã khẳng định “Đổi mới phải lấy dân làm gốc”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhấn mạnh: Xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ và toàn bộ tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân [21, tr.19]. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), tiếp tục khẳng định: Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và các hình thức tự quản tại cơ sở [22, tr.43]. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) đã tạo nên một bước ngoặt lớn, được đánh giá là đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới. Tại Đại hội, nội dung dân chủ được nêu thông qua tổng kết toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng từ 1930 đến 2001, 15 năm đổi mới (1986 – 2001). Đại hội đã khẳng định, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh làm chủ của nhân dân là động lực chủ yếu để thực hiện thắng lợi mục tiêu “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [27, tr.22]. Để phát huy sức mạnh của nhân dân trong thời kỳ mới, Đại hội đề ra chủ trương củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là vấn đề thực hành dân chủ trong nội bộ các tổ chức. Đại hội xác định, thực hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy dân chủ đại diện, quy

15

định cụ thể việc thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với các tổ chức và cán bộ cơ sở; củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa hệ thống chính trị với dân theo phương châm “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, nhận thức về vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng, trong xã hội đã có nhiều bước phát triển mới, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI sửa đổi (Điều 9) nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là: Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là đại hội đại biểu toàn quốc…Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức…”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới [30, tr.70]. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) cũng chỉ rõ: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được 16

Tọa Đàm Thực Trạng Và Giải Pháp Đối Với Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Trên Địa Bàn Tỉnh. / 2023

Chiều ngày 27/3/2017, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức buổi tọa đàm “Thực trạng và giải pháp đối với công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh”. Dự buổi tọa đàm có các đồng chí đại diện lãnh đạo: Ban VHXH-HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, các ngành trong khối khoa giáo, Ban Tuyên giáo các huyện, thị ủy, phòng Cảnh sát Môi trường – Công an tỉnh, các phòng thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. Đồng chí Nguyễn Văn Tư – Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì buổi tọa đàm.

Phát biểu đề dẫn buổi tọa đàm, đồng chí Phan Duy Khiêm – Trưởng phòng Khoa giáo- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy khẳng định: Thời gian qua, công tác phối hợp tham mưu cho cấp ủy triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị trên lĩnh vực khoa giáo giữa Ban Tuyên giáo huyện, thị ủy với các ngành trong khối khoa giáo cùng cấp được duy trì thường xuyên trong việc tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn tuyên truyền, quán triệt, xây dựng các văn bản, triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết về công tác khoa giáo, trong đó có nội dung về công tác bảo vệ môi trường. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tham mưu về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn các huyện, thị trong thời gian qua còn có mặt hạn chế. Xuất phát từ thực trạng trên, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã nghiên cứu tổ chức buổi tọa đàm hôm nay với mục đích: Tạo điều kiện cho Ban Tuyên giáo các huyện, thị ủy được trao đổi, chia sẻ, học tập kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn công tác tham mưu cho cấp ủy trên lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ công tác bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới. Góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 – 2020 trên lĩnh vực khoa giáo.

Đã có 13 lượt ý kiến phát biểu tại buổi tọa đàm, các ý kiến đi sâu vào đánh giá thực trạng, hạn chế của công tác bảo vệ môi trường tại các địa phương, nêu lên những nguyên nhân chủ quan, khách quan của những hạn chế đó và đề xuất, kiến nghị nhiều giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng tham mưu công tác bảo vệ môi trường ở Ban tuyên giáo các huyện, thị trong thời gian tới.

Phát biểu kết luận buổi tọa đàm, đồng chí Nguyễn Văn Tư – Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã đánh giá cao tinh thần thẳng thắn, phát huy trí tuệ và tâm huyết của các đồng chí trong các bài tham luận và các ý kiến phát biểu tại buổi tọa đàm. Từ việc xác định được những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện công tác tham mưu, để thực hiện tốt hơn nữa công tác tham mưu cho cấp ủy trên lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Ban Tuyên giáo các huyện, thị ủy, đồng chí Phó ban Tuyên giáo Tỉnh ủy nhấn mạnh cần phải thực hiện nghiêm túc và đồng bộ một số giải pháp sau đây:

1. Ban Tuyên giáo các huyện, thị ủy và các ngành trong khối khoa giáo cần nắm chắc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước (chỉ thị, nghị quyết, Luật, nghị định, thông tư, văn bản chỉ đạo,..) về công tác bảo vệ môi trường; Thường xuyên cập nhật thông tin, nắm chắc tình hình thực tiễn để tham mưu đúng, trúng và kịp thời.

2. Cán bộ làm công tác khoa giáo cần nghiên cứu, nắm bắt tình hình thực tế để tham mưu cho huyện, thị ủy ban hành những văn bản lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ môi trường một cách thiết thực, hiệu quả, sát thực tế địa phương mình. Bên cạnh đó, cần phải thường xuyên học tập, tự nghiên cứu, nâng cao trình độ, hiểu biết về những vấn đề cần tham mưu để tổng hợp, tham mưu chính xác và bố trí thời gian, phương pháp làm việc để tham mưu kịp thời, đúng thời gian quy định.

3. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ chặt chẽ giữa Ban Tuyên giáo huyện, thị ủy với các ban, ngành, đoàn thể của huyện (Tài nguyên&Môi trường, Công an huyện, Kiểm lâm, Hải quan, Quản lý trật tự đô thị,…). Thường xuyên duy trì chế độ giao ban, báo cáo và cung cấp thông tin hai chiều để hiểu sâu hơn tình hình thực tiễn, kịp thời tham mưu hiệu quả trên lĩnh vực bảo vệ môi trường. Ban Tuyên giáo huyện, thị ủy khi yêu cầu các đơn vị gửi báo cáo, hoặc phối hợp tham mưu cho cấp ủy, cần chủ động xây dựng đề cương, hướng dẫn cụ thể cho các đơn vị những nội dung cần tập trung báo cáo. Trong quá trình thực hiện cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và nghiêm túc.

4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường để góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành; xây dựng tiêu chí, chuẩn mực về bảo vệ môi trường trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư; hình thành các thiết chế văn hóa, đạo đức môi trường trong xã hội; tiếp tục nhân rộng mô hình tự quản về môi trường, đẩy mạnh hoạt động của đội thanh niên xung kích về bảo vệ môi trường; tiến tới thực hiện đánh giá, phân hạng về môi trường đối với các ngành, các huyện, thị.

5. Xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa ngành Tài nguyên&Môi trường với các địa phương, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Xây dựng cơ chế và khuyến khích người dân tham gia giám sát việc quản lý, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

6. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy sẽ xem xét tất cả các kiến nghị hợp lý của các đơn vị, kịp thời tổng hợp báo cáo Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh xem xét giải quyết.

Phan Duy Khiêm

Lượt xem: 678

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Ocop Trên Địa Bàn Tỉnh Khánh Hòa / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!