Thực Trạng Và Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm Chống Người Thi Hành Công Vụ Trên Địa Bàn Tỉnh Trà Vinh

Xem 3,069

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Trạng Và Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm Chống Người Thi Hành Công Vụ Trên Địa Bàn Tỉnh Trà Vinh mới nhất ngày 13/04/2021 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 3,069 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Tập San Khoa Học Công Nghệ
  • Giải Pháp Hỗ Trợ Phát Triển Thị Trường Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Tăng Hiệu Quả Công Tác Trong Thi Đua
  • Nâng Cao Chất Lượng Thực Thi Công Vụ Của Đội Ngũ Cán Bộ, Cc, Vc: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Nâng Cao Năng Lực Thực Thi Công Vụ Của Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

    KHOA LUẬT

    BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP

    

    LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

    NIÊN KHÓA (2011-2015)

    Đề tài:

    THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG

    TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG

    VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH

    Giảng viên hướng dẫn:

    Sinh viên thực hiện:

    TS. PHẠM VĂN BEO

    TRẦN VĂN THỐ

    Bộ Môn: Luật Tư Pháp

    MSSV: 5115846

    Lớp: Tư pháp 1- K37

    Cần Thơ, tháng 11, năm 2014

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    MỤC LỤC

    LỜI NÓI ĐẦU………………………………………………………………………………………………….1

    1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài …………………………………………………………..1

    2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đề tài…………………………………………………………..2

    3. Phương pháp nghiên cứu đề tài …………………………………………………………………….2

    4. Cấu trúc đề tài …………………………………………………………………………………………….3

    CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH

    CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH……………………….4

    1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH

    CHÍNH…………………………………………………………………………………………………………4

    1.1.1. Khái niệm về tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính ……………………….. 4

    1.1.2. Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính …….. 7

    1.1.2.1. Khách thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính ………………..7

    1.1.2.2. Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính……………………8

    1.1.2.3. Khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính ……………..8

    1.1.2.4. Chủ quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính…………………8

    1.2. KHÁI QUÁT VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ ……………….9

    1.2.1. Khái niệm về tội chống người thi hành công vụ ……………………………………. 9

    1.2.1.1. Khái niệm “người thi hành công vụ” ……………………………………………….9

    1.2.1.2. Khái niệm “tội chống người thi hành công vụ”………………………………..10

    1.2.2. Đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ ………………………………….. 11

    1.3. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

    TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM………………………………………………………….13

    1.3.1. Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 ……………………. 13

    1.3.2. Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 ……………………………………. 13

    1.3.3. Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay ………………………. 14

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    1.4. Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH

    CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM …………………………………..15

    CHƯƠNG II. TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH

    SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH ………………………………………………………………………….17

    2.1. TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ

    VIỆT NAM HIỆN HÀNH…………………………………………………………………………….17

    2.2. DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

    THEO LUẬT HÌNH SỰ 1999……………………………………………………………………….18

    2.2.1. Khách thể của tội phạm chống người thi hành công vụ ………………………. 18

    2.2.2. Chủ thể của tội phạm chống người thi hành công vụ ………………………….. 20

    2.2.3. Mặt khách quan của tội phạm chống người thi hành công vụ …………….. 21

    2.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm chống người thi hành công vụ…………………. 25

    2.3. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

    CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ………………………………………29

    2.3.1. Trách nhiệm hình sự của tội chống người thi hành công vụ không có tình

    tiết định khung tăng nặng ……………………………………………………………………………………… 29

    2.3.2. Trách nhiệm hình sự của tội chống người thi hành công vụ có tình tiết

    định khung tăng nặng ……………………………………………………………………………………………. 30

    2.3.2.1. Phạm tội có tổ chức …………………………………………………………………….30

    2.3.2.2. Phạm tội nhiều lần………………………………………………………………………35

    2.3.2.3. Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội……………………………..36

    2.3.2.4. Gây hậu quả nghiêm trọng……………………………………………………………37

    2.3.2.5. Tái phạm nguy hiểm…………………………………………………………………….38

    2.4. PHÂN BIỆT TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ VỚI MỘT SỐ

    TỘI KHÁC …………………………………………………………………………………………………39

    2.4.1. Phân biệt tội chống người thi hành công vụ và tội giết người quy định tại

    điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự ……………………………………………………………….. 39

    2.4.1.1. Về khái niệm ………………………………………………………………………………39

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    3.5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CHỐNG

    NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH………………72

    3.5.1. Hoàn thiện những quy định của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu

    quả áp dụng pháp luật…………………………………………………………………………………………… 72

    3.5.1.1. Hoàn thiện những quy định của pháp luật hiện hành ………………………..72

    3.5.1.2. Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật để phòng chống và xử lý tội phạm

    chống người thi hành công vụ. ………………………………………………………………….75

    3.5.2. Một số giải pháp khác …………………………………………………………………………. 76

    3.5.2.1. Giải pháp kinh tế – xã hội……………………………………………………………..76

    3.5.2.2. Những giải pháp về tổ chức quản lý xã hội ……………………………………..78

    3.5.2.3. Biện pháp về văn hóa và giáo dục………………………………………………….79

    3.5.2.4. Giải pháp về hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật………………………80

    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………………82

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    LỜI NÓI ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 được coi là: “Đại hội đổi mới tư

    duy”, tạo nền thuận lợi cho các kỳ đại hội sau này, đã đề ra đường lối đổi mới đất nước

    một cách toàn diện, sâu sắc. Đại hội xác định xoá bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập

    trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ

    nghĩa có sự điều tiết của nhà nước. Nhờ đó mà trong những năm tiếp theo đất nước ta

    không ngừng phát triển về mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội…

    Trong công cuộc đổi mới của đất nước, không chỉ thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ

    Chí Minh….mà các tỉnh khác cũng không ngừng phấn đấu phát triển để trở thành những

    trung tâm kinh tế, văn hóa của đất nước, trong đó có tỉnh Trà Vinh. Trà Vinh nằm trong

    khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, với diện tích 2. 215km2, dân số 1.015 triệu người

    (2012) tuy vị trí địa lí không thật sự thuận lợi nhưng tỉnh Trà Vinh vẫn có một số lợi thế

    nhất định so với các tỉnh khác trong khu vực như: Dự án đầu tư công trình Luồng cho tàu

    biển có trọng tải lớn vào sông Hậu (kênh Quan Chánh Bố), Trung tâm điện lực Duyên

    Hải công suất dự kiến 4.400 MW, Dự án nâng cấp mở rộng các tuyến quốc lộ 53-54-60

    rút ngắn thời gian và khoảng cách giữa Trà Vinh với Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh

    khác trong khu vực,…tất cả các công trình trên đang được thực hiện một cách khẩn

    trương và khi những công trình đó hoàn thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các

    mặt của đời sống kinh tế xã hội.

    Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế cũng kéo theo những tiêu cực đáng kể. Đó

    là sự thiếu kinh nghiệm, kém ổn định của trật tự kỷ cương xã hội. Đây chính là điều kiện

    thuận lợi cho các loại tội phạm phát sinh, phát triển, gây cản trở cho sự phát triển của đất

    nước, trong đó phải kể đến nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Điển hình

    trong nhóm tội phạm này là tội phạm chống người thi hành công vụ. Loại tội phạm này

    đang diễn ra với quy mô rộng ở khắp nơi trên toàn quốc nói chung và tỉnh Trà Vinh nói

    riêng.

    Tại địa bàn tỉnh Trà Vinh trong những năm gần đây, diễn biến của loại tội phạm

    này hết sức phức tạp, tính chất và mức độ của tội phạm ngày càng nghiêm trọng, gây

    nguy hại to lớn cho ổn định trật tự xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các

    cơ quan nhà nước, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, của nhân viên cơ quan

    nhà nước, tổ chức xã hội.

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 1

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    Từ những lí do trên đã tác động người viết chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp

    phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” làm đề

    tài nghiên cứu để cung cấp một số thông tin hữu ích về diễn biến và tình hình của loại tội

    phạm này trên địa bàn tỉnh nhà, đồng thời thông qua đề tài này tác giả cũng muốn góp

    một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện các chế định pháp luật và đề ra

    một số biện pháp khắc phục để hạn chế sự phát triển của loại tội phạm này đảm bảo an

    ninh trật tự trên địa bản tỉnh nói riêng cũng như trên địa bàn cả nước nói chung.

    2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đề tài

    Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏa các dấu hiệu pháp lý của tội phạm

    chống người thi hành công vụ qua đó tìm ra những điểm khác biệt của hành vi chống

    người thi hành công vụ với một số hành vi cùng loại là dấu hiệu của một số tội danh

    khác, phân biệt giữa tội chống người thi hành công vụ và một số tội phạm khác có liên

    quan. Đồng thời đề tài đi sâu vào việc tìm hiểu và phân tích thực trạng, lý giải các nguyên

    nhân và điều kiện của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh

    Trà Vinh gắn liền với những đặc thù kinh tế, chính trị, xã hội ở đây. Từ đó đưa ra một số

    giải pháp phòng ngừa và hạn chế tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn

    tỉnh Trà Vinh.

    Đề tài tập trung làm rõ các mặt lý luận về khái niệm, đặc điểm, tính chất, dấu hiệu

    pháp lý của tội chống người thi hành công vụ. Đồng thời tập trung phân tích các yếu tố

    thực trạng, nguyên nhân điều kiện phát sinh của tội chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh từ đó đề ra một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế tội phạm này

    trên địa bàn tỉnh nhà.

    3. Phương pháp nghiên cứu đề tài

    Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương

    pháp nghiên cứu chủ yếu sau để hoàn thành luận văn được tốt hơn:

    Luận văn sử dụng lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan

    điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm nền tảng lý luận để đưa ra các quan điểm, lập

    luận của chính bản thân để về tội chống người thi hành công vụ.

    Sử dụng các phương pháp thống kê hình sự, phương pháp so sánh, phương pháp

    điều tra xã hội học, phương pháp phân tích các luận cứ khoa học để làm sáng tỏ vấn đề

    được nghiên cứu.

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 2

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 3

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    CHƯƠNG I

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH

    CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

    1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH

    CHÍNH

    1.1.1. Khái niệm về tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

    Quản lý hành chính Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây

    dựng, phát triển và ổn định kinh tế xã hội của đất nước. Quản lý hành chính nhà nước

    đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và của

    công dân. Chính vì vậy để hoạt động quản lý hành chính thật sự mang lại hiệu quả, đóng

    góp tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước, Luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội

    chủ nghĩa Việt Nam quy định chương “Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính”

    nhằm ngăn ngừa và chống lại những hành vi gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội,

    làm giảm hiệu lực và hiệu quả thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước.

    Quản lý hành chính là bộ phận quan trọng trong quản lý xã hội của Nhà nước. Việc

    xử lý về mặt hình sự các hành vi xâm phạm trật tự quản lý hành chính là cần thiết góp

    phần ổn định trật tự, kỉ cương xã hội. Theo luật hình sự Việt Nam, các tội xâm phạm trật

    tự quản lý hành chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm hoạt động bình thường

    của nhà nước và xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.1

    Cũng có quan điểm khác cho rằng “tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính” là:

    những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xâm phạm vào những quy định của Nhà

    nước về trật tự quản lý hành chính, gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội và làm

    giảm hiệu lực của cơ quan quản lý nhà nước.2

    Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước có các đặc điểm cơ bản sau

    đây:

    Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, không chỉ cản trở hoạt động bình

    thường của cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong quản lý hành chính mà còn gây ra

    1

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 4

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    thiệt hại đến tài sản, tính mạng, sức khỏe, của con người, an ninh quốc gia, an ninh quốc

    phòng.

    Nhiều tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính có cấu thành tội phạm hình thức.

    Việc quy định như vậy có ý nghĩa trong đấu tranh phòng chống tội phạm, cũng như thể

    hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước trong việc xử lý các hành vi xâm phạm trật tự quản lý

    hành chính (chỉ cần có hành vi vi phạm không đòi hỏi phải có hậu quả xảy ra thì đã bị xử

    lý về hình sự).3

    Từ những quan điểm và phân tích trên người viết xin đưa ra khái niệm “tội xâm

    phạm trật tự quan lý hành chính”: Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính là

    hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện,

    biểu hiện qua hình thức lỗi cố ý hay vô ý, những hành vi này xâm phạm hoạt động đúng

    đắn, bình thường của các cơ quan nhà nước gây khó khăn cho công tác xã hội hoặc làm

    giảm hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước.

    Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành

    chính về cơ bản vẫn kế thừa những tư tưởng chỉ đạo của Bộ luật hình sự năm 1985. bên

    cạnh đó bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) cũng có những thay đổi: Các tội

    xâm phạm trật tự quản lý hành chính được quy định tại chương XX Bộ luật hình sự năm

    1999 gồm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính quy định định tại Mục C, Chương

    VII và một số tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Mục B, Chương I, phần các tội

    phạm Bộ luật hình sự 1985. Ngoài ra do tình hình kinh tế, xã hội có nhiều thay đổi nên

    nhà làm luật quy định thêm hai tội phạm mới mà Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy

    định, đó là: “Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ” (Điều 260) và

    “Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới” (Điều 273).

    So với Mục C, Chương VIII và Mục B, Chương I phần các tội phạm của Bộ luật

    hình sự năm 1985 thì các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính quy định tại Chương

    XX Bộ luật hình sự năm 1999 có những điểm mới và bổ sung sau đây:

    Mục C, Chương VIII, phần các tội phạm Bộ luật hình sự 1985 có 14 điều (từ Điều

    205 đến Điều 217) quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, còn chương

    XX Bộ luật hình sự 1999 có 20 điều (từ Điều 257 đến Điều 276) quy định các tội xâm

    phạm trật tự quản lý hành chính với 20 tội danh tương ứng. Tuy nhiên trong đó đã có 14

    tội được qui định tại Mục C, Chương VIII phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 1985, 4

    3

    Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 2, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.

    259.

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 5

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    tội được quy định tại Mục B, Chương I phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1985 và

    bổ sung hai tội mới đó là: “Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ”

    (Điều 260) và “Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới” (Điều 273).

    Chương XX Bộ luật hình sự 1999 quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý

    hành chính, một số tội trước đây thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia như: (tội tổ

    chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép; tội xuất

    nhập cảnh trái phép) được tách ra đưa vào chương này. Bên cạnh đó do sự thay đổi của

    tình hình kinh tế, xã hội cũng như chính sách của nhà nước một số hành vi trước đây

    không bị coi là tội phạm thì giờ đã bị coi là tội phạm và ngược lại một số hành vi trước

    đây bị coi là tội phạm thì nay không bị coi là tội phạm nữa: Ví dụ: hành vi không chấp

    hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ trước đây chưa bị coi là tội phạm nay được quy

    định là tội phạm trong Bộ luật hình sự 1999 (Điều 206). Ngược lại, hành vi trốn tránh

    nghĩa vụ lao động công ích trước đây bị coi là tội phạm nay không bị coi là tội phạm nữa

    và bị loại bỏ khỏi Bộ luật hình sự 1999.

    Tên tội danh trong các điều luật của Bộ luật hình sự 1999 cũng có những bổ sung và

    thay đổi nhất định, một số tội danh được quy định thêm những tình tiết mới hoặc sửa đổi

    cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội. Ví dụ: Điều 215 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ

    quy định: “tội vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo, ấn phẩm khác”,

    thì điều 271 Bộ luật hình sự năm 1999 lại quy định: “tội vi phạm các quy định về xuất

    bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình, hoặc các ấn

    phẩm khác”; một số tội danh được tách từ một hoặc một số tình tiết là yếu tố định khung

    hình phạt. Ví dụ: tình tiết “làm giả con dấu, giấy tiêu đề hoặc giấy tờ khác của cơ quan

    nhà nước, tổ chức xã hội hoặc sử dụng con dấu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan nhà

    nước, tổ chức xã hội hoặc công dân” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 211 Bộ luật hình

    sự năm 1985 nay được quy định thành tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”

    tại Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999.

    Các tình tiết là yếu tố định tội ở một số tội danh cũng được sửa đổi, bổ sung theo

    hướng phi hình sự hóa một số hành vi hoặc quy định các tình tiết làm ranh giới để phân

    biệt thành vi phạm tội với hành vi chưa tới mức là tội phạm. Ví dụ: người có hành vi xuất

    cảnh, nhập cảnh trái phép, trước đây không cần “đã bị xử lý hành chính về hành vi xuất

    cảnh, nhập cảnh trái phép” cũng đã cấu thành tội phạm, nay nếu chưa bị xử lý hành chính

    thì chưa cấu thành tội phạm. Cùng với những thay đổi trên thì Bộ luật hình sự năm 1999

    cũng có một số thay đổi khác: hầu hết các tội phạm đều bổ sung nhiều tình tiết là yếu tố

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 6

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    định khung hình phạt; hình phạt bổ sung đối vời từng tội phạm được qui định trong cùng

    một điều luật.4

    Có thể thấy rằng, việc thay đổi một số chính sách hình sự là một điều tất yếu phù

    hợp với quy luật phát triển của kinh tế, xã hội. Kinh tế và xã hội luôn vận động theo

    chiều hướng đi lên từ thấp đến cao. Tuy vậy, cùng với sự phát triển đó thì những mặt tiêu

    cực của kinh tế và xã hội cũng bộc lộ ở mức độ nhiều hơn mà cụ thể là hành vi của tội

    phạm. Khi trình độ văn hóa của những người dân được nâng cao thì trình độ nhận thức

    của họ về phát luật cũng sâu sắc hơn, họ ý được quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình từ

    đó điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội. Tuy nhiên, bên

    cạnh những mặt tích cực như vậy thì những biểu hiện tiêu cực cũng xuất hiện ngày một

    nhiều hơn, bởi do đã am hiểu pháp luật, trình độ nhận thức được nâng cao, nhìn thấy

    được kẻ hở của luật pháp nên một số tội phạm đã lợi dụng chính khe hở đó để phạm tội,

    và cùng với đó thì sự phát triển nhanh của xã hội làm xuất hiện nhiều hành vi mà trước

    đây các nhà làm luật chưa lường trước được hết tính nguy hiểm của nó đối với xã hội nên

    làm cho chính sách hình sự của nhà nước ta trở nên lạc hậu và không còn phù hợp với

    thực tế. Từ những lý do đó, nên chính sách hình sự phải có thay đổi để phù hợp với quy

    luật vận động, phát triển của kinh tế – xã hội là một điều hợp lý.

    1.1.2. Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

    1.1.2.1. Khách thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

    Các tội phạm này không chỉ xâm phạm trật tự quản lý hành chính nói chung, mà

    trong nhiều trường hợp còn trực tiếp xâm phạm và gây thiệt hại về tính mạng, thiệt hại

    nghiêm trọng về sức khỏe của nhân dân, tài sản Nhà nước, của tổ chức hoặc của công

    dân. Việc quy định các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong Bộ luật hình sự

    không chỉ nhằm bảo đảm hoạt động quản lý hành chính của bộ máy nhà nước xã hội chủ

    nghĩa đạt hiệu quả mà còn bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân, tài sản của nhà

    nước, của các tổ chức và của công dân.

    Trật tự quản lý hành chính là trật tự trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà

    nước đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Giữ gìn trật tự trong lĩnh vực

    này cũng đồng thời nhằm đảm bảo sự an toàn về tính mạng, sức khỏe cho những người

    thực hiện nhiệm vụ quan lý hành chính.

    4

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 7

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    1.1.2.2. Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

    Chủ thể của các tội quy định tại Chương XX Bộ luật hình sự hiện hành là những

    người đạt độ tuổi nhất định và có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12

    và Điều 13. Phần lớn các tội trong Chương này là tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng.

    Vì vậy, chủ thể của các loại tội phạm này có thể là bất cứ người nào từ đủ mười sáu tuổi

    trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Chỉ có một số ít tội phạm có thể là những

    người từ đủ mười bốn tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự (các khoản 2, 3 của

    Điều 263 và Điều 275). Một số tội phạm trong Chương này thuộc nhóm tội có chủ thể

    đặc biệt, đó là những người có thẩm quyền nhất định (về đăng ký nghĩa vụ quân sự – Điều

    261) hoặc có trách nhiệm về một lĩnh vực nào đó (bí mật nhà nước – Điều 263 và Điều

    264) hoặc phải là người có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ nhất định (nghĩa vụ

    quân sự, nhập ngũ – Điều 259 và Điều 260).

    1.1.2.3. Khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

    Mặt khách quan của đa số các tội phạm quy định trong Chương XX Bộ luật hình

    sự hiện hành được thể hiện ở tất cả các dạng hành động và không hành động. một số tội

    phạm chỉ được thể hiện ở dạng hành động như: tội chống người thi hành công vụ; tội cố ý

    làm lộ bí mật nhà nước, chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước; tội sửa

    chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội lam giả con dấu,

    tài liệu cảu cơ quan, tổ chức…

    Hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản không phải là dấu

    hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của đa số các tội phạm thuộc Chương này. Ngoài

    ra, đối với một số tội (thuộc các điều 270, điều 272, điều 273, điều 274), dấu hiệu bắt

    buộc trong cấu thành tội phạm còn là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị

    kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Chỉ đối với một số rất ít các

    tội (Điều 266, Điều 272), hậu quả thiệt nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành

    tội phạm.

    1.1.2.4. Chủ quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

    Đa số các hành vi phạm tội được quy định tại Chương XX Bộ luật hình sự hiện

    hành được thực hiện với lỗi cố ý. Chỉ có một số ít hành vi được thực hiện với lỗi vô ý

    (các điều 264, 271, 272, 273). Mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt

    buộc trong cấu thành tội phạm của các loại tội phạm này. Đối với một số tội (Điều 263,

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 8

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    5

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 9

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    6

    Nguyễn Anh Thu, Trung tâm thông tin- thư viện, Đại học quốc gia Hà Nội, Dấu hiệu “chống người thi hành công

    vụ” trong luật hình sự Việt Nam, http://dl.vnu.edu.vn/handle/11126/941?mode=simple, [truy cập ngày 15- 9- 2014].

    7

    Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 2- Phần các tội phạm, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà Nội,

    2012, tr. 534

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 10

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    1.2.2. Đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ

    Mỗi tội phạm đều mang những đặc điểm riêng biệt nhưng nhìn chung thì tội phạm

    nào cũng có những đặc điểm cơ bản, đó là:

     Hành vi được thực hiện là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.

     Tính trái pháp luật hình sự.

     Tính có lỗi của tội phạm.

     Tính chịu hình phạt của tội phạm.

    Tội phạm chống người thi hành công vụ cũng mang những đặc điểm cơ bản trên

    nhưng cũng có vài nét khác biệt để phân biệt với các loại tội phạm khác:

    Thứ nhất, Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi đã gây ra hoặc đe dọa gây thiệt

    hại đáng kể đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Các quan hệ đó là: độc lập,

    chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ

    kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp

    của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các

    quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự

    pháp luật xã hội chủ nghĩa. Nếu thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra không đáng kể thì

    không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội và không bị coi là hành vi phạm tội. Có thể

    thấy tội phạm chống người thi hành công vụ là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, về mặt

    khách quan nó gây thiệt hại cho khách thể là trật tự quản lý hành chính được pháp luật

    hình sự bảo vệ. Tuy nhiên, tội chống người thi hành công vụ cũng có đặc điểm riêng biệt

    khác với các loại tội phạm khác thể hiện qua các yếu tố sau:

    Người thực hiện công vụ phải thực hiện công vụ từ khi bắt đầu thực hiện công vụ và

    chưa kết thúc thực hiện công vụ.

    Người thực hiện công vụ phải là người do bổ nhiệm, do bầu cử do hợp đồng hoặc

    hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao nhiệm vụ và quyền

    hạn nhất định trong thực hiện nhiệm vụ. Trong thực tế người thi hành công vụ có đặc

    điểm dễ nhận biết như: trang phục, thẻ cán bộ, quân hàm,…Tuy nhiên do đặc trưng của

    nghành hay công việc nên rất khó nhận biết từ đặc điểm bên ngoài: tình báo, cảnh sát

    hình sự làm trinh sát,…

    Đối tượng tác động của tội phạm phải là người đang thi hành công vụ, chứ không

    phải là đối tượng nào khác được quy định trong bộ luật hình sự. Và đây cũng là điểm

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 11

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    khác biệt nhất về bản chất của tội phạm này với tội phạm khác được quy định trong Bộ

    luật hình sự Việt Nam.8

    Thứ hai, Việc nhà làm luật quy định chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội được

    quy định trong Bộ luật hình sự mới là tội phạm nhằm gạt bỏ việc áp dụng nguyên tắc

    tương tự. Chỉ có Bộ luật hình sự mới được quy định tội phạm, ngoài Bộ luật hình sự không

    có văn bản pháp luật nào khác được quy định tội phạm.

    Tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu biểu hiện hình thức pháp lý của tính nguy

    hiểm cho xã hội của tội phạm. Tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu kèm theo của tính

    nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Tuy nhiên, dù một hành vi có tính chất nguy hiểm

    đến đâu nhưng chưa được quy định trong luật hình sự thì cũng chưa bị coi là tội phạm,9

    và hành vi chống người thi hành công vụ cũng tuân theo quy luật đó. Với hành vi của tội

    phạm chống người thi hành công vụ là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc dùng thủ

    đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực

    hiện hành vi trái pháp luật, được xem là hành vi trái với quy định tại điều 257 Bộ luật

    hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009). Do nhìn nhận được sự nguy hiểm của hành vi

    chống người thi hành công vụ nên các nhà làm luật đã quy định hành vi này trong một

    điều luật cụ thể, đó là: Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009).

    Thứ ba, đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ còn thể hiện ở tính lỗi của

    tội phạm. Lỗi là thái độ tâm lý của người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu

    quả của hành vi đó dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Đối với tội chống người thi hành công

    vụ, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi

    trái pháp luật của mình là đang chống lại người thi hành công vụ và mong muốn thực

    hiện việc chống lại này khiến cho người thi hành công vụ không hoàn thành được nhiệm

    vụ. Tuy nhiên, để xem xét hành vi chống người thi hành công vụ có lỗi hay không cần

    phải xem xét hai điều kiện sau:

    Người thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ phải có năng lực trách nhiệm

    hình sự khi thực hiện hành vi của mình, tức là không bị rơi vào tình trạng không có năng

    lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung

    2009).

    8

    Đinh Văn Quế, Một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng,

    NXB Công An Nhân Dân, 2007, tr. 12.

    9

    Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1- Phần chung, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà Nội, 2009,

    tr.120.

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 12

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    Tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 257 là người

    từ đủ 16 tuổi trở lên.

    Thứ tư, ngoài ba yếu tố tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính

    có lỗi thì tính chịu hình phạt không thể thiếu khi phân tích tội phạm nói chung và tội

    phạm chống người thi hành công vụ nói riêng. Tính chịu hình phạt của tội phạm chống

    người thi hành công vụ là trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu khi

    thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ và thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội

    phạm quy định tại điều 257 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009).

    1.3. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG

    VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

    1.3.1. Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

    Trong bất kì thời kì nào thì hành vi chống người thi hành công vụ cũng diễn ra, bởi

    vì trong bất kì hoàn cảnh nào thì cũng có người để bảo vệ lợi ích cho riêng mình mà đi

    ngược lại với lợi ích của toàn xã hội. Tuy nhiên, trong giai đoạn này không có một văn

    bản nào quy định về một tội phạm riêng, cụ thể cho hành vi chống người thi công vụ, mà

    nằm rải rác trong các văn bản quy định về một nhóm tội nào đó. Hành vi chống người thi

    hành công vụ được thể hiện trong các quy định của các văn bản như Sắc lệnh số 26-SL

    ngày 25/02/1946 trừng trị tội phá hoại cộng sản; Sắc lệnh số 27-SL ngày 28/02/1946

    trừng trị các tội bắt cóc, tống tiền và ám sát, Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng

    trị những tội phạm xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của nhà nước; Sắc

    lệnh số 151-SL ngày 12/04/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật và thông tư số 442-TT

    ngày 19/01/1955 về tổng kết án lệ một số tội phạm thông thường,…

    1.3.2. Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

    Trong lời nói đầu của Bộ luật hình sự năm 1985 có đoạn viết như sau: “Trong hệ

    thống pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật hình sự có vị trí rất

    quan trọng. Nó là một công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản để bảo vệ

    những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc

    gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu

    tranh chống và phòng ngừa mọi hành vi phạm tội, góp phần hoàn thành hai nhiệm vụ

    chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt

    Nam xã hội chủ nghĩa”. Qua lời nói đầu trên, có thể thấy vai trò và tầm quan trọng của

    Bộ luật hình sự 1985 đối với đời sống kinh tế – chính trị cũng như xã hội của nước ta là

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 13

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    rất lớn. Bộ luật hình sự 1985 đã cụ thể hóa đường lối và chính sách của Đảng và nhà

    nước ta, góp phần ngăn ngừa và phòng chống tội phạm, đồng thời nó là một lời răng đe

    mạnh mẽ với những người phạm tội, từ đó góp phần ổn định an ninh trật tự, đời sống xã

    hội và tạo điều kiện cho đất nước phát triển.

    Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

    Nam khoá VII, kỳ họp thứ 9, nhất trí thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 tại Hà Nội, có

    hiệu lực thi hành ngày 01/01/1986 gồm 12 chương và 280 điều. Trong đó “tội chống

    người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 205, mục C, Chương VIII: các tội xâm

    phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính. Điều 205 Bộ luật hình sự

    1985 quy định như sau:

    “1- Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công vụ

    cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành vi trái pháp luật, nếu

    không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109, thì bị phạt cải tạo không giam

    giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

    2- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm”.

    Theo Bộ luật hình sự năm 1985 quy định, nếu người phạm tội chống người thi hành

    công vụ rơi trường hợp quy định tại khoản 2, điều 205 thì có thể bị xử phạt đến mười

    năm – thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng. Đây là một điều rất hợp lý bởi lúc này đất

    nước ta mới thống nhất, chính quyền hợp nhất hai miền Bắc – Nam còn non trẻ vì thế việc

    răng đe những hành vi chống người thi hành công vụ, để thực hiện việc công cũng như

    thực thi pháp luật được một cách nhanh chóng và hiệu quả là đều hết sức cần thiết.

    1.3.3. Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay

    Trải qua quá trình xây dựng và phát triển sau nhiều năm, nước ta đã đạt được không

    ít thành tựu cũng như có những bước tiến quan trọng về chính trị, kinh tế và xã hội. Do

    đó, để đáp ứng kịp thời với sự thay đổi của tình hình thực tế ngày 21/12/1999 Quốc hội

    nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, tại kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật

    hình sự mới thay cho Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự mới gồm 24 chương và

    344 điều, có hiệu lực từ ngày 01/07/2000. Trong đó, “tội chống người thi hành công vụ

    được quy định tại Điều 257, Chương XX: Các tội xâm phạm trật tư quản lý hành chính.

    Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định như sau:

    “1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở

    người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 14

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu

    tháng đến ba năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến

    bảy năm :

    a) Có tổ chức;

    b) Phạm tội nhiều lần;

    c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

    d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

    đ) Tái phạm nguy hiểm”.

    Có thể thấy điểm khác biệt cơ bản của Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 so với

    Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 là: Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 có bổ sung

    thêm hành vi “dùng thủ đoạn khác”. Có sự thay đổi như thế là một điều dễ hiểu bởi qua

    thực tiễn và kinh nghiệm xét xử cho thấy, nhiều trường hợp người phạm tội không dùng

    vũ lực, cũng không đe dọa dùng vũ lực nhưng vẫn cản trở được người thi hành công vụ

    thực hiện công vụ của mình nhưng vẫn không bị xử phạt vì không được quy định trong

    điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985. Vì thế các nhà làm luật đã bổ sung thêm hành vi

    “dùng thủ đoạn khác” vào Điều 257 Bộ luật hình sự 1999, đây cũng một quy định tiến

    bộ của Bộ luật hình sự năm 1999 so với bộ luật hình sự năm 1985. Sau này, cũng xuất

    phát từ nhu cầu thay đổi các văn bản pháp luật để phù hợp hơn với tình hình thực tiễn

    kinh tế – xã hội của đất nước thì Bộ luật hình sự năm 1999 cũng được sửa đổi, bổ sung

    năm 2009 nhưng tội chống người thi hành công vụ vẫn được giữ nguyên không bị sửa

    đổi, bổ sung.

    1.4. Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH

    CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

    Với tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường, đã đem lại cho đất nước và xã hội

    nhiều lợi ích to lớn. Tuy nhiên, cùng với đó là những tiêu cực xuất hiện ngày một nhiều

    hơn, các tội phạm trên những lĩnh vực khác nhau cũng không ngừng phát triển và tội

    phạm trong lĩnh vực quản lý hành chính cũng không nằm ngoài xu thế đó mà đặc biệt là

    tội phạm chống người thi hành công vụ. Tội phạm chống người thi hành công vụ xảy ra

    ngày một tăng, tính chất và mức độ một nguy hiểm cũng cao hơn. Các hành vi chống

    người thi hành công vụ diễn ra ngày một liều lĩnh, manh động hơn trực tiếp đe dọa đến

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 15

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    sức khỏe, tính mạng của người thi hành công vụ cũng như an toàn xã hội. Bên cạnh đó

    với đặc điểm nổi bậc của nhóm tội phạm xâm phạm quản lý hành chính, thì hành vi

    chống người thi hành công vụ cũng làm giảm luôn hiệu quả quản lý xã hội của các cơ

    quan nhà nước. Bộ luật hình sự với vai trò quan trọng là công cụ quản lý xã hội của nhà

    nước phải giữ được vị thế của mình, nó là một trong những công cụ hiệu quả để răng đe

    tội phạm. Vì thế, việc quy định tội chống người thi hành công vụ trong bộ luật hình sự là

    hết sức cần thiết, nó góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người thi hành công vụ,

    đảm bảo hoạt động hiệu quả của các cơ quan nhà nước từ đó giữ vững được an ninh, trật

    tự và an toàn xã hội.

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 16

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    CHƯƠNG II

    TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH

    SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

    2.1. TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ

    VIỆT NAM HIỆN HÀNH

    Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 bộ luật hình sự năm

    1999 như sau:

    1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người

    thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp

    luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba

    năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy

    năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Phạm tội nhiều lần;

    c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

    d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

    e) Tái phạm nguy hiểm;

    Theo khoản 1 Điều 8 Luật Hình sự Việt Nam hiện hành thì “Tội phạm là hành vi nguy

    hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm

    hình sự thực hiện một cách cố ý hau vô ý…”. Tuy nhiên, những hành vi gây nguy hiểm

    cho xã hội không đáng kể thì không được xem là tội phạm. Trong luật Hình sự Việt Nam

    hiện hành bất cứ một hành vi nào khi đã kết luận là tội phạm thì đều phải chịu hình phạt

    nhất định nào đó, tùy vào mỗi mức độ phạm tội, mức độ thành khẩn, những trường hợp

    tăng nặng, giảm nhẹ, mà quyết định hình phạt một cách hợp lý và công bằng luôn lấy quy

    định pháp luật làm căn cứ. Như vậy, “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của

    Nhà nước nhằm tước bỏ hoăc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội”.10

    10

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 17

    SVTH: Trần Văn Thố

    Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên

    địa bàn tỉnh Trà Vinh

    2.2. DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

    THEO LUẬT HÌNH SỰ 1999

    2.2.1. Khách thể của tội phạm chống người thi hành công vụ

    Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội

    phạm xâm hại.

    Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến trật tự công cộng, gây trở ngại cho

    hoạt động bình thường của những người đang thực hiện nhiệm vụ do cơ quan nhà nước

    hay tổ chức giao cho.11

    Đối tượng tác động của tội phạm chống người thi hành công vụ là người đang thi

    hành công vụ, thông qua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến

    việc thực hiện nhiệm vụ công. Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử,

    do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không có hưởng lương,

    được giao nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ của mình. Ví

    dụ: cảnh sát giao thông, bộ đội biên phòng, cán bộ thu thuế, cán bộ thi hành án…

    Người đang thi hành công vụ nói tại Điều 257 Bộ luật hình sự rất đa dạng. Có thể họ

    là những người được Nhà nước giao cho công việc nhất định để thực hiện theo pháp luật,

    cũng có thể do người có thẩm quyền phân công trong từng trường hợp cụ thể. Cá biệt có

    những trường hợp là công dân bình thường nhưng được điều động thực hiện một công vụ

    cấp bách nào đó vì lợi ích chung cũng được xem là người đang thi hành công vụ. Tội

    phạm này chỉ bảo vệ những người có trách nhiệm, nhiệm vụ thực hiện “công vụ”. Vì vậy,

    dù công chức đang thực hiện công việc nhưng công việc này vì lợi ích hoặc động cơ cá

    nhân thì không được xem là phạm vi của tội phạm này nếu có hành vi chống lại công

    chức thực hiện công vụ đó.12

    Ví dụ: anh A là cảnh sát trật tự của Công an quận, trên đường tuần tra anh A phát

    hiện anh B đang chạy xe gắn máy trên đường (không có hành vi phạm luật giao thông) là

    người có cải vã với mình trong quán cà phê hôm trước, anh A liền ra hiệu lệnh bảo anh

    B tấp vô lề đường để kiếm chuyện trả đũa việc hôm trước trong quán cà phê. Khi anh B

    điều khiển xe dừng lại trên lề đường thì anh A không kiểm tra giấy tờ hay các hoạt động

    11

    Phạm Văn Beo, Luật Hình Sự Việt Nam, Quyển 2- Phần các tội phạm, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà

    Nội, 2012, tr. 534.

    12

    Phạm Văn Beo, Luật Hình Sự Việt Nam, Quyển 2- Phần các tội phạm, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà

    Nội, 2012, tr. 535.

    GVHD: TS. Phạm Văn Beo

    Trang 18

    SVTH: Trần Văn Thố

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Giải Pháp Đồng Bộ Để Hạn Chế Hành Vi Chống Người Thi Hành Công Vụ
  • Giải Pháp Đẩy Lùi Tình Trạng Chống Người Thi Hành Công Vụ
  • Tìm Giải Pháp Đẩy Lùi Tình Trạng Chống Người Thi Hành Công Vụ
  • Tội Chống Người Thi Hành Công Vụ Bị Xử Phạt Như Thế Nào ?
  • Giải Pháp Ngăn Chặn Tình Trạng Chống Người Thi Hành Công Vụ
  • Bạn đang xem bài viết Thực Trạng Và Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm Chống Người Thi Hành Công Vụ Trên Địa Bàn Tỉnh Trà Vinh trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!