Đề Xuất 2/2023 # Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Trên Địa Bàn Hà Tĩnh, Thực Trạng Và Giải Pháp # Top 8 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Trên Địa Bàn Hà Tĩnh, Thực Trạng Và Giải Pháp # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Trên Địa Bàn Hà Tĩnh, Thực Trạng Và Giải Pháp mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

HOÀNG TRUNG DŨNG

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Chính trị học

Hà Nội – 2013

1

HOÀNG TRUNG DŨNG

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học Mã số: 60 31 02 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị Thu Hƣơng

Hà Nội – 2013

2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” là công trình khoa học của riêng tôi. Các nội dung, số liệu được nêu trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy, chính xác. Tôi xin chịu trách nhiệm về cam kết của mình.

Tác giả

Hoàng Trung Dũng

3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CNH

:

Công nghiệp hóa

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

HĐH

:

Hiện đại hóa

KTXH

:

Kinh tế – xã hội

MTTQ

:

Mặt trận Tổ quốc

QCDC

:

Quy chế dân chủ

QPAN

:

Quốc phòng – an ninh

UBND

:

Ủy ban nhân dân

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa

4

MỞ ĐẦU

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN

1.1. Nhận thức chung về Dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở 1.1.1. Một số khái niệm 1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ và Dân chủ xã hội chủ nghĩa 1.1.3. Thực hiện Quy chế dân chủ, nội dung quan trọng của dân chủ ở xã, phường, thị trấn ở nước ta 1.2. Thực hiện Quy chế dân chủ xã, phường, thị trấn là phương thức phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta 1.2.1. Tầm quan trọng của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn 1.2.2. Những định hướng phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Chƣơng 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY

Vị trí địa lý, tình hình kinh tế, chính trị, VHXH của tỉnh Hà Tĩnh 2.2. Những điều kiện tác động đến quá trình thực hiện Quy chế dân chủ 2.3. Nội dung, cách thức triển khai QCDC ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh 2.4. Kết quả trên các lĩnh vực, nguyên nhân thành công, hạn chế 2.5. Một số bài học kinh nghiệm trong việc triển khai Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN

31

2.1.

QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH

Dự báo tình hình và phương hướng thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh Những giải pháp chủ yếu thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới

KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

1

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dân chủ là mục tiêu, là khát vọng hướng tới của con người và xã hội loài người, là nhu cầu khách quan đối với sự phát triển bền vững của tất cả các nước. Ngày nay, cuộc đấu tranh vì dân chủ, vì sự tiến bộ xã hội đang trở thành một xu thế tất yếu của thời đại. Đối với nước ta, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của dân chủ. Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề dân chủ lại càng được đề cao, dân chủ XHCN được khẳng định là bản chất của chế độ, là mục tiêu, động lực của sự phát triển. Nền dân chủ XHCN và việc đảm bảo dân chủ ở Việt Nam không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hoá và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, kể từ khi Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị 30 CT/TW, ngày 18/12/1998 về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, nền dân chủ XHCN được triển khai đồng bộ, rõ nét hơn. Theo đó, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đây là sự thể hiện quyết tâm củng cố, hoàn thiện, phát triển nền dân chủ XHCN trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta; phản ánh tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, đáp ứng nhu cầu và phù hợp với xu thế phát triển của đất nước theo định hướng XHCN. Là một địa phương ở khu vực Bắc miền Trung, sau hơn 15 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 30 – CT/TW của Bộ Chính trị về Quy chế dân chủ ở cơ sở, nhìn chung trên mọi mặt đời sống, chính trị, xã hội của tỉnh Hà Tĩnh có nhiều chuyển biến tích cực. Triển khai thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Dân chủ ở cơ sở) đã tạo động lực giúp Hà Tĩnh khơi dậy tiềm năng, nguồn lực

2

vật chất, tinh thần trong nhân dân; củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, nhân dân; là cơ sở để các địa phương xây dựng phong cách ứng xử của người lãnh đạo, quản lý; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp ủy, chính quyền; làm cầu nối cho nhân dân sát cánh bên Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra, việc triển khai thực hiện QCDC trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến quá trình sự phát triển. Nhận thức về QCDC của một số cấp ủy, chính quyền địa phương, của cán bộ, đảng viên, trong đó có một số người đứng đầu chưa đầy đủ. Một số quy định của Đảng và Nhà nước về thực hiện dân chủ chưa được cụ thể hóa phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Tình trạng phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với bình quân chung cả nước. Điều kiện tiếp cận các dịch vụ giáo dục, văn hóa trong nhân dân giữa các vùng, miền chưa đồng đều. Một số nơi quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm. Nhân dân chưa được hưởng đầy đủ quyền được biết, được bàn, được kiểm tra, thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ của địa phương, nhất là huy động nguồn lực đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, tham gia đền bù, giải phóng mặt bằng, thực hiện chế độ, chính sách, cung cấp thông tin về công tác quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, ngân sách…Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí của công, sách nhiễu chưa được ngăn chặn triệt để. Trình độ dân trí nhìn chung chưa đồng đều; ý thức về dân chủ chưa cao, khả năng nhận thức về văn hóa dân chủ còn nhiều bất cập; một bộ phận nhân dân chưa thấy hết nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, đi ngược lại lợi ích cộng đồng xã hội. Hiện tượng lợi dụng dân chủ, dân chủ quá trớn, vi phạm kỷ luật, kỷ cương, vi phạm pháp luật còn xảy ra ở không ít các địa phương. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, “tôn giáo” để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. 3

4

Các công trình nêu trên nhìn chung tập trung đề cập đến đặc điểm, tình hình, quá trình lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể trên lĩnh vực KTXH, QPAN, xây dựng đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị qua các thời kỳ. Bàn về dân chủ, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở chưa thực sự rõ nét. Như vậy, qua việc nghiên cứu các công trình, đề tài đề cập đến vấn đề dân chủ nói chung cũng như vấn đề dân chủ trong các lĩnh vực, địa bàn, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống đầy đủ, toàn diện về vấn đề dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở lý luận về dân chủ và dân chủ ở cơ sở của Việt Nam nói chung, cùng với việc phân tích đánh giá quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, luận văn chỉ ra thực trạng, đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện QCDC ở cơ sở của tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ – Hệ thống hóa và làm rõ vấn đề lý luận về dân chủ, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. – Phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội, chính trị của tỉnh Hà Tĩnh tác động đến quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. – Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. – Đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn nghiên cứu quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn của tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1998 đến nay. 7

8

Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ TRẤN 1.1. Nhận thức chung về dân chủ và Quy chế dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn 1.1.1. Một số khái niệm Dân chủ là hiện tượng lịch sử – xã hội, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người và xã hội loài người. Theo nguồn gốc của tiếng Hy Lạp, dân chủ gồm 2 từ “demos” có nghĩa là nhân dân, “kratos” có nghĩa là quyền uy, sự cai trị. Như vậy theo nghĩa gốc, dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân, là trạng thái tổ chức xã hội trong đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trong tiếng Việt, thuật ngữ dân chủ có ba hàm nghĩa: chỉ chế độ xã hội; chỉ quyền của người dân và chỉ một phương thức công tác, phong cách quản lý, lãnh đạo [59, tr.137]. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Dân chủ là có quyền tham gia, bàn bạc vào công việc chung, được tôn trọng quyền lợi của từng thành viên trong xã hội”. Dân chủ là khái niệm để chỉ “Chế độ chính trị theo đó quyền làm chủ thuộc về nhân dân”. Ban đầu, khái niệm dân chủ được xem xét về mặt chính trị và pháp luật, về sau mang ý nghĩa rộng hơn, thể hiện ở các lĩnh vực đời sống xã hội như kinh tế, VHXH, mối quan hệ giữa con người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với nhà nước… Khi xã hội loài người chưa phân chia giai cấp, dân chủ được thể hiện dưới hình thức tự quản của cộng đồng. Mọi thành viên có quyền tham gia và quyết định những công việc chung. Khi lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lên, sản phẩm làm ra dư thừa, xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt, hình thức tổ 9

chức xã hội Nhà nước ra đời, trạng thái sơ khai của dân chủ dần bị tan rã. Với sự xuất hiện của Nhà nước, quyền lực cộng đồng xã hội chuyển hoá thành quyền lực Nhà nước. Dân chủ mang bản chất giai cấp và trở thành mục tiêu đấu tranh, giành, giữ và phát triển của nhân loại. Lịch sử của dân chủ cũng cho thấy các giai cấp thống trị khác nhau hiện thực hoá chế độ dân chủ theo lập trường và lợi ích của mình. V.l Lê nin tổng kết: “Chế độ dân chủ là một hình thức Nhà nước, một trong những hình thái của Nhà nước. Cho nên cũng như mọi Nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta” [40, tr.123]. Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển đổi quyền lực từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ là quyền lực của nhân dân được thể hiện trong các tổ chức tự quản theo tập quán, truyền thống (của xã hội cộng sản nguyên thuỷ) biến thành quyền lực của giai cấp thống trị (trong xã hội chiếm hữu nô lệ) được thể chế hoá bằng chế độ nhà nước với sự cưỡng bức là chủ yếu. Chế độ dân chủ gắn với một chế độ xã hội cụ thể và một giai cấp cầm quyền nhất định, đó là chủ nô. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ phong kiến ra đời thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ. Quyền lực xã hội bị thâu tóm vào tay nhà vua, quyền dân chủ của nhân dân lao động bị thu hẹp. Với sự phát triển của nền đại công nghiệp, thương nghiệp, quan hệ sản xuất phong kiến dần bị xóa bỏ. Giai cấp tư sản ra đời, nền dân chủ tư sản xuất hiện với nhiều mặt tiến bộ so với các chế độ dân chủ trước đó nhưng phạm vi của nó chỉ bó hẹp trong một bộ phận là giai cấp tư sản. Khái niệm tự do, dân chủ, bình đẳng bị che lấp bởi quan hệ bóc lột. Nhân dân lao động và người nghèo vẫn chưa được hưởng quyền dân chủ thực sự. Khi giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đánh đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền, thiết lập nền dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân mới trở thành thực chất. Mục đích cao nhất của nền dân chủ XHCN là giải phóng con người và xã hội loài người, xây dựng một xã hội không có giai cấp, mọi người đều bình

10

đẳng, tự do; đây là nền dân chủ tiến bộ nhất. Nền dân chủ XHCN có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; tác động mạnh mẽ đến các quyền tự do về chính trị, tư tưởng, văn hóa và các lĩnh vực khác. Ở nền dân chủ XHCN, những giá trị dân chủ được thể chế hoá thành pháp luật, thành hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước là trụ cột. Dân chủ là mục tiêu, động lực của phát triển. Các giá trị dân chủ trở thành phổ biến, chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội. Mọi công dân và tổ chức xã hội đều có khả năng nhận thức, vận dụng làm chủ bản thân và làm chủ xã hội. Theo C.Mác một nền dân chủ thật sự phải gắn liền với sự nghiệp của nhân dân “Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình thức chế độ nhà nước…ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân” [42, tr.349]. Dân chủ XHCN là dân chủ của đa số nhân dân lao động, được thực hiện bằng Nhà nước “của dân, do dân, vì dân”, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trong nền dân chủ XHCN, nhà nước là công cụ quyền lực để thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, luôn chịu sự giám sát của nhân dân. Nhà nước và nhân dân có mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên. Cán bộ, công chức Nhà nước là người đại diện cho pháp luật để bảo vệ nhân dân. Để tồn tại và khẳng định rõ vị thế, Nhà nước phải đề ra những cơ chế, biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa, xử lý tệ quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm trong cán bộ; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức pháp luật. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quan hệ sản xuất XHCN đang trong quá trình phát triển, dân chủ từng bước được hoàn thiện nên quyền dân chủ của nhân dân có lúc, có nơi chưa được thực hiện đầy đủ. Sau cuộc cách mạng lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến, nền dân chủ mới được hình thành. Trong giai đoạn đổi mới, Đảng tập trung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển cơ sở vật chất cho nền dân chủ XHCN.

11

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể, trong đó có tư tưởng về dân chủ. Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng được củng cố, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Về khái niệm Quy chế được hiểu: Mang tính chất ràng buộc. Tùy vào phạm vi chức năng của cơ quan ban hành, quy chế có những tác động trong phạm vi khác nhau. Về khái niệm Quy chế dân chủ ở cơ sở: Đây là cụm từ viết tắt nói về Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Như vậy: Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn là những quy định cụ thể về trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân theo quy định của pháp luật; đảm bảo để nhân dân được biết, được bàn, được thực hiện, được kiểm tra các công việc của chính quyền cơ sở. 1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng dân chủ của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin vào điều kiện cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đề ra những quan điểm, giải pháp sát với yêu cầu thực tiễn, phù hợp với xu thế khách quan để xây dựng một nền dân chủ mới gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người trong thời đại mới. Khi bàn về vai trò dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới này không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân…dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân” [43, tr.279]. Người cho rằng làm cách mạng phải biết dựa vào sức dân, dựa vào quần chúng. Là cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn đức, luyện tài, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, chống tham ô, lãng phí, xây dựng một thiết chế vững mạnh để thực hành dân chủ. Dân chủ là động lực, là sức mạnh để xây dựng một xã hội ấm no, tự do, bình đẳng, hạnh phúc; dân chủ không chỉ

12

là quyền lực thuộc về nhân dân mà làm sao để nhân dân được hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền của mình để thể hiện trách nhiệm, bổn phận. Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [44, tr.698]. Để thực hiện quyền làm chủ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ có quyền mà điều quan trọng là phải có năng lực làm chủ. “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà” [43, tr.40]. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn biết khơi dậy sức mạnh của nhân dân bằng cách giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích, trách nhiệm, quyền hạn và bổn phận đối với nhiệm vụ xây dựng quê hương, đất nước. Người yêu cầu “Bất kỳ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành” [45, tr.233]. Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to, việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó [22, tr.368]. Trong các bài viết, bài nói chuyện, Hồ Chí Minh luôn nghiêm khắc phê bình tệ quan liêu, xa dân, độc đoán, gia trưởng, mất dân chủ của một bộ phận cán bộ. 13

Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi. Họ chỉ theo ý kiến của họ. Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất bình [44, tr.334]. Người khẳng định “Có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được, không có thì việc gì cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra” [44, tr.335]. Trong Di chúc của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” [43, tr.624]. Thực hiện tư tưởng của Người, hơn 82 năm qua, kể từ khi thành lập đến nay (3/2/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi dân chủ là nội dung quan trọng của đường lối cách mạng. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn gắn bó mật thiết với nhau. Nội dung dân chủ trong giai đoạn đầu của cách mạng là đem lại ruộng đất cho dân cày. Sau cách mạng dân tộc dân chủ thành công, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cách mạng XHCN nhằm mục đích giải phóng xã hội, giải phóng con người, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở trình độ cao hơn, toàn diện hơn để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, đem lại ấm no, hạnh phúc và những giá trị tiến bộ, cao cả cho nhân dân. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN là một trong bốn mục tiêu cơ bản của cách mạng XHCN. Đến Đại hội lần thứ V của Đảng (1982), quan điểm đó tiếp tục được cụ thể hoá.

14

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), mở đầu sự nghiệp đổi mới của Đảng đã khẳng định “Đổi mới phải lấy dân làm gốc”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhấn mạnh: Xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ và toàn bộ tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân [21, tr.19]. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), tiếp tục khẳng định: Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và các hình thức tự quản tại cơ sở [22, tr.43]. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) đã tạo nên một bước ngoặt lớn, được đánh giá là đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới. Tại Đại hội, nội dung dân chủ được nêu thông qua tổng kết toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng từ 1930 đến 2001, 15 năm đổi mới (1986 – 2001). Đại hội đã khẳng định, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh làm chủ của nhân dân là động lực chủ yếu để thực hiện thắng lợi mục tiêu “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [27, tr.22]. Để phát huy sức mạnh của nhân dân trong thời kỳ mới, Đại hội đề ra chủ trương củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là vấn đề thực hành dân chủ trong nội bộ các tổ chức. Đại hội xác định, thực hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy dân chủ đại diện, quy

15

định cụ thể việc thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với các tổ chức và cán bộ cơ sở; củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa hệ thống chính trị với dân theo phương châm “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, nhận thức về vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng, trong xã hội đã có nhiều bước phát triển mới, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI sửa đổi (Điều 9) nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là: Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là đại hội đại biểu toàn quốc…Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức…”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới [30, tr.70]. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) cũng chỉ rõ: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được 16

Thực Hiện Tốt Quy Chế Dân Chủ Cơ Sở

Phóng viên: Đồng chí có thể cho biết về những điểm nổi bật đối với hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở năm qua?

Phóng viên: Riêng kết quả thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn như thế nào, thưa đồng chí?

Phóng viên: QCDC trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, sự nghiệp công lập cũng như trong doanh nghiệp được thực hiện ra sao, thưa đồng chí?

Trong năm 2018, tỉnh tăng cường công tác rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp, chủ động thực hiện việc rút ngắn thời gian xử lý các TTHC trong lĩnh vực đầu tư, đất đai… Đến nay, việc niêm yết công khai, đầy đủ 100%; việc tiếp nhận và giải quyết TTHC theo đúng quy trình, quy định; tổ chức bộ máy cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý; trình độ năng lực và tinh thần làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được nâng cao. Tỉnh đã thành lập Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh và hoạt động dần được cải tiến và đi vào nền nếp… Trong năm 2018, riêng về lĩnh vực này, Ban Chỉ đạo tỉnh còn tổ chức 2 đợt kiểm tra thực hiện QCDC ở cơ sở tại 14 cơ quan, đơn vị, địa phương.

Đối với các doanh nghiệp tiếp tục có sự quan tâm phối hợp với tổ chức công đoàn trong thực hiện QCDC, nên giải quyết kịp thời bức xúc nảy sinh trong quan hệ lao động, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, góp phần ổn định việc làm, thu nhập của người lao động. Các doanh nghiệp khuyến khích và tạo mọi điều kiện để người lao động tham gia đóng góp ý kiến trước khi hội đồng quản trị, giám đốc doanh nghiệp quyết định.

Phóng viên: Hoạt động QCDC ở cơ sở sẽ tiếp tục được thực hiện như thế nào trong thời gian tới, thưa đồng chí?

Phóng viên: Xin chân thành cảm ơn đồng chí!

Sớm Mai/ chúng tôi

Một Số Kinh Nghiệm Trong Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở

Trang chủĐề cương tuyên truyền

Một số kinh nghiệm trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 

Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã phát huy quyền làm chủ của cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí, xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh. 

Thời gian qua, cùng với các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cấp công đoàn trên địa bàn huyện Quảng Ninh đã tích cực tham mưu cho cấp ủy Đảng, tham gia với chính quyền, chuyên môn đồng cấp triển khai thực hiện tốt quy chế dân chủ trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.

Liên đoàn Lao động huyện đã chủ động tham mưu với huyện ủy, phối hợp với UBND huyện triển khai nhiều giải pháp trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động trong cán bộ, đoàn viên, CNVCLĐ phát huy dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trong việc tham gia xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Các công đoàn cơ sở đã chủ động đề xuất và phối hợp với chuyên môn tổ chức tốt hội nghị CBCC trong các cơ quan HCSN; hội nghị người lao động trong các doanh nghiệp… Thông qua hội nghị dân chủ, CĐCS đã đề xuất với chuyên môn đưa vào quy chế nội bộ những nội dung đảm bảo quyền của người lao động được biết, được bàn, được tham gia và kiểm tra giám sát; tổ chức lấy ý kiến người lao động; chủ động phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung quy chế đến người lao động; giám sát thực hiện quy chế dân chủ…

Thông qua thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đã góp phần đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, tăng cường vai trò chủ động của thủ trưởng, người sử dụng lao động, đồng thời phát huy dân chủ trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Các quy định của Đảng, Nhà nước được cụ thể hóa vào các quy định, quy chế nội bộ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phù hợp. Hội nghị cán bộ công chức, hội nghị người lao động được tổ chức dân chủ, cởi mở, tạo sự đồng thuận cao. Công tác cải cách thủ tục hành chính có những chuyển biến tích cực; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phát huy tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ theo hướng trọng dân, gần dân, học dân và có trách nhiệm với dân, từ đó củng cố được lòng tin của nhân dân, tạo thêm động lực thúc đẩy việc thực hiện thành công các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh – quốc phòng, góp phần ổn định chính trị tại địa phương.

Vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, Ban chỉ đạo từ huyện đến cơ sở, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên có tầm quan trọng trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Kế hoạch triển khai của ban chỉ đạo huyện phải được xây dựng chu đáo, phân công trách nhiệm rõ ràng.

Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác, nhằm làm cho mỗi cán bộ, công chức khi thực thi công vụ, thực sự trở thành những người cán bộ mẫu mực, phát huy dân chủ trong từng công việc cụ thể và lĩnh vực, nhiệm vụ được phân công.

Thứ hai: Phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu của các tổ chức trong hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở. Quan tâm chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ gắn với việc thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch các thủ tục hành chính. Nâng cao chất lượng dân chủ đại diện, mở rộng dân chủ trực tiếp; nêu cao tinh thần phục vụ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; ngăn chặn tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cán bộ công chức, tăng cường đối thoại tháo gỡ khó khăn từ cơ sở, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Thứ ba: Tăng cường sự phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị về chỉ đạo quán triệt, tổ chức thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và đánh giá kết quả việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Phát huy dân chủ ở cơ sở gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động ở cơ sở. Phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, xem xét, đánh giá kết quả thực hiện; khen thưởng và động viên kịp thời; tạo phong trào sâu rộng, có hiệu quả ở từng loại hình cơ sở. P

hối hợp hoạt động giữa các tổ chức ở cơ sở mở ra các cơ chế vận hành đồng bộ, thống nhất trong triển khai, thực hiện, trong quản lý, điều hành của chính quyền. Đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ đã tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, công chức, người lao động phát huy năng lực, trí tuệ, nâng cao trách nhiệm tham gia về hoạch định cơ chế, chính sách, tham gia giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động, sản xuất kinh doanh…

Thứ tư: Phát huy vai trò, trách nhiệm của ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở các ngành, các cấp; nâng cao chất lượng tham mưu cho cấp ủy, phối hợp chặt chẽ với chính quyền, các đoàn thể nhân dân trong xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Thường xuyên đề cao vai trò, trách nhiệm của các thành viên trong ban chỉ đạo, tiếp tục phân công theo dõi và trực tiếp giúp đỡ cơ sở, phát hiện và nhân rộng các điển hình tiên tiến, thí điểm việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở chưa thực hiện; kịp thời thay thế, bổ sung, kiện toàn ban chỉ đạo; sửa đổi, bổ sung quy chế, kinh phí hoạt động. Phối hợp với các cơ quan chính quyền, tập trung chỉ đạo, nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ và ý thức chấp hành pháp luật, xây dựng xã hội đồng thuận, đoàn kết, giúp đỡ nhau, tạo sự đồng đều về kết quả xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở.

Thứ năm: Phát huy dân chủ gắn với kỷ cương pháp luật, xử lý nghiêm minh đối với các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; kiên quyết xử lý đối với những trường hợp lợi dụng các vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo chống phá Nhà nước ta, gây mất ổn định về an ninh, trật tự. Nâng cao ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm, phẩm chất và năng lực của cán bộ, công chức để thực hiện các quy chế, quy định, quy trình công khai, dân chủ ở cơ sở. Phát huy dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, phát hiện, tố giác các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; tham gia giám sát các vụ, việc vi phạm pháp luật và kết quả xử lý, giải quyết sau thanh tra. Phát huy sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng dân cư, nêu cao tinh thần cảnh giác, tích cực tham gia ngăn chặn các tệ nạn xã hội gây mất ổn định an ninh, trật tự ở cơ sở.

Thứ sáu: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Kiên trì chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ cơ sở, đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, phát huy dân chủ của cán bộ, công chức. Gắn xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị ở từng địa bàn, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của quê hương.

Bùi Văn Miêng

[Trở về]

Các tin đã đăng

Giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam với ngày Quốc tế Lao động 1/5 

Vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn trong Hiến pháp năm 2013 

Để Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự đi vào cuộc sống 

Bản chất của Đảng cầm quyền và những nội dung cơ bản Đảng cầm quyền lãnh đạo đất nước qua 30 năm đổi mới 

Báo Cáo Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Cơ Sở Trong Trường Học

Báo cáo kết quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở

Hoatieu.vn xin giới thiệu tới các bạn Báo cáo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong trường học mà chúng tôi sưu tầm và đăng tải. Đây là mẫu báo cáo dùng để đánh giá, tổng kết quy chế dân chủ trong trường học và từ đó đưa ra phương án, nhiệm vụ trong năm học mới.

Báo cáo việc thực hiện quy chế dân chủ trong trường học

1. Báo cáo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở số 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Kính gửi: Phòng giáo dục và Đào tạo ……………..

Thực hiện Công văn số…….ngày …..tháng …..năm …….. của Phòng giáo dục và Đào tạo …………….. “về việc báo cáo việc thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động nhà trường”; trường ………….. báo cáo việc thực hiện Quy chế dân chủ tại trường như sau:

I. Đặc điểm tình hình chung: 1. Khái quát tình hình:

– Tổng số CB, GV, NV là 22 đ/c. Nữ: 14. Nữ DT: 02

– Trong đó: CBQL: 02.

– Đảng viên là : 16 đ/c. Nữ: 11. Trình độ lý luận chính trị: Trung cấp = 11, sơ cấp =5

– Giáo viên: 17 đ/c. Nữ: 13 Đ/c trong đó 02 là nữ dân tộc

– Nhân viên: 03 đ/c (01 làm công tác thư viên thiết bị, 01 làm công tác phục vụ và 01 làm công tác bảo vệ)

a) Thuận lợi:

– Là một đơn vị trường thuộc địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nên thường xuyên được sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước các cấp, đồng thời cũng được sự chỉ đạo, giúp đỡ của cấp ủy – chính quyền địa phương và lãnh đạo ngành GD huyện về mọi mặt hoạt động của nhà trường.

– Đặc biệt về nòng cốt CB-GV- NV trong nhà trường hầu hết là lực lượng trẻ, được đào tạo cơ bản; có trình độ nghiệp vụ chuyên môn vững vàng, đáp ứng được yêu cầu về nhiệm vụ công tác được giao.

– BGH và BCH Công đoàn nhà trường coi trọng công tác xây đội ngũ CB-GV-NV và khối đoàn kết nội bộ trong tập thể hội đồng nhà trường luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc được giao.

b) Khó khăn:

– Là một đơn vị trường học nằm trên địa bàn xã thuộc vùng I, nhưng đời sống của đa phần nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nên công tác xã hội hóa giáo dục còn nhiều bất cập và chưa đạt hiệu quả cao.

– Về cơ sở vật chất trường lớp còn thiếu thốn nhiều và trang thiết bị dạy học chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ.

– Đa số CB-GV-NV công tác tại trường là người ở xa, nhưng trường lại không có nhà nội trú nên phần nào cũng ảnh hưởng đến quá trình công tác và đi lại.

– Là một địa phương mà phần đông PHHS sống bằng nghề nông, nên việc vận động con em đến trường học tập còn gặp nhiều khó khăn, thực hiện việc duy trì sĩ số HS không đạt được chỉ tiêu đề ra và số lượng HS yếu kém còn nhiều.

Những tình hình về khó khăn nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt công tác của toàn thể CB-GV-NV và HS, nhất là các hoạt động chuyên môn và phần nào cũng ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ .

2. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở:

2.1- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt và triển khai của Chi bộ và BGH nhà trường tiếp tục triển khai, quán triệt thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở được gắn với phát triển đội ngũ CB-GV-NV và cải cách phương pháp giảng dạy trong nhà trường, đồng thời gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách, Hồ Chí Minh”, các phong trào, các hoạt động văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở. Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao năng lực lãnh đạo của Chi bộ Đảng, quản lý, điều hành của BGH; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các đoàn thể trong nhà trường; phát huy tính tiền phong, gương mẫu, chấn chỉnh phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, giáo viên và nhân viên theo hướng sát dân, trọng dân và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; góp phần quan trọng trong phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí; tăng cường đoàn kết, đồng thuận xã hội.

2.2- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, BCĐ thực hiện QCDC ở cơ sở:

Nhìn chung, tất cả CB-GV-NV trong nhà trường luôn nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Vì có dân chủ trong tập thể thì mới tạo được khối đoàn kết trong nhà trường nhằm tạo ra môi trường làm việc thân thiện và công bằng. Phát huy quyền làm chủ của toàn thể CB-GV-NV gắn liền với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Qua đó nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác trong công việc và thực hiện dân chủ trong đơn vị. Đồng thời, nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết tâm xây dựng một đơn vị trường học dân chủ, vững mạnh. Hằng năm, BGH và BCH Công đoàn nhà trường xây dựng kế hoạch “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” trong toàn thể CB-GV-NV và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường.Thông báo kịp thời đếncác thành viên trong tập thểđơn vị biết rõ về các chủ trương, pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục và các nội quy, quy định của nhà trường về thực hiện nhiệm vụ công tác của CB-GV-NV trong nhà trường.Vì vậy, không có trường hợp đơn thư khiếu kiện và không có CB-GV-NV vi phạm nội quy, quy chế làm việc của nhà trường.

2.3- Công tác củng cố, kiện toàn BCĐ thực hiện QCDC ở cơ sở theo Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư: Hàng năm Chi bộ nhà trường đều tổ chức họp để đánh giá công tác thực hiện QCDC trong nhà trường và bầu bổ sung, kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở. Đưa nội dung QCDC vào sinh hoạt chi bộ; kịp thời phổ biến, quán triệt Nghị quyết và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên về các chủ trương, chính sách, pháp luật mới của Đảng và Nhà nước và giải quyết những vấn đề cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của chi bộ, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đảng viên, giáo viên, nhân viên.

III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN QCDC 6 THÁNG ĐẦU NĂM TRONG NHÀ TRƯỜNG 1. Kết quả thực hiện QCDC trong nhà trường theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2015.

1.1 – Việc tổ chức học tập, quán triệt Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2015: Đầu tháng 8/2017 nhà trường đã tổ chức họp hội đồng nhà trường để thông qua nội dung của Nghị định và quán triệt trong toàn thể CB-GV-NV nghiêm túc thực hiện. Số lượng người tham gia: 22/22, tỷ lệ 100%.

Ngay sau cuộc họp, BGH nhà trường đã xây dựng kế hoạch để lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai các nội dung và phương pháp thực hiện Quy chế dân chủ trong từng hoạt động của đơn vị. Nhìn chung, tất cả CB-GV-NV đều nhận thức đúng đắn và nghiêm túc chấp hành theo Nghị định về QCDC ở cơ sở.

Phát động phong trào thi đua thực hiện Quy chế dân chủ và Quy tắc ứng xử trong đơn vị. Kết quả thực hiện Quy chế dân chủ, Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức được đưa vào tiêu chí xét thi đua, khen thưởng.

Tổ chức thi đua và ký cam kết giữa Ban chấp hành Công Đoàn và Nhà trường về việc thực hiện Quy chế dân chủ, Quy tắc ứng xử.

Tổ chức biểu dương gương người tốt, việc tốt; khen thưởng kịp thời cho tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Quy tắc ứng xử. Kiên quyết xử lý những cá nhân có thái độ, hành vi ứng xử trái với Quy tắc ứng xử hoặc cố tình vi phạm QCDC trong đơn vị.

1.2 – Kết quả triển khai thực hiện QCDC trong hoạt động của cơ quan:

+ Với chức trách và nhiệm vụ được giao là Hiệu trưởng quản lý trường THCS; đồng chí Thủ trưởng đơn vị luôn gương mẫu, nhiệt tình trong công việc được cấp trên giao. Mặc dù công tác ở một đơn vị trường có tỷ lệ HS là người dân tộc thiểu số khá đông; đời sống của đa phần nhân dân còn rất nhiều khó khăn thiếu thốn. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học chưa đầy đủ và đặc biệt là chất lượng GD học sinh còn nhiều yếu kém, nhưng đồng chí Thủ trưởng luôn cố gắng khắc phục những khó khăn tạm thời để cùng tập thể Hội đồng sư phạm nhà trường làm tốt khâu tổ chức, hội nghị cán bộ công chức, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất và đã hoàn thành tốt kế hoạch thực hiện QCDC trong nhà trường.

1.4 – Đánh giá kết quả hoạt động của Ban thanh tra nhân dân:

a- Giám sát việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước:

– Ban giám hiệu nhà trường trong năm qua đã thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục tư tưởng chính trị, pháp luật của nhà nước đầy đủ, kịp thời đến từng cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường. Triển khai đầy đủ, kịp thời kế hoạch, nhiệm vụ năm học để cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường thực hiện yêu cầu giáo dục có hiệu quả. đặc Đầu năm học nhà trường và công đoàn tiếp tục triển khai việc thực hiện Cuộc vận động do Đảng, Nhà nước và ngành phát động.

– Hàng tháng các tổ chuyên môn đều thực hiện kiểm tra các loại hồ sơ chuyên môn của tổ viên theo đúng quy định: đa số các giáo viên trong trường đều thực hiện tốt đầy đủ đúng quy định các loại hồ sơ, không có trường hợp nào vi phạm các quy định chung.

c- Giám sát việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị công chức đã đề ra hằng năm:

– Nghị quyết Hội nghị CBCC được đề ra dựa theo kế hoạch năm học và được biểu quyết thống nhất thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ, các chương trình hành động, các chỉ tiêu kế hoạch năm học được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc trong cả năm học. Trong năm học 2017-2018 vừa qua kết quả cuối năm so với kế hoạch đầu năm học được đề ra trong Hội nghị CBCC có nhiều chỉ tiêu đạt, và vượt tuy nhiên cũng có một số chỉ tiêu không đạt so với kế hoạch đã đề ra.

– Trong năm học vừa qua, được chỉ đạo của BCH Công đoàn cùng với sự tạo điều kiện thuận lợi của BGH cùng với các tổ chức trong nhà trường, Ban TTND đã thường xuyên theo dõi, nắm bắt các thông tin về việc thực hiện các chế độ chính sách của CB,GV,NV. Các chế độ được chi trả đầy đủ, việc thu, chi các nguồn tài chính trong nhà trường đều đảm bảo đúng quy định.

1.5 – Đánh giá sự phối hợp giữa Thủ trưởng cơ quan với BCH Công đoàn cơ sở về triển khai thực hiện QCDC trong cơ quan:

Được sự chỉ đạo của Chi bộ nhà trường về thực hiện quán triệt Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2015 về thực hiện QCDC ở cơ sở; từ đầu năm học BGH đã tổ chức cuộc họp với BCH Công đoàn nhà trường để bàn bạc, thống nhất lập kế hoạch phối kết hợp để tuyên truyền, vận động CB-GV-NV tích cực tham gia các hoạt động công tác và thực hiện nghiêm túc QCDC trong đơn vị. Từ đó, đẩy mạnh các hoạt động dạy học và các phong trào trong nhà trường; đến cuối năm học 2017-2018 đề nghị liên đoàn lao động huyện …………….. công nhận: Công đoàn cơ sở vững mạnh.

– BGH phối hợp với BCH nhà trường tuyên truyền Nghị định số 60/NĐ-CP của Chính phủ trong các cuộc họp của đơn vị và đánh giá việc thực hiện.

2.1 – Nội dung Quy chế dân chủ cơ sở nơi làm việc cơ quan đã công khai niêm yết cụ thể các nội dung:

– 8 nội dung người lao động phải công khai tại Điều 6

– 6 nội dung người lao động tham gia ý kiến tại Điều 7

– 6 nội dung người lao động quyết định tại Điều 8

– 8 nội dung người lao động kiểm tra, giám sát tại Điều 9

2.2 – Đối thoại tại nơi làm việc tại Mục 1, Chương trình III của nghị định: Thực hiện đầy đủ theo văn bản quy định. Đồng thời có sự trao đổi ý kiến giữa đại diện cơ quan và người lao động để hướng đến chất lượng, hiệu quả trong công việc.

2.3 – Tổ chức Hội nghị người lao động tại Mục 2, Chương III của Nghị định: Hàng năm, có tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác giảng dạy, chất lượng giáo dục học sinh và đề ra phương hướng thực hiện nhiệm vụ năm học mới.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG: 1. Ưu điểm:

– 100% CB-ĐV-GV-NV có ý thức tốt trong việc tham gia hội họp, xây dựng các nội quy, quy chế dân chủ trong nhà trường. Luôn có ý thức,trách nhiệm trong việc phê bình và tự phê bình giúp tập thể nhà trương giữ được khâu đoàn kết nội bộ và nhà trường luôn đạt danh hiệu tập thể lao động tiên tiến cấp huyện khen.

– Hầu hết lực lượng đảng viên trong chi bộ là lực trẻ có lập trường chính trị tư tưởng vững vàng, tâm huyết với nghề và luôn có tinh thần trách nhiệm trong công tác và luôn gương mẫu trong việc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, đồng thời chấp hành nghiêm túc quy chế xây dựng dân chủ tại đơn vị.

2. Tồn tại:

– Do công việc chuyên môn chồng chéo nên đôi lúc CB-GV-NV trong đơn vị chưa tham gia đầy đủ một số buổi hội họp do địa phương hoặc Đảng ủy tổ chức về nội dung xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở.

– Việc tổ chức tuyên truyền, triển khai các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” còn chậm so với kế hoạch đề ra.

Phần thứ hai PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM 6 THÁNG CUỐI NĂM 1. Một số nhiệm vụ trọng tâm

BGH kết hợp với BCH Công đoàn nhà trường tiếp tục tổ chức học tập, quán triệt Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2015 vào đầu tháng 7/2015 để thông qua nội dung của Nghị định và quán triệt trong toàn thể CB-GV-NV nghiêm túc thực hiện.

Ngay sau cuộc họp, BGH nhà trường sẽ xây dựng kế hoạch để lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai các nội dung và phương pháp thực hiện Quy chế dân chủ trong từng hoạt động của đơn vị. Tuyên truyền cho tất cả CB-GV-NV phải nhận thức đúng đắn và nghiêm túc chấp hành theo Nghị định về QCDC ở cơ sở.

Phát huy quyền làm chủ của toàn thể CB-GV-NV gắn liền với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Qua đó nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác trong công việc và thực hiện dân chủ trong đơn vị. Đồng thời, nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết tâm xây dựng một đơn vị trường học dân chủ, vững mạnh. Trong năm, BGH và BCH Công đoàn nhà trường thông báo kịp thời đếncác thành viên trong tập thểđơn vị biết rõ về các chủ trương, pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục và các nội quy, quy định của nhà trường về thực hiện nhiệm vụ công tác của CB-GV-NV trong nhà trường.Không để một trường hợp đơn thư khiếu kiện và không có CB-GV-NV vi phạm nội quy, quy chế làm việc của nhà trường và của ngành.

– Củng cố, duy trì việc tiếp phụ huynh học sinh xây dựng, đổi mới phương thức hoạt động, hộp thư góp ý của nhà trường, thông báo công khai số máy di động của ban lãnh đạo nhà trường. Thường xuyên tổ chức ý kiến của nhà giáo, cán bộ, công chức vào một số công việc quan trong nhà trường. Niêm yết công khai lịch công tác của nhà trường, các cán bộ giáo viên hàng ngày xem kế hoạch niêm yết của nhà trường tại văn phòng.

– Thực hiện kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện Quy chế dân chủ, Quy tắc ứng xử trong nhà trường.

– Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện Quy chế dân chủ của cán bộ, công chức, viên chức trong nhà trường; hình thức kiểm tra thường xuyên theo kế hoạch và kiểm tra đột xuất.

– Công khai chiến lược phát triển của nhà trường từ năm 2018 đến năm 2020 và công tác tài chính, công tác phân công phân nhiệm đầu năm học….

– Ban Chỉ đạo tổ chức sơ kết 6 tháng, tổng kết năm, đánh giá kết quả đạt được; xây dựng nội dung chương trình kế hoạch năm tiếp theo.

– Tăng cường công tác kiểm tra , giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của đơn vị; kết quả tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, các ý kiến, các kiến nghị…. Đồng thời xử lý nghiêm minh các hành vi sách nhiễu, xâm phạm lợi ích chính đáng quyền làm chủ của người dân, cán bộ, giáo viên, công nhân viên chức, lao động và người học.

Trong mỗi học kỳ, nhà trường đã chỉ đạo BCH Công đoàn, Ban thanh tra nhân dân tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động trong đơn vị.

HIỆU TRƯỞNG

2. Báo cáo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở số 2

KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ

Thực hiện Nghị định 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 của Chính phủ và chỉ thị 38 của Thủ tướng Chính Phủ về “Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”;

Thực hiện Quyết định 04/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 01/3/2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong các hoạt động của nhà trường;

Thực hiện kế hoạch công tác năm học………………; Thực hiện kế hoạch của BCĐ về việc Kiểm tra, xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở năm học………………;Căn cứ vào kết quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở của nhà trường trong các năm học qua. Trường TH Bến Súc báo cáo kết quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong nhà trường cụ thể là:

I. Đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan về thực hiện QCDC.

1. Hoạt động của Ban chỉ đạo QCDC đơn vị.

Ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở nhà trường được thành lập ngay sau Hội nghị CBCC theo quyết định của Hiệu trưởng.

Sau khi được thành lập, Ban chỉ đạo đã tổ chức họp và xây dựng kế hoạch thực hiện Quy chế dân chủ, phân công nhiệm vụ cụ thể từng thành viên.

Ban chỉ đạo tổ chức xây dựng Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở dựa trên nguyên tắc, nội dung các văn bản hướng dẫn của các cấp về Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở vào thực tiễn điều kiện của nhà trường từng năm học.

Đưa Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở lấy ý kiến đóng góp bổ sung của toàn thể CB, GV, NV nhà trường ngay trong đầu năm học để hoàn thiện, bổ sung Quy chế và thông qua trước Hội nghị CBVC hàng năm.

Chỉ đạo tổ chức thực hiện Quy chế trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ năm học với biện pháp lồng ghép vào các hoạt động của nhà trường từng tuần, tháng, các đợt thi đua, học kì và cả năm học.

Mỗi năm học Ban chỉ đạo đều kiện toàn lại quy chế hoạt động, lịch thời gian kiểm tra, giám sát, điều chỉnh, bổ sung và sơ kết đánh giá hoạt động của Ban chỉ đạo, kết quả thực hiện Quy chế trong năm học.

Ban chỉ đạo duy trì lịch họp mỗi tháng 1 lần để kiểm tra, giám sát các hoạt động thực hiện Kế hoạch và các điều chỉnh, bổ sung cho Quy chế.

Phân công nhiệm vụ các thành viên Ban chỉ đạo:

– Đồng chí:………………

– Đồng chí:………………

– Đồng chí:………………

– Đồng chí:………………

2. Các văn bản đã ban hành để thực hiện QCDC ở đơn vị.

Quyết định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong nhà trường.

Kế hoạch thực hiện Quy chế dân chủ trong nhà trường.

Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở trong nhà trường mỗi năm học.

Quy chế phối hợp công tác giữa Công đoàn và nhà trường.

Quy chế chi tiêu nội bộ.

Tiêu chí thi đua khen thưởng CB – GV – NV

Tiêu chí thi đua khen thưởng học sinh.

Quy chế làm việc đơn vị.

Kế hoạch thực hiện xây dựng cơ quan văn hóa.

Quyết định thành lập Hội đồng thi đua – Khen thưởng.

Quyết định phân công nhiệm vụ năm học.

3. Công tác triển khai, tổ chức thực hiện các văn bản chỉ đạo của các cấp.

Nhà trường đã tổ chức tuyên truyền nội dung Chỉ thị 30/CT-TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị, Nghị định 71/1998/NĐ-CP ngày 8/9/1998 của Chính phủ ban hành Quy chế dân chủ trong hoạt động của các cơ quan và Quyết định 04/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 01/3/2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong các hoạt động của nhà trường đến 100% CB – GV – NV nhà trường.

Cụ thể hóa nội dung vào các quy chế hoạt động của nhà trường. Trọng tâm là thực hiện Quy chế làm việc, Quy chế chi tiêu nội bộ…

4. Đánh giá vai trò của ban chỉ đạo thực hiện QCDC, chính quyền và các đoàn thể trong việc thực hiện QCDC ở các nhà trường:

– Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở đã triển khai nhiệm vụ đầy đủ cho các thành viên trong Ban chỉ đạo. Ban chỉ đạo đã xây dựng Kế hoạch hoạt động thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường. Tổ chức triển khai, phối kết hợp với các tổ chức để đưa nội dung quy chế vào các chương trình hoạt động của các tổ chức đoàn thể, tổ chức kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quy chế. Ban chỉ đạo thực hiện tốt vai trò chức năng của mình theo Quyết định thành lập đưa Quy chế vào hoạt động nhà trường thường xuyên đạt hiệu quả.

– Nhà trường đã xây dựng Quy chế thực hiện dân chủ từng năm học, sát thực với tình hình, đặc điểm mỗi năm học; Quy chế đã được triển khai lồng ghép và thực hiện các chuyên đề riêng biệt và thường xuyên thông qua các hoạt động chuyên môn.

– Các tổ chức đoàn thể: Công đoàn, Chi đoàn, Liên đội đều cụ thể hóa nội dung Quy chế thực hiện dân chủ bằng các chương trình hoạt động của mỗi tổ chức như Kế hoạch công tác Công đoàn; Chi đoàn, chương trình cô

Mỗi năm học đều hoàn thiện Báo cáo kết quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở nhà trường

II. Kết quả thực hiện theo Nghị định 71/1998/NĐ-CP và các quy định của ngành GD&ĐT về thực hiện QCDC: 1. Việc thực hiện trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan;

– Hiệu trưởng đã quản lý và điều hành hoạt động của cơ quan theo quy chế dân chủ, chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp trên về tất cả các hoạt động trong nhà trường, trong các kỳ họp hội đồng, hiệu trưởng đã đánh giá việc thực hiện QCDC của cá nhân và tập thể công khai các hoạt động một cách rõ ràng.

– Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của CBGV những việc làm được, những việc chưa làm được từ đó nhắc nhở động viên CBGV điều chỉnh kịp thời.

– Hiệu trưởng đã quản lý CBGV, quán triệt đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, trau dồi đạo đức tác phong nhân viên đánh giá đúng năng lực CBGV theo quy định đúng quy trình của cấp trên đề ra. Đánh giá xếp loại GV hàng năm được thực hiện một cách khách quan, công bằng.

– Hiệu trưởng tiếp thu những ý kiến góp ý của CBGV để kịp thời sửa chữa.

– Hiệu trưởng quản lý tài chính, tài sản của cơ quan theo đúng quy định của nhà nước, theo quy chế nội bộ. Công khai việc mua sắm CSVC, trang thiết bị.

– Thực hiện luật phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

– Thủ trưởng phối hợp công đoàn, tổ chuyên môn và các tổ chức trong nhà trường làm tốt công tác sơ, tổng kết năm học.

+ Đánh giá nhiệm vụ của đơn vị và từng cá nhân, có giải pháp để nâng cao chất lượng của từng nội dung công viêc theo đúng yêu cầu đề ra.

+ Lắng nghe ý kiến góp ý để điều chỉnh bổ sung.

2. Việc thực hiện trách nhiệm của cán bộ viên chức:

– Tất cả CBVC trong nhà trường đều tham gia đóng góp xây dựng các nội dung như: Kế hoạch phát triển trường lớp, công tác tuyển sinh, chất lượng dạy học, công tác PCGD, đóng góp xây dựng quy chế dân chủ và quy chế chi tiêu nội bộ trường học và các hoạt động trong nhà trường.

– Góp ý xây dựng các phong trào thi đua, phong trào bồi dưỡng học sinh có năng khiếu tham gia Hội thi các ngành, các cấp cũng như rèn luyện học sinh chưa hoàn thành. Góp ý xây dựng, sửa chữa, mua sắm, các hoạt động khác.

– Tất cả CBVC đã nghiêm chỉnh chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của nhà nước. Chấp hành tốt nội quy, quy chế trường học, kỷ luật lao đông. Chưa có CBVC nào vi phạm bị phản ánh hoặc kỷ luật.

– Năm học………………, CBVC nhà trường đã có nhiều chuyển biến tốt về tư tưởng, đã nêu cao được tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau trong hoàn cảnh khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ nhất là các tổ công đoàn đã vận động đoàn viên góp vốn tương trợ xoay vòng, đóng góp quỹ tham quan.Phẩm chất chính trị và đạo đức của thấy cô giáo được giữ gìn trong sáng, uy tín của nhà trường được nâng lên rõ nét. Tất cả các thầy cô giáo luôn yêu thương học sinh, tôn trọng đồng nghiệp, tôn trọng phụ huynh học sinh.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Trên Địa Bàn Hà Tĩnh, Thực Trạng Và Giải Pháp trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!