Đề Xuất 2/2023 # Thúc Đẩy Việc Thực Hiện Quyền Trẻ Em Trong Các Cơ Quan Nhà Nước Tại Việt Nam # Top 8 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Thúc Đẩy Việc Thực Hiện Quyền Trẻ Em Trong Các Cơ Quan Nhà Nước Tại Việt Nam # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thúc Đẩy Việc Thực Hiện Quyền Trẻ Em Trong Các Cơ Quan Nhà Nước Tại Việt Nam mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ủy ban cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo Chính phủ phân bổ đủ nguồn lực và thu thập số liệu để thực hiện quyền trẻ em theo hướng dẫn của Công ước về Quyền trẻ em và Luật Trẻ em. Mặc dù Việt Nam đã đạt được tiến bộ trong việc giảm nghèo, tăng tỷ lệ nhập học và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em nhưng vẫn còn một chương trình nghị sự chưa hoàn thành cần có sự nỗ lực và sự quan tâm của tất cả các bộ ngành.

Số liệu về trẻ em (dưới 18 tuổi) ở Việt Nam vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ. Điều này tạo ra những thách thức rất lớn trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách và chương trình cho trẻ em. Việc thiếu số liệu cũng là một thách thức đối với Việt Nam trong việc theo dõi và báo cáo về tình hình thực hiện Quyền con người và Mục tiêu Phát triển Bền vững của Việt Nam. UNICEF đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ Chính phủ thực hiện Điều tra Đánh Giá Các Mục Tiêu Trẻ em và Phụ nữ (MICS) trong suốt 18 năm qua và Ủy ban Quốc gia về Trẻ em có thể giúp đưa điều tra MICS vào quá trình thu thập số liệu thường xuyên của quốc gia.

Trên thế giới, có nhiều bằng chứng thuyết phục rằng những giây phút đầu tiên của cuộc đời trẻ em mang lại cơ hội vô song để thúc đẩy sự phát triển não bộ của trẻ, và điều này rất quan trọng với sự tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Nhưng cơ hội này thường xuyên bị lãng phí khiến đất nước chỉ còn lại lực lượng lao động trẻ tuổi với sức khoẻ kém, thiếu kỹ năng và giảm khả năng tạo thu nhập. Ủy ban có thể tạo ra sự thay đổi cho cuộc sống của mọi trẻ em ở Việt Nam bằng cách tăng cường sự hợp tác giữa các Bộ, ngành và các đối tác nhằm phá vỡ vòng luẩn quẩn của đói nghèo và chênh lệch, đồng thời thúc đẩy Việt Nam tiến tới đạt mục tiêu trở thành một nền kinh tế thế kỷ 21.

Hệ Thống Các Cơ Quan Nhà Nước Nước Chxhcn Việt Nam

Hệ thống các cơ quan nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bộ máy nhà nước nước ta là một hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước. Tất cả các cơ quan nhà nước được thành lập, hoạt động và có mối quan hệ qua lại mật thiết và trực thuộc lẫn nhau. Chúng có tính thống nhất về mặt tổ chức: Có cơ quan được bầu ra hay được thành lập ra bởi cơ quan này; có cơ quan được lãnh đạo cơ quan kia và có cơ quan chịu trách nhiệm báo cáo, chịu trách nhiệm trước cơ quan khác. Tất cả các cơ quan nhà nước đều hoạt động trên cơ sở pháp luật.

Thông thường, trong tổ chức bộ máy nhà nước có một loại cơ quan nào đó đóng vai trò nền tảng. Ở chế độ phong kiến đó là bộ máy cai trị hành chính do Vua đứng đầu. Ở chế độ tư sản mặc dù đã thiết lập cơ chế đại nghị (đề cao Nghị viện) song hệ thống hành pháp do Chính phủ đứng đầu vẫn giữ vị trí nền tảng. Còn ở các nước xã hội chủ nghĩa, cơ sở (nền tảng) của bộ máy nhà nước là cơ quan quyền lực nhà nước. Đây là mô hình tổ chức tập quyền nhà nước do nhân dân trực tiếp lập ra, còn các cơ quan khác trực tiếp hay gián tiếp đều phái sinh từ cơ quan quyền lực nhà nước, chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước.

Hệ thống các cơ quan nhà nước nước ta hiện nay theo quy định của Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 đều bao gồm những cơ quan có tính chất, vị trí, chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Có thể xem xét theo hai cách:

1. Phân loại các cơ quan trong bộ máy nhà nước theo nhiệm vụ, chức năng

Theo nhiệm vụ, chức năng thì bộ máy nhà nước có thể chia thành các cơ quan theo hệ thống:

Cơ quan quyền lực nhà nước

Cơ quan hành chính nhà nước

Cơ quan xét xử

Cơ quan kiểm sát

1.1. Các cơ quan quyền lực nhà nước

Các cơ quan quyền lực nhà nước bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp. Đây là những cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quốc hội vừa là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân vừa là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, còn Hội đồng nhân dân là cơ quan đại biểu của nhân dân địa phương và là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Quốc hội và Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước duy nhất nghĩa là chỉ có chúng là cơ quan được nhân dân uỷ quyền (trao quyền lực). Các cơ quan khác do Quốc hội và Hội đồng nhân dân lập ra không được gọi là cơ quan quyền lực mà là cơ quan thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được cơ quan quyền lực phân giao (đương nhiên phải phân giao một cách rõ ràng, ghi nhận trong Hiến pháp ).

Các cơ quan quyền lực nhà nước (nhất là Quốc hội) thể hiện ý chí nhà nước của nhân dân, nâng ý chí này lên thành pháp luật có giá trị bắt buộc chung; Quốc hội có thẩm quyền quyết định các vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước đồng thời còn giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.

1.2. Cơ quan hành chính nhà nước

Cơ quan hành chính nhà nước do Quốc hội (hoặc Hội đồng nhân dân) thành lập, thực hiện hoạt động quản lý điều hành mang tính dưới luật, chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Trước đây, theo Hiến pháp 1980, Hội đồng bộ trưởng được coi là cơ quan chấp hành và cơ quan hành chính của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (có thể hiểu như là một cơ quan của cơ quan quyền lực nhà nước). Hiện nay, Hiến pháp 2013 xác định Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nghĩa là coi Chính phủ có vị trí cao nhất và độc lập tương đối trong lĩnh vực hành chính. Tương tự như vậy là vai trò của Ủy ban nhân dân các cấp.

1.3. Cơ quan xét xử

Các cơ quan xét xử gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự. Các cơ quan này về nguyên tắc cũng được cơ quan quyền lực lập ra (trước đây Quốc hội lập ra Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân lập ra Tòa án nhân dân địa phương; nay chỉ có Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra), Toà án nhân dân tối cao thực hiện chức năng xét xử và chịu sự giám sát và trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội cùng Chủ tịch nước; Toà án nhân dân địa phương chịu sự giám sát của HĐND cùng cấp.

1.4. Cơ quan kiểm sát

Các cơ quan kiểm sát gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự. Tương tự như Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân do Quốc hội thành lập bằng việc bầu ra Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng bổ nhiệm các Viện trưởng, phó viện trưởng, kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới. Hiện nay, chức năng của các Viện kiểm sát nhân dân là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, thực hành quyền công tố. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu sự giám sát của Quốc hội, Chủ tịch nước và chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chủ tịch nước.Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của HĐND cùng cấp

Chủ tịch nước , theo cách phân loại này, không thuộc hệ thống nào mà là cơ quan phối hợp các cơ quan nhà nước khác nhau trong bộ máy nhà nước.

2. Phân loại các Cơ quan nhà nước trong Bộ máy nhà nước theo cơ cấu, vị trí

Theo cơ cấu, vị trí các cơ quan nhà nước có thể sắp xếp các cơ quan trong bộ máy đó bao gồm:

Quốc hội

Chủ tịch nước

Chính phủ

Tòa án nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân

Chính quyền địa phương

2.1. Quốc hội

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội có vị trí toàn quyền trong bộ máy nhà nước.

2.2. Chủ tịch nước

Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Trước đây, trong các Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 đã có chế định Chủ tịch nước. Đến Hiến pháp 1980 theo mô hình Nhà nước xã hội chủ nghĩa thịnh hành lúc bấy giờ chức năng đứng đầu Nhà nước gắn liền trong Quốc hội. Vì vậy đã thành lập ra Hội đồng Nhà nước là sự kết hợp giữa Chủ tịch nước và cơ quan thường trực của Quốc hội. Hiến pháp hiện hành đã thiết lập lại chế định Chủ tịch nước để thực hiện phân công rành mạch chức năng, nhiệm vụ của Chủ tịch nước và Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong đa số đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm về báo cáo công tác trước Quốc hội. Chủ tịch nước thực hiện các chức năng có tính đại diện long trọng của Nhà nước. Theo nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước xã hội chủ nghĩa thì Chủ tịch nước gắn liền với Quốc hội, cùng với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện các chức năng đứng đầu Nhà nước.

2.3. Chính phủ

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chức năng của Chính phủ là thống nhất quản lý các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước, bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến các cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Chính phủ do Quốc hội thành lập chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.

2.4. Tòa án nhân dân

Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước ta bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự.

2.5. Viện kiểm sát nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan được lập ra để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp, thực hành quyền công tố. Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự.

2.6. Chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương là cơ quan được lập ra để thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân địa phương và tổ chức quản lý địa phương. Chính quyền địa phương bao gồm: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân từ cấp xã đến cấp tỉnh.

Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Cơ Cấu Lại Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ

Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trọng tâm là các tập đoàn kinh tế (TĐKT), tổng công ty nhà nước (TCTNN) đã được xác định rõ trong các nghị quyết của Đảng, kết luận của Bộ Chính trị, đặc biệt trong Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017 Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Thực hiện chủ trương cơ cấu lại DNNN, trong những năm qua, các bộ, ngành và địa phương đã vào cuộc quán triệt sâu sắc, triển khai mạnh mẽ và đạt được những kết quả quan trọng. Số lượng DNNN đã giảm mạnh; hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục được duy trì; hiệu quả hoạt động của DN sau cổ phần hóa (CPH)… dần được nâng cao.

Nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế, thách thức về cơ cấu lại DNNN, ngày 25/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 707/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại DNNN, trọng tâm là TĐKT, TCTNN giai đoạn 2016-2020”. Báo cáo tổng hợp mới đây của Bộ Tài chính cho biết, theo kế hoạch năm 2018, cả nước thực hiện CPH 64 DN, nhưng trên thực tế chỉ có 23 DN được phê duyệt phương án CPH. Cụ thể, năm 2018, đã có 23 DN được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án CPH với tổng giá trị DN là 31.706 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 16.739 tỷ đồng. Tổng vốn điều lệ theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt là 20.278 tỷ đồng, trong đó Nhà nước nắm giữ 12.118 tỷ đồng; bán cho nhà đầu tư chiến lược 2.540 tỷ đồng; đấu giá công khai 5.429 tỷ đồng, số còn lại bán cho người lao động là 179 tỷ đồng và tổ chức công đoàn 7 tỷ đồng. Lũy kế giai đoạn 2016 – 2018 đã có 159 DN được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án CPH với tổng giá trị DN là 442.275 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 206.024 tỷ đồng. Cũng trong năm 2018, chỉ có 28 DN thực hiện bán cổ phần lần đầu với giá trị cổ phần bán ra là 13.950 tỷ đồng, thu về 21.827 tỷ đồng.

Lũy kế giai đoạn 2016 – 2018 đã có 159 DN được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa với tổng giá trị DN là 442.275 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 206.024 tỷ đồng. Cũng trong năm 2018, chỉ có 28 DN thực hiện bán cổ phần lần đầu với giá trị cổ phần bán ra là 13.950 tỷ đồng, thu về 21.827 tỷ đồng.

Năm 2018, đã thực hiện thoái vốn nhà nước tại 57 DN, ít hơn rất nhiều so với kế hoạch Chính phủ đặt ra, đó là phải thoái vốn tại 181 DN. Ngoài ra, một loạt doanh nghiệp như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam… xin lùi thời điểm thoái vốn và CPH. Hiện nay, theo báo cáo của Bộ Tài chính, tuy đã hết quý I/2019, nhưng vẫn chưa có thêm DN được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án CPH; Đồng thời, chưa có DN thực hiện thoái vốn.

Hiệu quả kinh doanh của DNNN xét trên tiêu chí lợi nhuận tạo ra, nộp ngân sách nhà nước (NSNN) có kết quả khá tích cực. Trong giai đoạn 2011 – 2016, có những DNNN nộp ngân sách lớn như: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam nộp 147.941 tỷ đồng, Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội nộp 131.400 tỷ đồng… Công tác điều hành và giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN ngày càng minh bạch và đạt hiệu quả hơn, DN kịp thời chấn chỉnh những yếu kém nhằm nâng cao trách nhiệm trong việc chấp hành pháp luật. Các DNNN còn thực hiện nhiệm vụ chính trị – xã hội trong một số lĩnh vực, làm “đầu tàu”, tạo động lực phát triển để thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia, đóng góp tích cực vào chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chung tay xây dựng nông thôn mới, tham gia các hoạt động tại địa phương, góp phần vào việc ổn định an ninh, chính trị, an sinh xã hội, đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội đất nước…

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong giai đoạn vừa qua, hiệu quả hoạt động của DNNN còn chưa tương xứng với nguồn lực đang nắm giữ. Doanh thu, lợi nhuận trước thuế và nộp NSNN có tốc độ tăng chậm, chưa thực sự phát huy được vai trò nòng cốt trong nền kinh tế, cũng như chưa làm tốt nhiệm vụ dẫn dắt, thúc đẩy các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác phát triển, tạo động lực phát triển kinh tế. Một số DNNN hoạt động yếu kém, thua lỗ, còn để xảy ra tình trạng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, làm thất thoát tài sản nhà nước. Việc cơ cấu lại các DN hoạt động thua lỗ, các dự án DN đầu tư không hiệu quả ở nhiều nơi còn chậm nên hậu quả ngày càng nghiêm trọng.

Hoạt động đầu tư ngoài ngành còn dàn trải, hiệu quả chưa cao, trong lúc năng lực quản lý và khả năng tài chính còn hạn chế, thiếu kiểm soát chặt chẽ, làm phân tán nguồn lực, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của DN. Nhiều DNNN chưa chú trọng đầu tư theo chiều sâu, chậm đổi mới về công nghệ, trang thiết bị, kỹ thuật sản xuất, nâng cao năng suất lao động, ứng dụng và phát triển khoa học – công nghệ. Việc công khai thông tin trong DNNN còn hạn chế, không kịp thời, còn mang nặng tính hình thức. Công tác giám sát đối với DNNN tuy đã được phân công, phân cấp nhưng hiệu quả công tác giám sát chưa cao. Công tác thanh tra, kiểm tra chưa tốt. Nhiều vụ, việc sai phạm thời gian vừa qua đều được phát hiện sau thanh tra, kiểm toán của Nhà nước nên việc khắc phục hậu quả còn khó khăn.

Vướng mắc trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Từ thực tiễn, có thể thấy những vấn đề đang đặt ra đối với việc cơ cấu lại DNNN cụ thể gồm:

Thứ nhất, một số bộ, ngành, địa phương, TĐKT, TCTNN chưa nghiêm túc triển khai kế hoạch CPH, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và chấp hành chế độ báo cáo. Vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu DN, đơn vị chưa cao, chưa quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của DN, công khai minh bạch, đúng quy định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong CPH và thoái vốn nhà nước.

Thứ hai, quá trình CPH DNNN cần có nhiều thời gian để xử lý vướng mắc về tài chính, đất đai, lao động trong giai đoạn trước CPH làm kéo dài thời gian thực hiện CPH. Đặc biệt là vấn đề xác lập hồ sơ pháp lý đất đai do UBND địa phương thực hiện chậm, kéo dài thời gian hơn so với quy định, dẫn đến các DN phải điều chỉnh tiến độ CPH. Việc thực hiện CPH các DNNN còn chậm bởi nhiều vướng mắc, trong đó, phổ biến nhất là việc xác định giá trị đất đai, tài sản, vốn, giá trị hữu hình và cả giá trị vô hình của DN. Trong CPH, thoái vốn DNNN, khi quy định giá trị quyền sử dụng đất được tính vào giá trị DN thì lại nảy sinh nhiều vấn đề, trong đó có tâm lý, “sợ trách nhiệm” của một số người đứng đầu, dẫn đến chần chừ, kéo dài thời gian CPH, hoặc thoái vốn không thành công…

Thứ ba, tỷ lệ vốn nhà nước trong phương án CPH DNNN còn cao dẫn đến giảm sức hút đối với các nhà đầu tư mua cổ phần, ảnh hưởng đến thành công của việc CPH. Việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu về Tổng Công ty Đầu tư Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán, chấp hành chế độ báo cáo chưa được thực hiện nghiêm túc, quyết liệt ở một số bộ, ngành, địa phương, TĐKT, TCTNN.

Thứ tư, việc phê duyệt phương án sử dụng đất của DN CPH ở các địa phương triển khai chậm, thời gian thực hiện kéo dài. Theo quy định mới hiện nay thì các DN CPH phải rà soát, phê duyệt phương án sử dụng đất trước khi thực hiện xác định giá trị DN, trong khi việc phê duyệt phương án sử dụng đất của DN CPH ở các địa phương (đặc biệt là tại các thành phố lớn như: TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh) gặp không ít khó khăn. Một số địa phương chưa kiên quyết trong việc thu hồi, xử lý đất đai của các DN sử dụng đất không đúng mục đích, vi phạm pháp luật về đất đai…

Cần những giải pháp quyết liệt, đột phá

Trong thời gian tới, CPH, thoái vốn vẫn được xem là nhiệm vụ trọng tâm để tái cơ cấu DNNN. Trong bối cảnh mới cùng với sự ra đời của Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại DN, nhiệm vụ đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN thời gian tới đặt ra vô cùng nặng nề, đòi hỏi quyết tâm cao và các giải pháp quyết liệt, đột phá hơn để hoàn thành mục tiêu của Nghị quyết số 12-NQ/TW. Để thực hiện có kết quả các giải pháp đẩy mạnh cơ cấu lại DNNN, cần tập trung vào những công việc cụ thể sau:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN theo Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII, Nghị quyết số 60/NQ-QH14 của Quốc hội, tạo sự nhất trí cao trong toàn hệ thống chính trị để nâng cao hơn nữa nhận thức và có hành động quyết liệt, cụ thể trong thực hiện.

Thứ ba, các DNNN, trọng tâm là các TĐKT, TCT NN phải đi đầu trong đổi mới, áp dụng công nghệ và phương thức kinh doanh theo hướng thông minh hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn và năng lực cạnh tranh cao hơn, áp dụng phương thức kinh doanh mới như kinh tế chia sẻ, thương mại điện tử, thanh toán điện tử… đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ, mô hình quản lý, quản trị trong nền kinh tế số.

Thứ năm, Hội đồng thành viên, chủ tịch, ban lãnh đạo các TĐKT, TCT, DNNN cần tăng cường và chịu trách nhiệm hoàn thành và triển khai tích cực các nhiệm vụ: Bổ sung hoặc xây dựng ban hành các định mức kinh tế – kỹ thuật đối với các hoạt động của DN làm cơ sở để quản lý, kiểm tra, giám sát DN; Xây dựng phương án tổ chức sản xuất kinh doanh, triển khai cơ cấu lại các DN thành viên để thực hiện chuyên môn hóa, phân công, hợp tác, không đầu tư dàn trải, phân tán nguồn lực; Đẩy mạnh đổi mới quản trị DN trên tất cả các mặt phù hợp với chuẩn mực quốc tế nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất, kinh doanh, chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, sức cạnh tranh và phát triển bền vững.

1. Ban Chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017 về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; 2. Chính phủ (2018), Báo cáo tại Hội nghị đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, tổ chức ngày 21/11/2018 tại Hà Nội; 3. Tạp chí Kinh tế và Dự báo (2018), Báo cáo và tài liệu tại Diễn đàn “Thúc đẩy quá trình đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN” tổ chức ngày 6/11/2018 tại Hà Nội; 4. Đổi mới DNNN: Nhiều tồn tại cần xử lý sớm, chúng tôi thoi-su/2018-11-21/doi-moi-doanh-nghiep nha-nuoc-nhieu-ton-tai-can-xu-ly-som-64545.aspx.

Triển Khai Các Giải Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Quyền Trẻ Em Và Bảo Vệ Trẻ Em

Triển khai các giải pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em

Thực hiện Công văn số 8305/UBND-VP ngày 11/8/2020 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc tăng cường các giải pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em trên địa bàn tỉnh theo Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 26/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 14/8/2020 vừa qua, UBND thành phố Vũng Tàu đã ban hành Văn bản số 6140/UBND-LĐTBXH về việc triển khai các giải pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em trên địa bàn thành phố.

(Minh hoạ: Thiếu nhi thành phố Vũng Tàu làm theo lời Bác dạy – Tại Đại hội cháu ngoan Bác Hồ lần thứ VI, năm 2020)

Theo đó, UBND thành phố đề nghị các phòng, ban, ngành, UBND các phường, xã theo chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về trẻ em; đổi mới công tác tuyên truyền, ưu tiên thời điểm, thời lượng phát thanh các chương trình về chính sách, pháp luật bảo vệ trẻ em với nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với các nhóm đối tượng, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội từng địa phương; Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra tình trạng trẻ em tử vong do tai nạn thương tích, vi phạm nghiêm trọng quyền trẻ em, bạo lực, xâm hại tình dục, trẻ em lang thang kiếm sống trên địa bàn hoặc không hỗ trợ, can thiệp, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm quyền trẻ em; Xử lý nghiêm đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, kể cả cha mẹ, người chăm sóc trẻ em khi có hành vi vi phạm pháp luật về trẻ em, nhất là các hành vi xâm hại trẻ em, bao che, chậm trễ, cố tình kéo dài các vụ việc vi phạm quyền trẻ em với phương châm “đúng người, đúng việc, đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm”; Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về trẻ em.

UBND thành phố Vũng Tàu giao cho phòng Lao động – Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm đôn đốc các phòng, ban, đơn vị, UBND các phường, xã triển khai thực hiện tốt chính sách, pháp luật về trẻ em; tổ chức các hình thức phù hợp để lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của trẻ em trong quá trình xây dựng và thực hiện chương trình, chính sách, pháp luật về trẻ em; Tham mưu xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch về bảo vệ, chăm sóc trẻ em giai đoạn 2021 – 2025 và các giai đoạn tiếp; Phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Văn hóa và Thông tin, Trung tâm Văn hóa – Thông tin – Thể thao, Thành đoàn Vũng Tàu, UBND các phường, xã tổ chức các lớp dạy kỹ năng sống; kỹ năng phòng, chống đuối nước, kỹ năng phòng, tránh, ứng phó các trường hợp tai nạn, gây thương tích; kỹ năng phòng, tránh xâm hại trẻ em cho các đối tượng là trẻ em, cha mẹ và người chăm sóc trẻ em.

Công an thành phố triển khai các biện pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục, mua bán trẻ em; Đẩy mạnh công tác điều tra, xử lý các đối tượng có hành vi xâm hại trẻ em; Chỉ đạo công an các phường, xã tăng cường rà soát, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời hành vi bạo lực, xâm hại tình dục, xâm hại trẻ em trên môi trường mạng, bóc lột trẻ em; quản lý, giáo dục người chưa thành niên vi phạm pháp luật; Tăng cường tuyên truyền phòng, chống ma túy trong thiếu niên, học sinh. Xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi bao che, chậm trễ, cố tình kéo dài hoặc không xử lý vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em.

UBND thành phố giao cho UBND các phường, xã trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành Nghị quyết về giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về trẻ em trên địa bàn. Bố trí kinh phí từ ngân sách đủ để thực hiện hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án bảo vệ, chăm sóc trẻ em của địa phương; Tiếp tục kiện toàn Ban chỉ đạo công tác Bảo vệ, chăm sóc trẻ em; Tăng cường kiểm tra, rà soát việc triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn, thân thiện đối với trẻ em, đặc biệt đối với các phương tiện giao thông đưa đón học sinh, khu dân cư, nhà cao tầng, khu vực có nguy cơ xảy ra tai nạn thương tích, đuối nước, tai nạn giao thông thuộc địa bàn quản lý./.

Tin, ảnh: Lê Ngân, BBT

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thúc Đẩy Việc Thực Hiện Quyền Trẻ Em Trong Các Cơ Quan Nhà Nước Tại Việt Nam trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!