Đề Xuất 2/2023 # Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa # Top 9 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên bằng những từ ngữ vốn được dùng đẻ gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối đồ vật, … trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người. Từ nhân hoá nghĩa là trở thành người. Khi gọi tả sự vật người ta thường gán cho sự vật đặc tính của con người. Cách làm như vậy được gọi là phép nhân hoá. VD: (Trần Đăng Khoa)

Nhân hoá được chia thành các kiểu sau đây: + Gọi sự vật bằng những từ vốn gọi người VD:Dế Choắt ra cửa, hé mắt nhìn chị Cốc. Rồi hỏi tôi : – Chị Cốc béo xù đứng trước cửa nhà ta đấy hả ? (Tô Hoài) + Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động, tính chất sự vật. VD :Muôn nghìn cây mía Múa gươm Kiến Hành quân Đầy đường (Trần Đăng Khoa) + Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động tính chất của thiên nhiên VD :Ông trời Mặc áo giáp đen Ra trận (Trần Đăng Khoa) + Trò chuyện tâm sự với vật như đối với người VD :Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất ? Khăn thương nhớ ai Khăn vắt trên vai (Ca dao)Em hỏi cây kơ nia Gió mày thổi về đâu Về phương mặt trời mọc… (Bóng cây kơ nia)

Phép nhân hoá làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh động, gợi cảm ; làm cho thế giới đồ vật, cây cối, con vật được gần gũi với con người hơn. VD :Bác giun đào đất suốt ngày Hôm qua chết dưới bóng cây sau nhà.(Trần Đăng Khoa)

Trong câu ca dao sau đây:

Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta Cách trò chuyện với trâu trong bài ca dao trên cho em cảm nhận gì ?

– Chú ý cách xưng hô của người đối với trâu. Cách xưng hô như vậy thể hiện thái độ tình cảm gì ? Tầm quan trọng của con trâu đối với nhà nông như thế nào ? Theo đó em sẽ trả lời được câu hỏi. Tìm phép nhân hoá và nêu tác dụng của chúng trong những câu thơ sau:

Trong gió trong mưaChú ý cách dùng các từ vốn chỉ hoạt động của người như: Ngọn đèn đứng gác Cho thắng lợi, nối theo nhau Đang hành quân đi lên phía trước. – Đứng gác, nối theo nhau, hành quân, đi lên phía trước.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Nghệ Thuật Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?

Cẩm nang nghề nghiệp

Vai trò của nghệ thuật giao tiếp phi ngôn ngữ

Ánh mắt và nụ cười là hai tài sản vô cùng quý giá trên khuôn mặt mỗi con người. Sử dụng nụ cười và ánh mắt là một nghệ thuật cần được rèn luyện thường xuyên. Những hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ này sẽ giúp bạn có được những thành công ngoài mong đợi.

Nghệ thuật giao tiếp phi ngôn ngữ

Chuyên gia tâm lý Trần Hải Vân, Trung tâm tư vấn Bạn và Tôi, bày tỏ: “Không gì chán bằng nghe một diễn giả nói suốt cả tiếng đồng hồ mà gần như không có một động tác biểu lộ của cơ thể. Do đó, trong giao tiếp, hay thuyết trình cần khéo léo kết hợp lời nói với giao tiếp phi ngôn ngữ. Giao tiếp phi ngôn ngữ là một kỹ năng mềm được thể hiện qua nét mặt, ánh mắt, nụ cười, cử chỉ, tư thế… Ánh mắt đi kèm theo lời nói sẽ làm cho lời nói truyền cảm và thuyết phục hơn. Lời nói đi kèm với nụ cười sẽ khiến cho cuộc giao tiếp trở nên thân thiện và gần gũi. Thậm chí, trong nhiều hoàn cảnh, ánh mắt có thể thay thế lời nói… Còn nụ cười được xem là một thứ trang sức rất hữu hiệu trong giao tiếp và cũng là phương tiện làm quen hay xin lỗi rất tinh tế, ý nhị “.

ThS. Võ Trương Như Ngọc, Phó trưởng bộ môn Giải phẫu mô, phôi, răng (ĐH Răng – Hàm – Mặt) cũng cho rằng: ” Trong kỹ năng giao tiếp, cách nói chuyện rất quan trọng, thứ nhất là lời nói, cử chỉ, ánh mắt nhưng cái tạo ấn tượng lại là nụ cười. Một nụ cười như bông hoa trên miệng làm bừng sáng cả gương mặt, làm người xung quanh cũng cảm thấy dễ mến, dễ gần. Nụ cười có khi chỉ nở trong khoảnh khắc nhưng làm ta nhớ mãi. Nụ cười thật đơn giản nhưng không thể mua “.

Cười là một hoạt động tốn ít calo, mà nó còn chứa đựng bao hàm ý lẫn sự tình tứ của người muốn truyền thông điệp, bởi thế mà nhân gian có câu “Liếc mắt đưa tình”. Chỉ cần cái chau mày, liếc mắt sắc bén cũng khiến người tiếp chuyện hiểu được tâm trạng của bạn. Một ánh mắt trìu mến, hàm chứa sự cổ vũ, đồng tình, khích lệ cũng khiến người đối thoại có thêm niềm tin trong cuộc sống và công việc.

Để có ánh mắt và nụ cười đẹp

Theo Chuyên gia tâm lý Trần Hải Vân, mỗi người đều tự biết mình có thế mạnh gì trên khuôn mặt. Đó có thể là cái mũi đẹp hay đôi mắt, đôi môi… Do đó, để phát huy được thế mạnh trong kỹ năng giao tiếp cần biết che đi những cái xấu và tạo ra điểm nhấn ở những nét đẹp nhờ trang điểm hay để kiểu tóc hợp lý. Để thành công trong giao tiếp cần có ánh mắt đẹp và nụ cười đẹp. Vì trong giao tiếp chỉ có mắt và miệng cử động và có khả năng biểu cảm cao nhất. Do đó, nếu chẳng may một người có nụ cười hở lợi thì khi cười phải có ý bằng cách cười chúm chím, không cười to quá nhưng cũng đừng gượng gạo. Nghĩa là cần phải tập để có độ mở của nụ cười một cách hợp lý làm sao vẫn đảm bảo mình có nụ cười tươi tắn nhưng không được hở lợi.

Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, tập trung mọi giác quan của cơ thể: thị giác, xúc giác, thính giác, khứu giác… Nói cách khác, mọi năng lượng của các giác quan đều tập trung vào đôi mắt. Mắt to, đen, sáng… thể hiện sự thông minh, lanh lợi. Và cũng nhìn vào đôi mắt người đối thoại có thể đọc được phần nào tâm trạng, suy nghĩ của họ. Giao tiếp bằng mắt rất quan trọng, nó thể hiện sự chăm chú, sự tôn trọng của mình với người khác mà không ngôn ngữ nào thay thế được. Trong giao tiếp nên nhìn thẳng vào mắt người đối diện, thỉnh thoảng mới nhìn xuống để đỡ bị bối rối khi bắt gặp ánh mắt người đối thoại quá nhiều. Với ánh mắt này, người đối diện sẽ thấy bạn là một người tự tin và đáng tin cậy. Theo chúng tôi Hoàng Tử Hùng, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Y dược TPHCM: Việc tư vấn và tập luyện nụ cười, một số nơi trên thế giới đã làm rồi, nước mình thì chưa.

Cười là một phản xạ và hoàn toàn có cách để thay đổi, cải tạo nụ cười.

Vấn đề vẻ đẹp của nụ cười đã được Khoa Răng – Hàm – Mặt của trường quan tâm từ năm 1999. Trong vài năm gần đây đã có một số nghiên cứu về vấn đề này. Đây là những nghiên cứu góp phần cho việc xác định những “chuẩn” được thừa nhận rộng rãi về một nụ cười đẹp, làm cơ sở cho việc tư vấn và giúp luyện tập cho những người mong muốn thay đổi để có được nụ cười tự tin hơn.

Điều này có nghĩa là có thể thay đổi, cải tạo nụ cười nếu mất cân đối giữa môi và răng có thể làm lại răng, điều chỉnh về mặt hình thể, đường viền lợi cao thì điều chỉnh kéo xuống tạo một nụ cười hài hoà không hở lợi. Chỉ đơn thuần là hướng dẫn họ cách cười che đi nhược điểm”.

10 ghi nhớ giúp bạn nâng cao kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ

1. Lưu ý các cử chỉ phi ngôn ngữ

Con người có thể giao tiếp theo nhiều cách khác nhau; vậy bạn hãy để ý đến những điều như ánh mắt, điệu bộ, tư thế, những cử động của cơ thể và giọng nói. Tất cả những dấu hiệu này có thể truyền tải những thông tin quan trọng nằm ngoài lời nói. Thông qua việc quan sát kỹ thái độ không lời của người khác, bạn sẽ có khả năng giao tiếp phi ngôn ngữ hiệu quả hơn.

2. Quan sát các hành vi không nhất quán

Nếu lời nói của một người không khớp với hành vi phi ngôn ngữ của họ, bạn nên lưu ý hơn. Ví dụ, có người nói với bạn họ đang vui trong khi nhíu mày và nhìn chằm chằm xuống đất. Các nghiên cứu cho thấy khi lời nói không đi kèm với điệu bộ, người ta sẽ không quan tâm tới nội dung được nói ra mà thay vào đó tập trung vào các dấu hiệu của thái độ, suy nghĩ hay cảm xúc.

3. Tập trung vào giọng nói

Giọng nói của bạn có thể diễn đạt vô số thông tin, từ sự nhiệt tình, thờ ơ, cho đến giận dữ. Hãy bắt đầu để ý đến cách giọng nói ảnh hưởng đến phản ứng của những người xung quanh bạn và thử dùng giọng nói để nhấn mạnh những điều bạn muốn chuyển tới người nghe. Chẳng hạn, trong kỹ năng thuyết trình, nếu bạn muốn thể hiện mình thật sự quan tâm đến vấn đề gì đó, hãy thể hiện sự nhiệt tình bằng một giọng nói sôi nổi.

4. Giao tiếp tốt bằng ánh mắt

Khi người ta không nhìn vào mắt người khác, dường như họ đang trốn tránh hay cố che dấu điều gì đó. Trái lại, nhìn quá chăm chú cũng có thể bị xem là như muốn đối đầu hay đe dọa. Dù ánh mắt là một phần quan trọng trong giao tiếp, phải nhớ rằng kỹ năng giao tiếp bằng mắt tốt không có nghĩa là nhìn chăm chăm vào mắt người khác. Vậy làm sao bạn biết giao tiếp bằng mắt thế nào cho đúng? Một số chuyên gia về giao tiếp cho rằng nên nhìn thẳng vào mắt người khác trong từng khoảng thời gian bốn đến năm giây.

5. Hỏi về các cử chỉ không lời

Nếu bạn không hiểu ngôn ngữ điệu bộ của người khác, đừng ngại đặt câu hỏi. Cách hay nhất là nhắc lại suy diễn của bạn về những gì người khác nói và hỏi cho rõ hơn. Ví dụ bạn có thể nói “Vậy điều anh muốn nói là …”

6. Dùng cử chỉ để giao tiếp hiệu quả và có ý nghĩa hơn

Hãy nhớ giao tiếp bằng lời và không lời song hành để chuyển tải thông điệp. Bạn có thể cải thiện khả năng giao tiếp bằng lời thông qua cách dùng ngôn ngữ cử chỉ để hỗ trợ cho những gì bạn nói. Điều này vô cùng hữu ích khi bạn đang diễn thuyết hoặc nói trước đám đông.

7. Quan sát nhóm cử chỉ

Một cử chỉ đơn lẻ có thể mang nhiều ý nghĩa nhưng cũng có thể chẳng có nghĩa gì. Chìa khóa cho việc hiểu chính xác ngôn ngữ khôn g lời là tìm kiếm nhóm các cử chỉ củng cố cho một điểm chung. Nếu bạn quá chú trọng đến một cử chỉ trong nhiều cử chỉ, bạn có thể kết luận sai.

8. Cân nhắc ngữ cảnh về những gì người khác đang cố truyền đạt.

Khi bạn đang giao tiếp với người khác, luôn xem xét tình huống và ngữ cảnh giao tiếp. Một vài tình huống đòi hỏi phải có những cử chỉ trịnh trọng hơn và những cử chỉ này có thể được hiểu rất khác trong những tình huống khác. Hãy cân nhắc xem cử chỉ không lời có phù hợp trong ngữ cảnh đó hay không. Nếu bạn đang cố cải thiện việc giao tiếp không lời, hãy tập trung vào những cách giúp cho các cử chỉ của bạn ăn khớp với mức độ trang trọng mà tình huống yêu cầu.

9. Cảnh giác vì cử chỉ có thể bị hiểu sai

Theo một số người, cái bắt tay chặt thể hiện cá tính mạnh mẽ trong khi cái bắt tay yếu ớt được cho là thiếu can đảm. Ví dụ này chứng minh một luận điểm quan trọng về khả năng hiểu sai những cử chỉ không lời. Thực tế một cái bắt tay lỏng lẻo có thể chỉ một điều hoàn toàn khác hẳn, chẳng hạn như chứng viêm khớp. Hãy luôn nhớ quan sát nhóm hành vi. Cử chỉ tổng quan của một người nói lên rất nhiều điều so với một cử chỉ đơn lẻ được nhìn nhận tách biệt.

10. Luyện tập, luyện tập và luyện tập

Nhiều người dường như có sở trường dùng ngôn ngữ giao tiếp không lời một cách hiệu quả và hiểu đúng cử chỉ của những người khác. Những người này thường được gọi là có khả năng “hiểu người.” Trên thực tế, bạn có thể rèn luyện kỹ năng này bằng cách để tâm đến hành vi phi ngôn ngữ và luyện tập các cách giao tiếp không lời với mọi người. Thông qua việc chú ý đến hành vi không lời và tập luyện các kỹ năng, bạn có thể cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình một cách đáng kể.

Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Trong Câu Cá Mùa Thu

Đề bài: Qua bài thơ “Câu cá mùa thu” (Thu điếu), hãy phân tích nghệ thuật sử dụng từ ngữ độc đáo của Nguyễn Khuyến.

Bài làm

Chùm thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến gồm Thu vịnh, Thu điểu, Thu ẩm đều viết vể cảnh vật vùng quê Bắc Bộ lúc vào thu. Trong đó Thu điếu mang nét đặc trưng nhất của cảnh sắc mùa thu huyện Bình Lục (Hà Nam) quê hương bài thơ. Bài thơ bộc lộ tài quan sát, cảm nhận: thể hiện nghệ thuật miêu tả cảnh sắc thiên nhiên; đặc biệt là việc sử dụng hệ thống từ ngữ độc đáo, sáng tạo của Nguyễn Khuyến – một trong những nhà thơ xuất sắc của giai đoạn văn học cuối thế kỉ XIX.

Những từ ngữ tác giả sử dụng trong bài thơ như: Nước trong veo, bé tẻo teo, khẽ đưa vèo, xanh ngắt, ngõ trúc quanh co, vắng teo trước hết đã thể hiện chính xác, sâu sắc cảnh vật mà Nguyễn Khuyến quan sát, miêu tả trong bức tranh mùa thu. Nó có khả năng giúp người đọc cảm nhận được phong vị riêng của mùa thu, của những miền quê Việt Nam mà ta đã từng đặt chân đến.

Không chỉ có vậy, bài thơ còn gợi ra nét đặc sắc của cảnh ao về mùa thu khác hẳn với cảnh ao về mùa xuân hay mùa hạ. Từ nước ao trong veo, phẳng lặng nhìn được tận đáy: từ chiếc thuyền câu bé tẻo teo đến lá vàng rụng vèo xuống mặt ao và bao trùm lên là một vòm trời xanh ngắt phản chiếu xuốhg mặt nước như làm cho nước ao xanh hơn lúc vào thu.

Những từ ngữ hình ảnh được sử dụng trong bài thơ có một bức gợi tả phong phú. Hình ảnh ao thu lạnh lẽo nước trong veo gợi ra không khí xung quanh ao chuôm buổi sáng mùa thu se lạnh. Hình ảnh ao thu trong veo với thuyền câu bé tẻo teo – bé bỏng xinh xắn – đậu trên mặt ao, đem đến cho người đọc cái cảm nhận cái ao thu bé, bé đến dễ thương.

Điểm xuyết vào cảnh ao thu là hình ảnh lá vàng. Nói đến mùa thu là nói đến lá vàng, đó là hình ảnh mang tính ước lệ của thi ca cổ. Nguyễn Khuyến cũng không ra ngoài những thông lệ đó, Những hình ảnh lá vàng trong bài thơ gắn với ao chuôm lại mang dáng dấp riêng của Nguyễn Khuyến khi miêu tả về mùa thu. Một chiếc lá vàng rơi cành bởi làn gió rất nhẹ của mùa thu, xoay xoay rồi liệng nhẹ xuống mặt nước. Đó là một chi tiết rất thực, rất sống của cảnh mùa thu ở làng quê Việt Nam qua tài năng quan sát, qua tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ làm tăng thêm chất sống cho cảnh vật mùa thu nơi đây.

Mở rộng cảnh thu từ ao chuôm đến bầu trời thu là phong cách quen thuộc trong ba bài thơ viết về mùa thu của thi nhân Nguyễn Khuyến. Nhưng trong Thu điếu lại là một vòm trời xanh ngắt. Màu xanh như nhân lên cảm giác về không gian mênh mông, về độ cao chót vót, bát ngát của trời thu.

Trong một số bài thơ ở những giai đoạn sau, chúng ta cũng bắt gặp sự sáng tạo trong cách dùng từ, hình ảnh của các nhà thơ để gây ấn tượng về độ rộng, độ cao.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót.

(Tràng giang – Huy Cận)

Heo hút cồn mây súng ngửa trời.

(Tây tiến – Quang Dũng)

Bức tranh mùa thu lại được tô điểm thêm những chi tiết thật sống động.

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Nghệ thuật sử dụng tờ ngữ của tác giả trong bài thơ còn giúp người đọc cảm nhận ra linh hồn của cảnh sắc mùa thu, của cuộc sống ở huyện Bình Lục quê hương Nguyễn Khuyến, của làng quê Việt Nam xưa.

Đó là một hồn thu thanh đạm, tinh khiết. Từ ao thu nhỏ, bé nước trong veo đến chiếc thuyền câu bé tẻo teo; lá vàng trước gió khẽ đưa vèo, sóng biếc gợn tí, và vòm trời thu xanh ngắt…

Đó chính là hình ảnh một vùng quê vào thu thật quạnh quẽ, trông vắng; ngõ trúc quanh co khách vắng teo, cảnh sắc như gợi lên cuộc sống những con người chân quê ở đây có cái gì nhỏ bé, ẩn nhẫn xung quanh ao chuôm, lũy tre, ngõ trúc quanh co…

Bài thơ còn đem lại cho người đọc cái cảm giác sự vật như ngưng đọng, từ làn nước trong veo, một da trời xanh ngắt, ngõ trúc vắng teo, một dáng người ngồi câu, tựa gối ôm cần, gần như bất động. Nếu có chuyển động thì thật khẽ khàng: sóng hơi gợn, lá vàng khẽ đưa vèo, cá đớp động dưới chân bèo. Thế nhưng hợp các yếu tố đó lại, bài thơ đem đến một nhận thức, một cảm giác về sự vận động bên trong, âm thầm, bền bỉ, liên tục và không thua kém phần mạnh mẽ của sự vật, của cuộc sống ở làng quê Việt Nam. Đó là sức sống tiềm tàng, dẻo dai làm nên bản sắc của thiên nhiên, của con người Việt Nam từ xưa đến nay.

Đây chính là điều Nguyễn Khuyến tâm đắc muốn gửi gắm qua bài Thu điếu để nói về bản chất muôn đời của quê hương đất nước mình.

Thu điếu đến với người đọc không chỉ dừng lại ở đó. Qua hệ thống từ ngữ mà tác giả sử dụng còn cho chúng ta hiểu được chính con người Nguyễn Khuyến. Đó là một nhà nho thâm trầm, đôn hậu, bên trong chứa đựng một tâm trạng đầy mâu thuẫn thể hiện ngay trong ý thức hệ mà ông mang trong huyết quản của mình. Nguyễn Khuyến đã không thể giải quyết mâu thuẫn ấy bởi chính tính cách đôn hậu của ông. Nguyễn Khuyến đã chọn cho mình một con đường phù hợp: bỏ mũ từ quan, xa lánh triều đình nhà Nguyễn, lui về ẩn dật tại quê nhà, tỏ thái độ phản đối cái chế độ phong kiến mục ruỗng lúc bấy giờ.

Hai câu kết dã thể hiện sâu sắc hình ảnh con người Nguyễn Khuyến trong một hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời là tiếng nói thầm kín của nhà thơ muốn gửi đến cho thời đại ông đang sống và cho mai sau để hiểu đúng một con người, một nhân cách cao đẹp.

Dù về ở ẩn, Nguyễn Khuyến vẫn gắn bó với đời, trong tâm hồn ông vẫn xao động bởi tình cảm vì nước vì dân.

Thu điếu đã cho ta cảm nhận tình cảm sâu sắc và cao đẹp của một nhân cách ngời sáng.

Comments

Một Số Thuật Ngữ Báo Chí

1. Bài báo (article).

Trong một quan niệm rộng rãi, không có tính chuyên ngành, bài báo là bất kỳ văn bản nào có tác giả công bố trên mặt báo, trừ các mẩu tin. Trong quan niệm mang tính chuyên ngành, bài báo là một tác phẩm báo chí có nội dung và hình thức hoàn chỉnh, xuất hiện như một bức thông điệp chứa đựng một thông tin cốt lõi, có mô tả, lý giải rõ ràng, cụ thể, lôgic và dễ hiểu một sự kiện, hiện tượng hoặc một vấn đề, quan niệm nào đó đang có ý nghĩa thời sự và ý nghĩa xã hội quan trọng.

“Bài báo” là một thuật ngữ không có sự thống nhất về nội dung giữa thực tiễn sử dụng và nghiên cứu lý thuyết. Ngay cả các nhà báo chuyên nghiệp hàng ngày vẫn có thể sử dụng từ “bài báo” chỉ để phân biệt với các sản phẩm không phải là “bài”, như Tin và Ảnh, giống như các gọi thông thường của độc giả. Trong nghiên cứu lý thuyết, xuất phát từ các tài liệu báo chí học Nga và Đông Âu, ở Việt Nam, khái niệm “bài báo” chỉ được giới hạn trong phạm vi những bài đưa tin dài, đôi chỗ còn được gọi là thể loại “bài thông tấn”.

2. Bút danh (pseudonym).

Là biệt hiệu của tác giả in trên sách, báo. Việc không sử dụng tên chính thức mà dùng tên tự đặt để khẳng đinh vai trò chủ thể và quyền sở hữu tác phẩm có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau:

– Lý do an ninh chính trị: tác giả cần bí mật để tự bảo vệ mình trước nguy cơ truy tố, khủng bố cá nhân.

– Vì nhu cầu tinh thần: đặt bút danh theo kỉ niệm riêng tư, nhằm gửi gắm một ý nguyện, ước mơ, kỳ vọng nào đố.

– Vì sinh kế phải mượn danh tác giả khác.

Trong trường hợp thứ ba, khi tác giả phải công bổ tác phẩm của mình dưới tên của bạn bè đồng nghiệp, người Hy Lạp có danh từ đặc biệt để chỉ bút danh này là allonym (phân biệt vớipseudonym).

Việc sử dụng bút danh đã xuất hiện từ thời cổ Hy Lạp – La Mã, nhưng nó chỉ trở nên phổ biến và quen thuộc khi nghề in sách phát triển mạnh. Các nhà văn lớn như Molière, Voltaire, Stendhal, Mark Twain, Anatole France, M. Gorki đều dùng bút danh. Để tránh sự kiểm duyệt nhà nước và sự tẩy chay của các toà báo, nhà báo – nhà văn châm biếm Thổ Nhĩ Kỳ A. Nesin phải dùng tới hơn hai trăm bút danh. Các nhà văn trung đại Việt nam đều có tên chữ, tên hiệu giống như bút danh.

Nhà văn – nhà báo Ngô Tất Tố thuộc số tác giả có nhiều bút danh nhất trong làng báo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Cuối thế kỷ XIX, sau khi công ước Bern ra đời, ở nhiều nước châu Âu, điển hình là vương quốc Áo – Hung, quyền tác giả có hiệu lực cho đến năm thứ 50 sau khi tác giả qua đời, nhưng đối với các tác phẩm dùng bút danh thì thời hạn có hiệu lực đó chỉ kéo dài có 30 năm. Thời hạn này hiện nay vẫn còn đang được tranh luận và không được thực thi ở nhiều nước tham gia công ước.

3. Ký (journalese sketch)

Khởi thuỷ, ký là hình thức ghi chép các sợ kiện thực tế và những nhận đinh chủ quan mang tính chính luận. Từ thời Phục hưng ở châu Âu, ký đã xuất hiện và nhanh chóng chiếm vị trí của một thể loại xung kích trong việc khai sáng tri thức và giải phóng tư tưởng con người. Sang thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực, ký trở thành thể loại đắc dụng đối với nhiều nhà văn. Các nhà văn Pháp như E. Suy, H. Bandắc, G. Xăng và nhiều nhà văn hiện thực Nga đều có những đóng góp trong thể ký. Trong văn học Trung Quốc, ký được dùng như một thể loại khảo cứu phong tục và điều tra xã hội học. Các thể tản văn, ký sự lịch sử, ký lục, chí… từ thời Tây Hán đến đời Thanh đều hết sức phong phú, đa dạng, tạo thành một “hạ tầng kỹ thuật” bề thế cho sự ra đời của báo chí và văn xuôi tự sự hiện đại sau này.

Ký là một “loại”, bao gồm nhiều “thể” khác nhau. Dung lượng, độ dài ở mỗi thể, mỗi bài cũng hết sức cơ động, linh hoạt. Nội dung phổ quát của ký vẫn là những ấn tượng nếm trải tươi mới, sự tiếp xúc với những con người, sự kiện đặc biệt, cùng với những kỷ niệm không thể lãng quên. Vì cầm bút với ý thức của một chứng nhân đời sống, người viết ký có thể nắm bắt từ một hình ảnh nhỏ thoáng qua của dòng đời tới một phác thảo có ý nghĩa khái quát bản chất đời sống xã hội, trong khi vẫn chấp nhận cả những trang mô tả nhật trình của một chuyến viễn du lãng mạn. Trong các thể ký, phóng sự được coi là thể “em út”, vì các đặc tính như ấn tượng chủ quan, sự chứng kiến tận mắt trong ký sự, bút ký, du ký, nhật ký… chính là những yếu tố tiền thân, chuẩn bị trước cho sự ra đời của phóng sự.

4. Ngôn ngữ báo chí (journalistic language)

Là ngôn ngữ đặc trưng của các quá trình chuyển tải thông tin báo chí.

Trong phát thanh và truyền hình, “ngôn ngữ báo chí” của chúng lại thực hiện chức năng biểu đạt theo yêu cầu loại hình truyền thông mới. Ngôn ngữ phát thanh phải thật chọn lọc, rành mạch, dễ hiểu, hạn chế từ láy, từ tượng thanh, phù hợp với thời lượng phát sóng và vượt qua những trở ngại của sự tiếp nhận thính giác, theo dòng thời gian tuyến tính “một đi không trở lại”. Trong truyền hình, ngôn ngữ không giữ vị thế độc tôn, toàn trị như trong báo in, mà chỉ là một trong những yếu tố quan trọng, cấu thành hệ thống các phương tiện chuyển tải thông điệp, như: hình ảnh (động, nhanh, chậm, tĩnh, to, nhỏ), âm nhạc, tiếng động, lời thuyết minh, dẫn chuyện, thông báo… Nhờ ưu thế vượt trội của tín hiệu truyền hình – thành quả tổng hợp của điện ảnh, phát thanh, báo in, công nghệ thông tin, kỹ thuật truyền phát sóng, ngôn ngữ trong truyền hình là hệ thống ngôn ngữ có chức năng hỗ trợ, bổ sung, hoàn chỉnh thông điệp. Ngôn ngữ truyền hình được giảm tải thông tin so với ngôn ngữ báo in và phát thanh. Cũng vì vậy, ngôn ngữ truyền hình luôn có xu hướng ly tâm, rời khỏi trục xoay của ngôn ngữ báo chí, tiếp cận thường xuyên với ngôn ngữ đời sống. Đó cũng là thứ ngôn ngữ đa thanh, phức điệu, không giới hạn lập trường phát ngôn. Chương trình “Khách mời truyền hình” và các cầu truyền hình trực tiếp thể hiện rõ nhất đặc điểm của ngôn ngữ truyền hình.

5. Sự kiện (fact, event)

Là một hiện tượng vất chất, tinh thần nào đó đã xảy ra, được nhận biết là có ý nghĩa xã hội quan trọng, tức là ít nhiều thể hiện đặc tính chung của một tập thể cộng đồng, thời đại và nhân loại.

Trong hoạt động truyền thông, sự kiện được quan tâm như là một đối tượng phản ánh chủ yếu, trực tiếp và cấp thiết của báo chí và văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, bất cứ sự kiện nào cũng có hai mặt chủ quan và khách quan trong nhận thức con người. Sự kiện nảy sinh, tồn tại trong giới hạn không gian và thời gian, cho nên nó có thể quan trọng từ góc độ nhìn nhận này mà lại không quan trọng ở góc độ nhìn nhận khác, có thể có ý nghĩa khi đặt trong quan hệ này mà không mấy ý nghĩa trong quan hệ khác. Xuất phát từ lợi ích chung của nhân dân, đất nước và cộng đồng nhân loại, vì sự tiến bộ xã hội, người làm báo chân chính bằng tri thức, năng lực nghề nghiệp thường cố gắng nắm bắt và phản ánh đúng bản chất sự kiện. Khi đó sự kiện được chiếm lĩnh đúng tính cách một sự kiện báo chí, và dư luận công chúng được tiếp nhận thông tin như một sự tiếp nhận một chân lý khách quan của đời sống.

Trong văn học hiện đại nhiều nước đã hình thành và phát triển hình thái văn học sự kiện,trong đó chủ yếu là mảng văn xuôi tư liệu. Đó là kiểu văn xuôi tự sự, trần thuật phi hư cấu, tuyệt đối tôn trọng tính khách quan, xác thực của những số liệu, sự kiện. Nhà văn viết văn xuôi tư liệu đóng góp cho xã hội bằng nỗ lực tìm kiếm thông tin, số lỉệu, hệ thống hoá và tổ chức lại tư liệu để tác phẩm có kết cấu hợp lý, hấp dẫn và sống động như một cơ thể nghệ thuật hoàn chỉnh. Hoạt động sáng tạo của nhà văn trong trường hợp này rất gần với hoạt động báo chí.

6. Tản văn

Theo quan niệm của người Trung Quốc cận đại, tản văn là văn xuôi nghệ thuật nói chung, bao gồm nhiều thể: tạp văn, tuỳ bút, tiểu phẩm, tiểu luận. Các tiểu thể loại với những cách định danh khá ngẫu hứng, tự do như: nhàn đàm, phiếm đàm, thời đàm, phiếm luận, tạp trở, đoản văn… cũng được xếp vào phạm trù tản văn. Như vậy, thuật ngữ tản văn sẽ trở nên đắc dụng khi bản thân tác giả không ý thức được hoặc không cần quan tâm tới việc tác phẩm của mình được viết theo thể loại nào: tạp văn hay tiểu phẩm, tiểu luận hay phiếm luận, phiếm đàm. Loại trừ các thể văn vần, thơ ca, tiểu thuyết, truyện ngắn, khái niệm tản văn đứng ra như một khái niệm dung hoà các đường biên thể loại.

Đặc điểm phổ quát của tản văn là sự hiện diện trực tiếp của cái tôi tác giả, là sự ưu tiên của quan điểm, cách cảm, cách nhìn của thông tin lý lẽ trước thông tin sự kiện, là sự linh hoạt, phóng túng trong cách hành văn, trong tổ chức hình ảnh, liên hội các chi tiết. Vị thế của chủ thể tản văn nhìn chung là vị thế cao đàm, ung dung tự tại, vượt lên thói thường, đưa đường chỉ lối cho độc giả khám phá thời cuộc, trải nghiệm cuộc sống, hoặc cảm nhận những khía cạnh mới mẻ, ý vị của đời sống nhân sinh.

Tản văn là thể văn trữ tình nhưng phát triển mạnh nhờ báo chí. Nếu nói về các cây bút tản văn, phải nghĩ ngay tới các nhà văn nổi tiếng như Lỗ Tấn (tạp văn) Tản Đà (tuỳ bút), Ngô Tất Tố (tiểu phẩm), Nguyễn Tuân (tuỳ bút), Vũ Bằng (tuỳ bút, thời đàm), Hoàng Phủ Ngọc Tường (bút kỷ), Băng Sơn (đoản văn) v.v. Các chuyên mục tản văn hiện nay xuất hiện khá đều trên nhiều tờ báo Việt Nam. Cách đặt tên chuyên mục có thể dựa thẳng vào thể loại, cũng có thể dựa theo đề tài, gắn liền với các hình ảnh ẩn dụ hoặc lối nói chào mời đối thoại, như Hà Nội tạp văn, Phiếm đàm, Sau luỹ tre làng, Nghĩ mà coi, Mỗi ngày một chuyện, Nói hay đừng v.v.

7. Tạp văn

Là một thể tản văn giàu tính luận chiến về một đề tài chính trị, xã hội nào đó có ý nghĩa thời sự. Tạp văn vừa có tính chính luận sắc bén, vừa có tính nghệ thuật sinh động. Trong số các thể tản văn, tạp văn là thể giàu tính báo chí hơn cả. Nếu như “tâm thế tản văn” là tâm thế nhàn tản, ngâm ngợi, thích ứng với lối cảm nhận điềm tĩnh, suy tư thì thể tạp văn vượt lên như một thể loại xung kích, phản ứng nhanh nhạy, kịp thời trước những vấn đề bức xúc của đời sống xã hội… Tạp văn hoàn toàn xa lạ với không gian điền viên và các nhu cầu thư giãn, giải trí. Ở Trung Quốc, tạp văn ra đời trong không khí nóng bỏng của phong trào cách mạng Ngũ Tứ (1917- 1924). Không khí cách mạng đó phần nào ấn định tính chiến đấu của tạp văn. Lỗ Tấn ngay trong những năm cách mạng đó đã mài sắc ngòi bút tạp văn, đưa thể văn này đạt tới tầm cao nghệ thuật. Ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, các nhà văn kiêm nhà báo như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, Ngô Tất Tố, Vũ Bằng v.v. đều tận dụng hiệu năng công luận của tạp văn, tạo dựng được môi trường độc giả riêng cho thể loại này được nuôi dưỡng và phát triển.

8. Thể loại (genre)

Là tập hợp những đặc điểm rút ra từ hàng loạt các tác phẩm ngôn từ, nghệ thuật, được khái quát và biểu hiện bằng một thuật ngữ có tính ổn định tương đối trong một hệ thống các phương tiện phản ánh đời sống và sáng tạo tác phẩm.

Lý thuyết thể loại là lý thuyết phát triển trên cơ sở quan sát và phát hiện những yếu tố chung tiềm ẩn trong nhiều tác phẩm, để tiến tới loại hình hoá chúng thành những nhóm tác phẩm có sự gần gũi, thống nhất về đề tài, kết cấu, thủ pháp mô tả, phản ánh, lịch trình phát sinh cùng sự vận động biến đổi của chúng trong lịch sử. Sự phân chia thể loại vì vậy không phải là sự phân chia cơ giới, mà chỉ mang ý nghĩa tương đối về phương diện lý thuyết. Trong thực tiễn báo chí, các thể loại báo chí luôn có sự ảnh hưởng, giao thoa, tiếp nhận và loại bỏ những ưu thế, đặc điểm của nhau. Các thể loại báo chí xuất bản bằng giấy in đã tạo tiền đề cơ bản cho các thể loại truyền thanh và truyền hình xuất hiện. Ngược lại, sau khi truyền thanh và truyền hình ra đời và phát triển, các thể báo in cũng tiếp nhận những ảnh hưởng của tư duy truyền thanh, đặc biệt là kiểu “tư duy truyền hình”, như: thủ pháp cắt ghép, thủ pháp miêu tả có tính đồng hiện, tiếng vọng – độc thoại nội tâm của nhân vật v.v. Trong thời đại phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, hơn hẳn mọi thể loại của văn học nghệ thuật, các thể loại báo chí không chấp nhận những quan niệm khuôn thước cố định, nhất thành bất biến trong lý luận. Các quan niệm về thể loại chỉ có chức năng của người trợ thủ, gợi ý cho nhà báo tiếp cận hiện thực, khai thác, xử lý và diễn đạt thông tin nhanh hơn. Nhiều nhà báo nghiệp dư đến với hoạt động báo chí một cách hồn nhiên, hoàn toàn không có ý thức gì về thể loại nhưng vẫn rất thành công. Thực ra, bằng việc đọc sách báo hàng ngày, họ đã tiếp nhận kinh nghiệm thể loại một cách vô tư, bất tự giác, đồng thời bằng trí thông minh và năng khiếu bẩm sinh, họ nhanh chóng đặt bút mình tuân thủ tư duy thể loại. Bởi vì xét cho cùng, thể loại chính là trí nhớ, là ký ức chung của loài người về văn hoá.

9. Tiểu phẩm (feuilleton, newspaper satire)

Ở Việt Nam, tiếp nhận những ảnh hưởng tinh hoa của hai nền vân hoá lớn là Pháp và Trung Quốc, các nhà báo Nguyễn Ái Quốc Ngô Tất Tố thực sự là những cây bút tiểu phẩm tiên phong của báo chí Việt Nam hiện đại. Di sản tiểu phẩm của hai tác giả ngay từ đầu đã hội đủ không chỉ những thuộc tính phổ quát của thể loại feuilleton phương Tây mà còn có sự bổ sung các đặc điểm mới: tính chiến đấu và sự can dự sâu rộng vào địa hạt chính trị. Tiểu phẩm của báo chí đầu thế kỷ này ở Việt Nam thường xuất hiện trong các chuyên mục như “Nói mà chơi”, “Thời đàm”, “Mua vui cũng được một vài trống canh”, “Nói hay đừng” v.v..

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!