Đề Xuất 2/2023 # Thủ Đô Resort Đi Tìm Giải Pháp Bền Vững # Top 10 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Thủ Đô Resort Đi Tìm Giải Pháp Bền Vững # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thủ Đô Resort Đi Tìm Giải Pháp Bền Vững mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ở tỉnh Bình Thuận, mặc dù hạ tầng giao thông và nhiều công trình những năm gần đây đã được đầu tư mạnh nhằm giúp phát triển du lịch, nhưng chưa khai thác được như mong đợi thì ô nhiễm đã trở nên đáng báo động. Nguyên nhân là các đơn vị kinh doanh du lịch chưa có hệ thống xử lý chất thải. Ngoài ra, lượng chất thải sinh hoạt tăng nhanh phần lớn chưa được xử lý, hoặc xử lý bằng phương pháp chôn lấp, xả thải trực tiếp đã ảnh hưởng lớn đến môi trường tự nhiên và chất lượng nguồn nước.

Bên cạnh ô nhiễm bề nổi, quá trình xử lý hóa chất khi xây dựng các khu du lịch cũng góp phần gây hại cho nguồn nước ngầm và nước biển khu vực lân cận. Việt Nam là nước nhiệt đới, điều kiện thuận lợi để mối phát triển. Chính vì vậy, quy trình phòng trừ mối tấn công các công trình xây dựng, nhất là khu vực ven biển luôn là ưu tiên hàng đầu của các chủ đầu tư.

Hiện nay, phương pháp phổ biến nhất để phòng trừ mối là phun thuốc vào nền công trình trước khi xây dựng. Tuy nhiên, cách làm này tốn kém và thiếu hiệu quả, vì sau 2-3 năm phải bơm thêm do hóa chất cũ đã hết tác dụng. Đã tốn kém, nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và khu vực biển lân cận lại khá cao do phải sử dụng lượng lớn hóa chất phun thẩm thấu vào mặt đất để kiểm soát mối. Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang mất đi ít nhất 69 triệu USD/năm thu nhập từ du lịch do ô nhiễm.

Để góp phần giải quyết triệt để những vấn đề trên, bên cạnh việc nâng cao ý thức của người dân, chính quyền tỉnh Bình Thuận đã khuyến khích các cơ sở du lịch chú trọng sử dụng năng lượng sạch và có hệ thống xử lý rác thải phù hợp, hạn chế sử dụng hóa chất trong quá trình xây dựng các công trình du lịch ven biển.

Hồi cuối tháng 9, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận đã tổ chức “Hội nghị phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường, tài nguyên nước đối với ngành du lịch” tại Phan Thiết, thu hút gần 80 khách mời là đại diện các khu du lịch, resort hoạt động trên địa bàn Tỉnh. Bên cạnh việc phổ biến văn bản mới về quy định bảo vệ môi trường trong kinh doanh du lịch, đại diện Sở cũng giới thiệu hệ thống kiểm soát và ngăn chặn mối Exterra (Mỹ) giúp hạn chế sử dụng hóa chất trong xây dựng.

 

  

             Ông Nguyễn Bảo Sơn, Phó Tổng giám đốc công ty Khử trùng Việt Nam,

                                                      đang trình bày về sản phẩm Exterra.

 

Theo ông Nguyễn Bảo Sơn, Phó Tổng Giám đốc Công ty Khử Trùng Việt Nam (VFC), đơn vị cùng phối hợp với Tài Nguyên & Môi Trường tỉnh Bình Thuận tổ chức hội thảo này, hệ thống Exterra không những kiểm soát mối hiệu quả mà còn đáp ứng được yêu cầu thân thiện với môi trường.

Exterra đã được một số công trình du lịch nổi tiếng tại Việt Nam áp dụng như Pandanus, The Clift (Phan Thiết), Vinpearl Luxury Resort (Nha Trang và Đà Nẵng) hay CLB golf Đà Nẵng, Furama (Đà Nẵng), Laguna Lăng Cô (Huế)… Ưu điểm của hệ thống này là phòng ngừa và kiểm soát vĩnh viễn cho công trình. Theo đại diện VFC với nhãn hiệu Pestman, đơn vị phân phối độc quyền Exterra, hệ thống này chỉ cần lắp đặt 1 lần khi xây dựng và chi phí duy trì hằng năm rất khiêm tốn mà vẫn phòng ngừa mối hiệu quả. Trên thế giới, hệ thống Exterra đã được lắp đặt tại các công trình Warner Bros Movie World, Dream World (Mỹ), Darling Harbour (Úc) hay Disneyland (Hồng Kông). 

Tác giả: Hòa Thuận

Hà Nội Tìm Giải Pháp Đô Thị Thông Minh Bền Vững Cùng Đối Tác Hà Lan

Đó là khẳng định của các bên trong khuôn khổ “Tọa đàm doanh nghiệp về phát triển thành phố bền vững giữa DN Việt Nam và Hà Lan” ngày 9/4, nhân chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Hà Lan tới Việt Nam.

Phát biểu tại Tọa đàm, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung khẳng định, Hà Lan là một trong những đối tác đầu tư tiềm năng với vốn đầu tư tại Hà Nội là 606,8 triệu USD trong đó có 50 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký là 506.48 triệu USD và 14 lượt góp vốn, mua cổ phần với giá trị 100.29 triệu USD.

Đặc biệt, nền văn hoá Hà Lan đã không còn quá xa lạ với người dân Việt Nam và Hà Nội khi biểu tượng hữu nghị tốt đẹp giữa hai địa phương là trường Phổ thông trung học chuyên Hà Nội – Amsterdam. Hơn thế nữa, sự phát triển nổi trội của ngành công nghệ Hà Lan trong lĩnh vực xử lý nước thải, chất thải luôn là mục tiêu học hỏi và phối hợp của thành phố Hà Nội trong thời gian gần đây.

Cảm ơn sự tiếp đón nồng hậu của lãnh đạo Tp, ông Hans de Boer, Chủ tịch liên đoàn Công nghiệp cho biết, Hà Lan là một trong những nền kinh tế đô thị lớn, dù diện tích khá nhỏ nhưng mật độ dân số cao. “Bloomberg xếp Hà Lan là nền kinh tế lớn thứ 16 trên thế giới”, ông nhấn mạnh.

Hà Lan chú trọng các yếu tố phát triển phải được bảo tồn, tái tạo thông minh, tích hợp hài hòa với sự phát triển đô thị, trên cơ sở đó tăng cường hợp tác giữa Hà lan và Hà Nội. Buổi tọa đàm hôm nay là cơ hội để các DN hai bên trao đổi về hoạt động và mở ra cơ hội hợp tác.

Chủ tịch liên đoàn Công nghiệp Hà Lan bày tỏ ngưỡng mộ tham vọng cũng như thành tựu của Hà Nội và Việt Nam, nhấn mạnh chuyến thăm của Thủ tướng Mark Rutte cho thấy chính quyền Hà Lan đánh giá cao mối quan hệ hợp tác hữu nghị với Việt Nam.

Cũng trong khuôn khổ tọa đàm, đại diện 8 doanh nghiệp Hà Lan trong nhiều lĩnh vực đã tích cực trao đổi về những giải pháp họ cung cấp và thể hiện thiện chí hợp tác với thành phố Hà Nội.

Cụ thể, Đại diện của tập đoàn MVRDV trong lĩnh vực quy hoạch đô thị khẳng định, một đô thị thông minh cần có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, khiến đô thị trở nên đáng sống và thân thiện với môi trường. Tập đoàn sẵn sàng cung cấp các giải pháp quy hoạch đô thị tích hợp cuộc sống người dân và công trình với thiết kế thông minh để tái sử dụng nguồn nước, cải thiện nguồn nước sạch… cho Hà Nội.

Trong khi đó, đại diện của công ty NACO trong lĩnh vực thiết kế sân bay gợi ý Hà Nội trở thành một “thành phố sân bay” trong tương lai gần. Trong đó, Hà Nội trở thành nơi giao thương quốc tế, thu hút và chuyển giao các hoạt động người dân và đô thị.

Trao đổi tại tọa đàm, đại diện tập đoàn Philips khẳng định, thành phố đô thị thông minh không thể thiếu hệ thống ánh sáng. Tập đoàn này chuyên cung cấp các giải pháp ánh sáng với công nghệ tiên tiến sẵn sàng tận dụng các giải pháp ánh sáng, hỗ trợ nâng tầm các công trình của Hà Nội.

Các đại diện doanh nghiệp Hà Lan nhìn chung đều nhận định môi trường Hà Nội cởi mở, còn nhiều tiềm năng và sẵn sàng cung cấp công nghệ, giải pháp chất lượng cao từ Hà Lan, góp phần vào sự phát triển bền vững của TP.

Đánh giá cao những giải pháp và thông tin đưa ra, Chủ tịch UBND TP đánh giá đây là những nội dung TP Hà Nội đang rất cần, đồng thời cam kết, thông qua các bên, sẽ tạo mọi điều kiện cho cộng đồng DN Hà Lan và các đối tác Hà Nội tiếp tục thông tin, gặp gỡ trực tiếp, đưa các nội dung trao đổi thành hiện thực.

Thoát Nước Đô Thị Bền Vững

Hệ thống thoát nước thải hiện có ở TP. Đà Nẵng chủ yếu là hệ thống thoát nước chung. Nước thải của thành phố được thu gom bằng tuyến cống bao ven biển, ven sông, ven hồ, ven kênh qua các giếng chuyển dòng có cao trình đỉnh đập +0.6 (CSO) tại các cửa xả, chỉ có một phần rất ít các khu quy hoạch mới là hệ thống thu gom riêng, thu gom chuyển về trạm xử lý nước thải tập trung. Riêng các khu công nghiệp đều thoát nước riêng hoàn toàn và có trạm xử lý nước thải tập trung riêng. Hầu hết các hộ gia đình đều có bể phốt và chỉ có một tỉ lệ nhỏ nước thải đầu ra được đấu nối trực tiếp vào hệ thống thoát nước của thành phố, số còn lại ngấm trực tiếp xuống nền đất.

Thành phố Đà Nẵng có 07 trạm xử lý nước thải (TXLNT) với tổng quy mô công suất là 145.000 m 3/ngđ, trong đó: TXLNT Hoà Cường 40.000 m 3/ngđ với công nghệ kỵ khí (chuẩn bị chuyển thành trạm bơm), TXLNT Phú Lộc 40.000 m 3/ngđ công nghệ SBR, TXLNT Sơn Trà 25.000 m 3/ngđ công nghệ Aetotank, TXLNT Ngũ Hành Sơn 10.000m 3/ngđ công nghệ kỵ khí (chuẩn bị chuyển thành trạm bơm và trạm xử lý nước mưa đợt đầu), TXLNT Hoà Xuân 60.000m 3/ngđ) công nghệ SBR, TXLNT Liên Chiểu 20.000 m 3/ngđ công nghệ SBR.

Đối với hệ thống thoát nước mặt (thoát nước chung)

Đà Nẵng có 05 lưu vực thoát nước chính: Khu vực trung tâm, khu vực khu vực Tây Bắc, khu vực phía Nam thành phố, khu vực phía Đông, khu vực Hòa Vang. Nhìn chung tất cả các khu vực đều phủ đầy hệ thống thoát nước, riêng khu vực phía Nam thành phố do chưa phát triển đô thị nên khu vực này chủ yếu thoát nước theo địa hình tự nhiên và các vị trí trũng thấp, sau đó chảy ra sông, hồ, ao. Khu vực trung tâm, hiện tại có 02 trạm bơm chống ngập (trạm bơm Thuận Phước, trạm bơm Trương Chí Cương) do cao độ thấp, tuyến thoát nước chính bị ảnh hưởng lớn của thủy triều nên khả năng thoát nước bị giảm sút và đang tiếp tục chuẩn bị đầu tư xây dựng thêm 02 trạm bơm chống ngập tại cuối đường Ông Ích Khiêm (cửa xả Ông Ích Khiêm) và bên cạnh phía Nam cầu Trần Thị Lý (cửa xả cống Mê Linh).

Các tồn tại của hệ thống thoát nước; tình hình và nguyên nhân ngập úng thành phố Đà Nẵng *a) Các tồn tại hệ thống thoát nước: Các cửa xả ven sông, biển thường xuyên bị ảnh hưởng của thuỷ triều, cát lấp CSO, nước thải thường xuyên đổ ra biển, sông, ao hồ đô thị gây ô nhiễm; Công nghệ các trạm xử lý nước thải bằng công nghệ kỵ khí (thuộc dự án thoát nước vệ sinh môi trường), xử lý không đảm bảo yêu cầu theo quy định trước khi xả ra môi trường, thường xuyên phát sinh mùi tại các trạm xử lý; Hệ thống thoát nước chung tại các khu vực đô thị cũ xuống cấp nên nước ngầm chảy vào hệ thống thoát nước, chuyển đến trạm xử lý gây tốn kém cho công tác vận hành; Hệ thống thoát nước chung chưa tính toán đến các yếu tố kỹ thuật về chuyển tải nước thải (vận tốc lắng cặn chưa đảm bảo) nên chất hữu cơ lắng đọng nhiều trong cống, gây mùi hôi tại các cửa thu nước ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân; Chưa quản lý được tình trạng đấu nối các hộ gia đình (đặc biệt là các khu đô thị cũ) nên việc triển khai thoát nước riêng hoàn toàn cho khu vực đô thị cũ trong tương lai rất khó khả thi và tốn kém; Hệ thống thoát nước mặt khu vực trung tâm thường xuyên ảnh hưởng của thủy triều (do địa hình bằng phẳng), hệ số mặt phủ tăng so với thiết kế ban đầu (do bề mặt không thấm nước tăng do tốc độ phát triển đô thị) nên khả năng thoát nước bị ảnh hưởng rất lớn.

Hiện nay, thành phố có khoảng 50 điểm ngập úng với các nguyên chính như sau: Do tác động của Biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng nên cường độ, tần suất mưa ngày càng lớn dẫn đến hệ thống thoát nước không đảm bảo (vượt tần suất tính toán); Một số khu khu vực có cao độ nền quá thấp không đúng theo quy định; Khả năng thoát nước của hệ thống thoát nước bị giảm rất nhiều so với tính toán ban đầu do ảnh hưởng thường xuyên của triều cường, quá trình đô thị hóa; Một số cống lâu ngày xuống cấp, hư hỏng mất khả năng thoát nước chưa có điều kiện thay thế; Đô thị còn thiếu hồ điều tiết để tăng khả năng trữ nước; Kinh phí cho công tác nạo vét, khơi thông kênh, cống còn hạn chế; Công tác vận hành các hồ điều tiết còn bất cập do yếu tố cảnh quan, không xả sớm kịp thời trước khi mưa, không tận dụng tối đa khả năng điều tiết của hồ nên có tình trạng gần hồ điều tiết mà vẫn bị ngập; Một số hộ dân xây dựng trái phép thu hẹp dòng chảy, làm ảnh hưởng đến khả năng thoát nước; Một số dự án chưa triển khai đồng bộ do điều kiện kinh phí; Năng lực, phương tiện quản lý vận hành hệ thống thoát nước đô thị còn nhiều bất cập, hạn chế.

II. CÁC PHƯƠNG THỨC TIẾP CẬN VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC THOÁT NƯỚC CHO CÁC ĐÔ THỊ VIỆT NAM. 1.Thoát nước thải và xử lý nước thải bền vững ở các đô thị Việt Nam

Nước thải được thu gom và xử lý bằng giải pháp thoát nước chung, riêng, nửa riêng hay hỗn hợp, theo các mô hình tổ chức thoát nước tập trung hay phân tán. Hệ thống thoát nước tập trung thường được xây dựng cho các khu trung tâm đô thị, có mật độ dân số cao, có điều kiện xây dựng đồng bộ, các công trình xây dựng gần như hoàn chỉnh. Tuy nhiên, phương thức thoát nước truyền thống này có nhiều hạn chế, vì thế, ngày nay trên thế giới khuyến khích áp dụng mô hình phân tán, đặc biệt là cho các khu đô thị mới, các vùng ven đô, nông thôn với các công trình thu gom, xử lý, xả hay tái sử dụng nước thải cho các hộ riêng lẻ (giải pháp tại chỗ) hoặc khu dân cư (giải pháp phân tán theo cụm). Mô hình này có những ưu điểm: (1) Giảm chi phí đầu tư xây dựng, vận hành và bảo dưỡng do chiều dài tuyến cống thoát nước ngắn, đường kính nhỏ, độ sâu chôn cống không lớn, ít trạm bơm nước thải; (2) Sử dụng các giải pháp công nghệ đơn giản, chi phí thấp, tận dụng triệt để các điều kiện tự nhiên để xử lý nước thải; (3) Dễ quy hoạch và thực hiện quy hoạch. Cho phép phân đợt xây dựng, đầu tư các hợp phần kỹ thuật từng bước theo khả năng tài chính. Quy mô đầu tư cũng sát với yêu cầu thực tế, tránh lãng phí; (4) Cho phép tái sử dụng tại chỗ nước thải sau xử lý (rửa, tưới, bổ cập nước ngầm) và chất dinh dưỡng tách được (bón cây trồng)… Trong một số trường hợp, có thể xử lý nước thải phân tán đạt mức độ xả ra môi trường, mạng lưới thoát nước mưa, nhờ vậy tiết kiệm đáng kể chi phí xây dựng và quản lý đường cống thoát nước.

Chỉ tập trung vào việc thu và chuyển nước mưa thông qua các hệ thống thoát nước để nước mưa thoát khỏi đô thị càng nhanh càng tốt. Chi phí cho xây dựng và vận hành, bảo dưỡng các đường cống thoát nước thường rất lớn, trong khi công suất của chúng lại chỉ có giới hạn và không dễ nâng cấp. Cách làm này dẫn đến nguy cơ ngập lụt, xói mòn đất và ô nhiễm ở vùng hạ lưu tăng.

b) Cách tiếp cận đảm bảo thoát nước bền vững ( SUDS) : Mục tiêu ngăn ngừa, giảm thiểu, trì hoãn, xử lý và loại bỏ nước mưa đã bị ô nhiễm trước khi đổ ra nguồn tiếp nhận. Phương pháp tối ưu là các kỹ thuật thu gom, thấm, chuyển tải, trữ và xử lý, phương án này có tính bền vững, linh hoạt, triển khai với kinh phí thấp.

Quá trình đô thị hóa đã gây những tác động xấu đến quá trình thoát nước tự nhiên: dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, quá trình lưu giữ tự nhiên dòng chảy bằng các thảm thực vật và đất bị mất đi, thay vào đó là những bề mặt phủ không thấm nước như mái nhà, bê tông, đường nhựa, làm tăng lưu lượng dòng chảy bề mặt. Những dòng chảy này thường bị ô nhiễm do rác, bùn đất và các chất bẩn khác rửa trôi từ mặt đường. Lượng nước và cường độ dòng chảy tăng tạo nên sự xói mòn và lắng bùn cặn. Tất cả những yếu tố này gây những tác động xấu đến môi trường, úng ngập, ảnh hưởng đến hệ sinh thái dưới nước.

Phát hiện và khắc phục những tồn tại trên, gần đây, người ta đã nghiên cứu và áp dụng các giải pháp kỹ thuật thay thế, theo phương thức tiếp cận mới: hướng tới việc duy trì những đặc thù tự nhiên của dòng chảy về dung lượng, cường độ và chất lượng; kiểm soát tối đa dòng chảy từ nguồn, giảm thiểu tối đa những khu vực tiêu thoát nước trực tiếp, lưu giữ nước tại chỗ và cho thấm xuống đất, đồng thời kiểm soát ô nhiễm. Đó chính là những nguyên lý của SUDS.

Cách tiếp cận của thoát nước mưa bền vững (SUDS) là thoát chậm, không phải thoát nhanh, để tránh lượng mưa tập trung lớn trong thời gian ngắn. Tiết diện cống sẽ khó có thể đáp ứng nếu lượng mưa lớn, tốn kém mà nước vẫn tràn cống, gây ngập đường, lụt nhà. Vì vậy, phải tổ chức thoát nước mưa, kết hợp các biện pháp khác nhau một cách đồng bộ, sao cho dòng chảy được tập trung chậm. Sử dụng các hồ điều hòa trên diện tích thu gom và truyền dẫn nước mưa để lưu giữ nước là một cách làm phổ biến. Bên cạnh đó, sử dụng bản thân diện tích bề mặt của thành phố, tăng cường việc cho nước mưa thấm tự nhiên xuống đất qua các thảm cỏ xanh, đồng thời cải tạo cảnh quan và điều hòa tiểu khí hậu

Trong trường hợp khả năng kiểm soát dòng chảy tại chỗ bị hạn chế, thì có thể phân tán dòng chảy theo các lưu vực nhỏ, dẫn nước đi bằng những giải pháp như sử dụng kênh mương hở và nông, lưu giữ nước mưa trong những hồ chứa và cho thấm xuống đất ở những khu vực thích hợp. Để ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm, có thể áp dụng những giải pháp xử lý tại chỗ trong bãi đất thấm, hồ lắng, bãi lọc trồng cây…

III. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ GIẢI PHÁP THOÁT NƯỚC BỀN VỮNG

Bao gồm hai giải pháp kỹ thuật: Kỹ thuật cứng và kỹ thuật mềm: (1) Giải pháp kỹ thuật cứng: Tạo ra bề mặt phủ có khả năng thấm, lưu giữ và chứa nước tốt như: Vỉa hè thấm nước, bể chứa nước mưa cho từng hộ gia đình, công trình để giảm tải lưu lượng mưa ra hệ thống thoát nước của thành phố…; (2) Giải pháp kỹ thuật mềm: là giải pháp kỹ thuật sinh thái tạo cảnh quan kiến trúc đô thị như mái nhà xanh, mương thấm (vật liệu xây có lỗ rỗng), hồ điều tiết… Hai giải pháp trên ngoài vấn đề giải quyết ngập úng đô thị còn có những ưu điểm sau: (1) Có khả năng bổ cập cho nguồn nước ngầm thông qua quá trình thấm; (2) Các chất gây ô nhiễm từ dòng chảy mặt được loại bỏ nhờ quá trình thấm, lọc; (3) Cải thiện cảnh quan đô thị; (4) Thích nghi với biến đổi khí hậu; (5) Dễ quản lý, bảo trì.

2) Hệ thống nước thải:

Sử dụng hệ thống thoát nước chung, thu gom nước thải bằng tuyến cống bao đối với khu đô thị cũ và thoát nước riêng hoàn toàn cho khu đô thị mới; Sử dụng mô hình thoát nước phân tán; Tái sử dụng nước phục vụ sau xử lý dùng tưới cây, rửa đường, bổ cập nước ngầm…

IV.GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THOÁT NƯỚC BỀN VỮNG CỦA TP. ĐÀ NẴNG

Nguyên tắc tổ chức thoát nước cho các đô thị:

Tổ chức thoát nước phải dựa trên từng điều kiện cụ thể của địa phương:

– Đối với các khu vực trong đô thị hiện có: vẫn sử dụng hệ thống cống thoát nước chung, với các tuyến cống bao thu gom các loại nước thải và nước mưa đợt đầu, không cho chảy trực tiếp vào sông, hồ, kênh mương mà dẫn bằng các tuyến cống chính về các trạm xử lý nước thải. Trên các tuyến cống chính này, gần nguồn tiếp nhận, để giảm chi phí vận chuyển và xử lý nước thải, bố trí các giếng tràn tách hỗn hợp nước mưa đợt đầu và một phần nước thải đã được pha loãng, tràn qua đập tràn chảy ra nguồn tiếp nhận. Tuỳ theo điều kiện tự nhiên, mật độ dân cư, quỹ đất, nhu cầu tái sử dụng nước thải … mà có thể áp dụng mô hình thoát nước tập trung hay phân tán, với công nghệ hiện đại hay chi phí thấp.

– Đối với các khu đô thị xây dựng mới, xây dựng hệ thống thoát nước riêng, xử lý nước thải đạt yêu cầu trước khi xả ra nguồn tiếp nhận.

– Trong giai đoạn chưa có điều kiện xây dựng đầy đủ các tuyến cống thoát nước riêng và trạm xử lý nước thải, vẫn phải coi trọng và phát huy vai trò của bể tự hoại để xử lý nước đen, hay nước đen và nước xám từ các hộ gia đình, nhà chung cư, cơ quan, cơ sở dịch vụ… Bể tự hoại phải được thiết kế, xây dựng và quản lý đúng quy cách.

– Đối với các đô thị miền núi, có độ dốc dọc đường lớn, thuận lợi cho việc thoát nước, nên sử dụng hệ thống thoát nước riêng. Các khu vực ven đô, có thể áp dụng loại hệ thống thoát nước riêng giản lược, với đường kính nhỏ, chôn nông dọc vỉa hè, sơ đồ đấu nối xuyên tiểu khu, cùng với các kênh, mương, cống sẵn có để thoát nước bề mặt, sẽ giảm thiểu tối đa chi phí xây dựng và quản lý hệ thống thoát nước.

– Đối với các đô thị vùng đồng bằng, độ dốc cống nhỏ, cần triệt để tận dụng các mặt nước đô thị làm hồ điều hoà, kênh mương dẫn nước và giảm độ sâu chôn cống.

– Đối với các đô thị ven biển, địa hình bằng phẳng, khó tạo được độ dốc cống thuận lợi, lại ít có các sông mương và hồ điều tiết, do điều kiện địa chất phần lớn là cát và cát pha. Ở các đô thị này, có thể lợi dụng nước triều lên xuống hàng ngày, xây dựng các cống tự động đóng/mở theo mực nước triều để thoát nước và thau rửa hàng ngày hệ thống cống.

– Cố gắng áp dụng các giải pháp thoát nước bền vững càng sớm càng có lợi. Lồng ghép phương thức này với quy hoạch phát triển không gian đô thị; quản lý chặt chẽ cao độ san nền, tiêu thoát nước của các khu vực đô thị mới phát triển; đảm bảo sự thống nhất, phối hợp nhịp nhàng giữa thoát nước với hệ thống thủy văn đô thị và toàn lưu vực, kể cả hệ thống thủy nông, tiêu thoát lũ, điều tiết hồ chứa thủy điện ở thượng lưu và hạ lưu…

Đề xuất giải pháp thoát nước bền vững cho thành phố Đà Nẵng:

– Rà soát, đánh giá khả năng thoát nước của hệ thống hiện trạng và đề xuất các giải pháp chiến lược, lâu dài, phân kỳ đầu tư, huy động nguồn lực để từng bước triển khai thực hiện. Việc đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước phải theo quy hoạch, kế hoạch của lĩnh vực thoát nước.

– Nghiên cứu điều chỉnh Chiến lược quản lý nước thải đã được phê duyệt cho phù hợp điều kiện thực tế địa phương. Khu vực ven biển Đông và khu vực trung tâm thành phố, đề xuất sử dụng thoát nước kết hợp với tỷ lệ thu gom phù hợp đối với từng khu vực. Khu vực Hòa Vang nghiên cứu tổ chức thoát nước thải theo kiểu phân tán để tiết kiệm kinh phí

– Để giảm áp lực cho hệ thống thoát nước của thành phố, tại các khu vực có diện tích thoát nước lớn cần phải có giải pháp giảm lưu lượng, cụ thể: (1) Khu vực Sân bay Đà Nẵng cần phải khẩn trương khơi thông kênh rạch hiện trạng, nạo vét, mở rộng và bổ sung các hồ điều tiết để trữ, giảm lưu lượng cho hệ thống thoát nước thành phố; (2) Khu vực núi Phước Tường cần phải xây dựng bổ sung các hồ điều tiết tại các vị trí tụ thủy…

– Hạn chế tối đa phát triển đô thị tại khu vực trũng thấp (khu vực tham gia thoát lũ) để hạn chế gia tăng mực nước sông ảnh hưởng đến khả năng thoát nước của hệ thống. Đây là nguy cơ gây ngập lụt, ngập úng đô thị trong tương lai.

– Công tác quy hoạch cần lưu ý mở rộng các hành lang thoát lũ, tăng cường hồ điều tiết để tăng khả năng chứa nước, tăng cường mảng xanh đô thị để tăng hệ số thấm, giảm lưu lượng và tạo cảnh quan đô thị. Các trục thoát chính nên ưu tiên sử dụng kênh thoát nước để tăng khả năng thoát nước, chứa, thuận lợi công tác nạo vét, hạn chế tối đa cống hộp.

– Tính toán hệ thống thoát nước, lựa chọn cao độ nền phải xét đến yếu tố BĐKH và mực nước biển dâng .

– Giải pháp xây dựng các trạm bơm chống ngập tại các vị trí tụ thủy tại khu vực trung tâm là giải pháp căn cơ, lâu dài và phù hợp điều kiện địa hình, diễn biến về BĐKH và mực nước biển dâng ngày càng phức tạp.

– Xây dựng quy trình vận hành các hồ điều tiết trên cơ sở mùa mưa xả sớm, tận dụng tối đa khả năng điều tiết, ưu tiên công tác chống ngập úng đô thị. Tăng cường công tác kiểm tra, có chế tài cụ thể và xử phạt các đơn vị không nghiêm túc thực hiện.

– Thay thế, sửa chữa các cống đã xuống cấp không đảm bảo khẩu độ thoát nước. Nghiên cứu giải pháp hố ga thu nước mặt đường kết hợp ngăn mùi phù hợp với điều kiện địa phương

– Xây dựng các mẫu bể tự hoại theo đúng quy định và giải pháp thu gom nước xám, nước đen trong nhà để đưa vào cấp phép xây dựng công trình. Thiết lập và ban hành Quy chế phối hợp trong công tác kiểm tra việc triển khai thi công bể tự hoại, hệ thống thoát nước theo đúng giấy phép xây dựng.

– Nghiên cứu điều chỉnh giải pháp công nghệ hoặc quy trình xử lý cho phù hợp với thực tế chất lượng nước thải đầu vào và giải pháp thu gom để tiết kiệm kinh phí, giảm chi phí giá dịch vụ thoát nước.

– Nghiên cứu tái sử dụng nước sau xử lý tại các trạm xử lý nước thải để tưới cây, rửa đường…

– Tuyên truyền vận động người dân bảo vệ hệ thống thoát nước và tăng cường đấu nối nước thải.

– Nâng cao năng lực đơn vị thoát nước để chủ động trong công tác xử lý ngập úng và môi trường.

– Đẩy mạnh công tác XHH đầu tư xây dựng, quản lý vận hành; phân cấp quản lý trong thời gian tới…

Ths. Lê Tùng Lâm Ths. Trần Viết Dũng

ĐT&PT Số 63/2016

Asean Tìm Giải Pháp Phát Triển Nông Thôn Bền Vững

Ngày 13/6, Hội nghị lần thứ 9 Quan chức cao cấp ASEAN về phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo (SOMRDPE 9) chính thức khai mạc tại Đà Nẵng với sự tham dự của đại biểu từ 11 nước thành viên ASEAN, các tổ chức quốc tế và đại diện Ban thư ký ASEAN.

Hội nghị SOMRDPE 9 khai mạc ngày 13/6 tại Đà Nẵng – Ảnh: HC

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Đăng Khoa cho hay, trong 2 ngày, SOMRDPE 9 là dịp để các nước chia sẻ thông tin, đưa ra các giải pháp hợp tác nhằm đạt mục tiêu xoá đói giảm nghèo và phát triển nông thôn bền vững thông qua tăng cường an ninh lương thực, sinh kế và thích ứng với biến đổi khí hậu trong khu vực ASEAN.

Trên cơ sở đó, mỗi nước thành viên cũng như cộng đồng ASEAN có cam kết mạnh mẽ và đầu tư thích đáng hơn nhằm thực hiện thành công kế hoạch hành động của ASEAN về phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2011- 2015; hướng tới thực hiện lộ trình của ASEAN nhằm đạt được mục tiêu thiên niên kỷ và đóng góp thiết thực cho tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN vững mạnh, liên kết chặt chẽ và phát triển bền vững.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Đăng Khoa, tuy đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ song phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo của ASEAN cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, biến đổi khí hậu và dịch bệnh… Để vượt qua những thách thức này, sự đoàn kết hợp tác giữa các nước thành viên và các tổ chức quốc tế là hết sức cần thiết.

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Việt Nam Nguyễn Đăng Khoa phát biểu tại hội nghị – Ảnh: HC

“Việt Nam có gần 70% dân số ở khu vực nông thôn nên việc phát triển nông nghiệp và đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo là một trụ cột của chiến lược tăng trường bền vững. Do đó trong nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã đề ra và thực hiện nhiều cơ chế chính sách, chương trình, dự án nhằm phát triển nông thôn, hỗ trợ thiết yếu các vùng khó khăn, các hộ nghèo. Việt Nam cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ, giúp đỡ từ các nước ASEAN và bạn bè quốc tế trong lĩnh vực này” – ông Nguyễn Đăng Khoa nói.

Được biết năm 2011, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn Việt Nam đạt 660 USD/người. Tỉ lệ hộ nghèo ở khu vực này đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 15,5%. Sản xuất lương thực cũng đạt nhiều kết quả khả quan, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới…

Mặc dù vậy, ông Nguyễn Đăng Khoa nhận xét, quá trình phát triển nông thôn và giảm nghèo ở Việt Nam chưa thật sự bền vững, nhất là về giảm tỉ lệ hộ nghèo. Khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển và thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa các nhóm hộ dân chưa được thu hẹp; thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều khó khăn…

HẢI CHÂU

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thủ Đô Resort Đi Tìm Giải Pháp Bền Vững trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!