Đề Xuất 12/2022 # Thi Hành Biện Pháp Tư Pháp Bắt Buộc Chữa Bệnh / 2023 # Top 17 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Thi Hành Biện Pháp Tư Pháp Bắt Buộc Chữa Bệnh / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thi Hành Biện Pháp Tư Pháp Bắt Buộc Chữa Bệnh / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là gì? Ai là người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, căn cứ để áp dụng cũng như thi hành quyết định này ra sao?

Luật thi hành án hình sự năm 2010 có định nghĩa “thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là việc… buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc người đang chấp hành án bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình phải điều trị tại cơ sở chữa bệnh bắt buộc theo bản án, quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát”. Để hiểu rõ hơn về biện pháp bắt buộc chữa bệnh, ta tiến hành phân tích các vấn đề sau đây.

1. Đối tượng áp dụng

Biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng với những người sau đây trong quá trình tố tụng của vụ án hình sự:

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc các bệnh về tâm thần và các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi.

– Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng khi bị kết án mắc bệnh tâm thần và bệnh khác làm mất khả năng nhận thức.

– Người đang chấp hành hình phạt tù thì mắc các bệnh về tâm thần và bệnh khác tương tự.

2. Căn cứ áp dụng

Biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng đối với những người bị mắc các bệnh về tâm thần, bệnh về thần kinh làm cho khả năng nhận thức hành vi đúng-sai cũng như khả năng điều chỉnh hành vi của mình không còn. Để xác định một người là đã mất khả năng nhận thức thì căn cứ vào kết quả giám định pháp y hoặc giám định tâm thần của các cơ sở y tế được trưng cầu giám định.

3. Thẩm quyền áp dụng

Theo quy định của Luật hình sự năm 2015, điều 49 thì Viện kiểm sát và Tòa án là 2 cơ quan có quyền quyết định áp dụng. Cụ thể tại điều 116, Luật thi hành án hình sự năm 2010 thì là Viện kiểm sát cùng cấp với cơ quan điều tra và Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù.

Các cơ quan nêu trên có thể tự mình hoặc căn cứ vào đề nghị của các cơ quan sau đây để áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh:

– Đối với giai đoạn trước khi có bản án: Cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát.

– Đối với giai đoạn sau khi có bản án: Trại giam đề nghị Tòa án áp dụng.

4. Thủ tục thi hành

Hiện tại, pháp luật đã hệ thống khá đầy đủ về việc thi hành biện pháp chữa bệnh. Cụ thể được quy định tại Luật hình sự, Luật thi hành án hình sự và văn bản hướng dẫn thi hành là Nghị định 64/2011/NĐ-CP của Chính Phủ quy định việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Căn cứ vào các văn bản trên, việc đưa ra thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh khá dài nhưng có thể được thấy qua các thủ tục sau đây:

– Thủ tục đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh. Theo quy định tại điều 14, nghị định 64/2011/NĐ-CP thì bao gồm: Viện giám định pháp y tâm thần Trung ương và Bệnh viện tâm thần Trung ương 1; Bệnh viện tâm thần Đà Nẵng; phân viện Giám định pháp y tâm thần phía Nam và bệnh viện tâm thần TW 2.

– Tổ chức điều trị cho người bệnh, chế độ quản lý, điều trị

– Giải quyết các trường hợp người bị bệnh bỏ trốn, chết.

– Thủ tục đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Lưu ý: Thời gian thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh được tính vào thời gian chấp hành án phạt tù.

∗ Kết luận, các biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng để khôi phục sức khỏe đối với những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng lại mắc các bệnh về tâm thần khiến cho năng lực nhận thức của họ không còn. Sở dĩ xuất hiện biện pháp này vì mục tiêu cuối cùng của pháp luật hình sự là giáo dục cải tạo người phạm tội, nếu những người này không còn khả năng tiếp thu, nhận thức thì việc giáo dục, cải tạo là không khả thi. Vì vậy, pháp luật Việt Nam đã có những quy định cũng như hướng dẫn cụ thể về hoạt động này.

Thủ Tục Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Đưa Vào Cơ Sở Cai Nghiện Bắt Buộc / 2023

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc áp dụng với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện

– Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vòa cơ sở giáo dục bắt buộc, hồ sơ gồm:

+) Tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó;

+) Tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy;

+) Bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ;

Hồ sơ này do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nghiện ma túy cư trú (hoặc nơi người đó có hành vi vi phạm) hoặc cơ quan Công an cấp huyện trở lên lập. Sau khi lập hồ sơ, cơ quan đã lập hồ sơ phải cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ để họ đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi họ đọc xong hồ sơ thì hồ sơ được gửi cho Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ gửi Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cùng cấp.

+) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đã nhận

+) Văn bản của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

– Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị của Trưởng phòng Lao động-Thương Binh và Xã hội, Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ xem xét để ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có hiệu lực, Tòa án nhân dân đã ra quyết định phải gửi cho người bị áp dụng và cơ quan có thẩm quyền để thi hành quyết định.

Khi phát hiện người sử dụng ma túy trái phép, Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép của người đó và tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định tại Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ-CP bao gồm:

b) Phiếu trả lời kết quả của người có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định này về tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

c) Biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép;

d) Bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ;

đ) Tài liệu chứng minh đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn bao gồm: Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy và Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

e) Giấy xác nhận hết thời gian cai nghiện ma túy tại gia đình hoặc cai nghiện ma túy tại cộng đồng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tài liệu chứng minh bị đưa ra khỏi chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế;

h) Văn bản của cơ quan lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Đối với người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định:

a) Hồ sơ đề nghị quy định tại Điểm a, b, c, d, h Khoản 1 Điều này;

– Người đang tham gia các chương trình cai nghiện ma túy tại cộng đồng theo quy định tại Khoản 3 Điều 16 Nghị định 81/2013/NĐ-CP

– Người đang tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện được quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 96/2012/NĐ-CP.

– Đối tượng tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng là người nghiện ma túy đang cư trú tại cộng đồng tự nguyện đăng ký cai nghiện nhưng không có điều kiện điều trị cắt cơn tại gia đình.

– Người nghiện ma túy hoặc gia đình, người giám hộ của người nghiện ma túy chưa thành niên có trách nhiệm tự giác khai báo và đăng ký tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

Khoản 2 Điều 3 Nghị định 94/2010/NĐ-CP quy định thời hạn cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng từ sáu tháng đến mười hai tháng, tính từ ngày ký quyết định cai nghiện tại gia đình, quyết định cai nghiện tự nguyện, cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng.

Chào Luật Sư ạ! em trai cháu 21 tuổi sử dụng ma túy đá gần 1 năm nhưng gia đình cháu mới phát hiện , đã khuyên hết lời cho em đi cai nhưng em vẫn bướng không chịu đi, cháu rất mong được Luật sư tư vấn về tính huống này ( vì em trai cháu không ngoan và nghe lời ba mẹ như những đứa trẻ khác nên ba mẹ nói cũng không nghe). Nhờ chính quyền thì chính quyền địa phương nói chỉ bắt người bán chứ không bắt người mua sử dụng, cháu rất hoang mang vì không có cách cưỡng chế lại hành vi sai trái của em cháu lúc này… mong Luật sư tư vấn cách giúp em trai cháu thoát khỏi nghiện ngập?

“Điều 3. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Như vậy, những đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

– Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định phải được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

– Người nghiện ma túy tự nguyện làm đơn xin cai nghiện thì được nhận vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và không bị coi là xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, nếu em bạn không thuộc các trường hợp trên thì không thuộc đối tượng bị áp dụng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

“Điều 3. Độ tuổi, thời hạn cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng.

Điều 8. Đối tượng tự nguyện cai nghiện ma túy gia đình.

Trường hợp muốn được cai nghiện tại gia đình, cần phải khai báo và tự nguyện đăng ký với Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú để xem xét áp dụng cai nghiện ma túy tại gia đình.

Do đó, nếu em chưa cai nghiện tại gia đình thì chưa đủ điều kiện để áp dụng biện pháp cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nên với trường hợp của em bạn thì gia đình nên phân tích và khuyên bảo em bạn tự nguyện đăng ký cai nghiện tại gia đình, cộng đồng theo quy định trên.

Em tai tôi thường xuyên hút “cỏ” tại nhà, sau khi gia đình báo Công an xã bắt quả tang nhưng khi đưa đi test trong máu thì âm tính. Vậy muốn đưa em tôi đi cai nghiện cần làm những thủ tục nào?

Theo Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định như sau:

“Điều 96. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP quy định như sau:

1. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.

2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy.

Theo Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định như sau:

“Điều 103. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy quy định tại Điều 96 của Luật này được thực hiện như sau:

a) Đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

b) Đối với người nghiện ma túy không cư trú tại nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người nghiện ma túy;

c) Công an cấp xã có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thu thập các tài liệu và lập hồ sơ đề nghị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Do đó, theo quy định của pháp luật thì đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 và Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP.

Đối với trường hợp người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định, vậy việc lập hồ sơ sẽ do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người nghiện ma túy cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bao gồm:

+ Bản tóm tắt lý lịch.

+ Tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó.

+ Tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy.

Tuy nhiên, nếu test em bạn mà âm tính thì không đủ cơ sở để đưa em bạn đi cai nghiện được.

Khi tòa án có quyết định xét xử thì có thông báo hay văn bản gửi về cho gia đình được biết hay không? Em mình bị bắt vì sử dụng ma túy nhưng đến ngày xét xử thì gia đình không biết và cũng không có một giấy tờ hay văn bản gì gửi về cho gia đình như vậy là đúng hay sai?

Điều 11 Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định về việc thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì cơ quan lập hồ sơ phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc lập hồ sơ cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp này hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Văn bản thông báo phải bao gồm đầy đủ các nội dung sau: họ tên người vi phạm, lý do lập hồ sơ đề nghị, quyền của người được thông báo (đọc, ghi chép. sao chụp hồ sơ, phát biểu ý kiến…), địa điểm đọc hồ sơ, thời gian đọc hồ sơ (5 ngày kể từ ngày nhận được thông báo)

Sau khi hết thời hạn đọc hồ sơ, cơ quan lập hồ sơ sẽ gửi hồ sơ tới Phòng tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính pháp lý, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ trưởng phòng tư pháp sẽ có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, kết quả điều tra phải được lập thành văn bản và tiếp tục gửi tới trưởng phòng Lao động thương binh xã hội cùng cấp. Trong thời hạn 7 ngày làm việc thì trưởng phòng lao động thương binh xã hội kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, sau đó gửi tới Tòa án nhân dân, sau đó Tòa án sẽ xem xét có ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hay không?

Pháp luật không quy định Tòa án phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử khi áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc, việc thông báo cho gia đình được thông báo từ khi cơ quan lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Xin chào luật sư. Em muốn nhờ luật sư tư vấn một vài vấn đề. Em và em trai em là người Đak Lak vào Sài Gòn thuê phòng trọ ở Thủ Đức, em trai em bị bạn bè rủ rê nên chơi ma tuý và bị công an quận 4 bắt vào ngày 9/9/2016 vừa qua. Khi bị bắt đáng lẽ em muốn bảo lãnh cho em của em nhưng lại không được vì nó thuộc đối tượng vô gia cư tại thời điểm bị bắt và bị đưa vào cơ sở thanh thiếu niên ở Củ Chi do nó không có tên trong sổ đăng kí tạm trú tại khu vực bọn em ở. Lý do là nó ở cùng với em khoảng hơn một năm và lúc đầu đã đăng kí đầy đủ nhưng vì có một lần nó về thăm nhà đúng đợt công an khu vực kiểm tra và không có mặt nên người ta đã gạch tên, lúc đó họ cũng không nói rõ cho đến lúc khi em trai em bị bắt em mới vỡ lẽ. Vậy cho em hỏi em có thể làm đơn xin xác nhận của chủ nhà trọ, hàng xóm và nơi em trai em làm việc để chứng minh nó có tạm trú rõ ràng và có thể được bảo lãnh không ạ? Rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư, em không biết phải hỏi ai để làm thủ tục cũng như đơn để bảo lãnh em trai, cám ơn luật sư rất nhiều!

Điều 96, Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Theo quy định của khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP thì đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.

+ Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy.

+ Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.

Như vậy, đối chiếu theo quy định trên vào trường hợp của em bạn, nếu vào thời điểm em trai bạn bị bắt về hành vi sử dụng ma túy trái phép, nếu em bạn đã trên 18 tuổi, và không có nơi cư trú ổn định, cụ thể bị bắt tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng không có đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú nên sẽ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Theo quy định của Nghị định 221/2013/NĐ-CP thì nơi cư trú ổn định được xác định là nơi người đó thường xuyên sinh sống, là nơi người vi phạm thường trú hoặc tạm trú.

Nơi tạm trú của công dân theo quy định của Luật Cư trú 2006 là nơi mà công dân đến sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp phải đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn.

Như vậy, với trường hợp của em bạn, tại thời điểm bị bắt chưa đăng kí tạm trú tại Củ Chi (không có nơi cư trú ổn định) nên sẽ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện.

Hiện tại không có quy định về trường hợp bảo lãnh đối với đối tượng cai nghiện bắt buộc. Bạn có thể liên hệ trực tiếp với cơ sở cai nghiện tại Củ Chi để làm thủ tục hoãn, miễn thực hiện nếu em bạn thuộc đối tượng hoãn, miễn thực hiện cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Điều Kiện Áp Dụng Biện Pháp Đưa Vào Cơ Sở Giáo Dục Bắt Buộc / 2023

Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính trong thời hạn từ 6 tháng đến 24 tháng để lao động, học văn hoá, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc.

Theo đó, đối tượng bị áp dụng biện pháp này là người thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Quy định về điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc tại Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính nêu trên được cụ thể hóa tại Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Cụ thể: Đối tượng thuộc trường hợp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính là người đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (đối với người có nơi cư trú ổn định) hoặc chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (đối với người không có nơi cư trú ổn định) mà trong thời hạn 06 tháng họ đã ít nhất 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài hoặc vi phạm trật tự, an toàn xã hội và trong thời hạn 06 tháng đó họ lại thực hiện một trong các hành vi này, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Pháp lệnh số 09/2015/UBTVQH13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân còn có nhận thức và thực hiện chưa thống nhất về điều kiện áp dụng biện pháp này.

Có quan điểm cho rằng, theo quy định tại Điều 35a Nghị định số 56/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đối với đối tượng đã chấp hành được ít nhất ½ thời gian giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì chỉ cần 01 lần vi phạm là đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, không cần phải bị xử phạt vi phạm hành chính sau đó tiếp tục vi phạm trong 6 tháng như quy định tại Khoản 1 Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP.

Thực tế, một số Công an cấp huyện đã lập hồ sơ đối với đối tượng mới chỉ có 01 lần vi phạm và được Tòa án chấp nhận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Trường hợp của Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 ở xã Đ, huyện B, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do đã 3 lần có hành vi xâm phạm sức khỏe các thành viên trong gia đình vào các ngày 30/10/2017, ngày 11 và 17 tháng 12 năm 2017, thời hạn giáo dục là 03 tháng, kể từ ngày 02/01/2018. Khi đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, ngày 11/03/2018, T lại có hành vi dùng tay đánh vào mặt của bố đẻ mình là ông Nguyễn Văn A, Công an xã Đ lập biên bản sự việc. Sau đó, Chủ tịch UBND xã Đ, huyện B ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với T. Căn cứ hồ sơ vụ việc và công văn đề nghị của Công an huyện, Tòa án đã mở phiên họp và quyết định định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục đối với Nguyễn Văn T trong thời hạn 24 tháng.

Theo ý kiến của tác giả thì việc Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Nguyễn Văn T khi đối tượng này mới có 01 lần thực hiện hành vi vi phạm xâm phạm sức khỏe của người khác là chưa đủ điều kiện về số lần vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính, được hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao; và cũng không đúng với quy định tại Điều 35a Nghị định số 56/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Bởi lẽ, tại Khoản 1 Điều 35a Nghị định số 56/NĐ-CP của Chính phủ chỉ hướng dẫn thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời gian đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Theo đó, nếu đối tượng đã chấp hành được ít nhất ½ thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà không tiến bộ, tiếp tục có hành vi vi phạm thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 94 Luật xử lý Vi phạm hành chính thì Chủ tịch UBND xã ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp giáo dục tại xã để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Do đó, “hành vi vi phạm thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 94 Luật xử lý Vi phạm hành chính” nêu tại Điều 35a Nghị định số 56/2016/NĐ-CP cần hiểu là phải đáp ứng được 2 điều kiện cần và đủ sau đây:

Một là, điều kiện về lĩnh vực vi phạm: Đối tượng bị áp dụng phải có hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội.

Hai là, điều kiện về số lần vi phạm và thời gian vi phạm: Đối tượng phải thực hiện hành vi vi phạm 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Từ nhận thức và thực hiện không đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính nêu trên dẫn đến Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc khi đối tượng chưa đủ điều kiện về số lần vi phạm sẽ xâm phạm trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Vì vậy, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương cần sớm nghiên cứu, có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện thống nhất quy định của pháp luật về vấn đề này.

Biện Pháp Thi Công Ống Chữa Cháy / 2023

04 biện pháp thi công ống chữa cháy chi tiết như sau:

1- Gia công ống trước khi lắp đặt

– Trước khi lắp đặt ống phải được làm sạch rỉ và các tạp chất bẩn bằng chổi đánh rỉ– Dùng giẻ lau sạch dầu bảo quản cả trong và bên ngoài ống– Quét sơn bảo vệ và bảo quản ống thép đen và thép tráng kẽm– Mỗi hệ thống đường ống sẽ được làm sạch triệt để trước khi kết nối tới hệ thống và thiết bị. Đối với ống thép carbon, đổ đầy nước trong ống sau khi hoàn thành việc thử nghiệm chống rò ống hoặc làm sạch để tránh ăn mòn.– Kiểm tra cẩn thận đường ống và đoạn nối ống.– Ống sẽ được cắt bằng máy cắt. Không chấp nhận máy cắt chạy bánh bằng kim loại.– Mép trong và ngoài đường ống bị nhám hoặc sắc sẽ được mài nhẵn. Các mép trong phải được khoét phẳng.– Khi không thi công ống, phụ kiện và van đầu cuối nên đậy tạm để tránh tác động từ bên ngoài• Phương pháp sơn thông thường, sử dụng sơn chống rỉ bám dính và sơn hoàn thiện Trước khi tiến hành sơn ống thì công tác làm sạch đã hoàn thiện, tiến hành sơn bằng tay hoặc bằng máy phun sơn. Khi phun chú ý khoảng cách giữa súng phun và đường ống tránh trường hợp dày mỏng và sơn chảy thành dòng trên ống– Đối với ống thép đen sơn làm 3 lớp hoặc 4 lớp : 1 lớp chống rỉ, 1 lớp màu đỏ và 1 lớp sơn màu đỏ sau cùng hoặc 1 lớp sơn chống rỉ, 2 lớp sơn màu đỏ, giữa 2 lớp cách nhau 2 giờ và1 lớp sơn hoàn thiện– Đối với ống thép tráng kẽm: Tiến hành quét lớp xử lý bề mặt, sơn 2 lớp sơn màu đỏ cách nhau 2 giờ và sơn 1 lớp hoàn thiện sau cùng, chờ cho ống khô tiến hành lắp đặt hoặc chuyểnđến công trường tiến hành lắp đặt sau khi đã xử lý hết các bước trên tại xưởng.

– Sử dụng kính bảo vệ mắt, máy cắt đảm bảo vệ tránh phôi thép và lửa văng ra ngoài gây tai nạn

2. Cắt gọt

– Khi cắt gọt không làm biến dạng ống và lớp bảo vệ, mặt cắt ống phải nhẵn và vuông góc với tâm ống (hay vát mép nếu cần) để thực hiện mối nối– Dụng cụ cắt phải thích hợp và đảm bảo về chiều dài vết cắt theo đúng yêu cầu kỹ thuật

3. Ren ống (áp dụng cho ống DN50 trở xuống)

– Cắt thẳng ống và làm sạch Bavia trước khi ren– Với ống có đường kính D<= 50 chiều dài đầu ren tối thiểu đạt 20-25mm– Ren ống bằngg máy ren với bước ren và độ dài theo quy định. Đường ren trên ống dạng côn, tuân thủ theo các tiêu chuẩn về ren ống– Ren ống bằng máy gia công ren có bộ phận tự động định kích thước. Cắt thẳng góc với tâm ống, cắt dần và đều sao cho lớp cắt được trơn láng. Tùy theo loại ống tiến hành cho lượng dầu cắt thích hợp, hoặc cho đều vào bộ phận cắt. Khi dầu bị đổi màu thì cần thay thế dầu mới. Khi răng bị lỗi lõm phải thay lưỡi Taro mới

4. Đấu nối ống

5. Các dạng kết nối ống

Kết nối hànPhạm vi áp dụng và Quá trình hànĐối với đường ống đường kính lớn hơn 65mm thì áp dụng phương pháp hàn để kết nối ốngQuy trình hàn như sau– Tại các vị trí mối ghép sẽ được thực hiện theo quy trình, đảm bảo kỹ thuật– Đấu nối đoạn ống với nhau hoặc đấu nối đoạn ống với thiết bị, kiểm tra vị trí cần nối tại thiết bị– Dùng thiết bị nâng, đưa hai đoạn ống vào vị trí, đúng tạ độ thiết kế, hai đầu ống tiến gần sát nhau, đồng tâm với nhau và song song với phương ngang, khe hở giữa chúng từ 1-3mm– Hai đoạn ống tạm thời được treo bằng giá đỡ hoặc đai treo đã lắp trước. Dùng máy rọi lazer để chỉnh đồng tâm của tuyến ống sao cho phía trong lòng ống phải thẳng, phẳng và không có gờ để tránh dòng chảy xoáy của môi chất tại điểm nối, làm giảm tuổi thọ ống – Quy trình hàn:+ Công tác chuẩn bị, que hàn, máy hàn, vật tư ống. Đo kích thước của ống và làm sạch bề mặt của ống. Bề mặt sẽ không dính dầu, bụi bẩn và khô (cách mối hàn 100mm). Vệ sinh cạnh gờ bằng máy mài, chổi sắt+ Kiểm tra góc nghiêng khớp với độ dày của ống. Nếu góc nghiêng không chính xác, dùng đồ giũa hiệu chỉnh lại. Điều chỉnh ống để tâm nằm trên một đường+ Tất cả ống hàn sẽ được thực hiện bởi quá trình hàn hồ quang. Điện cực sẽ được kỹ sư cơ chọn phù hợp với điện cực đã duyệt.+ Số chấm hàn cho kích thước ống bằng hoặc nhỏ hơn 300A là 3 điểm, đối với kích thước ống350A-500A sẽ là 6 điểm và đối với kích thước ống bằng hoặc trên 550A là 8 điểm.+ Tiến hành hàn đính+ Tiến hành hàn điền đầy+ Lăn ống từ trên xuống dưới. Đối với kẹp ống, việc hàn sẽ được thực hiện từ dưới lên trên+ Sau khi hàn, tất cả khu vực hàn sẽ được vệ sinh sạch sẽ. Điểm hàn phải không bị gỉ.+Tất cả ống hàn phải được kiểm tra bằng mắt. + Chiều rộng của mối hàn hoàn thiện thì không vượt quá 3.2mm mối hàn rãnh chính.+ Báo cáo với các kỹ sư về sự hư hỏng. Không được sửa mối hàn và ống hàn hư vượt quá250mm sẽ được cắt vuông vắn và đúng, và quá trình hàn trên sẽ được thực hiện để nối ống lần nữa.+ Sau khi hàn xong và làm sạch, quét sơn chống ăn mòn bằng loại sơn đã được duyệt.Trình tự hàn– Đối với vật liệu cơ bản là thép ( ống thép đen, thép mạ kẽm)+ Đối với vật liệu có chiều dày lớn hơn 4.5mm phải hàn hai lớp, lớp lót được hàn đủ quanh đường ống trước khi hàn lớp phủ+ Đối với ống có chiều dày nhỏ hơn 4.5mm được phép hàn một lần phủ, lấp đầy khe hở mối hàn. Yêu cầu về mối hàn phải được lấp đầy, chiều cao mối hàn phải cao hơn mặt ngoài của ống nhưng tối đa 3mm+ Độ lồi bên trong tối đa 1mm+ Đối với mối hàn bích, chấm hàn sẽ là 1 điểm và mặt bích sẽ là góc phải tới trục đường ống. Sau đó số chấm hàn là 3-4 điểm trước khi hàn chính thức. Mối hàn ở mặt ngoài thì không nằm ngoài mặt bích.– Vật tư và máy hànKhi nhà thầu thuê máy hàn, nhà thầu sẽ qua cuộc kiểm tra chất lượng dưới sự giám sát và phê duyệt của kỹ sư trước khi được phép hàn.Không dùng búa đóng vào ống. Không để que hàn ở khu vực ẩm ướt.– An toàn + Khu vực hàn phải được phủ tấm vinyl nhằm tránh nước và bụi.+ Bình cứu hỏa sẽ được trang bị tại khu vực hàn và phải kiểm tra dự phòng an toàn.+ Đối với sự an toàn của công nhân, dây nối đất phải được trang bị cho quá trình hàn hồ quang; và cấp phát quần áo, kính bảo hộ, và găng tay cho công nhân.+ Không tiến hành hàn nếu không có sự giám sát riêng của nhà thầu.+ Việc hàn sẽ không được thực hiện khi chất lượng của mối hàn kết bị suy yếu do điều kiện thời tiết có gió gồm thổi cát hay gió mạnh (vận tốc của gió trên 10m/s). Trang bị tường chắn gió và lều khi tiến hành hàn trong điều kiện thời tiết như trên.• Mối nối mặt bích– Một vài vị trí không thể áp dụng phương pháp hàn hoặc để thuận tiện trong tháo lắp sẽ áp dụng mối nối mặt bích. Ví dụ: vị trí mối nối lắp đặt với van khóa trên 65mm và vị trí đấu nối với đường ống HDPE khi thoát ra khỏi tòa nhà

Các bước hàn mặt bích với ống+ Đưa đoạn ống cần ghép nối mặt bích trên gối đỡ, lồng mặt bích vào đầu ống+ Dùng thước ke vuông góc giữa thân ống với mặt bích, căn chỉnh khoảng hở giữa ống và mặt bích sao cho khe hở đều nhau+ Hàn đính 1 điểm giữa ống và mặt bích, căn chỉnh lại góc vuông và khoảng hở một lần nữa, sau đó hàn đính điểm đối xứng + Gõ sạch xỉ hàn các điểm hàn đính sau đó thực hiện mối hàn hoàn chỉnh– Các bước ghép mặt bích+ Căn thẳng hàng các mối ghép bằng mặt bích+ Căn chỉnh các lỗ giữa mặt bích thẳng, đưa zoăng cao su vào khe giữa 2 mặt bích sao cho zoăng cao su nằm đúng hai gờ của mặt bích+ Lắp các bu lông, long đen và Êcu, vạn xiết Bulong the thứ tự như hình dưới. Khi lắp Bulong kết nối mặt bích cần thực hiện các biện pháp kỹ thuật+ Monen xoắn được điều chỉnh gắn vào mô men vòng đệm. Kiểm tra momen vòng đệm.+ Xiết chặt Bulong cho thật đều+ Dùng bút lông đánh dấ lên Bulong xiết và đai ốc khi hoàn thành sau đó xiết lại lần nữa và kiểm tra bằng mắt– Một vài biện pháp kỹ thuật cần đáp ứng như sau:+ Momen xoắn sẽ được điều chỉnh gắn vào momen của vòng đệm. Kiểm tra momen của vòng đệm.+ Siết chặt bu lông cho thật đều. Thứ tự siết theo như hình+ Dùng bút lông dầu đánh dấu lên bu lông siết và đai ốc khi hoàn thành. Sau đó siết lại lần nữa và kiểm tra bằng mắt.

Nếu Bạn gặp khó khăn trong tính toán thiết kế hệ thống điện .Hãy đăng ký học thử miễn phí 01 buổi cùng các chuyên gia của chúng tôi . Chúng tôi sẽ giúp bạn

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thi Hành Biện Pháp Tư Pháp Bắt Buộc Chữa Bệnh / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!