Đề Xuất 2/2023 # Tập Trung Thực Hiện Tái Cơ Cấu Toàn Diện Ngành Nông Nghiệp # Top 11 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Tập Trung Thực Hiện Tái Cơ Cấu Toàn Diện Ngành Nông Nghiệp # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tập Trung Thực Hiện Tái Cơ Cấu Toàn Diện Ngành Nông Nghiệp mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai nhiệm vụ ngành NN&PTNT năm 2017:

Tập trung thực hiện tái cơ cấu toàn diện ngành nông nghiệp

Ðây là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết ngành NN&PTNT năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017, do Bộ NN&PTNT tổ chức ngày 26.12 tại Hà Nội. Dự Hội nghị tại điểm cầu Bình Ðịnh có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Châu cùng đại diện các sở, ngành của tỉnh.

Các chiến sĩ Lữ đoàn pháo binh 572 Quân khu V hỗ trợ huyện Phù Mỹ hàn khẩu tạm đoạn đê sông Cạn tại xã Mỹ Chánh bị mưa lũ làm vỡ đứt để kịp thời phục vụ sản xuất.

Tăng trưởng nhưng chưa bền vững

Theo Bộ NN&PTNT, năm 2016, tốc độ tăng GDP toàn ngành đạt khoảng 1,2%; giá trị sản xuất tăng 1,44%. Tại tỉnh ta, sản xuất nông nghiệp bị tác động xấu của thời tiết, hạn hán, mưa lũ; sâu bệnh, dịch bệnh gây hại cây trồng, vật nuôi; nhưng nhờ nỗ lực thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, nên tổng sản phẩm nông, lâm, thủy sản năm 2016 ước đạt trên 10.189 tỉ đồng, tăng 4,12%; giá trị sản xuất tăng 4,1%.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường nhìn nhận: Trong tình hình sản xuất nông nghiệp chịu nhiều tác động bởi thiên tai, nhưng tốc độ tăng GDP toàn ngành đạt khoảng 1,2% là nỗ lực lớn, đáng ghi nhận. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, tăng trưởng GDP toàn ngành còn ở mức thấp và chưa bền vững.

Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, việc triển khai thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp chưa đồng bộ; nợ xây dựng cơ bản trong xây dựng nông thôn mới (XDNTM) chưa được giải quyết; công tác đổi mới tổ chức sản xuất ở khu vực nông thôn còn chậm, sản xuất manh mún, việc nhân rộng các tổ chức sản xuất theo chuỗi còn bất cập. Các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực nông nghiệp còn ít, năng lực tài chính hạn chế; công tác đổi mới các lâm trường quốc doanh thực hiện chậm. Cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu…

Đề ra mục tiêu mới

Năm 2017, ngành Nông nghiệp phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng khoảng từ 2,5 – 2,8%, giá trị sản xuất tăng 3- 3,2%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt từ 32-32,5 tỉ USD; tỉ lệ che phủ rừng đạt 41,4%; tỉ lệ xã đạt chuẩn NTM 28 – 30%.

Để đạt mục tiêu trên, Bộ NN& PTNT đề ra 10 giải pháp chính; đồng thời kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành rà soát, đổi mới cơ chế chính sách thúc đẩy tái cơ cấu, hỗ trợ phát triển nông nghiệp và XDNTM; ưu tiên phân bổ tăng nguồn lực cho ngành Nông nghiệp. Các địa phương phối hợp chặt chẽ với Bộ NN&PTNT thực hiện kế hoạch năm 2017 và ưu tiên nguồn lực đầu tư cho 2 chương trình lớn: Tái cơ cấu ngành nông nghiệp và XDNTM.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu các bộ, ngành và chính quyền các địa phương cần tập trung khắc phục hậu quả mưa lũ, sớm ổn định đời sống, sản xuất cho người dân. Đẩy mạnh tái cơ cấu toàn diện ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị; xây dựng các khu sản xuất, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức sản xuất theo chuỗi áp dụng công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến, xây dựng thương hiệu sản phẩm để xuất khẩu. Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân; những quy định, cơ chế không phù hợp, là rào cản phát triển cần phải bỏ ngay. Tiếp tục tăng cường năng lực phòng chống thiên tai; khai thác tốt nguồn lực trong nước, nguồn vốn hỗ trợ từ nước ngoài để thực hiện các chương trình, dự án, đảm bảo mục tiêu, mục đích XDNTM cốt là để nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân.

Bình Định: Triển khai nhiều biện pháp phát triển nông nghiệp toàn diện

Phát biểu ý kiến về công tác khắc phục hậu quả mưa lũ, triển khai sản xuất vụ Ðông Xuân 2016-2017, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Châu cho biết: Những ngày qua, Bình Ðịnh đã tập trung hỗ trợ kinh phí; xuất cấp lương thực, thực phẩm cứu trợ người dân vùng lũ. Huy động phương tiện, vật tư, nhân lực sửa chữa, hàn khẩu các đoạn đường, kênh mương bị hư hỏng, vỡ đứt, khôi phục diện tích đất sản xuất bị mưa lũ gây sa bồi thủy phá để đưa vào sản xuất; hỗ trợ lúa giống cho nông dân…Ðến nay, có khoảng 70% diện tích sản xuất bị sa bồi thủy phá, trong tổng số hơn 3.775 ha đất sản xuất bị sa bồi thủy phá toàn tỉnh, đã và đang được khôi phục, có thể đưa vào sản xuất vụ Ðông Xuân. Còn khoảng 300 ha đất tại TX An Nhơn và các huyện Tuy Phước, Phù Mỹ, Hoài Ân, Phù Cát, Hoài Nhơn bị sa bồi nặng khả năng không khôi phục kịp. Các địa phương đã chủ động mua trên 1.400 tấn lúa giống hỗ trợ đợt 1 và đợt 2 cho nông dân để sản xuất. Tỉnh cũng chỉ đạo ngành Nông nghiệp điều chỉnh lịch thời vụ theo hướng lùi thời gian gieo sạ phù hợp với điều kiện thực tế, hướng dẫn nông dân sử dụng các giống lúa ngắn ngày để không ảnh hưởng đến vụ sau.

Cũng theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Châu, năm 2017 Bình Ðịnh sẽ triển khai nhiều biện pháp phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết vấn đề nông thôn, nông dân. Theo đó, sẽ tổ chức triển khai có hiệu quả đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, tổ hợp tác… Bình Ðịnh phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2017 là 3,5% và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất là 4,2%.

Bên cạnh việc phát huy nội lực thực hiện kế hoạch đã đề ra, tỉnh Bình Ðịnh kiến nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận 2 khu chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến công nghệ cao tại xã Nhơn Tân (TX An Nhơn) và Mỹ Thành (huyện Phù Mỹ); tiếp tục duy trì chính sách phát triển thủy sản theo tinh thần Nghị định 67/CP. Kiến nghị chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương hướng dẫn cụ thể chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, chính sách dồn điền đổi thửa và hỗ trợ thêm kinh phí cho địa phương thực hiện Chương trình XDNTM.

PHẠM TIẾN SỸ

Tái Cơ Cấu Doanh Nghiệp Nhà Nước: Thực Trạng Và Giải Pháp

KINH TẾ TÀI CHÍNH

TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

(Khoahockiemtoan.vn) – Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước là một trong ba trụ cột trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế đến năm 2015 đã được Đảng ta xác định, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện. Đến nay, quá trình tái cơ cấu đã được thực hiện với nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra việc tái cơ cấu doanh nghiệp vẫn chậm, cần phải đẩy mạnh thực hiện với tinh thần quyết tâm cao…

Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Thực trạng và giải pháp

Quyết liệt trong năm 2015

Năm 2015 có ý nghĩa hết sức quan trọng, là năm cuối trong việc thực hiện Đề án 929 (Ban hành kèm Quyết định 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012) về tái cơ cấu DNNN mà trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015. Kết quả triển khai tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm là cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước trong 10 tháng đầu năm 2015 (tính đến ngày 10/11/2015) như sau:

Thứ nhất, về sắp xếp, cổ phần hóa:

Từ năm 2011 đến ngày 10/11/2015 cả nước đã sắp xếp được 471 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa được 408 doanh nghiệp (bằng 79,37% tổng số doanh nghiệp phải cổ phần hóa theo kế hoạch 2011 – 2015) và sắp xếp theo các hình thức khác 63 doanh nghiệp (bán 10 doanh nghiệp; sáp nhập, hợp nhất 37 doanh nghiệp; giải thể, phá sản 9 doanh nghiệp; chuyển thành đơn vị sự nghiệp 1 đơn vị; chuyển thành công ty TNHH hai thành viên trở lên 6 doanh nghiệp).

Riêng trong 10 tháng đầu năm 2015, cả nước đã có 175 doanh nghiệp được sắp xếp. Trong đó, 159 doanh nghiệp đã được phê duyệt phương án cổ phần hóa; 16 doanh nghiệp thực hiện sắp xếp theo các hình thức khác gồm: 4 doanh nghiệp thực hiện bán, 5 doanh nghiệp sáp nhập, 2 doanh nghiệp giải thể, 5 doanh nghiệp chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Dự kiến, số doanh nghiệp cổ phần hóa giai đoạn 2011 – 2015 sẽ là 459 doanh nghiệp, đạt 90% kế hoạch. Riêng 2 năm 2014 và 2015, sẽ có 353 doanh nghiệp được cổ phần hóa theo kế hoạch.

Kết quả thực hiện ở các bộ, ngành địa phương có sự khác biệt tương đối. Trong đó, các đơn vị chỉ đạo triển khai quyết liệt, đạt kết quả cao so với kế hoạch đã được phê duyệt là Thành phố Hà Nội, Tổng công ty Đường sắt, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thành phố Hải Phòng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…

Ngược lại, một số đơn vị tuy triển khai tích cực nhưng đạt kết quả thấp hoặc chưa có kết quả là Bộ Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông, Nam Định, Tiền Giang, TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương…

Thứ hai, về thoái vốn Nhà nước:

Lũy kế từ năm 2012 đến 28/10/2015, cả nước thoái được 16.450 tỷ đồng, thu về 22.870 tỷ đồng. Trong đó, các lĩnh vực bất động sản, bảo hiểm, chứng khoán, tài chính, ngân hàng là 8.704 tỷ đồng (trên tổng số 23.325 tỷ đồng phải thoái tại 5 lĩnh vực nêu trên, bằng 37% kế hoạch), thu về 9.540 tỷ đồng; bán phần vốn nhà nước không cần nắm giữ tại các doanh nghiệp khác là 7.746 tỷ đồng, thu về 13.330 tỷ đồng.

Tính trong 10 tháng đầu năm 2015, cả nước thoái được 9.152,2 tỷ đồng, thu về 13.767,5 tỷ đồng, bằng 1,5 lần giá trị sổ sách. Trong đó, các lĩnh vực bất động sản, bảo hiểm, chứng khoán, tài chính, ngân hàng là 4.418,2 tỷ đồng thu về 4.956,3 tỷ đồng; bán phần vốn nhà nước không cần nắm giữ tại các doanh nghiệp khác là 4.734,1 tỷ đồng thu về 8.811,4 tỷ đồng.

Các đơn vị thoái vốn đạt kết quả tốt 10 tháng đầu năm 2015 là Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước, và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Thứ ba, về bán đấu giá cổ phần lần đầu:

Theo báo cáo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đến hết ngày 20/10/2015 có 93 doanh nghiệp cổ phần hóa bán đấu giá cổ phần lần đầu (IPO) ra công chúng tại Sở giao dịch chứng khoán và các công ty chứng khoán với tổng số lượng cổ phần chào bán là 836.227.509 cổ phiếu, trị giá 8.367 tỷ đồng. Số cổ phiếu bán được là 318.595.743 cổ phiếu, trị giá 4.683,8 tỷ đồng, đạt 38% tổng số lượng cổ phần chào bán. Trong tổng số 93 doanh nghiệp IPO có 55 doanh nghiệp bán đạt trên 90% tổng số cổ phần chào bán.

Nhìn chung, tiến độ thực hiện tái cơ cấu DNNN đã được đẩy nhanh nhưng số lượng doanh nghiệp phải hoàn thành cổ phần hóa trong 2 tháng cuối năm vẫn còn khoảng 20% kế hoạch 2011 – 2015. Số vốn các tập đoàn, tổng công ty còn phải thoái khỏi các lĩnh vực: bất động sản, bảo hiểm, chứng khoán, tài chính, ngân hàng từ nay đến cuối năm vẫn còn khoảng 60% tổng số vốn phải thoái.

Vẫn còn một số tồn tại

Quá trình tái cơ cấu DNNN đã đạt được những kết quả khả quan ban đầu và đang có chuyển biến tích cực trong thời gian qua. Tuy nhiên, những kết quả trên chưa chuyển biến về chất trong cơ cấu tổ chức quản lý điều hành, quản lý tài chính, cũng như chất lượng lao động, cán bộ, năng suất, hiệu quả hoạt động của DNNN. Kết quả tái cơ cấu DNNN chưa đạt được kết quả như mong muốn có nguyên nhân đến từ các yếu tố khác quan và chủ quan trong quá trình thực hiện. Cụ thể:

Một là, nguyên nhân chủ quan: Một số bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp chưa thật sát sao, quyết liệt trong chỉ đạo và triển khai thực hiện phương án sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn đã được phê duyệt. Đồng thời, một số Bộ, ngành chưa tập trung cho việc ban hành cơ chế, chính sách theo đúng kế hoạch đã đề ra. Về cơ bản, cơ chế, chính sách về đổi mới tổ chức quản lý và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên tiến độ còn chậm so với kế hoạch đề ra.

Trong 10 tháng đầu năm 2015, chỉ có 2 văn bản được trình đúng hạn, 9 văn bản trình chậm so với kế hoạch, vẫn còn 5 văn bản hiện các bộ chủ trì chưa trình. Một số cơ chế, chính sách để giải quyết những vướng mắc trong xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa, trong thoái vốn nhà nước đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính, bán vốn nhà nước tại công ty cổ phần Nhà nước không cần nắm giữ,… tuy được lãnh đạo Chính phủ chỉ đạo quyết liệt vẫn chưa được các Bộ trình để ban hành kịp thời, chưa được giải quyết dứt điểm.

Hai là, nguyên nhân khách quan: Những biến động của thị trường tài chính, chứng khoán quốc tế thời gian vừa qua và những khó khăn của kinh tế trong nước đã ảnh hưởng đến thị trường tài chính, chứng khoán và việc bán cổ phần, thoái vốn nhà nước (bình quân 10 tháng năm 2015 số cổ phiếu IPO bán được chỉ đạt 38% tổng số cổ phần chào bán).

Nhiều doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa giai đoạn hiện nay có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, tình hình tài chính phức tạp, việc xử lý công nợ, xử lý tài chính, phương án sử dụng đất trong quá trình xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa; việc lựa chọn cổ đông chiến lược… cần có nhiều thời gian để chuẩn bị, xử lý.

Hơn nữa, việc bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách để tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn chưa được đẩy nhanh do vướng những quy định pháp lý về thời gian thực hiện, trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ba là, về phía các DNNN: Kết quả tái cơ cấu cho thấy các DNNN mới chỉ dừng lại ở việc sáp nhập lại với nhau một cách cơ học (chuyển giao DNNN yếu kém của đơn vị này sang cho đơn vị khác quản lý), quy mô của doanh nghiệp tăng nhưng không có sự chuyển biến về chất trong hoạt động và quản lý điều hành. Do đó, việc tái cơ cấu thời gian qua chưa phát huy một cách tối đa năng lực cũng như lợi thế riêng vốn có của từng doanh nghiệp. Đồng thời, việc xây dựng, triển khai đề án sắp xếp DNNN theo ngành, lĩnh vực kinh doanh không phân biệt cấp, cơ quan quản lý vẫn còn chậm trễ.

Cơ chế quản lý DNNN chưa theo kịp với thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp. Việc phân tách giữa nhiệm vụ kinh doanh và nhiệm vụ công ích chưa rõ ràng, minh bạch; Cơ chế đảm bảo cho các DNNN được giao hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực có mức sinh lời thấp mà khu vực kinh tế tư nhân không muốn hoặc không đủ sức tham gia vào những lĩnh vực cần thiết cho nền kinh tế còn thiếu.

Bên cạnh đó, chức năng đại diện chủ sở hữu còn phân tán, chưa phân định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính trong quản lý, giám sát việc sử dụng vốn, tài sản của DNNN… Những tồn tại trên là lực kéo không nhỏ khiến cho tiến trình tái cơ cấu, đổi mới DNNN bị chậm trễ.

Giải pháp khắc phục tồn tại, đẩy nhanh tái cơ cấu

Thứ nhất, tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, công ích;

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước và đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp;

Thứ ba, tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra của chủ sở hữu nhà nước;

Thứ tư, kiện toàn cán bộ quản lý và nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát, kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp;

Thứ năm, thực hiện công khai minh bạch kết quả hoạt động của DNNN theo quy định của pháp luật;

Thứ sáu, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật và không nghiêm túc thực hiện Đề án tái cơ cấu đã được phê duyệt;

Thứ bảy, tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn và tổng công ty trong thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu DNNN.

Cụ thể hóa những nhóm giải pháp trên, để đạt được kết quả tái cơ cấu DNNN như kế hoạch đã đề ra, Chính phủ, các bộ, ngành đã xây dựng, triển khai các hành động cụ thể về điều hành và quản lý Nhà nước, cụ thể như sau:

– Tiếp tục, khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp theo kế hoạch. Tiếp tục rà soát theo tiêu chí, 18/6/2015; rà soát, phân loại đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc đủ điều kiện chuyển thành công ty cổ phần trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung kế hoạch sắp xếp DNNN để thực hiện ngay hoặc thực hiện trong giai đoạn tới.

Đồng thời, các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động và Quy chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư năm 2014 trước ngày 01 tháng 6 năm 2016.

– Quyết liệt hơn nữa trong chỉ đạo và triển khai thực hiện các giải pháp để hoàn thành kế hoạch sắp xếp, cổ phần hóa, trong đó tập trung vào các doanh nghiệp thuộc diện khó hoàn thành cổ phần hóa (đặc biệt là các đơn vị thực hiện cổ phần hóa chậm như các bộ: Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông, các địa phương: Nam Định, Tiền Giang, TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Đăklăk, Gialai).

Xác định nguyên nhân và trách nhiệm cá nhân, tập thể không hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa các doanh nghiệp này, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn. Để đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu DNNN, Bộ Tài chính hiện đã hoàn thiện các phương án về các giải pháp thúc đẩy quá trình tái cơ cấu DNNN báo cáo Chính phủ. Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ thoái vốn đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 929/QĐ-TTg…

– Tổ chức tổng kết và báo cáo tình hình sắp xếp, đổi mới và phát triển DNNN giai đoạn 2011 – 2015, nhiệm vụ, giải pháp đến năm 2020 (đến ngày 12/11/2015. Từ đó, tổng hợp, rút ra các bài học kinh nghiệm và nghiên cứu các giải pháp tiếp theo để đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu DNNN và cổ phần hóa DNNN trong giai đoạn tới.

Đồng thời, tăng cường kiểm tra, đôn đốc, giám sát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp trong việc thực hiện tái cơ cấu, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước cùng với thực hiện nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh được giao.

– Tăng cường và chủ động công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao giữa các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2011 – 2015 đã đề ra.

Theo Tạp chí tài chính

CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG

Thách thức tỷ giá và lãi suất trong năm 2016Phấn đấu đạt 90% kế hoạch cổ phần hóaQuốc hội thống nhất tăng 5% mức lương cơ sở từ 1/05/2016Cục Thuế Hà Nội: Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp thu hồi nợ đọngÁp lực tỷ giá vẫn còn!Ngân sách dù khó khăn, nhưng vẫn có thể vượt dự toánĐiều gì được chờ đợi trên TTCK Việt Nam?Năm 2015, thu NSNN ước vượt 164.000 tỉ đồngDiễn đàn kinh tế mùa thu 2013Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc sử dụng chính sách tài chính phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp

Đẩy Mạnh Phát Triển Nông Nghiệp Hàng Hóa Tập Trung

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp được đẩy mạnh, triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án, chính sách hỗ trợ và ưu tiên nguồn lực thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ giới hóa trong sản xuất, gắn với chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi; đồng thời tích cực thâm canh, mở rộng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Đã và đang hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung với quy mô lớn như: lúa hàng hóa toàn tỉnh hiện có trên 3.280 ha; vùng chè được mở rộng lên trên 7.700 ha; cây ăn quả 6.200 ha, duy trì và phát triển gần 8000 ha các loại cây dược liệu (thảo quả, sa nhân, tam thất, đương quy…); chăm sóc gần 13.000 ha cây cao su; cùng với nhiều loại cây trồng mới đang có triển vọng phát triển tốt như: cây mắc ca đã có trên 3.700 ha và gần 7.500 ha cây quế…, một số nơi đang hình thành vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp công nghệ cao, như mô hình trồng dưa lưới Hà Lan trong nhà màng, cùng với hệ thống tưới cây tự động của huyện Tân Uyên… 

Cùng với đó, chăn nuôi phát triển theo hướng hàng hóa cũng được đẩy mạnh, kết hợp chăn nuôi truyền thống với quy mô tập trung có kiểm soát; đang từng bước hình thành các loại hình liên kết chăn nuôi giữa doanh nghiệp, hợp tác xã với các nhóm hộ, từng bước nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm; tỷ lệ tăng đàn bình quân tăng từ 4 – 5%. Nuôi trồng thủy tiếp tục được quan tâm có sự phát triển, khai thác và phát huy hiệu quả diện tích lòng hồ thủy điện để phát triển nuôi cá lồng; duy trì và phát triển nuôi cá nước lạnh.

Kết quả trên góp phần quan trọng nâng cao giá trị sản phẩm toàn ngành nông nghiệp của tỉnh, giai đoạn 2015 – 2020 tăng bình quân 5,5%/năm; thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển khá, chất lượng tăng trưởng có tính bền vững, tạo tiền đề vững chắc để nền kinh tế tiếp tục phát triển trong giai đoạn tiếp theo.

Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp của tỉnh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; chưa theo kịp xu hướng phát triển chung của các tỉnh trong vùng và cả nước. Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, ứng dụng khoa học, công nghệ, phát triển sản phẩm chủ lực, nông nghiệp hàng hóa còn chậm.

Trước những vấn đề trên, Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ tỉnh xác định:  “…đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế của tỉnh; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới”, phấn đấu “giá trị gia tăng ngành nông nghiệp đạt trên 5%/năm”.

Để đạt được mục tiêu trên, yêu cầu đặt ra đối với cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp. Căn cứ điều kiện cụ thể, nhất là những lợi thế của địa phương cụ thể hóa thành những chương trình, đề án để triển khai thực hiện phù hợp, hiệu quả. Trong đó, cần đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp, của cán bộ, đảng viên và Nhân dân các dân tộc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, nhằm khai thác và phát huy tiềm năng lợi thế của từng vùng, địa phương, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản xuất nông nghiệp, bảo đảm cho nông nghiệp phát triển bền vừng, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, xóa đói, giảm nghèo.

Thực hiện tốt công tác khảo sát, quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. Không thể có phát triển bền vững trên nền tảng sản xuất nông nghiệp thiếu quy hoạch, không tập trung. Việc quy hoạch, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung quy mô lớn sẽ giảm chi phí sản xuất, tập trung được đầu tư, có điều kiện ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, công nghiệp hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất. Trong khảo sát, quy hoạch cần chú ý tới từng đối tượng cây trồng, vật nuôi phù hợp, bảo đảm tập trung, thuận lợi cho quá trình cơ giới hóa, đầu tư hạ tầng, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Đưa đất trống vào sử dụng, chuyển đổi các diện tích đất canh tác cây trồng hiệu quả kinh tế thấp sang các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao.

Cùng với đó, để tạo điều kiện thuận lợi và thu hút người dân, doanh nghiệp tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, với những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, gắn với xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng hàng hóa, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường, thì các cấp, các ngành phải chú trọng đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, năng lực cạnh tranh ngành, địa phương. Đẩy mạnh, cải thiện các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại trong nông nghiệp. Có cơ chế, chính sách phù hợp, tác dụng khuyến khích sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu trong sản xuất nông nghiệp. Tập trung tối đa nguồn lực và điều chỉnh, bổ sung các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp; thực hiện hiệu quả, thực chất chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ hợp tác xã nhằm hình thành và phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp, trở thành lực quan trọng phát triển nông nghiệp hàng hóa. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung; mở rộng quy mô phát triển các sản phẩm chủ lực, đặc sản địa phương theo Chương trình “mỗi xã một sản phẩm”. Phát huy sức mạnh cộng đồng, hình thành nhiều ý tưởng sản phẩm nông nghiệp đặc sản, được chứng nhận tiêu chuẩn OCOP. Đồng thời, đẩy mạnh hình thức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp và phát triển các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp.                   Gian hàng OCOP huyện Than Uyên                      trưng bày tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV

Tái Cơ Cấu Nền Kinh Tế: Thách Thức Và Cơ Hội

(Chinhphu.vn) – Đến nay, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế Việt Nam đã đạt những kết quả tích cực, song trước đại dịch COVID-19 và những diễn biến khó lường của tình hình thế giới, vẫn còn rất nhiều việc phải làm, trong đó có việc đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế.

Dấu ấn

Nhìn lại 05 năm qua, đã có nhiều dấu ấn tích cực trong tái cơ cấu nền kinh tế  từ thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong nước, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; đẩy mạnh công tác quy hoạch, cơ cấu lại ngành và vùng kinh tế, bước đầu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, gắn với đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế; hình thành đồng bộ và thúc đẩy phát triển các loại thị trường. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được thúc đẩy; chuyển đổi số, các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh đã phát huy tác dụng, tạo được niềm tin của nhà đầu tư… Nổi bật như:

Cơ cấu đầu tư chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỉ trọng đầu tư của Nhà nước trong tổng vốn đầu tư xã hội. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tỉ trọng này giảm dần từ 40,4% năm 2013 xuống 37,5% năm 2016, còn 33,3% năm 2018, đạt 31,02% năm 2019, và 9 tháng đầu năm 2020 ước đạt 33,5% để đảm bảo sự can thiệp hợp lý của Nhà nước trong bối cảnh nền kinh tế bị tác động nặng nề bởi đại dịch COVID-19, nhưng bình quân giai đoạn 2016-2020 vẫn chiếm khoảng 33,8%, đạt mục tiêu đề ra. 

Cổ phần hóa, thoái vốn đã được đẩy mạnh so với giai đoạn trước và được thực hiện một cách công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường, từng bước tách chức năng quản lý nhà nước và đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước. Tổng giá trị vốn chủ sở hữu nhà nước được bảo toàn và phát triển, tỉ lệ DNNN có lãi tăng, một số DNNN yếu kém đã trở lại hoạt động. Trong giai đoạn 2016 đến tháng 11/2020, đã có 178 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ  phần hóa với tổng giá trị 443.503 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 207.116 tỷ đồng; thoái 25.749 tỷ đồng, thu  về 173.103 tỷ đồng; tổng số tiền thu từ cổ phần hóa, thoái vốn đạt khoảng 217.300 tỷ đồng, gấp 2,8 lần tổng số thu từ cổ phần hóa, thoái vốn của cả giai đoạn 2011-2015 (khoảng 78.000 tỷ). Điều đáng mừng, các mục tiêu cơ cấu lại các tổ chức tín dụng (TCTD) đã cơ bản hoàn thành. Các ngân hàng cơ bản đáp ứng tỉ lệ an toàn vốn theo quy định áp dụng tiêu chuẩn Basel II tại Việt Nam. Tình trạng sở hữu chéo, đầu tư chéo trong hệ thống TCTD đã được xử lý cơ bản, tình trạng thao túng, chi phối ngân hàng được kiểm soát. Hệ thống TCTD đã được củng cố, nâng cao hơn năng lực quản trị; xử lý nợ xấu tại các TCTD đã được đẩy nhanh thực hiện một cách thực chất, hiệu quả hơn lãi suất cho vay trung bình giảm, dòng vốn tín dụng chuyển dịch nhiều hơn vào các ngành sản xuất. Theo đó, tính từ đầu năm 2020 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh giảm đồng bộ 03 lần lãi suất để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nền kinh tế trước tác động tiêu cực của dịch COVID-19. So với các nước trong khu vực, Việt Nam hiện là một trong những nước có mức giảm lãi suất điều hành mạnh nhất và ở mức trung bình so với mặt bằng của các nước có trình độ phát triển tương đồng.

Thách thức

Mặc dù đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ, việc triển khai cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 ở nước ta vẫn còn một số hạn chế. Mô hình tăng trưởng có thay đổi nhưng còn chậm. Tốc độ tăng năng suất lao động nội ngành chưa cao; đóng góp của tiến bộ khoa học công nghệ vào tăng năng suất lao động còn hạn chế. Chuyển dịch cơ cấu nội ngành chưa rõ nét, chưa bền vững. Công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn chủ yếu đang hoạt động ở phân khúc thấp trong chuỗi giá trị, nơi tạo ra giá trị gia tăng thấp. Chẳng hạn như, ngành dệt may hiện chủ yếu tham gia vào các khâu gia công (CMT) chiếm đến 60% và chỉ khoảng 5% xuất khẩu theo phương thức ODM (thiết kế trên ý tưởng có sẵn, sản xuất). Ngành điện tử hiện nay là ngành tham gia mạnh mẽ vào chuỗi giá trị toàn cầu, tuy nhiên, ngành điện tử Việt Nam (bao gồm cả các doanh nghiệp FDI) hiện đang đứng ở vị trí thấp nhất trong chuỗi giá trị là công đoạn lắp ráp và gia công sản phẩm.

Công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, còn phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu, linh phụ kiện nhập khẩu.  Các ngành công nghiệp chủ đạo như dệt may, da giày, điện tử Việt Nam nhập khẩu hơn 90% nguyên liệu đồng thời phụ thuộc không nhỏ vào một số thị trường như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan. Khu vực dịch vụ chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước chậm; hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) chưa được cải thiện đáng kể. Tiến độ, chất lượng xử lý nợ xấu, các TCTD yếu kém chưa theo kịp yêu cầu. Khu vực tư nhân phát triển chưa tương xứng với quy mô và độ mở của nền kinh tế; mức độ phụ thuộc vào khu vực kinh tế nước ngoài chưa giảm.

Mặt khác, còn có những tồn tại, bất cập trong không ít quy định hiện hành đang gây khó khăn việc thực hiện có hiệu quả các giải pháp cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Thị trường các yếu tố sản xuất chậm phát triển, chưa là cơ chế chính trong phân bổ nguồn lực để đạt được hiệu quả cao nhất. Cải cách thể chế và thực hiện các chương trình cơ cấu lại nền kinh tế chưa được tiến hành một cách nhất quán, toàn diện, đủ rộng và đủ mạnh để chuyển sang kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và để hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý và năng động hơn.

Cơ hội

Để đạt được các mục tiêu dự kiến đặt ra và khát vọng phát triển đất nước trong thập kỷ tới, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng trong giai đoạn 2021-2025 cần được đẩy nhanh hơn và thực sự bứt phá. Theo đó, muốn trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, tốc độ tăng năng suất lao động ít nhất phải đạt 6,5% hàng năm, cao hơn so với kết quả đạt được giai đoạn 2016-2020 là 5,8%. Mặt khác, trong tình hình đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, trên thế giới đã xuất hiện các xu hướng mới về dịch chuyển đầu tư, thương mại, chuyển đổi số và sự thay đổi đổi nhanh chóng của các mô hình kinh doanh, phương thức sản xuất, tiêu dùng…Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho quá trình tái cơ cấu lại nền kinh tế Việt Nam.

Nhằm tiếp tục phát triển mạnh mẽ kinh tế Việt Nam, hiện nay Chính phủ xác định: Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác để kích thích tổng cầu phù hợp, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng. Theo đó, tập trung nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực công đi đôi với phát triển đồng bộ các yếu tố, các loại thị trường. Khuyến khích đổi mới sáng tạo, tận dụng khai thác cơ hội của công nghệ số. Xác định rõ ràng hơn các trọng tâm, trọng điểm cơ cấu lại nền kinh tế theo ngành, vùng, nhóm địa phương để tận dụng được lợi thế và tập trung nguồn lực, tạo đột phá ở một số lĩnh vực có tiềm năng. Khắc phục sự thiếu kết nối, thiếu bổ sung hợp lý giữa các thành phần, các địa bàn kinh tế; tạo điều kiện và khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và chủ động dần nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị. Nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế, tăng cường nội lực, khả năng chống chịu với những cú sốc bên ngoài…

Với việc Việt Nam là một trong số ít các quốc gia tăng trưởng dương, lọt TOP 10 quốc gia tăng trưởng cao nhất thế giới trong năm 2020, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đánh giá tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương “năm 2020 vẫn được xem là năm thành công hơn năm 2019 và là năm thành công nhất trong 5 năm vừa qua” vừa mới diễn ra. Đồng thời, Việt Nam được nhiều tổ chức tài chính quốc tế cho rằng, thời gian qua đã tạo dựng được một nền tảng quan trọng để bước vào năm 2021 với cơ hội, vận hội mới tốt đẹp hơn./.

Lê Việt

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tập Trung Thực Hiện Tái Cơ Cấu Toàn Diện Ngành Nông Nghiệp trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!