Đề Xuất 2/2023 # Tăng Cường Quản Lý Điều Hành Giá Góp Phần Kiểm Soát Lạm Phát # Top 11 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Tăng Cường Quản Lý Điều Hành Giá Góp Phần Kiểm Soát Lạm Phát # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tăng Cường Quản Lý Điều Hành Giá Góp Phần Kiểm Soát Lạm Phát mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

KINH TẾ TÀI CHÍNH

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH GIÁ GÓP PHẦN KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP về 6 nhóm giải pháp chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Có thể nói ngay từ những ngày đầu của năm 2011, nhiệm vụ kiểm soát lạm phát, bình ổn giá đã và đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Hiện nay có thể thấy đang xuất hiện nhiều nhân tố tác động đến mặt bằng giá năm 2011. Về phía các nhân tố khách quan, theo nhiều dự báo, năm 2011, kinh tế toàn cầu tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng tốc độ tăng chậm hơn tốc độ tăng của năm 2010. Các nền kinh tế lớn và là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam vẫn tăng trưởng nhưng thấp hơn năm trước. Kinh tế tăng trưởng làm nhu cầu nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất vẫn tăng dẫn đến giá cả sẽ nhích lên. Cuộc khủng hoảng nợ công của khu vực đồng euro khiến hầu hết các nước đều cắt giảm chi tiêu công và giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách năm 2011… có thể gây biến động về tỷ giá, lãi suất làm cho tính bất định và rủi ro tăng lên, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu, đầu tư, chính sách tài khóa và tiền tệ của các quốc gia sẽ tác động đến kinh tế nước ta. Thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu toàn cầu diễn biến phức tạp tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động xấu đến kinh tế thế giới, nhất là sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.

Về phía các nhân tố chủ quan: nền kinh tế trong nước phục hồi khá nhanh và lấy lại đà tăng trưởng sau ảnh hưởng của khủng hoảng (mục tiêu: tổng sản phẩm trong nước tăng 7-7,5% so với năm 2010. Như vậy, nhu cầu nguyên nhiên vật liệu để phục vụ tăng trưởng sẽ tăng gây áp lực đẩy giá tăng. Những yếu kém vốn có của nền kinh tế chưa khắc phục được triệt để ngay như: cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng vốn, kết cấu hạ tầng… tiềm ẩn những yếu tố gây lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô. Nhu cầu có khả năng thanh toán, lượng tiền được “bơm” ra lưu thông nhiều hơn trong dịp Tết. Tiếp tục lộ trình cải cách tiền lương trong năm; kinh tế tăng trưởng, thu nhập của các tầng lớp dân cư tăng… sẽ làm tăng cầu gây sức ép đẩy giá tăng. Tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số hàng hoá dịch vụ mà Nhà nước còn định giá.

                Vấn đề đặt ra là cần chú trọng vào các giải pháp gì để thực hiện thành công Nghị quyết 11/NQ-CP, tập trung kiềm chế lạm phát. Theo nhiều chuyên gia, ngoài việc phải tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp về kinh tế vĩ mô các giải pháp từ “gốc” của giá trị, giá cả hàng hóa như: thực hiện ngay các giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kết hợp cả chiều rộng và chiều sâu; nâng cao sức cạnh tranh; tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô. Đẩy mạnh phát triển sản xuất, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế: Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, áp dụng tỷ giá, lãi suất phù hợp theo nguyên tắc thị trường. Kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng ở mức hợp lý. Giảm bội chi ngân sách Nhà nước xuống mức 5,3% GDP. Kiểm soát nhập siêu không vượt quá 18% kim ngạch xuất khẩu; Tổ chức thị trường hợp lý, kiểm soát có hiệu quả hoạt động của thị trường… thì các giải pháp trực tiếp về chính sách tài khóa, về quản lý, điều hành giá cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giá theo hướng thị trường, tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, thông qua việc xây dựng Luật Giá thay cho Pháp lệnh giá. Sửa đổi, bổ sung các nghị định của Chính phủ về thẩm định giá; xử lý vi phạm trong lĩnh vực giá, cơ chế xác định giá trong các lĩnh vực cụ thể…

Thứ hai, chủ động thực hiện tốt công tác dự báo thị trường, giá cả trong và ngoài nước. Triển khai và thực hiện các biện pháp bình ổn giá (BOG) theo quy định của Pháp lệnh giá và Nghị định số 75/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 170/2003/NĐ-CP và các thông tư hướng dự phòng hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đủ điều kiện dự trữ hàng hóa đáp ứng nhu cầu BOG, nhất là các thời điểm diễn ra lễ, Tết trong năm. Hỗ trợ xây dựng các cơ sở bảo quản, dự trữ nông sản để điều hòa cung cầu, BOG cả.

Thứ ba, chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh giá theo cơ chế giá thị trường vào thời điểm thích hợp trong năm đối với giá cả một số hàng hóa, dịch vụ Nhà nước còn định giá. Trước mắt trong dịp Tết Tân Mão và quý I năm 2011 giữ ổn định giá: điện, than bán cho các hộ tiêu dùng lớn, khí hóa lỏng, nước sạch… các dịch vụ công quan trọng như y tế, giáo dục. Sử dụng linh hoạt các công cụ phí, thuế, quỹ BOG để bình ổn giá xăng, dầu và một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu; giãn thời gian điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ Nhà nước định giá. Thực hiện lộ trình giá thị trường phải gắn kết chặt chẽ với hoàn thiện hệ thống cung ứng hàng hóa, dịch vụ; phấn đấu giảm chi phí sản xuất và giá thành, đi cùng với các chính sách, cơ chế trợ giúp hợp lý đối với các hộ tiêu dùng có điều kiện khó khăn, các đối tượng chính sách (như từng bước điều chỉnh giá dịch vụ y tế phù hợp, chuyển dần hình thức bao cấp cho cơ sở y tế sang hỗ trợ trực tiếp cho người bệnh qua bảo hiểm y tế; có chính sách hỗ trợ về giá điện sinh hoạt, giá nước sạch cho sinh hoạt đối với người nghèo, người có thu nhập thấp… bảo đảm để những đối tượng này được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản tối thiểu về học hành, khám, chữa bệnh, nhà ở, điện, nước, đi lại…).

Thứ tư, tăng cường quản lý giá thông qua các biện pháp kiểm soát các yếu tố hình thành giá, đăng ký giá, kê khai giá. Kiên quyết ngừng việc đăng ký giá có mức tăng giá không hợp lý. Kiểm soát đối với một số hàng hóa, dịch vụ độc quyền; ngăn chặn và kiên quyết xử lý hành vi liên kết và lạm dụng vị thế thị trường để tăng giá bất hợp lý, nhất là các nguyên liệu đầu vào quan trọng của sản xuất và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Rà soát, bãi bỏ các khoản thu phí, lệ phí bất hợp lý, trái pháp luật. Thực hiện kiểm soát chặt chẽ các kênh chi tiêu từ ngân sách Nhà nước thanh toán cho các mức giá hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch sản xuất, hàng dự trữ Nhà nước, hàng hóa, dịch vụ còn được trợ cước, trợ giá… Chuyển mạnh hơn sang cơ chế đấu thầu, đấu giá, thỏa thuận giá đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này.

Thứ năm, thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, thanh tra chấp hành pháp luật Nhà nước về giá. Đồng thời tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về chính sách, cơ chế điều hành giá của Nhà nước.

                                                                                            Nguyễn Thu Hà

CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG

Dự báo thị trường bất động sản năm 2011? Bước ngoặt lớn trong thị trường tài chính Việt NamGiảm tổng cầu và vai trò của chính sách tài khóa – tiền tệBình ổn giá vàng năm 2011Tìm hiểu bảng điểm Piotroski trong phân tích báo cáo tài chinMột số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòngKiểm soát hoạt động thanh toán với khách hàng trong các doanh nghiệp may mặc Việt NamMobiFone và Vinaphone giảm cướcACC được chào bán 4 triệu cổ phần ra công chúngCó thể bị cấm XK nếu bán phá giá gạo

Kiểm Soát Lạm Phát Tạo Điều Kiện Cho Nền Kinh Tế Phục Hồi Tăng Trưởng

KIỂM TOÁN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TẠO ĐIỀU KIỆN CHO NỀN KINH TẾ PHỤC HỒI TĂNG TRƯỞNG

Dư luận đang rất lo ngại vì khó thực hiện mục tiêu tăng CPI 7%/năm trong năm 2010, nhưng Chính phủ và các bộ, ngành đang tỏ quyết tâm phấn đấu thực hiện.

Cảnh giác với lạm phát

Diễn biến tình hình giá cả trên thị trường thời gian qua được đánh giá là khá nóng. Một loạt thông tin về việc tăng giá xăng, giá điện, giá than, giá nước liên tiếp được đưa ra, cùng những lo ngại về lạm phát tăng đã tác động không nhỏ đến tâm lý của người tiêu dùng và  cũng tạo ra yếu tố tâm lý “chờ đợi” một mặt bằng giá mới trên diện rộng hơn. Trước tình hình nêu trên, nhiều ý kiến cho rằng, mục tiêu kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2010 dưới 7% như Nghị quyết của Quốc hội càng khó thực hiện. Vì vậy, cần có những giải pháp đồng bộ về kinh tế-tài chính-tiền tệ để bảo đảm không xảy ra tình trạng lạm phát cao như năm 2008.

Vấn đề lạm phát cũng đã trở thành nội dung trọng tâm trong phiên họp thường kì Chính phủ tháng 2/2010. Các Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính cùng Ngân hàng nhà nước và Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đều có báo cáo chuyên đề về nội dung này tại phiên họp. Theo ông Lê Đức Thuý, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, với việc gia tăng của giá cả dịp Tết, nỗi lo lạm phát cao trở lại đang là tâm lí xã hội khá phổ biến. Thêm nữa, cảnh báo trước đó về lạm phát do tác động của gói kích cầu cũng ảnh hưởng đến tâm lí nhiều người. Trước tình hình như vậy, Chính phủ thấy cần phải phân tích nghiêm túc vấn đề, liệu có đạt được mục tiêu lạm phát 7% như Quốc hội đề ra?

Theo nhận định của nhiều chuyên gia, nỗi lo cũng như sự cảnh giác trước nguy cơ  tái hiện lạm phát là chính đáng, tuy nhiên trong tình hình kinh tế của đất nước hiện nay chưa có nhiều dấu hiệu đáng lo ngại về vấn đề này. Các chuyên gia cho rằng, nếu xét về con số, việc tăng giá 3,35% trong 2 tháng đầu năm nay không có gì quá đột biến. Cụ thể, con số này xấp xỉ với mức tăng của 2 tháng đầu năm trong những năm gần đây (từ 2003 đến 2009 lần lượt là 3,1%; 4,1%; 3,6%; 3,3%; 3,2%; 5,94%; 1,49%), trừ năm 2008 - năm lạm phát cao đột biến và năm 2009 - năm kéo lạm phát xuống thấp. Thông thường mức tăng giá 2 tháng đầu năm chiếm đến trên dưới 40% tăng giá của cả năm. Chính vì vậy theo các chuyên gia – chưa có gì phải nói nhiều đến việc lạm phát cao quay trở lại, dù không thể chủ quan. Đề cập về khả năng tăng giá của tháng 3 năm nay, một số chuyên gia nhận định, có thể sẽ cao hơn mức bình thường của các năm do chúng ta vừa trải qua thời kỳ liên tục điều chỉnh giá xăng cộng với 2 lần điều chỉnh giá hối đoái trong thời gian ngắn cũng như tăng giá điện…Về mức tăng cụ thể của tháng 3, Ủy ban Tài chính quốc gia dự báo, CPI sẽ tăng từ khoảng 0,5 - 1%, Bộ Kế hoạch – Đầu tư dự báo khoảng 1%, trong khi Bộ Tài chính dự tính từ 0,5 - 0,75%.

Tuy nỗi ám ảnh lạm phát chưa thể xuất hiện trong bối cảnh hiện nay, nhưng nhiều ý kiến cho rằng, công tác kiểm soát giá của chúng ta vừa qua còn yếu kém nên nhiều trường hợp nhà sản xuất, kinh doanh đẩy giá quá mức hợp lý. Chính phủ cần rút kinh nghiệm về vấn đề này để làm tốt hơn trong thời gian tới và cần quản lý chặt chẽ hơn với giá xăng dầu để làm sao việc điều chỉnh mặt hàng này không đánh ra những tín hiệu xấu, khiến cho xã hội quá lo lắng về việc tăng giá; cần xem lại cơ chế để không xảy ra việc điều chỉnh giá xăng với mật độ dày đặc. Cùng đó, Chính phủ cũng nên ngay có  biện pháp hạn chế việc tăng giá kiểu té nước theo mưa đổi với nhiều mặt hàng. Chẳng hạn giá thép đã tăng ngay 5 – 10% sau khi giá điện tăng là điều hết sức vô lý bởi lẽ, giá điện không thể chiếm đến 5- 10% giá thành của thép, trong khi giá điện cũng chỉ tăng trung bình 6,8%.

Nguy cơ tái lạm phát cao trong năm 2010 đã được đề cập tế-xã hội năm 2010 và trong Thông điệp đầu năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh đến nguy cơ này, nên chúng ta đã đặt mục tiêu kinh tế năm 2010 là ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô. Tập trung các giải pháp để không xảy ra tái lạm phát cao, đó là điều kiện tiên quyết để tạo môi trường cho nền kinh tế phục hồi tăng trưởng, lấy lại niềm tin của nhà đầu tư sau hai năm “sóng gió” do tác động của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Sẽ bình ổn giá cả một cách hiệu quả

Dư luận đang rất lo ngại vì khó thực hiện mục tiêu tăng CPI 7%/năm trong năm 2010, nhưng Chính phủ và các bộ, ngành đang tỏ quyết tâm phấn đấu thực hiện. Và để lạm được điều này – yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa lạm phát là mục tiêu được đặt lên hàng đầu. Mới đây tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, không nên quá lo lắng về vấn đề tăng giá của hai tháng đầu năm, chúng ta đủ khả năng để kiểm soát lạm phát và không để lạm phát tăng cao trở lại. Song cũng không được coi thường và không để lạm phát cao quay trở lại. Chính phủ tiếp tục có các biện pháp tháo gỡ khó khăn, ổn định sản xuất, kiểm soát triển khai đầu tư, nếu dự án nào kém hiệu quả thì phải kiên quyết cắt bỏ.

Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, ông Lê Đức Thúy cho biết thêm, Chính phủ cũng đang tập trung đánh giá và phân tích để lạm phát cao quay trở lại. Chính phủ đã yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia có báo cáo chuyên đề về vấn đề này. Một số giải pháp về chính sách giá, chính sách tiền tệ (CSTT), chính sách tài khoá, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách thị trường cũng đã được các bộ ngành đề ra.  Theo đó, năm 2010, sẽ tránh các hiện tượng “neo giá” quá cao hoặc “đông giá” quá thấp một cách bất hợp lý, bất chấp sự thay đổi của giá thị trường thế giới và các yếu tố hình thành giá. Đây là một trong những nguyên tắc điều hành giá năm 2010 được Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Hiếu – đại diện Bộ Tài chính cho biết trong cuộc họp giao ban báo chí mới đây.

Nhìn lại năm 2009, những sự kiện đáng quan tâm nhất trong việc thực hiện chính sách này bao gồm: điều hành theo cơ chế giá thị trường với xăng dầu, than bán cho sản xuất xi măng, điện, giấy, phân bón; điều chỉnh một bước giá than bán cho điện nhằm tạo điều kiện cho việc điều chỉnh một bước giá điện từ ngày 1/3/2010; một số địa phương thực hiện điều chỉnh giá nước sạch theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất…Để thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội tổng quát của năm 2010, trong đó có mục tiêu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn chặn lạm phát cao trở lại, Bộ Tài chính đưa ra những giải pháp quan trọng về chính sách giá, bên cạnh các giải pháp về chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách xuất nhập khẩu và chính sách thị trường.

Cụ thể, chính sách giá 2010 sẽ tránh các hiện tượng “neo giá” để giá cả ở mức cao bất hợp lý bất chấp sự giảm giá trên thị trường thế giới hoặc “đông giá” ở thị trường trong nước quá thấp bất hợp lý trong khi giá thị trường thế giới đã tăng và các yếu tố hình thành giá đã thay đổi.  “Điều hành giá phù hợp tín hiệu thị trường thế giới “có lên, có xuống” nhưng đồng thời cũng tránh tình trạng thụ động, không thả nổi giá cả trong nước”, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Hiếu cho biết. Với các loại hàng hóa, dịch vụ độc quyền, ngoài việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát, sẽ khuyến khích cạnh tranh về giá theo pháp luật mà hiện nay đang áp dụng với đại bộ phận hàng hóa, dịch vụ của nền kinh tế. Đồng thời, kiểm tra chặt chẽ các phương án giá, mức giá, bình ổn giá, đăng ký giá, kê khai giá những hàng dịch vụ mua sắm từ nguồn ngân sách, cần tiếp tục mở rộng cơ chế đấu thầu, đấu giá, thẩm định giá, và từng bước chuyển từ hình thức trợ giá, trợ cước sang đầu tư trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng. Bộ Tài chính cũng khẳng định sẽ thực hiện chính sách tài khóa linh hoạt có kiểm soát chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, phấn đấu giảm bội chi ngân sách Nhà nước năm 2010 xuống dưới 6,2% để “phối hợp” với chính sách giá. Nhìn xa hơn, Bộ Tài chính khẳng định, việc thực hiện cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước là cả một quá trình, và đòi hỏi phải tiếp tục thực hiện không chỉ trong năm 2010 mà còn với các năm tiếp theo.

Lê Quang Hòa

Bộ Tài chính

CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG

Cần một giải pháp tổng thể để hoàn thành nhiệm vụ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nướcKTNN với việc thực hiện các chính sách về thuếNhững hệ lụy của các giải pháp kích thích kinh tếChính sách giữ thăng bằng giữa các sức épTái cấu trúc nền kinh tế – Sôi động mua bán, sáp nhập doanh nghiệpGiá vàng năm 2010: Chờ đợi những đỉnh cao?Cơ chế, chính sách cho hàng Việt – Cần một chiến lược dài hạnThị trường bảo hiểm vẫn cạnh tranh quyết liệtNăm 2010, phấn đấu tăng trưởng GDP đạt 7%Ấn tượng thị trường chứng khoán Việt Nam

Cách Nào Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022?

Cách nào kiểm soát lạm phát năm 2020?

Tổng cục Thống kê vừa công bố, lạm phát cơ bản bình quân 2 tháng đầu năm 2020 tăng 3,1% so với bình quân cùng kỳ năm 2019. Đây là mức tăng cao kỷ lục so với cùng kỳ của 3 năm qua. Đặc biệt, chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 (CPI) đạt mức cao nhất trong vòng 7 năm trở lại đây.

Giá thịt lợn gây sức ép

Đánh giá về nguyên nhân khiến lạm phát tăng cao, bà Đỗ Thị Ngọc (Vụ Thống kê giá, Tổng cục Thống kê) cho biết, nguyên nhân chính đến từ việc giá thịt lợn giữ ở mức cao so với các năm trước. Cùng kỳ năm 2019, trung bình giá thịt lợn ở mức 100.000 đồng/kg nhưng năm nay lên tới 170.000 đồng/kg.

Trước đó, cú sốc giá thịt lợn tăng hơn 50% trong quý 4/2019 khiến triển vọng kiềm chế lạm phát dưới 4% trong năm 2020 không còn chắc chắn. Theo TS Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Kinh tế – Tài chính, lạm phát năm 2020 phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ giảm giá thịt lợn trong thời gian tới. Theo ông Độ, trường hợp xấu nhất, dịch tả lợn châu Phi chưa thể kết thúc trong nửa đầu năm 2020 và lạm phát so với cùng kỳ năm trước chỉ bắt đầu giảm từ giữa năm 2020. Điều này khiến việc kiểm soát lạm phát dưới 4% là tương đối khó khăn. Bởi lẽ, lạm phát cơ bản đã tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ các năm trước. (Lạm phát cơ bản là sự thay đổi trong chi phí của hàng hóa và dịch vụ nhưng không bao gồm những chi phí từ các ngành thực phẩm và năng lượng do giá của chúng thường xuyên biến động-PV).

Ngày 2/3, theo khảo sát của Tiền Phong tại các chợ dân sinh, chợ truyền thống của Hà Nội, giá thịt lợn vẫn neo giữ ở mức cao, từ 150.000 đồng – 180.000 đồng/kg (tùy từng loại thịt). Trong khi đó, giá thịt lợn hơi tại các tỉnh như Hưng Yên, Nam Định, Vĩnh Phúc, Phú Thọ có dấu hiệu tăng 2.000 – 4.000 đồng, lên mức giá 86.000 đồng/kg, cao hơn 1 tuần trước khoảng 10.000 đồng.

Bên cạnh tác động của giá thịt lợn, một nguyên nhân khác khiến CPI tăng cao là do dịch Covid-19 bùng phát từ cuối tháng 1/2020 làm nhóm thuốc các loại tăng 0,18%.

Cần điều hành linh hoạt các chính sách

Theo đánh giá của Bộ KH&ĐT, dịch Covid -19 có thể làm tăng giá thuốc y tế, giá điện sinh hoạt. Theo kịch bản 1, dịch bệnh được kiểm soát trong quý 1/2020, chỉ số CPI năm 2020 tăng 3,96% so năm 2019 và theo kịch bản thứ 2 tăng 4,86% (dịch Covid- 19 được kiểm soát trong quý 2/2020).

Để đạt mục tiêu lạm phát đã đề ra, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Thống kê kiến nghị, Chính phủ cần theo dõi sát diễn biến giá cả và có các giải pháp về kiểm soát các dịch bệnh để ổn định nguồn cung thực phẩm, hạn chế tăng giá các mặt hàng này. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành giữ ổn định lãi suất và tỷ giá, giữ mức lạm phát cơ bản trong khoảng 2 – 2,5%. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền và kiểm soát thông tin mạng để hạn chế thông tin không đúng gây nên lạm phát kỳ vọng.

Theo chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2020 chịu nhiều áp lực hiện hữu từ tác động của dịch tả lợn châu Phi, dịch Covid -19. Các bộ, ngành và địa phương chưa chủ động kiểm soát, phối hợp chặt chẽ với nhau trong điều hành giá cả các mặt hàng.

Tại cuộc họp vừa diễn ra cuối tháng 2/2020, Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia khẳng định, tiếp tục thực hiện nhất quán mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022 Như Thế Nào?

PV: Ông có nhận xét gì về lạm phát năm 2018 ở nước ta?

PGS.TS Ngô Trí Long: Năm 2018, Quốc hội quyết định mục tiêu tăng giá tiêu dùng bình quân ở mức 4%. So với năm 2017, con số đó không thay đổi, nhưng công tác điều hành quản lý giá trong năm 2018 đặt ra nhiều thách thức, trong bối cảnh có nhiều yếu tố tác động tới lạm phát. Giá cả nhiều mặt hàng cơ bản trên thế giới có xu hướng phục hồi, nhất là giá dầu thô được dự báo lên mức trên 60 USD/thùng, các diễn biến bất lợi của tỉ giá cũng như các căng thẳng trong chiến tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc cũng tác động lên mặt bằng giá. Mặt bằng giá cả trong nước chịu những áp lực lớn ngay từ nửa đầu năm từ các yếu tố thị trường như giá lương thực tăng theo nhu cầu xuất khẩu, giá các mặt hàng nhiên liệu như xăng dầu, khí LPG liên tục có các biến động tăng trong quý II và quý III…

Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, lạm phát năm 2018 vẫn được kiểm soát hiệu quả. Tính chung, năm 2018, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 3,54% so với năm 2017 – dưới mục tiêu Quốc hội đề ra và tăng 2,98% so với tháng 12-2017, bình quân mỗi tháng tăng 0,25%. Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) năm 2018 so với 2017 chỉ tăng 1,48%.

Như vậy, mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% của năm 2018 đã đạt được, góp phần vào mục tiêu kép là vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vừa thúc đẩy tăng trưởng GDP, tạo thêm dư địa để thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội.

PV: Theo ông nguyên nhân nào đã làm cho việc kiểm soát lạm phát đạt được kết quả khả quan như vậy?

PGS.TS Ngô Trí Long: Đó là Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để triển khai quyết liệt công tác quản lý, điều hành giá nhằm bình ổn giá cả thị trường, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng. Bộ Tài chính đã tập trung xây dựng lộ trình và phạm vi điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý trong năm 2018; tổ chức thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý, điều hành nhằm bình ổn thị trường giá cả trong dịp Tết Nguyên đán 2018.

Bộ Tài chính cũng đã chủ động xây dựng kịch bản điều hành giá trong các giai đoạn ngắn hạn và trong cả năm 2018, đồng thời chú trọng xây dựng hành lang pháp lý về giá đồng bộ, có tính thực tiễn cao, trong đó có việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá thi hành Luật Giá và các văn bản dưới luật để có cơ sở báo cáo Quốc hội tiến hành sửa đổi Luật Giá (nếu cần thiết). Công tác kiểm tra được đẩy mạnh trong các lĩnh vực, qua đó đã phát hiện và xử lý kịp thời, chấn chỉnh các hành vi vi phạm pháp luật về giá.

Các mặt hàng tiêu dùng, thực phẩm tại một siêu thị

Năm 2018, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 3,54% so với năm 2017 – dưới mục tiêu Quốc hội đề ra và tăng 2,98% so với tháng 12-2017, bình quân mỗi tháng tăng 0,25%. Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) năm 2018 so với 2017 chỉ tăng 1,48%.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng góp phần đáng kể trong kiểm soát lạm phát với lĩnh vực quản lý của mình. Như với mặt hàng xăng dầu, Bộ Công Thương đã điều hành giá xăng dầu trong nước theo quy định của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đã sử dụng linh hoạt quỹ bình ổn giá để hạn chế mức tăng giá các mặt hàng xăng dầu, đồng thời quán triệt nguyên tắc thực hiện công khai, minh bạch trong điều hành giá xăng dầu, thường xuyên công khai chi tiết tình hình trích lập, sử dụng lãi phát sinh và số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu của từng thương nhân kinh doanh xăng dầu đầu mối hằng quý trên trang thông tin điện tử của liên Bộ.

Ngoài ra, Bộ Công Thương còn phối hợp Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cụ thể trong điều hành bán giá điện. Đối với các mặt hàng khác như khí LPG, thuốc và vật tư y tế, dịch vụ giáo dục, vật liệu xây dựng, cước bưu chính viễn thông, các dịch vụ vận tải đường bộ… Bộ Công Thương cũng đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương theo dõi tình hình giá cả, chủ động trong việc triển khai các biện pháp điều hành phù hợp, dự báo và xây dựng kịch bản điều hành giá cho từng mặt hàng kịp thời trong từng giai đoạn theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ…

PV: Còn vai trò của Ngân hàng Nhà nước như thế nào, thưa ông?

PGS.TS Ngô Trí Long: Vai trò của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng vô cùng quan trọng, nhất là trong việc điều hành chính sách tiền tệ. NHNN đã điều hành tỉ giá theo cơ chế tỉ giá trung tâm với những đồng tiền chủ chốt nên tỉ giá VND/USD trong nước chỉ dao động trong biên độ 3%. Giá vàng trong nước biến động cùng xu hướng với giá vàng thế giới. Nhu cầu vàng trong nước tăng cao vào dịp Tết Nguyên đán, ngày “Thần tài” nhưng không có tình trạng sốt vàng gây bất ổn cho xã hội.

Cùng với đó NHNN đã phối hợp đồng bộ các biện pháp, công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết thanh khoản, lãi suất VND hợp lý, kiên định với chủ trương từng bước hạn chế tình trạng “đôla hóa”, ổn định tâm lý thị trường.

PV: Thưa ông, liệu kiểm soát lạm phát năm 2019 có đạt được như năm 2018?

GS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, về thuận lợi, năm 2018 đã nối tiếp thành công với những nền tảng tích cực của năm 2017 thì năm 2019 sẽ tiếp tục khả quan từ những gì đã làm được của năm 2018, đặc biệt là GDP tăng trưởng với con số ấn tượng 7,08%.

Tuy nhiên, cũng không được chủ quan với tình hình kinh tế, lạm phát bởi những con số ấy không thể làm mờ đi nguy cơ tụt hậu. Thực tế, GDP bình quân đầu người năm 2018 đạt khoảng 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017, nhưng còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực. Kinh tế Việt Nam vẫn phải nỗ lực nhiều để vươn lên tầm cao mới. Nếu không đồng thời cải cách và phát triển, chúng ta lập tức sẽ bị tụt hậu.

Theo kết quả xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2018, chỉ số năng lực cạnh tranh 4.0 của Việt Nam giảm 4 bậc (từ 74 xuống 77). Quan trọng hơn là 7/12 trụ cột giảm điểm. So sánh trong ASEAN, Việt Nam đứng sau hầu hết các nước, chỉ trên Lào và Campuchia.

Theo kết quả xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2018, chỉ số năng lực cạnh tranh 4.0 của Việt Nam giảm 4 bậc (từ 74 xuống 77). Quan trọng hơn là 7/12 trụ cột giảm điểm. So sánh trong ASEAN, Việt Nam đứng sau hầu hết các nước, chỉ trên Lào và Campuchia. Năm 2018 cũng chỉ có Việt Nam, Lào, Campuchia giảm bậc trong khi các nước ASEAN khác đều tăng bậc, nhất là Philippines tăng 12 bậc. Như vậy, năng lực cạnh tranh 4.0 của Việt Nam tụt lại đằng sau các nước ASEAN.

Bên cạnh đó, năm 2019, giá cả thị trường trong nước dự báo sẽ chịu nhiều tác động từ không ít các yếu tố. Trong đó, đáng chú ý là dịch bệnh đối với vật nuôi luôn có nguy cơ xảy ra, gây ảnh hưởng tới nguồn cung và giá cả các mặt hàng thực phẩm. Thời tiết, khí hậu cũng có khả năng ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất nông nghiệp và nguồn cung nông sản trên thị trường. Hoặc, từ ngày 1/1/2019 sẽ tăng lương tối thiểu vùng từ 2.920.000 đồng lên 4.180.000 đồng/tháng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động…

Dịch vụ công năm 2019 tiếp tục được điều chỉnh theo lộ trình tăng giá giai đoạn 2016-2020 nên được dự báo sẽ góp phần vào lạm phát tổng thể, tác động trễ tới diễn biến chỉ số giá tiêu dùng.

Dựa vào những nhân tố nêu trên, lạm phát dự báo sẽ tiếp tục ở mức thấp, khoảng 4% trong các năm 2019, 2020. Căn cứ vào các yếu tố vĩ mô, tình hình chính trị, kinh tế trong nước và quốc tế, dự báo của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính… chỉ số CPI năm 2019 đều ở mức dưới 4%.

PV: Để lạm phát dừng ở mức 4%, theo ông, cần có những giải pháp gì?

Đối với việc thực hiện lộ trình theo cơ chế thị trường một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu, Bộ Tài chính cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, Tổng cục Thống kê để tính toán mức độ và thời điểm điều chỉnh phù hợp nhằm kiểm soát mặt bằng giá chung, hạn chế tác động đến sản xuất, tiêu dùng và đời sống người dân. Điều chỉnh giá dịch vụ công cần theo lộ trình phù hợp, tránh gây ra những tác động bất lợi đến chỉ số giá tiêu dùng. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về giá, đẩy nhanh hoàn thiện các định mức kinh tế – kỹ thuật làm cơ sở xác định giá dịch vụ theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí thực hiện dịch vụ vào giá…

Đặc biệt, đổi mới thể chế là đột phá quan trọng trong kiểm soát lạm phát. Chính vì vậy, chúng ta phải tập trung rà soát, hoàn thiện các cơ chế chính sách tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, nhất là những ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, xây dựng, phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, vì thời đại 4.0 tác động rất mạnh mẽ đến sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế… Ngoài ra phải phát huy vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; tập trung giải pháp để xử lý các dự án thua lỗ bên cạnh điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát…

PV: Cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

TS Nguyễn Đức Độ – Phó viện trưởng Viện Kinh tế tài chính: Lạm phát năm 2019 sẽ thấp hơn năm 2018

Với việc giá dầu giảm mạnh, lạm phát tháng 12/2018 so với tháng 12/2017 chỉ còn ở mức 2,98%. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc bảo đảm kiềm chế lạm phát dưới hoặc 4% trong năm 2019. Bởi mức khởi điểm lạm phát trong tháng đầu năm 2019 nhiều khả năng sẽ ở mức dưới 3% sau khi Liên Bộ Tài chính – Công Thương quyết định điều chỉnh giảm giá xăng dầu khoảng 500 đồng/lít.

Mức lạm phát thấp của tháng đầu năm 2019 sẽ có tác động tích cực đến lạm phát của tất cả các tháng trong năm cũng như lạm phát trung bình của cả năm 2019.

Trên thực tế, việc kiềm chế lạm phát năm 2019 không chỉ thuận lợi do giá dầu giảm mà còn do nhiều yếu tố khác. Trước tiên, giá thịt lợn sau khi đã đạt mức trên 50.000 đồng/kg (thuộc hàng cao nhất thế giới) đã chững lại. Bởi giá tăng cao hơn nữa sẽ khiến cho nguồn cung tăng mạnh (nhập khẩu thịt lợn tăng, nông dân tái đàn) từ đó kéo giá xuống. Do đó, giá thịt lợn năm 2019 nhiều khả năng sẽ không tăng hoặc giảm, tức là đóng góp của giá thịt lợn vào lạm phát năm 2019 sẽ bằng 0 hoặc âm.

Yếu tố thuận lợi thứ hai là áp lực đối với tỉ giá trong năm 2019 được dự báo sẽ thấp hơn so với năm 2018 bởi kinh tế Mỹ được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại và lộ trình tăng lãi suất của FED cũng đang ở giai đoạn cuối, dẫn đến nhu cầu đối với USD không còn mạnh như trước.

Yếu tố thứ ba cũng cần nói đến là căng thẳng thương mại Mỹ – Trung đang có chiều hướng dịu bớt. Khi cả nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc cùng được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại trong năm sau, việc gia tăng căng thẳng trong quan hệ thương mại giữa hai nước sẽ không có lợi cho bất kỳ ai, kể cả bên thứ ba là các nước còn lại, khiến đồng nhân dân tệ ổn định hơn trong năm 2019.

Theo kịch bản trung bình, lạm phát sẽ tăng khoảng 0,14%/tháng (chưa tính điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế và giáo dục), tương đương với mức tăng của lạm phát cơ bản trong năm 2018. Với mức tăng này, lạm phát tháng 12-2019 sẽ ở mức khoảng 1,7% và lạm phát trung bình sẽ chỉ ở mức trên 2%. Tuy nhiên, do Chính phủ sẽ điều chỉnh giá dịch vụ công theo lộ trình nên lạm phát trung bình sẽ cao hơn, nhưng khả năng chỉ ở mức khoảng 3%.

Trong kịch bản lạm phát thấp, giá dầu tiếp tục giảm và tỉ giá VND/USD chỉ tăng 1%, lạm phát cùng kỳ của tháng 12-2019 có thể chỉ ở mức 1% và lạm phát trung bình cả năm 2019 chỉ ở mức 2,5%.

Còn kịch bản lạm phát cao, giá xăng dầu tăng mạnh trở lại và tỉ giá VND/USD có mức tăng tương đương với mức của năm 2018, đồng thời Chính phủ vẫn điều chỉnh giá dịch vụ công theo lộ trình, lạm phát trung bình cả năm 2019 sẽ vẫn thấp hơn mức 3,54% của năm 2018.

Tú Anh

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tăng Cường Quản Lý Điều Hành Giá Góp Phần Kiểm Soát Lạm Phát trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!