Đề Xuất 2/2023 # Tăng Cường Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Buôn Bán Người # Top 5 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Tăng Cường Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Buôn Bán Người # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tăng Cường Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Buôn Bán Người mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cử tri Bình Dương hỏi: Tình trạng buôn người vẫn còn diễn ra do công tác phòng, chống buôn bán người và hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập. Cử tri kiến nghị nhà nước cần tăng cường hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn người, đặc biệt là mua bán phụ nữ, trẻ em đồng thời có chính sách hỗ trợ tái hoà nhập cho nạn nhân.

Bộ công an trả lời như sau:

* Về các giải pháp ngăn chặn tình trạng mua bán người: Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, được Quốc hội, Chính phủ và Bộ Công an rất quan tâm tập trung chỉ đạo quyết liệt. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1427/QĐ-TTg, ngày 18/8/2011 phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội phạm mua bán người giai đoạn 2011 – 2015. Với vai trò là Cơ quan Thường trực, Bộ Công an đã tham mưu cho Ban Chỉ đạo 138/CP chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người. Tuy nhiên, tình hình hoạt động của tội phạm mua bán người, nhất là mua bán phụ nữ, trẻ em vẫn diễn biến phức tạp. Năm 2013, trên cả nước xảy ra 507 vụ, lừa bán 982 nạn nhân (tăng 4% số vụ, 11% số nạn nhân so với năm 2012). Trong 6 tháng đầu năm 2014, trên cả nước xảy ra 301 vụ, lừa bán 651 nạn nhân (tăng 16% số vụ, 31% số nạn nhân so với cùng kỳ năm 2013). Thời gian gần đây, xuất hiện tình trạng mua bán trẻ sơ sinh tại TP. Hồ Chí Minh (bệnh viện Từ Dũ, Hùng Vương…), gây tâm lý lo lắng, bất bình trong nhân dân. Nguyên nhân của tình hình trên chủ yếu là do: (1) Ở một số địa phương, cấp ủy, chính quyền chưa thật sự quan tâm chỉ đạo đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này; sự vào cuộc của các ban, ngành, đoàn thể nhiều nơi còn mang tính hình thức, chưa tạo được phong trào rộng khắp và thu hút được nhân dân tích cực tham gia nên hiệu quả chưa cao. (2) Công tác phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ hiệu quả còn hạn chế. (3) Công tác truyền thông, phổ biến và giáo dục pháp luật về phòng, chống mua bán người còn dàn trải và hình thức, chưa tập trung vào đối tượng có nguy cơ cao. (4) Công tác tiếp nhận, xác minh và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về còn gặp nhiều khó khăn và bất cập, nhất là chưa tạo được cơ chế phối hợp thống nhất, đồng bộ trong việc tiếp nhận, xác minh, bảo vệ nạn nhân. (5) Hệ thống văn bản pháp luật về phòng, chống mua bán người còn nhiều bất cập. (6) Ý thức cảnh giác, tự bảo vệ của một bộ phận người dân còn hạn chế, chủ quan, sơ hở để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội. Trước tình hình trên, Bộ Công an đã và đang tập trung chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện tốt các công tác sau: – Tham mưu với cấp uỷ, chính quyền các cấp tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 37/2012/QH13, ngày 23/11/2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật, tội phạm và công tác thi hành án năm 2013; Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới” và Chương trình hành động phòng, chống tội phạm mua bán người, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác phòng, chống tội phạm mua bán người. – Chủ động báo cáo cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan thông tin truyền thông đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật, phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm mua bán người để chủ động phòng ngừa, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến về phòng, chống tội phạm mua bán người ở cơ sở. – Chủ động nắm tình hình, phát hiện và xử lý triệt để các trung tâm môi giới trái pháp luật về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, xuất khẩu lao động, cho nhận con nuôi nhằm hoạt động mua bán người. Tăng cường công tác quản lý xuất nhập cảnh, kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu, khắc phục những sơ hở trong quản lý người nước ngoài, quản lý nhân, hộ khẩu, quản lý dịch vụ Internet… không để đối tượng lợi dụng hoạt động phạm tội mua bán người. – Triển khai có hiệu quả các cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm mua bán người, trọng tâm là tuyến biên giới Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Campuchia. Tập trung đấu tranh, làm rõ các vụ án mua bán người, đặc biệt là các vụ án có tổ chức, xuyên quốc gia. Phối hợp với Viện kiểm sát, Tòa án đưa ra xét xử kịp thời các vụ án điểm nhằm răn đe tội phạm. – Chỉ đạo làm tốt công tác giải cứu, tiếp nhận nạn nhân; phối hợp với các bộ, ban, ngành triển khai chính sách, dịch vụ hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về tái hòa nhập như trợ cấp khó khăn, học nghề, tạo việc làm, khám chữa bệnh… giúp họ sớm ổn định cuộc sống. – Tăng cường hợp tác quốc tế với các cơ quan thực thi pháp luật, lực lượng cảnh sát các nước trong đó tập trung thông qua kênh hợp tác Interpol, ASEANAPOL trong công tác phòng, chống tội phạm mua bán người. Các địa phương có đường biên giới duy trì giao ban, gặp gỡ, đàm phán, thiết lập đường dây “nóng” với các đơn vị, địa phương của các nước láng giềng nhằm chủ động trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, truy bắt tội phạm, giải cứu, tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về; tổ chức các diễn đàn truyền thông chung về phòng, chống mua bán người.

* Về chính sách hỗ trợ tái hoà nhập cho nạn nhân

Tăng Cường Các Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm

Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn xã hội của địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác này vẫn còn bộc lộ những mặt hạn chế, ngành chức năng cần có “những giải pháp mạnh tay hơn” trong thời gian tới.

Theo báo cáo của UBND tỉnh, năm 2019, tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm có chiều hướng gia tăng. Riêng về tội phạm, các cơ quan chức năng đã khởi tố mới 398 vụ/352 bị can, tăng 119 vụ, 168 bị can so với cùng kỳ năm trước. Điều đáng nói, một số nhóm tội phạm như: xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; xâm phạm sở hữu; trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tội phạm về ma túy xảy ra nhiều và diễn biến phức tạp; người chưa thành niên phạm tội chiếm tỷ lệ cao (5,14%)…, gây hoang mang, bức xúc trong nhân dân.

Công an thành phố Kon Tum ra quân trấn áp tội phạm. Ảnh: XB

Các nhóm tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, tội phạm xâm phạm sở hữu, tội phạm về ma túy vẫn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu tội phạm thời gian qua. Thành phần phạm tội chủ yếu là các thanh niên trẻ, không có việc làm ổn định, chơi bời lêu lổng, tụ tập thành băng, nhóm tại nơi công cộng để uống bia, rượu vào ban đêm, sử dụng các loại hung khí nguy hiểm đánh nhau gây thương tích, hủy hoại tài sản, trộm cắp tài sản. Mức độ, hành vi vi phạm ngày càng nghiêm trọng, một số vụ việc gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, có những vụ đặc biệt nghiêm trọng, gây hoang mang, bức xúc trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh.

Tại Kỳ họp thứ 9 HĐND tỉnh khóa XI vừa diễn ra, trả lời chất vấn của các đại biểu về nguyên nhân dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật có chiều hướng gia tăng, Đại tá Nguyễn Công Văn – Giám đốc Công an tỉnh phân tích: Do tác động của kinh tế thị trường kéo theo sự thay đổi các mặt đời sống xã hội; khoảng cách giàu nghèo tăng, số người thất nghiệp cao; các hoạt động kinh doanh, dịch vụ, văn hóa phẩm đồi trụy phát triển lan rộng đến các vùng nông thôn làm suy thoái đạo đức một bộ phận thanh thiếu niên nông thôn. Sự vào cuộc của các cấp, các ngành, đoàn thể ở nhiều nơi vẫn mang tính hình thức; việc chỉ đạo triển khai thực hiện chưa triệt để, thường xuyên. Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng hiệu quả chưa cao, đặc biệt là ở cấp xã; ý thức tự giác của quần chúng trong việc tham gia phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm chưa cao, chưa hình thành được phong trào mạnh mẽ, chưa tạo được khí thế, trấn áp tội phạm. Việc giáo dục con cái trong gia đình không được chú trọng, thiếu quan tâm; nhiều gia đình vì nhiều lý do khác nhau dẫn đến ly hôn, ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của con cái, nảy sinh suy nghĩ tiêu cực, bất cần, từ đó có những hành vi côn đồ, trái pháp luật. Việc giảng dạy về nhân cách trong nhà trường còn sơ sài, chưa có hình thức lôi cuốn và chỉ được coi là một môn học phụ dẫn đến việc giáo dục chưa đạt được mục đích cũng phần nào tạo cho các em học sinh tâm lý chán học, bỏ học, kéo theo đó là tụ tập ăn chơi, đua đòi thói hư tật xấu, gây sự đánh nhau…

Tuyên truyền cho người dân các biện pháp về phòng chống tội phạm và bảo vệ an ninh Tổ quốc. Ảnh: XB

Theo Đại tá Nguyễn Công Văn, trong thời gian tới, Công an tỉnh tăng cường công tác vận động quần chúng, tuyên truyền, giáo dục phòng chống tội phạm gắn với Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và các phong trào thi đua yêu nước; tăng cường các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh, trấn áp mạnh các loại tội phạm. Bên cạnh đó, ngành Công an phối hợp tốt với các ban, ngành, đoàn thể trong công tác phòng chống tội phạm; thường xuyên mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm các tuyến, địa bàn, đối tượng trọng điểm; tăng cường tuần tra, kiểm soát trên các tuyến giao thông và địa bàn trọng điểm, kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm nguy hiểm và các hành vi vi phạm pháp luật; kết hợp chặt chẽ công tác phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc rộng khắp trên các tuyến, địa bàn; tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức quần chúng, các mô hình, điển hình tiên tiến trong phòng, chống tội phạm tại địa bàn cơ sở, hòa giải tốt các mâu thuẫn trong nhân dân không làm phát sinh tội phạm; làm tốt công tác phòng ngừa tội phạm với mục tiêu làm giảm tội phạm so với năm 2019…

Quang Định

Nhiều Giải Pháp Hiệu Quả Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm

Phòng Cảnh sát Môi trường Công an tỉnh

(Congannghean.vn)-

Thời gian qua, Phòng Cảnh sát Môi trường (CSMT) đã làm tốt công tác nắm, dự báo, xử lý tình hình, chủ động tham mưu Đảng ủy, Lãnh đạo Công an tỉnh chỉ đạo giải quyết cũng như đề xuất, kiến nghị cấp ủy, chính quyền các cấp, ban, ngành tập trung triển khai nhiều chủ trương, giải pháp chiến lược về bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo an toàn thực phẩm (ATTP). Đặc biệt, chỉ đạo giải quyết tốt các tụ điểm, địa bàn phức tạp, nổi cộm về môi trường ngay từ cơ sở, không để bị động, bất ngờ, phát sinh “điểm nóng”, ảnh hưởng đến tình hình ANTT. 

Cán bộ Phòng CSMT lấy lời khai đối tượng (X) phạm tội

Bên cạnh đó, đơn vị đã tăng cường tham mưu, chỉ đạo triển khai các biện pháp xã hội hóa trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, ATTP. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, cấp ủy, chính quyền, cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức pháp luật, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong công tác bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo ATTP cho người tiêu dùng. Ngoài ra, nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, đơn thư khiếu nại, tố cáo, các vụ việc báo chí phản ảnh về xâm phạm tài nguyên thiên nhiên, các tụ điểm gây ô nhiễm môi trường, vi phạm về ATTP, ảnh hưởng đến ANTT và sức khỏe của nhân dân.

Trong 10 tháng đầu năm, Phòng CSMT đã bắt, xử lý 203 vụ, 215 đối tượng vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, ATTP và các lĩnh vực khác; thu giữ số lượng lớn tang vật gồm: Pháo, thuốc nổ, động vật hoang dã, gia súc, gia cầm, thực phẩm bẩn, sản phẩm đồ chơi trẻ em nguy hiểm bị cấm, khoáng sản… Trong đó, chuyển cơ quan điều tra các cấp khởi tố 17 vụ, 22 đối tượng; xử phạt vi phạm hành chính 176 vụ, 180 đối tượng; đồng thời bán đấu giá nhiều tang vật thu giữ, với tổng số tiền nộp ngân sách Nhà nước hơn 1,2 tỉ đồng. 

Bên cạnh tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm, đơn vị còn tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 07 ngày 15/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an về “Đẩy mạnh công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ” trong cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm ANTT trong tình hình mới” giai đoạn 2020 – 2025. Cùng với đó, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật bằng nhiều hình thức; đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm ATTP, góp phần vào công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm về môi trường. 10 tháng đầu năm, đơn vị đã tiếp nhận 21 tin báo tố giác do quần chúng nhân dân cung cấp, giúp phát hiện 16 vụ vi phạm. 

Những kết quả nổi bật của Phòng CSMT trong thời gian qua đã góp phần rất lớn trong nỗ lực bảo đảm ANTT của lực lượng Công an tỉnh Nghệ An. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đặc biệt là thu hút hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh.

.

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Phòng, Chống Tội Phạm Mua Bán Người

BLHS năm 2015 đã quy định rõ các hành vi, bổ sung các tình tiết định khung… về Tội mua bán người đã tạo tiền đề pháp lý cho các hoạt động phòng ngừa và đấu tranh đối với các tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng. Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký kết 4 Hiệp định song phương về phòng, chống mua bán người với các nước láng giềng, có chung đường biên giới là Thái Lan, Campuchia, Lào và Trung Quốc. Việt Nam cũng đã tham gia phê chuẩn Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (Nghị định thư Palermo) của Liên hợp quốc.

Mua bán người được che giấu bởi các hình thức như: Tham quan, du lịch, ký kết làm ăn kinh tế, lao động xuất khẩu, tổ chức kết hôn thông qua môi giới… Nạn nhân của các vụ mua bán người thường chủ yếu làm nô lệ tình dục, lao động cưỡng bức, lấy nội tạng, bào thai, đẻ thuê… Nạn nhân không chỉ là phụ nữ và trẻ em như những năm trước đây mà đối tượng của loại tội phạm này hướng tới còn là cả những nam giới và trẻ sơ sinh.

Đối tượng phạm tội mua bán người ở hầu hết các độ tuổi, số đối tượng có độ tuổi trên 30 tuổi chiếm tỉ lệ cao. Nhìn chung các đối tượng phạm tội mua bán người có trình độ văn hóa thấp, có nhiều thành phần nghề nghiệp khác nhau. Hầu hết là những đối tượng có kiến thức xã hội, am hiểu xã hội và thường là người thông thuộc các khu vực biên giới, cửa khẩu, đường tiểu ngạch, đồng thời am hiểu phong tục…; đối tượng hoạt động băng nhóm, có tiền án, tiền sự. Trong một số trường hợp, đối tượng phạm tội mua bán người chính là nạn nhân của vụ mua bán người trước đó. Lợi dụng đặc điểm khó khăn kinh tế, thiếu việc làm ở nhiều địa phương; chính sách mở cửa, hội nhập, thông thoáng trong xuất cảnh; sự nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác của người dân… các đối tượng mua bán người đã hình thành các đường dây đưa người ra nước ngoài bán vào các động mại dâm, cưỡng ép kết hôn hoặc lao động cưỡng bức, trong đó trên 80% các vụ mua bán người ra nước ngoài.

Một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp trong thực tiễn áp dụng pháp luật về Tội mua bán người

Bên cạnh những quy định được sửa đổi, bổ sung mới, tiến bộ góp phần hoàn thiện pháp luật về Tội mua bán người; thực tiễn việc áp dụng pháp luật trong các vụ án mua bán người còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Thứ nhất, khó khăn trong việc xác định, sử dụng chứng cứ chứng minh trong việc giải quyết các vụ án về tội mua bán người

Thực tiễn xét xử cho thấy, tội phạm mua bán người thường mang tính truy xét, rất ít trường hợp bị bắt quả tang. Do vậy, đối với các vụ án không thuộc trường hợp phạm tội quả tang, chỉ khi người bị hại trốn được về địa phương và có đơn tố cáo thì đối tượng phạm tội mới bị phát hiện, nên khi điều tra, việc thu thập chứng cứ chỉ dựa vào lời khai của người bị hại cũng như lời khai nhận tội của đối tượng phạm tội; nếu người bị hại khai bản thân mình và nhiều người khác bị lừa bán chứ không phải chỉ một mình người bị hại đã tố giác, thì rất khó chứng minh nếu đối tượng phạm tội không thừa nhận. Chính vì vậy dễ dẫn đến việc xử lý oan cho người phạm tội hoặc bỏ lọt hành vi phạm tội.

Trong trường hợp xác định được người phạm tội, xác định được chứng cứ chứng minh người phạm tội thực hiện hành vi mua bán người nhưng không xác định được người bị hại do người bị hại vẫn đang ở nước ngoài, trường hợp này khi Viện kiểm sát chuyển hồ sơ sang Tòa án thì các Tòa án có cách giải quyết không thống nhất; có Tòa án thụ lý vụ án tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại theo thủ tục chung, nhưng cũng có Tòa án cho rằng việc chưa xác định được người bị hại dẫn đến chưa làm rõ được hành vi phạm tội nên áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung yêu cầu xác định và đưa người bị hại vào tham gia tố tụng; việc này là không thể thực hiện được nên các vụ án thường bị tạm đình chỉ kéo dài.

Đối với các vụ án truy xét rất khó xác định tình tiết định khung tăng nặng hình phạt tại khoản 3 Điều 150 BLHS năm 2015 “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” vì trong trường hợp này, chúng ta chỉ xác định được trong trường hợp nạn nhân trở về và tố cáo với cơ quan Công an thì mới xác định được còn trong trường hợp có đủ chứng cứ đề chứng minh đối tượng phạm tội có hành vi mua bán nhiều người nhưng có những người chưa trở về, chưa xác định được địa chỉ họ đang ở đâu nếu họ đã bị lấy đi bộ phận cơ thể nào đó thì xử lý thế nào? Tương tự như vậy, tình tiết làm nạn nhân tự sát cũng rất khó xác định trong trường hợp không xác định được người bị hại đang ở đâu nếu họ tự sát do bị làm nhục thì cũng không có căn cứ để xử lý đối với người phạm tội.

Việc xác định thiệt hại, giá trị vụ lợi là rất khó khăn trong thực tiễn, bởi việc mua bán được thỏa thuận thực hiện giữa người mua và người bán mà người bị hại có thể biết hoặc không thể biết được giá trị mua bán của bản thân mình dẫn đến việc không thể xác định được giá trị của vụ lợi; đặc biệt trong trường hợp người mua ở nước ngoài thì Cơ quan điều tra chỉ có thể căn cứ vào lời khai của người phạm tội để xác định, việc chỉ dựa vào lời khai của người phạm tội có giá trị chứng minh thấp và không khách quan.

Thứ hai, quy định về Tội mua bán người trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn một số điểm chưa rõ ràng

Một là, hiện nay, BLHS năm 2015 quy định nhiều tội phạm mới có tình tiết định tội tương tự hay sử dụng tình tiết định khung hình phạt của Tội mua bán người là tình tiết định tội riêng biệt. Kể từ ngày 01/01/2018, khi BLHS năm 2015 có hiệu lực, việc áp dụng các Điều luật này để xử lý các hành vi phạm tội được dự báo rất khó khăn, nhiều ý kiến trái chiều không thống nhất trong việc định tội danh đối với các tội tương tự như Tội mua bán người như:

– Tội mua bán người (Điều 150 BLHS năm 2015): “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác…” với tội cưỡng bức lao động (Điều 297 BLHS): “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động…”;

– Tội mua bán người với tình tiết “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” (điểm b khoản 3 Điều 150 BLHS) và Tội giết người (điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS).

Ví dụ: Người phạm tội mua bán người nhằm mục đích lấy đi bộ phận là “quả tim” của nạn nhân. Như vậy, trường hợp này người phạm tội biết rõ “quả tim” là bộ phận không thể thiếu trong việc duy trì sự sống của con người, nếu không có quả tim thì nạn nhân sẽ chết; người phạm tội vẫn thực hiện dẫn đến nạn nhân chết thì việc định tội danh trong trường hợp này hiện có rất nhiều ý kiến trái chiều:

Ý kiến thứ nhất cho rằng, trong trường hợp trên chỉ được truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội mua bán người với 02 tình tiết tăng nặng là đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân và làm nạn nhân chết (điểm b, d khoản 2 Điều 150 BLHS). Bởi người phạm tội trên thực hiện hành vi phạm tội với mục đích lấy quả tim nên dấu hiệu định tội về Tội mua bán người được thể hiện rõ ràng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội, khi xử lý hình sự về Tội mua bán người với 02 tình tiết định khung tăng nặng đã làm rõ đầy đủ hành vi phạm tội của người phạm tội.

Ý kiến thứ hai cho rằng, cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội là Tội giết người và Tội mua bán người. Đối với Tội mua bán người thì áp dụng tình tiết “đã lấy đi bộ phận cơ thể của nạn nhân” còn Tội giết người thì không áp dụng tình tiết “để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”.

Ý kiến thứ ba cho rằng, cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự về 02 tội là Tội giết người và Tội mua bán người tương tự như ý kiến thứ hai nhưng đối với Tội giết người thì áp dụng tình tiết “để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” còn Tội mua bán người thì không áp dụng tình tiết “đã lấy đi bộ phận cơ thể của nạn nhân”. Chúng tôi đồng ý với ý kiến thứ ba.

Một số tình tiết trong cấu thành cơ bản rất dễ nhầm lẫn đối với các tội khác như:

– Tội mua bán người với Tội chứa mại dâm (Điều 327), thực tế hiện nay trong các vụ án chứa mại dâm cũng có những trường hợp họ tự nguyện làm người bán dâm nhưng cũng có những trường hợp họ bị bắt rồi đem bán vào các ổ mại dâm và bị ép bán dâm nhưng chúng ta không chứng minh được hành vi mua bán người nên chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chứa mại dâm.

– Tội mua bán người với Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (Điều 154). Trong hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể người thì người phạm tội có thể có hành vi trộm cắp, lừa đảo và cũng có thể có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để thực hiện hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể người thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật nào (Điều 150, 151 hay Điều 154?).

Hai là, BLHS năm 2015 quy định hậu quả của hành vi mua bán người là “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân” là một tình tiết định khung tăng nặng hình phạt mới trong nhiều tội trong đó có tội phạm mua bán người. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 không hề giải thích hay định nghĩa “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân” được hiểu như thế nào khiến việc vận dụng trong thực tiễn là khó khăn và thiếu thống nhất.

Ba là, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 150 BLHS hiện nay cũng có nhiều cách hiểu khác nhau:

Cách hiểu thứ nhất, nội hàm điểm a, b khoản 1 Điều 150 BLHS quy định 02 nội dung chính là mô tả hành vi “Chuyển giao hoặc tiếp nhận người” và mục đích người phạm tội “để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác”. Như vậy, theo điểm c khoản 1 Điều 150, hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện chuyển giao hoặc tiếp nhận người là đã thỏa mãn cấu thành Tội mua bán người.

Cách hiểu thứ hai, hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác phải nhằm chuyển giao hoặc tiếp nhận người để thực hiện các mục đích giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác hoặc để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác khi có đầy đủ các dấu hiệu trên mới thỏa mãn cấu thành Tội mua bán người.

Bốn là, Điều 150 BLHS năm 2015 mô tả hành vi “đe dọa dùng vũ lực” là tình tiết định tội trong cấu thành cơ bản của Tội mua bán người. Liên hệ các tội được quy định trong BLHS thì tình tiết đe dọa dùng vũ lực được sử dụng đặc trưng trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) thể hiện rõ bản chất và mức độ nguy hiểm của hành vi này. Đối với Tội cướp tài sản, hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc được thể hiện dưới các dạng như bằng lời đe dọa không vũ lực (mày không nghe tao, tao sẽ giết…); bằng hành động (dí dao vào cổ, dùng tay bóp cổ); và dạng phổ biến nhất trong thực tiễn hiện nay là kết hợp giữa đe dọa và hành động (dí súng vào đầu và đe dọa mày không nghe tao tao bắn chết ngay) bằng các hành động quyết liệt trên người phạm tội đã khống chế được ý chí và làm tê liệt ý chí kháng cự lại của nạn nhân. Người phạm tội sẵn sàng thực hiện các hành vi xâm phạm sức khỏe, tính mạng nạn nhân một cách ngay tức khắc. Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực đã thể hiện rõ được việc đe dọa không quyết liệt gay gắt như Tội cướp tài sản và hành vi sử dụng vũ lực có thể sẽ được thực hiện ngay hoặc sau một khoảng thời gian nhất định, hậu quả của hành vi này làm nạn nhân lo sợ nhưng chưa đến mức tê liệt hoàn toàn ý chí kháng cự, phản kháng. Như vậy, hành vi đe dọa dùng vũ lực nêu trên với ý định chiếm đoạt tài sản đã diễn tả được mức độ nguy hiểm của hành vi này trong các tội xâm phạm sở hữu. Vấn đề đặt ra trong Tội mua bán người thì hành vi đe dọa dùng vũ lực được thực hiện như thế nào? Mức độ nguy hiểm ra sao? Có phải là ngay tức khắc hay kéo dài cả quá trình vận chuyển nạn nhân? Mà khiến nạn nhân phải nghe theo dẫn đến hậu quả có thể bị xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của chính bản thân nạn nhân.

* Tình tiết định tội trong cấu thành cơ bản “lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”. Đây là quy định rất khó xác định, vì như đã nêu ở trên không thể xác định được ý định của người khác và không đối tượng phạm tội nào thừa nhận việc mua bán người nhằm lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; việc quy định trên là mang tính phòng ngừa nhưng lại khó áp dụng vì rất khó có chứng cứ để chứng minh làm rõ ý định của đối tượng phạm tội; nếu chỉ dựa vào lời khai nhận tội của người phạm tội thì trái với nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự là nguyên tắc suy đoán vô tội.

* Điểm a khoản 1 Điều 150 BLHS năm 2015 quy định: “a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác”. Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” trong khái niệm tài sản đã bao gồm tiền; tiền là một loại thuộc tài sản. Việc BLHS quy định “nhận tiền, tài sản” là không cần thiết, gây trùng lặp bởi trong nội hàm tài sản đã bao gồm tiền.

(Trích bài viết: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm mua bán người” của Tiến sĩ Phạm Minh Tuyên, Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh, Tạp chí Kiểm sát số 03/2018).

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tăng Cường Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Buôn Bán Người trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!