Đề Xuất 12/2022 # Suy Thận Cấp Được Chẩn Đoán Và Điều Trị Thế Nào? / 2023 # Top 12 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Suy Thận Cấp Được Chẩn Đoán Và Điều Trị Thế Nào? / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Suy Thận Cấp Được Chẩn Đoán Và Điều Trị Thế Nào? / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài viết được viết bởi bác sĩ Y học hạt nhân – Khoa Chẩn đoán hình ảnh và Y học hạt nhân, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Suy thận cấp là hội chứng gây ra bởi nhiều nguyên nhân, có thể là nguyên nhân ngoài thận hoặc tại thận, làm suy sụp và mất chức năng tạm thời, cấp tính của cả hai thận, do ngừng hoặc suy giảm nhanh chóng mức lọc cầu thận.

1. Suy thận cấp có nguy hiểm không?

Suy thận cấp là tình trạng thận đột ngột bị suy giảm chức năng, mất khả năng loại bỏ chất thải ra khỏi cơ thể, không cân bằng nước và điện giải. Suy thận cấp là bệnh chủ yếu do tuổi tác gây ra, càng lớn tuổi càng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

Suy thận cấp có thể diễn ra rất nhanh, chỉ sau vài giờ hoặc vài ngày. Suy thận cấp có thể dẫn đến tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Nếu chẩn đoán sớm, điều trị đúng, suy thận cấp có thể được chữa khỏi hoàn toàn, chức năng thận có thể được phục hồi trở lại như bình thường.

Nếu phát hiện và điều trị muộn, bệnh nhân xuất hiện các biến chứng trong suy thận cấp sẽ làm tiên lượng người bệnh xấu đi nhiều. Theo báo cáo của Hội Lọc máu và Ghép thận Châu Âu (EDTA) thì tỉ lệ tử vong chỉ 8% nếu chỉ tổn thương thận đơn độc, nhưng tỉ lệ tử vong tăng lên 65 – 76% nếu thêm một hoặc nhiều hơn các cơ quan khác bị tổn thương (Bullock và Kindle 1985) đặc biệt là tổn thương phổi, người bệnh phải hô hấp bằng máy, biến chứng tim mạch, biến chứng nhiễm khuẩn huyết.

2. Chẩn đoán suy thận cấp

2.1 Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán xác định suy thận cấp căn cứ vào các yếu tố sau:

Tìm được nguyên nhân có thể gây suy thận cấp (tuy nhiên đôi khi không tìm được nguyên nhân).

Có tình trạng vô niệu hoặc thiểu niệu xảy ra ở mức độ cấp tính.

Mức lọc cầu thận giảm < 60ml/ph, xảy ra sau tình trạng vô niệu.

Kali máu thường tăng.

Có thể có toan máu chuyển hoá.

Bệnh diễn biến qua 4 giai đoạn.

2.2 Chẩn đoán bệnh suy thận cấp theo thể lâm sàng

Thể vô niệu: thường dễ chẩn đoán, dựa vào các yếu tố nêu trên.

Thể suy thận cấp có bảo tồn nước tiểu: chẩn đoán dựa vào nồng độ ure và creatinin trong máu tăng, mức lọc cầu thận giảm, xảy ra đột ngột sau khi có nguyên nhân gây bệnh tác động, trước đó các thông số này vẫn trong giới hạn bình thường.

3. Nguyên tắc chung trong điều trị suy thận cấp

Nhanh chóng loại bỏ nguyên nhân gây suy thận cấp nếu có (tuỳ từng nhóm nguyên nhân mà có biện pháp điều trị phù hợp).

Điều chỉnh các rối loạn tuần hoàn, trong đó quan trọng nhất là phục hồi lại lượng máu và dịch, duy trì huyết áp tâm thu 100 – 120mmHg.

Phục hồi lại dòng nước tiểu

Điều chỉnh các rối loạn nội môi do suy thận cấp gây ra

Điều trị triệu chứng phù hợp với từng giai đoạn của bệnh.

Chỉ định lọc máu ngoài thận khi cần thiết.

Chú ý chế độ dinh dưỡng, cân bằng nước điện giải phù hợp với từng giai đoạn của bệnh.

4. Điều trị suy thận cấp theo từng giai đoạn bệnh

4.1. Giai đoạn tấn công của các tác nhân gây bệnh

Cố gắng điều trị loại bỏ nguyên nhân gây bệnh: bù đủ nước khi có mất nước, loại bỏ tắc nghẽn đường tiểu, rửa dạ dày khi bệnh nhân uống mật cá trắm trong 6 giờ đầu…

Theo dõi sát tình trạng thiểu niệu, vô niệu để có chẩn đoán suy thận cấp sớm nhất.

4.2. Giai đoạn thiểu niệu, vô niệu

4.2.1 Giữ cân bằng nước, điện giải

Bù nước ở người bệnh vô niệu hoặc thiểu niệu đã có phù, đảm bảo cân bằng theo chiều âm (-): nghĩa là nước vào ít hơn nước ra. Sử dụng lợi tiểu quai Furosemid dò liều, liều khởi đầu có thể 40 – 80 mg, liều tối đa 1000 mg.

Không dùng lợi tiểu nếu suy thận cấp do nguyên nhân sau thận (do tắc nghẽn đường tiểu ở niệu quản, bàng quang, niệu đạo…).

Trường hợp suy thận cấp do nguyên nhân trước thận (sốc mất máu, sốc mất nước, sốc tim, sốc nhiễm khuẩn, hội chứng thận hư, xơ gan mất bù…): cần bù đủ thể tích tuần hoàn càng sớm càng tốt, không sử dụng lợi tiểu nếu chưa bù đủ khối lượng tuần hoàn.

4.2.2 Điều trị tăng Kali máu

Tăng kali máu luôn là nguy cơ đe dọa tính mạng người bệnh suy thận cấp:

Hạn chế đưa K+ vào: không ăn rau quả có nhiều Kali, không sử dụng thuốc, dịch truyền có K+.

Loại bỏ các ổ hoại tử, chống nhiễm khuẩn.

Thuốc

Calci gluconate hoặc clorua: tiêm tĩnh mạch ngay khi nồng độ K+ máu cao: ≥ 6,5 mmol/l hoặc khi có những biểu hiện tim mạch rõ (mạch chậm, loạn nhịp, phức bộ QRs giãn rộng), liều trung bình 1g, tiêm tĩnh mạch chậm trong ít nhất 5 phút. Nhắc lại liều sau 30 phút khi cần.

Glucose kết hợp Insulin giúp dẫn Kali vào trong tế bào, bắt đầu tác dụng sau khoảng 30 phút. Lượng đưa vào khoảng 200 – 250 ml dung dịch glucose 20% có thể giảm được 0.5 mmol/l Kali. Liều insulin sử dụng: 1 UI insulin actrapid/25ml Glucose 20%.

Truyền hoặc tiêm tĩnh mạch chậm Natribicarbonat khi có toan máu để hạn chế Kali đi từ trong tế bào ra ngoài tế bào.

Resin trao đổi ion qua niêm mạc ruột: Resincalcio, Resinsodio, Kayexalate cứ mỗi 15g uống phối hợp với sorbitol có thể giảm 0.5 mmol/l. Thuốc phát huy tác dụng sau 1 giờ. Nếu người bệnh không uống được có thể thụt thuốc qua hậu môn (100ml dịch đẳng trương).

Lợi tiểu thải nước và Kali.

Lọc máu cấp: khi điều trị tăng kali máu bằng nội khoa không kết quả và K+ ≥6,5 mmol/l.

4.2.3 Điều trị các rối loạn điện giải khác nếu có

4.2.4 Hạn chế tăng N-phi protein máu

Chế độ ăn giảm đạm.

Loại bỏ ổ nhiễm khuẩn.

4.2.5 Điều trị chống toan máu nếu có.

4.2.6 Điều trị các triệu chứng và biến chứng khác nếu có.

Điều trị tăng huyết áp, suy tim.

4.2.7 Chỉ định lọc máu cấp

Thừa dịch nặng gây phù phổi cấp hoặc dọa phù phổi cấp

4.3 Giai đoạn tiểu được trở lại

Chủ yếu là cân bằng nước điện giải. Cần đo chính xác lượng nước tiểu 24 giờ và theo dõi sát điện giải máu để kịp thời điều chỉnh.

Khi tiểu < 3 lít/24h: không có rối loạn điện giải nặng thì chỉ cần cho uống Oresol.

Sau khoảng 5 ngày nếu người bệnh vẫn tiểu nhiều cũng nên hạn chế lượng dịch truyền và uống, vì thận đã bắt đầu phục hồi chức năng cô đặc. Theo dõi sát nước tiểu 24h để có biện pháp bù dịch thích hợp

4.4. Giai đoạn phục hồi chức năng

Vẫn cần chú ý công tác điều dưỡng: chế độ ăn cần tăng bổ sung đạm khi ure máu đã về mức bình thường.

Theo dõi định kỳ theo chỉ dẫn thầy thuốc.

Tiếp tục điều trị nguyên nhân nếu có. Chú ý các nguyên nhân có thể dẫn đến suy thận mạn tính (bệnh lý cầu thận, bệnh lý kẽ thận…).

5. Phương pháp xạ hình thận để chẩn đoán suy thận cấp

Xạ hình thận được áp dụng tại Đơn nguyên Y học hạt nhân thuộc Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Đây là kỹ thuật đánh giá chức năng thận tiên tiến nhất, sử dụng thiết bị ghi có độ chính xác cao kết hợp các chất đánh dấu phóng xạ.

Phương pháp xạ hình thận cho hình ảnh có chất lượng tốt, đây là kỹ thuật không thể thiếu trong việc thăm dò chức năng thận, góp phần nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị các bệnh lý ở thận và đường tiết niệu, trong đó có bệnh suy thận cấp tính.

Bệnh nhân được tiêm tĩnh mạch đồng vị phóng xạ, sau đó các chuyên gia xạ hình thận sẽ ghi lại hình ảnh động học và đồ thị hoạt độ phóng xạ theo thời gian của từng quả thận, tiếp đến sẽ phân tích đồ thị và hình ảnh, từ đó đánh giá được chức năng của riêng từng thận cho bệnh nhân một cách chính xác nhất.

Xạ hình thận được áp dụng trong các trường hợp như:

Đánh giá chức năng của 2 thận hoặc đánh giá riêng từng quả thận.

Đánh giá chức năng thận trước và sau khi phẫu thuật ghép thận.

Đánh giá và theo dõi tình trạng tắc nghẽn đường tiết niệu (nguyên nhân sau thận dẫn đến suy thận cấp tính)

Chẩn đoán, theo dõi và đánh giá các bệnh lý thận: suy thận cấp, tăng huyết áp do thận, viêm đài bể thận, bệnh viêm cầu thận, hoại tử ống thận…

Khi nghi ngờ 1 bên thận có bệnh lý bẩm sinh.

Xác định các chấn thương thận.

6. Vì sao nên thực hiện xạ hình thận tại bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City sử dụng hệ thống SPECT/CT Discovery NM/CT 670 Pro, với công nghệ CT 16 dãy hiện đại nhất của hãng thiết bị y tế hàng đầu thế giới: GE Healthcare (Hoa Kỳ), cho hình ảnh chất lượng cao, giúp các bác sĩ chẩn đoán sớm các bệnh lý cần khảo sát.

Đội ngũ cán bộ y tế của hệ thống Vinmec rất giàu kinh nghiệm, được đào tạo bài bản trong và ngoài nước sẽ trực tiếp tư vấn, hỗ trợ tối đa cho khách hàng trong quá trình chẩn đoán và điều trị, kể cả đối với các khách hàng là người nước ngoài.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số 02439743556 hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Suy Thận Cấp Là Gì? Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Suy Thận Cấp / 2023

Suy thận cấp là một hội chứng xuất hiện khi chức năng thận (chủ yếu là chức năng lọc cầu thận) bị suy sụp nhanh chóng, xảy ra đột ngột ở bệnh nhân không có suy thận trước đó hoặc ở bệnh nhân đã mắc suy thận mạn. Mức lọc cầu thận có thể bị suy giảm nặng nhưng có thể được hồi phục hoàn toàn một cách tự nhiên hoặc dưới ảnh hưởng của điều trị nguyên nhân.

Suy thận cấp thể hiện trên lâm sàng đặc trưng với vô niệu, nhưng có những thể bệnh vẫn có lượng nước tiểu bảo tồn. Gần đây chẩn đoán suy thận cấp dựa vào sự gia tăng créatinine máu so với créatinine căn bản đã biết: nhiều hơn 50mmol/l đối với créatinine căn bản dưới 250 mmol/l hoặc nhiều hơn 100 mmol/l đối với créatinine máu căn bản trên 250 mmol/l.

DỊCH TỄ HỌC

Suy thận cấp là một hội chứng tương đối ít gặp. Trong thực tế, tần suất mắc bệnh này chỉ có thể được đánh giá bằng số lượng nhập viện hàng năm: 1 – 3% bệnh nhân nhập viện hàng năm.

Tiên lượng của suy thận cấp thường là tốt nếu khả năng phục hồi chức năng thận tốt dần. Tuy vậy, cần phải tính đến những yếu tố nguy cơ làm nặng của suy thận cấp: bệnh nguyên, lớn tuổi, cơ địa suy yếu, kết hợp với suy các tạng khác, điều kiện điều trị (thẩm phân, dinh dưỡng) và cuối cùng là kinh nghiệm của đội ngũ điều trị.

SINH LÝ BỆNH

Chức năng lọc cầu thận trong suy thận cấp giảm hoặc mất hẳn, xảy ra do các cơ chế sau:

– Giảm dòng máu qua thận (giảm thể tích, sốc).

– Tính đề kháng của tiểu động mạch đi giảm (dãn mạch sau cầu thận).

– Tính đề kháng của tiểu động mạch đến tăng (co mạch trước cầu thận).

– Áp lực cầu thận (nang Baoman) gia tăng (tắc nghẽn trong lòng ống thận hoặc trên đường bài tiết).

– Ngoài ra suy thận cấp còn có thể do giảm tính thấm của mạch máu thận mà cơ chế hiên nay còn chưa được biết rõ.

NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân trước thận (suy thận cấp chức năng)

Những nguyên nhân chính của suy thận cấp chức năng bao gồm

Mất nước ngoại bào

– Mất qua da (mồ hôi, bỏng) – Mất qua đường tiêu hoá (nôn mữa, ỉa chảy, lỗ dò) – Mất qua thận: + Điều trị lợi tiểu qúa mạnh. + Đa niệu thẩm thấu trong đái tháo đường mất bù và trong hội chứng lấy vật tắc nghẽn. + Viêm thận kẻ mạn + Suy thượng thận

Giảm thể tích máu thật sự

– Hội chứng thận hư nặng -Xơ gan mất bù -Suy tim xung huyết -Hạ huyết áp trong các tình trạng sốc: tim, nhiễm trùng, phản vệ, xuất huyết.

Suy thận cấp huyết động (do thuốc ức chế men chuyển, ức chế thụ thể angiotensinII, Kháng viêm không stéroid, ức chế calcineurines)

Nguyên nhân tại thận (suy thận cấp thực thể)

2.1. Viêm ống thận cấp

– Là nguyên nhân thường gặp nhất của suy thận cấp thực thể (80%).

– Chiếm hàng đầu là suy thận cấp chức năng chuyển sang.

– Ở Việt Nam thường là do sốt rét đái huyết sắc tố, ngộ độc mật cá trắm.

– Ngộ độc bởi muối kim loại nặng: As, Pb, Hg.

– Huyết tán trong lòng mạch do truyền nhầm nhóm máu, nhiễm độc quinine, nấm.

– Do thuốc: kháng sinh (Aminosides, Amphotericine B), thuốc cản quang.

2.2. Viêm cầu thận cấp

Do viêm cầu thận thể tiến triển nhanh. Thường gặp thể viêm cầu thận hoại tử và ngoài màng trong bệnh cảnh viêm mạch hoại tử, hoặc viêm cầu thận tăng sinh trong và ngoài màng trong bệnh cảnh của lupus, ban xuất huyết dạng thấp. Ngoài ra suy thận cấp do viêm cầu thận thể tiến triển nhanh còn găp trong hội chứng Goodpasture.

2.3. Viêm thận kẽ cấp

– Do Vi trùng: Viêm thận bể thận cấp

– Do Nhiễm độc thuốc: Thường qua cơ chế miễn dịch-dị ứng. Ngoài suy thận cấp còn có tăng bạch cầu ưa acid trong máu và trong nước tiểu, ban đỏ da, huỷ tế bào gan.

Nguyên nhân sau thận (Suy thận cấp tắc nghẽn)

– Sỏi niệu quản là hàng đầu ở Việt Nam

– U xơ, ung thư tuyến tiền liệt

– U vùng khung chậu lành hay ác tính (u bàng quang, ung thư tử cung, cổ tử cung, trực tràng)

– Xơ cứng sau phúc mạc

– Di căn sau phúc mạc (hiếm)

– Lao làm teo hai niệu quản

DẤU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

Về mặt lâm sàng, suy thận cấp thường diễn tiến qua các giai đoạn sau

Là giai đoạn xâm nhập, tấn công của các tác nhân gây bệnh, diễn tiến tùy theo từng loại, ở bệnh nhân ngộ độc thì diễn biến nhanh có thể dẫn đến vô niệu ngay, ở bệnh nhân sốc thì diễn biến nhanh hay chậm tùy theo nguyên nhân sốc và kỹ thuật hồi sức lúc đầu.

Thiểu niệu khi lượng nước tiểu < 500ml/24 giờ (hoặc dưới 20ml / giờ), có thể bắt đầu từ từ hoặc ngay vài ngày đầu khởi bệnh, trung bình kéo dài 1 – 2 tuần, khi thiểu niệu kéo dài trên 4 tuần thì cần xem thận bị hoại tử vỏ, viêm cầu thận cấp thể tiến triển nhanh, viêm quanh tiểu động mạch thận, sỏi gây tắc niệu quản.

Vô niệu khi lượng nước tiểu < 100ml/24 giờ, theo Brenner và Rector thì hiếm gặp, nhưng ở Việt Nam thì rất thường gặp, thậm chí nhiều ngày, chính vì nguyên nhân thiểu và vô niệu nên làm cho urê, creatinine tăng cao nhanh trong máu.

Biểu hiện trong giai đoạn này chủ yếu là hội chứng tăng urê máu cấp gồm có các triệu chứng:

– Về tiêu hóa: chán ăn, buồn nộn, nôn mữa , táo bón hoặc ĩa chảy.

– Về tim mạch: Tăng huyết áp thường gặp ở các bệnh viêm cầu thận, còn lại là do lạm dụng dịch truyền gây ứ nước, muối, tăng huyết áp nặng, gây phù phổi, phù não.

– Dấu thần kinh: có thể kích thích vật vã, hôn mê, co giật, có khi rối loạn tâm thần.

– Về hô hấp: nhịp thở toan kiểu Kussmaul hoặc Cheyne – Stokes, phù phổi, nhiễm khuẩn phổi.

– Thiếu máu: Thường xuất hiện sớm nhưng không nặng lắm, khi có thiếu máu nặng thì cần nghĩ đến nguyên nhân suy thận cấp là do xuất huyết nặng kéo dài hoặc bệnh có suy thận mạn trước đó.

– Phù thường do uống nhiều nước hoặc truyền dịch quá nhiều, mặt khác là phù nội sinh do giải phóng nước từ hiện tượng phân hủy tổ chức, tế bào. Trong phần lớn các trường hợp hoại tử ống thận cấp thì không phù.

– Nếu có dấu hiệu vàng mắt, vàng da là biểu hiện của tổn thương gan mật thường gặp do nguyên nhân Leptospirose, sốt rét đái huyết sắc tố.

– Rối loạn điện giải: thường gặp trong suy thận cấp là tăng Kali máu, đó là hiện tượng hủy tế bào và huyết tán tăng từ 0,5 – 1mmol/24 giờ. Cũng có khi tăng nhanh 1 – 2mmol/l trong ít giờ ở các bệnh chấn thương nặng, nhiễm khuẩn, huyết tán. Tăng Kali máu rất nguy hiểm, về mặt lâm sàng thường thầm lặng rồi đột ngột bộc phát rung thất, ngừng tim. Khi có Kali máu trên 5mmol/l cần theo dõi kỹ điện tim và xử trí hạ Kali máu kịp thời. Trên điện tim tăng Kali máu biểu hiện sớm là sóng T cao nhọn, đối xứng rồi QRS dài, PR dài, Bloc xoang nhĩ, mất sóng P rồi ngừng tim có hoặc không qua giai đoạn rung thất. Trong suy thận cấp tăng Kali máu này càng nặng thêm do hiện tượng toan máu.

Toan máu là hậu quả từ tăng chuyển hóa, dự trữ kiềm giàm 1 – 2 mmol/ ngày, bệnh càng nặng thì giảm càng nhanh, dự trữ kiềm có khi giàm dưới 10mmol/l, hiện tượng này làm cho Kali máu tăng càng nhanh.

Mặt khác, rối loạn điện giải trong suy thận cấp còn có giảm Calci, Natri, tăng Mg và Phosphate.

– Nhiễm trùng: trong giai đoạn vô niệu nhiễm trùng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong thường là nhiễm trùng đường hô hấp, tiết niệu và ngoài da.

3. Giai đoạn tiểu nhiều

Thường bắt đầu từ 300ml/24giờ sau đó bệnh nhân tiểu nhiều, thường vào ngày thứ 3 của giai đoạn này lượng nước tiểu đạt 1lít/ngày. Giai đoạn này gọi là khủng hoảng vì nước tiểu có khi tới 3 – 4 lít/24 giờ và dễ gây rối loạn nước điện giải nặng, trụy tim mạch, nhiễm trùng, viêm tắc tĩnh mạch, nhất là dị hoá cơ gây gầy nhiều. Trong giai đoạn này nếu điều chỉnh nước điện giải không hợp lý thì dễ gây tử vong. Các chỉ số về sinh hoá trong máu chỉ bắt đầu giảm dần sau vài ngày đái nhiều, nghĩa là trong những ngày đầu đái nhiều thì urê máu, creatinine vẫn còn tăng cao và urê, creatinine niệu vẫn còn thấp. Lượng urê, creatinine tăng càng nhanh trong nước tiểu thì sự phục hồi càng sớm và tiên lượng càng tốt, đương nhiên là phải giảm song song các chất này trong máu và được đánh giá chính xác bằng độ thanh thải creatinine nội sinh. Giảm Kali và Natri được đánh giá bằng điện giải hằng ngày để bù kịp thời. Trong giai đoạn này, tỷ trọng nước tiểu thấp dưới 1,005.

4. Giai đoạn phục hồi

Urê, creatinine máu giảm dần, mức độ cô đặc nước tiểu tăng dần, lâm sàng tốt lên, tuy nhiên chức năng thận phục hồi rất chậm: khả năng cô đặc có khi phải hàng năm mới hồi phục. Mức lọc cầu thận phục hồi nhanh hơn.

BIẾN CHỨNG VÀ TIÊN LƯỢNG CHUNG

+Bệnh lý nguyên nhân: sốc nhiễm trùng hoặc xuất huyết, suy hô hấp, chấn thương nặng,viêm tuỵ cấp, co giật.

+ Cơ địa: lớn tuổi, bệnh mạch vành, suy hô hấp, đái đường, ung thư.

+ Những biến chứng thứ phát của hồi sức và đặc biệt nhiễm trùng bệnh viện (nhiễm trùng cathether,bệnh phổi), suy dinh dưỡng

– Những biến chứng chính:

+ Những biến chứng chuyển hoá riêng của suy thận cấp: Toan chuyển hoá và tăng kali máu. Tăng thể máu và phù phổi. Nguy cơ suy dinh dưỡng.

+ Nhiễm trùng bệnh viện (do đặt Sonde bàng quang hoặc vô niệu kéo dài làm đường bài niệu mất khả năng đề kháng)

+ Xuất huyết tiêu hóa do loét cấp

+ Những biến chứng tim mạch: Viêm tĩnh mạch, tắc mạch phổi, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.

– Các yếu tố tiên lượng phụ thuộc vào

+ Tuổi càng cao thì bệnh càng nặng

+ Căn nguyên: nặng trong viêm tụy cấp, sau mỗ kèm theo nhiễm trùng, viêm phúc mạc, các đa chấn thương.

+ Tiên lượng xa trong đa số trường hợp không để lại di chứng và không chuyển sang mạn tính, nhất là người trẻ. Hạn hữu 2% trường hợp không lành hẳn được giải thích bằng sự hoại tử vỏ thận cả hai bên (cần chạy thận nhân tạo suốt đời, ghép thận).

CHẨN ĐOÁN

– Dựa vào dấu suy thận: Đái ít, vô niệu, urê, creatinine máu tăng cao dần, tăng K máu và toan máu.

– Dựa vào tính chất cấp tính

+ Chức năng thận bình thường trước đó

+ Kích thước thận bình thường hoặc lớn

+ Không có thiếu máu, không hạ canxi máu

Cần chẩn đoán gián biệt giữa suy thận cấp và đợt cấp của suy thận mạn, dựa vào:

– Tiền sử bệnh nhân không có bệnh thận tiết niệu.

– Bệnh sử diễn tiến cấp tính và có những nguyên nhân cấp tính dẫn đến.

– Có khi rất khó phân biệt vì bệnh nhân không nhớ rõ tiền sử, thậm chí khi hôn mê rồi mới vào viện. Cần dựa thêm các triệu chứng khác như:

+ Thiếu máu nặng trong suy thận mạn; thiếu máu nhẹ, vừa phải trong suy thận cấp.

+ Tăng huyết áp: Trong suy thận cấp thường cao vừa phải và ít nặng. Trong suy thận mạn tăng huyết áp đã có lâu ngày và các biến chứng của nó trên tim, mắt, mạch máu khá rõ ràng.

+ Siêu âm đo kích thước thận thấy hai bên thận teo nhỏ trong suy thận mạn. Đây là dấu hiệu chẩn đoán quan trọng để gián biệt.

Chẩn đoán suy thận cấp chức năng suy thận cấp thực thể

(FE Na:Fraction de l¢ excretion du sodium = UNa x Pcre / P Na x U cre)

Cần thiết phải tìm nguyên nhân gây suy thận cấp trên người bệnh.

– Suy thận cấp trước thận: Dựa vào các triệu chứng mất nước ngoại bào (hạ huyết áp, nhịp nhanh, nếp nhăn da, sụt cân, cô đặc máu). Dựa vào các nguyên nhân làm giảm thể tích máu thật sự: suy tim. Xơ gan mất bù, hội chứng thận hư.

– Suy thận cấp sau thận: Trên những bệnh nhân đang có các bệnh lý gây tắc nghẽn: sỏi niệu quản, các khối u ở khung chậu, bệnh lý bàng quang, tiền liệt tuyến.

– Suy thận cấp tại thận: Dựa vào các triệu chứng để chẩn đoán bệnh lý ở cầu thận, ống thận,tổ chức kẻ thận hoặc mạch máu thận.

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc chung là điều trị theo nguyên nhân suy thận cấp, rất khác biệt tùy từng nguyên nhân trước, tại và sau thận.

1.1 Suy thận cấp với mất nước ngoại bào và giảm thể tích máu.

– Điều trị căn bản suy thận cấp chức năng bằng hồi phục lại nước, thể tích máu lưu thông bằng điện giải, máu, huyết tương cho phần lớn các nguyên nhân trước thận

– Điều trị chính bằng dung dịch muối đẳng trương 0,9%, hoặc nhược trương 0,45% bằng đường tĩnh mạch. Trong trường hợp không nặng cung cấp bằng đường uống.

1.2 Suy thận cấp chức năng với phù.

– Suy thận cấp của hội chứng gan thận cấp thường hiếm hồi phục và thường tử vong vì những hậu quả của xơ gan. Tuy nhiên, có thể thử điều trị bằng Albumin nếu Albumin máu < 20g/l, kết hợp với lợi tiểu quai.

– Trong trường hợp hội chứng thận hư, nhất là khi giảm thể tích máu kéo dài, việc truyền Albumin và sử dụng thuốc lợi tiểu đôi khi là điều chỉnh có hiệu quả và làm biến mất phù.

– Trong trường hợp suy thận cấp sau suy tim có thể điều chỉnh bằng điều trị suy tim.

1.3.Trường hợp đặc biệt do thuốc ức chế men chuyển và thuốc kháng viêm không phải steroide: Ngừng thuốc.

Chung cho các suy thận cấp chức năng, để nâng huyết áp, cũng như tác dụng lợi tiểu có thể sử dụng các thuốc sau:

Isuprel 0,2 – 0,6mg – 1mg trong 1000ml glucose đẳng trương truyền tĩnh mạch.

Dopamin 3 – 5(g/kg/phút cho người nặng 50 kg truyền với glucose 5%.

Ngoài ra có thể dùng các dung dịch với phân tử lượng lớn như Dextran, Manitol 20% 300 – 500ml/ngày, thậm chí máu và các chế phẩm của máu để giữ thể tích máu đủ tưới cho cầu thận.

2.1. Giảm muối và nước

Ở giai đoạn vô niệu, ăn lạt hoàn toàn, lượng nước kể cả dịch truyền và uống mỗi ngày không quá 700ml ở người 50kg.

2.2. Ở giai đoạn thiểu niệu. hoặc ngay ngày đầu vô niệu, có ứ nước ngoại bào thì dùng

Furosemid (Laxis, Lasilix) mỗi lần 120 – 160mg, tiêm tĩnh mạch mỗi 3 – 4 giờ, liều tối đa có thể đến 1000mg – 1500mg/24h nhằm chuyển thể vô niệu sang thể đái nhiều. Furosemid thường thay đổi lượng nước tiểu mà không ảnh hưởng đến chức năng thận. Nếu dùng đủ liều lượng trong ngày mà vẫn không có lượng nước tiểu thì ngừng dùng.

2.3. Khi có tăng K máu

+ Dung dịch glucose 20% 500ml + 20đv Insulin truyền tĩnh mạch nhanh từ 60-90 phút.

+ Resine trao đổi Cation như Resonium, Kayxelat (trao đổi 1-2mmol K+ /g resine): 10-15g x 2 đến 3 lần/ngày.

+ Dung dịch kiềm 14‰ cứ 5 phút thì truyền 44 mmol, nếu bệnh phù và tăng huyết áp thì dùng loại kiềm ưu trương 4,2 % tiêm tĩnh mạch chậm.

+ Những thuốc kích thích β 2 adrénergique: Như salbutamol, làm vận chuyển kali vào nội bào.

2.4 Điều trị toan chuyển hoá.

– Truyền tĩnh mạch Bicarbonat đẳng trương 1,4 g% hoặc trong trường hợp cần thiết sử dụng loại đậm đặc 4,2%, 8,4%.

2.5. Điều trị lọc ngoài thận.

Suy thận cấp sau thận còn gọi là suy thận cấp tắc nghẽn. Cho nên điều trị quan trọng nhất là đièu trị để loại bỏ yếu tố tắc nghẽn này.

Tùy từng nguyên nhân để điều trị như điều trị sốt rét trong nguyên nhân suy thận cấp sau sốt rét đái huyết cầu tố; mổ lấy sỏi trong suy thận cấp sau sỏi tắc nghẽn…

Suy Giảm Chức Năng Gan Là Gì? Cách Chẩn Đoán Và Điều Trị Như Thế Nào? / 2023

Suy giảm chức năng gan sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các quá trình quan trọng trong cơ thể. Gan là cơ quan lớn thứ hai trong cơ thể và thực hiện hơn 500 chức năng khác nhau: chuyển hóa thức ăn và đồ uống thành năng lượng và chất dinh dưỡng để cơ thể sử dụng, lọc các chất độc hại, chẳng hạn như rượu, ra khỏi máu và giúp chống lại nhiễm trùng. 

Vậy hội chứng suy giảm chức năng gan là gì? Và làm thế nào để điều trị chức năng gan bị suy giảm?

Chức năng của gan

Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất, đồng thời cũng là tuyến bộ phận lớn nhất trong cơ thể con người. Mỗi ngày, gan phải thực hiện hơn 500 nhiệm vụ thiết yếu để duy trì sức khỏe. Gan là một phần của hệ tiêu hóa với một số chức năng phổ biến như:

Giải độc

Tổng hợp protein

Sản sinh các hoạt chất hỗ trợ tiêu hóa thức ăn

Suy giảm chức năng gan là gì?

Hội chứng suy chức năng gan xảy ra khi các phần lớn gan bị tổn thương không thể phục hồi và cơ quan này không thể đảm nhiệm chức năng. Các chuyên gia chia tình trạng chức năng gan kém thành hai loại: cấp tính và mạn tính. Mỗi loại sẽ có nguyên nhân gây bệnh khác nhau.

Suy chức năng gan cấp tính

Hội chứng suy giảm chức năng gan cấp tính thường diễn ra nhanh chóng. Người bệnh sẽ giảm hoặc mất chức năng gan trong vòng vài tuần hoặc vài ngày. Bệnh có thể xảy ra đột ngột và không có bất kỳ triệu chứng nào.

Nguyên nhân phổ biến gây suy chức năng gan cấp tính là do ngộ độc nấm hoặc dùng quá liều thuốc, chẳng hạn như quá liều paracetamol.

Ngoài ra, các nguyên nhân khác bao gồm:

Nhiễm virus viêm gan A, B và C, virus Epstein-Barr, virus cytomegalo và virus herpes simplex.

Phản ứng của cơ thể với một số thuốc hoặc thực phẩm chức năng: Một số thuốc có thể tiêu diệt các tế bào trong gan, số khác có thể làm tổn thương ống dẫn mật.

Mắc viêm gan tự miễn: Đây là tình trạng hệ miễn dịch tấn công nhầm các tế bào gan, gây suy gan cấp tính.

Bệnh Wilson: ngăn chặn cơ thể loại bỏ đồng, dẫn đến tích tụ và gây hại cho gan.

Sốc nhiễm trùng: dẫn đến tổn thương gan hoặc khiến nó không thể hoạt động.

Suy chức năng gan mạn tính

Tình trạng chức năng gan suy giảm mạn tính thường gây tổn thương gan từ từ, có thể vài tháng tới vài năm trước khi xuất hiện các dấu hiệu chức năng gan kém.

Thông thường, hội chứng suy chức năng gan mạn tính là kết quả của bệnh xơ gan do uống rượu trong thời gian dài.

Trong giai đoạn này, gan sẽ bị viêm và theo thời gian sẽ gây ra mô sẹo ở cơ quan này. Khi có quá nhiều mô sẹo thì chức năng gan sẽ bắt đầu suy giảm.

Các nguyên nhân khác gây suy giảm chức năng gan mạn tính gồm:

Viêm gan B khiến gan sưng lên và không thể hoạt động như bình thường

Viêm gan C theo thời gian sẽ dẫn đến xơ gan

Hemochromatosis: tình trạng khiến cơ thể hấp thụ và tích trữ quá nhiều sắt ở gan, dẫn đến xơ gan.

Biểu hiện chức năng gan kém

Các dấu hiệu sớm của chức năng gan kém thường tương tự với các bệnh gan hoặc tình trạng sức khỏe khác. Vì lý do này, bác sĩ thường khó chẩn đoán bệnh sớm.

Một số biểu hiện sớm của bệnh gan yếu cũng như chức năng gan kém có thể kể đến là:

Buồn nôn

Chán ăn

Mệt mỏi

Tiêu chảy

Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng suy giảm chức năng gan sẽ nghiêm trọng hơn và cần được điều trị ngay lập tức. Hãy nhanh chóng đến bệnh viện nếu bạn có các dấu hiệu chức năng gan kém sau:

Vàng da

Dễ chảy máu

Chướng bụng

Lú lẫn

Buồn ngủ

Ung thư gan: Nguyên nhân, dấu hiệu và cách điều trị

Hiện nay, tỷ lệ mắc bệnh ung thư gan đang ngày càng tăng ở Việt Nam. Bệnh có khả năng cao gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Vì vậy, để chủ động hơn trong việc phòng ngừa cũng như điều trị bệnh, bạn sẽ cần hiểu rõ ung thư gan là gì.

Chẩn đoán và điều trị suy giảm chức năng gan

Chẩn đoán hội chứng suy chứng năng gan

Thực tế, có nhiều loại kiểm tra và xét nghiệm giúp bác sĩ chẩn đoán tình trạng chức năng gan kém, chẳng hạn như:

Xét nghiệm máu: giúp bác sĩ xác định mức độ hoạt động của gan. Bạn cũng có thể cần làm xét nghiệm đo thời gian Prothrombin để giúp xác định thời gian đông máu. Với hội chứng suy chức năng gan cấp tính, máu sẽ đông chậm hơn bình thường.

Các xét nghiệm hình ảnh: bác sĩ có thể đề nghị siêu âm để xem bạn có tổn thương gan nào không và xác định nguyên nhân gây ra vấn đề này. Ngoài ra, bạn cũng có thể cần chụp CT, MRI để kiểm tra gan và mạch máu. Các xét nghiệm chức năng

Sinh thiết gan: bác sĩ có thể đề nghị làm sinh thiết gan để tìm hiểu nguyên nhân gây tổn thương gan.

Điều trị hội chứng suy giảm chức năng gan

Một số phương pháp phổ biến giúp phục hồi chức năng gan như:

Thuốc

Đối với suy gan do dùng quá liều paracetamol, bác sĩ có thể chỉ định thuốc acetylcystein để trung hòa lại lượng paracetamol. Một số loại thuốc khác cũng giúp phục hồi chức năng gan do ngộ độc nấm hoặc các chất khác.

Ngoài ra, để bảo vệ và hỗ trợ quá trình chữa lành tái tạo gan, phục hồi chức năng gan khỏe mạnh, bạn có thể sử dụng các thuốc có chứa phospholipids và các vitamin (vitamin nhóm B và vitamin E).

Đã có nhiều nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc kết hợp các chất này sẽ giúp kiểm soát stress, oxi hóa do rượu và tiến trình tổn thương gan, từ đó có thể giúp hỗ trợ điều trị bệnh và phòng ngừa tổn thương gan.

Ghép gan

Nếu tình trạng chức năng gan kém do tổn thương trong thời gian dài, bác sĩ sẽ cố gắng phục hồi chức năng gan ở những mô còn khỏe mạnh. Nếu không được, bác sĩ sẽ tiến hành ghép gan cho bạn để thay thế một gan mới khỏe mạnh hơn.

Nếu không tiến hành phục hồi chức năng gan, bạn sẽ có nguy cơ mắc các biến chứng sau đây:

Phù não: suy gan không chỉ gây tích tụ dịch ở bụng mà còn ở não, dẫn đến huyết áp cao ở những khu vực này.

Các vấn đề về đông máu: suy chức năng gan có thể khiến máu không đông nhanh được và làm bạn có nguy cơ bị chảy máu quá nhiều.

Nhiễm trùng, như viêm phổi và nhiễm trùng đường tiểu.

Suy thận

Tham vấn y khoa: Bác sĩ Nguyễn Thường Hanh

Chủ để: biểu hiện chức năng gan kém, xơ gan có chữa được không, thực phẩm chức năng giải độc gan, thuốc phục hồi chức năng gan, chức năng gan, suy gan cấp

Chẩn Đoán Và Điều Trị Suy Tuyến Cận Giáp / 2023

Đại cương:

– Suy cận giáp là sự thiếu hụt hormon tuyến cận giáp (PTH) nguyên nhân do tổn thương tuyến cận giáp (thường do phẫu thuật), hoặc do dị tật bẩm sinh tuyến cận giáp.

– Chức năng chủ yếu của tuyến cận giáp là cân bằng nồng độ calci máu, vì vậy suy cận giáp gây hạ calci máu biểu hiện các triệu chứng thần kinh cơ từ liệt nhẹ đến cơn tetanie. Triệu chứng lâm sàng của suy cận giáp được cải thiện khi điều trị thay thế đúng. Tuy nhiên một vài biến chứng như đục thủy tinh thể và sự vôi hóa hạch là không thể thay đổi được.

Triệu chứng lâm sàng:

Suy cận giáp thường biểu hiện hạ calci máu và tăng phospho máu làm ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương cũng như các hệ thống khác trong cơ thể. Thể nhẹ thoáng qua chỉ biểu hiện bằng dị cảm ở các ngón tay và quanh miệng.

* Cơn tetanie:

Được định nghĩa bởi tình trạng tăng kích thích thần kinh cơ. Nó khởi đầu bằng cảm giác kiến bò ở đầu chi và ở xung quanh miệng, sau đó là co rút hoặc co cứng cơ toàn thân hoặc khu trú.

Biểu hiện như bàn tay người đở đẻ do co rút cơ gian đốt bàn tay.

Hình ảnh mồm cá chép

Hình ảnh bàn chân duỗi mạnh.

Thời gian kéo dài cơn thường biến đổi có thể 1 vài phút hoặc hơn.

Cơn tetanie thể nhẹ với biểu hiện dị cảm trên mặt. Nặng có thể biểu hiện cơn co thắt thanh quản hay gặp ở trẻ em hoặc cơn co thắt dạ dày (triệu chứng giả loét dạ dày)

* Những biểu hiện mạn tính:

Tăng kích thích thần kinh cơ:

Dấu hiệu Chvostek: gõ vào dưới gò má 2cm có dấu hiệu giật môi trên.

Dấu hiệu Trousseau: đo huyết áp đến số tối đa, sau đó bóp trên số tối đa giữ khoảng 3 phút ® xuất hiện dấu hiệu bàn tay người đở đẻ.

– Rối loạn thần kinh: Dấu hiệu ngoại tháp, đôi khi có biểu hiện hội chứng Parkinson, múa vờn, động kinh toàn thể hoặc khu trú.

– Rối loạn tâm thần: tình trạng trầm cảm, sầu muộn, lo lắng, bồn chồn

– Các biểu hiện khác: Bong da, rụng tóc, móng có đốm trắng, răng có khía, giảm sản men, mắt đục thủy tinh thể. Nếu hạ calci nặng có thể suy tim.

Triệu chứng cận lâm sàng:

Ca 2+ chính xác = [4 – Albumin (g/dL)] x 0,2 + Ca 2++ (mmol/l)

Calci ion hoá giảm <1,1mmol/l

PTH giảm < 10pg/ml

Xét nghiệm nước tiểu: Calci niệu thấp < 2,5 mmol/24h

Điện tâm đồ: QT và ST kéo dài

Điện não đồ: 50% trường hợp thấy xuất hiện sóng tê ta, sóng delta hoặc các hình ảnh nghịch đảo.

X quang sọ: có thể thấy các điểm calci hóa ở nền sọ

Có thể gặp giảm Calci do những nguyên nhân khác.

Suy thận mãn

Hội chứng giảm hấp thu: giảm hấp thu Calci, magné, vitamin D ở ruột

Dùng thuốc chống co giật (bacbiturique, phenyltoine), rifampicine làm giảm tổng hợp enzym giúp chuyển hoá vitamin D thành Calciferol ở gan.

Nguyên nhân hiếm gặp khác: Viêm tuỵ cấp nặng, ung thư tuyến giáp

Cần phải phân biệt suy cận giáp thực sự hay giả suy cận giáp. Suy cận giáp thực sự: thể hiện hội chứng sinh hoá đầy đủ

– Sau phẫu thuật cắt tuyến giáp cùng cận giáp

– Suy cận giáp tự phát thường không có nguyên nhân

– SCG bẩm sinh (syndrome de Di George): không phát triển túi thứ 3 của thanh quản với thiểu sản tuyến ức và không có tuyến cận giáp.

– SCG bởi kháng thể kháng tuyến cận giáp đôi khi phối hợp với bệnh Addison và biểu hiện nấm da còn gọi là hội chứng Whitaker.

Trong tất cả những nguyên nhân này PTH thường thấp và nghiệm pháp tiêm PTH ngoại sinh sẽ thay đổi sự bất thường photpho – calci.

– Trên lâm sàng có sự bất thường về hình thái: kích thước nhỏ bé, mặt tròn, bàn tay ngắn, đần độn, có những nốt calci hoá dưới da.

Điều trị cấp cứu

– Chỉ định điều trị cấp cứu (cơn tetani, co thắt thanh quản, hoặc cơn động kinh):

Đảm bảo thông thoáng đường hô hấp

Tiêm tĩnh mạch Gluconat Calci hoặc Calciclorua, 10 – 20ml Gluconat calci 10% (1 – 2 ống) tiêm tĩnh mạch chậm trong vòng 10 phút. Hoặc Calciclorua cũng dùng tương tự.

– Chỉ định điều trị cấp: truyền Calci tĩnh mạch với liều 1mg/kg/h. Mỗi ống Gluconat Calci 10ml chứa 90mg cho mỗi 2,25mmol nguyên tố Calci. Như vậy, nếu pha 6 ống Gluconat Calci vào 500ml Glucosse 5% truyền với tốc độ 0,92ml/kg/h sẽ cung cấp nguyên tố Calci 1mg/kg/h.

– Vitamin D liều cao: Ergocalciferol (Sterogyl) 50.000 – 200.000UI/ngày tiêm bắp tối đa trong 2 – 3 ngày. Hoặc Cholecalciferol (Vitamin D 3) liều tương tự

– Magné spasmyl 6 – 8 viên/ngày, nếu có giảm Magné phối hợp

– Theo dõi: Xét nghiêm Calci máu mỗi 4 – 6h trong khi truyền tĩnh mạch điều chỉnh duy trì Calci máu khoảng 8 – 9mg/dL.

Điều trị lâu dài

Mục tiêu duy trì Calci máu ở mức bình thường thấp (2,0 – 2,1mmol/l)

– Calci uống dưới dạng Chlorua calci hoặc gluconate calci hoặc Calcium carbonate liều trung bình 1g (2 viên 500mg).

– Bổ sung Vitamin D: Ergocalciferol (Vitamin D 2) dạng dầu uống hoặc tiêm bắp có thời gian bán hủy kéo dài. Liều lượng uống thay đổi tùy tình trạng Suy cận giáp của từng BN từ 50000 – 100000UI/ngày (1,25 – 2,5mg/ngày). Định lượng 25(OH) Vitamin D và nồng độ Calci trong huyết thanh để đánh giá điều trị. Calcitriol có thời gian bán hủy ngắn hơn (8h) có thể dùng đồng thời với liều 0,25 – 2 mg/ngày.

– Bổ sung Magie: nếu nghi ngờ có giảm Magie huyết kèm theo, đục thủy tinh thể, rối loạn tiêu hóa.

Theo dõi lâm sàng và sinh hóa

– Định lượng Calci máu, phospho máu nhất là Calci niệu/24h, ure, creatinin máu đề phòng quá liều gây sỏi thận hoặc vôi hoá thận.

– Theo dõi triệu chứng ngộ độc vitamin D: chán ăn, nôn, mệt, uống nhiều đái nhiều, tăng Calci máu.

Thanh Bình

Bạn đang đọc nội dung bài viết Suy Thận Cấp Được Chẩn Đoán Và Điều Trị Thế Nào? / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!