Đề Xuất 11/2022 # Sở Khoa Học Công Nghệ / 2023 # Top 15 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Sở Khoa Học Công Nghệ / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sở Khoa Học Công Nghệ / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nổi bật là Huyện ủy đã xây dựng và ban hành Nghị quyết số 04 về “Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với xây dựng mô hình phát triển bền vững, giai đoạn 2017-2020”. Trên cơ sở các giải pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển nông nghiệp, nghị quyết đã tạo điều kiện thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giúp giá trị sản xuất đạt 17.137 tỉ đồng, tăng bình quân 0,59%/năm.

Bước tiến trong sản xuất nông nghiệp

Dấu ấn đáng ghi nhận trong quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết số 04 của xã Phương Bình là tập trung chỉ đạo và vận động người dân đẩy mạnh phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với ứng dụng khoa học – kỹ thuật. Nhờ vậy, Phương Bình đã xây dựng được nhiều mô hình canh tác có hiệu quả, cho thu nhập khá cao như: mô hình trồng cây có múi, rau màu, khóm MD2… góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân địa phương.

Sau thời gian ngắn chuyển đổi cơ cấu cây trồng thì vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, ở ấp Phương Thạnh, chủ yếu chuyên canh mía ngày nào thì nay được ví như vùng khóm nguyên liệu mới của tỉnh. Điểm khác biệt ở vùng nguyên liệu này là ở giống khóm Mỹ (MD2) và tất cả diện tích đều được doanh nghiệp đến liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm nên đầu ra cũng như giá bán ổn định, tạo nguồn thu nhập cao cho bà con.

Đó là nhờ khóm MD2 thích hợp với đất đai, thổ nhưỡng của vùng trũng có độ phèn nhẹ nơi đây. Vì vậy, sau thời gian thất thu từ cây mía, nhiều thành viên trong Tổ hợp tác nông nghiệp công nghệ cao ở ấp Phương Thạnh, đã và đang “ăn nên làm ra” bằng cây khóm MD2. “Quả thật, sau khi chuyển đổi đất mía sang trồng loại khóm này thì cuộc sống của nhiều hộ dân trong xóm ngày càng sung túc hơn, ông Nguyễn Văn Sỹ, Tổ trưởng Tổ hợp tác chia sẻ.

Bởi theo ước tính của ông Sỹ, với giá được công ty ký hợp đồng bao tiêu 5.700 đồng/kg thì trừ hết các khoản chi phí, người dân cũng còn lãi khoảng 20 triệu đồng/1.000m2. Trong khi trước đây, mỗi công đất trồng mía ở xứ này chỉ cho thu nhập từ 2-3 triệu đồng là cùng. “Từ hiệu quả khá hấp dẫn nên nhiều hộ dân địa phương đã mạnh dạn chuyển sang trồng loại khóm này. Giờ diện tích đã lên đến hàng chục héc-ta, tăng gấp nhiều lần so năm 2018”, ông Sỹ cho biết.

Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trần Văn Tuấn thông tin những năm gần đây, tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn ngày càng mang lại giá trị kinh tế cao, do nông dân tiếp cận và đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng các loại cây trồng, vật nuôi. Nhờ đó góp phần gia tăng thu nhập bình quân đầu người từ 24,31 triệu đồng vào đầu nhiệm kỳ lên 35,2 triệu đồng/người/năm như hiện nay.

Kết quả tích cực đó cũng nhờ các địa phương trong huyện triển khai có hiệu quả các đề án sản xuất, nhất là đẩy mạnh chuyển đổi cây trồng, vật nuôi theo tinh thần Nghị quyết số 04 của Huyện ủy. Trong quá trình thực hiện, còn lồng ghép tuyên truyền, vận động thành lập mới 39 tổ hợp tác, hợp tác xã; nâng tổng số tổ hợp tác, hợp tác xã trên toàn huyện lên 220. Mặt khác, xây dựng và triển khai có hiệu quả các mô hình sản xuất đột phá để làm điểm nhân rộng.

“Phần lớn các mô hình chuyển đổi thời gian qua được thực hiện theo địa chỉ, nghĩa là đều có liên kết với doanh nghiệp để bao tiêu sản phẩm, giúp nông dân hạn chế rủi ro khi thu hoạch. Đến nay, huyện đã kêu gọi được 20 công ty, doanh nghiệp tham gia bao tiêu các mặt hàng nông sản trên địa bàn thông qua tổ hợp tác, hợp tác xã. Ngành cũng luôn khuyến cáo người dân sản xuất theo hướng an toàn thực phẩm, đảm bảo nhu cầu thị trường tiêu thụ”, ông Tuấn nói.

Phát triển nông nghiệp gắn với du lịch

Trong giai đoạn 2015-2020, Huyện ủy cũng luôn quan tâm lãnh, chỉ đạo các ngành chuyên môn tập trung quy hoạch phân vùng sản xuất trên từng loại cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng. Cụ thể là quy hoạch vùng mía nguyên liệu, vùng sản xuất lúa, cây ăn trái; vùng nuôi cá tra thâm canh, vùng chăn nuôi tập trung và cơ sở giết mổ tập trung đạt tiêu chuẩn. Cùng với đó là tiến hành đăng ký với tỉnh những sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Trên địa bàn huyện đã hình thành vài điểm, tuyến du lịch gắn với hoạt động sản xuất nông sản khá lý tưởng

Với mong muốn tiếp tục tạo đòn bẩy, bước đột phá mới trong phát triển kinh tế cho địa phương, trong giai đoạn 2020-2025, Đảng bộ huyện sẽ tập trung sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững thông qua việc đẩy nhanh quá trình chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Mặt khác, khuyến khích áp dụng kỹ thuật canh tác, quy trình trồng trọt, chăn nuôi công nghệ cao, sử dụng giống mới, nâng cao chất lượng hàng hóa nông sản gắn với du lịch.

Theo ghi nhận của ngành chuyên môn, hoạt động du lịch của huyện tuy mới phát triển nhưng có nhiều tiềm năng, hàng năm có hơn 24.000 lượt khách đến tham quan, vui chơi ở các điểm: Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, Khu di tích lịch sử căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, Tượng đài Tiểu đoàn Tây Đô, cây Di sản Việt Nam (lộc vừng), Khu di tích chiến thắng Chày Đạp. Tổng doanh thu hơn 4,7 tỉ đồng, tăng gấp ba lần so nhiệm kỳ trước.

Ông Phạm Văn Thế, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện, cho biết trên địa bàn đã hình thành vài điểm, tuyến du lịch cộng đồng gắn với hoạt động sản xuất nông sản khá lý tưởng. Chẳng hạn điểm du lịch ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng; tuyến du lịch cây lộc vừng kết hợp tham quan làng nghề sản xuất, chế biến cá thát lát theo chuỗi giá trị… Khi đến đây, ngoài thưởng ngoạn, du khách còn mua được nông sản an toàn, chất lượng.

Bí thư Huyện ủy Nguyễn Văn Bảy cho rằng Phụng Hiệp là huyện thuần nông, phần lớn dân số sinh sống ở nông thôn và làm kinh tế nông nghiệp. Vì vậy, Đảng bộ huyện vẫn tiếp tục xác định lĩnh vực nông nghiệp là nền tảng, động lực phát triển kinh tế của nhiệm kỳ 2020-2025. Trong đó, lấy việc tập trung triển khai, thực hiện hiệu quả Đề án “Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với du lịch”, nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp làm nhiệm vụ đột phá.

“Muốn phát triển nông nghiệp bền vững gắn với du lịch, thu hút du khách đến với địa bàn thì trước hết phải có nền nông nghiệp sạch, được sản xuất theo hướng an toàn thực phẩm, hữu cơ. Đồng thời, phải dựa vào sản phẩm chủ lực nông nghiệp để phát triển du lịch trên cơ sở phát triển làng nghề truyền thống với Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) nhằm khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của địa phương”, ông Nguyễn Văn Bảy nhấn mạnh.

Bên cạnh việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ở nông thôn, tăng cường liên kết trong sản xuất – tiêu thụ nông sản, ông Bảy cho hay huyện sẽ phối hợp với các viện, trường và nhà khoa học nghiên cứu, chuyển giao các loại giống cây trồng, vật nuôi; hỗ trợ nông dân ứng dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp; xây dựng dự án phát triển du lịch gắn với cộng đồng, kết hợp với các di tích lịch sử – văn hóa…

Bước đầu, các ngành chức năng huyện phối hợp với địa phương khảo sát những điểm có tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng, xây dựng mô hình mẫu trước khi đưa vào khai thác hợp lý. Những bước đi cần thiết này tiếp tục tạo tiền đề vững chắc để kinh tế nông nghiệp của huyện đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao giá trị hàng hóa nông sản, cải thiện thu nhập cho người dân nông thôn.

Theo ngành nông nghiệp huyện, hiện toàn huyện có 889 tổ chức, hộ gia đình xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả, trừ chi phí cho thu nhập hơn 50 triệu đồng/ha/năm. Trong đó, nhiều mô hình tiêu biểu thu nhập hơn 100 triệu đồng/ha/năm, như mô hình trồng mãng cầu, sầu riêng, nhãn Idor, dưa lưới; nuôi baba, cua đinh…

Huyện cũng đã đăng ký với tỉnh những sản phẩm đặc trưng của địa phương (OCOP) như: Rượu Lão Tửu ở xã Tân Bình, cá thát lát ở xã Thạnh Hòa, trà mãng cầu xiêm ở xã Phụng Hiệp. Dự kiến thời gian tới sẽ đăng ký thêm những sản phẩm khác gồm: sầu riêng ở xã Tân Bình, khóm MD2 ở xã Phương Bình, bưởi da xanh ở xã Phụng Hiệp, dưa lưới ở xã Bình Thành.

Ưu tiên các dự án đầu tư phát triển công nghiệp chế biến

Ông Nguyễn Văn Bảy, Bí thư Huyện ủy: Tới đây, Phụng Hiệp sẽ tích cực phối hợp với các sở, ngành tỉnh kêu gọi, thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phân tán trên tuyến Quốc lộ 1, Quốc lộ 61 và Quản lộ Phụng Hiệp – Cà Mau, ưu tiên các dự án đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ, có hàm lượng công nghệ cao; hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống, sử dụng nguyên vật liệu, lao động tại chỗ nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ liên kết trong sản xuất, tiêu thụ hàng nông sản và chuyển dịch cơ cấu lao động.

Bài, ảnh: NGUYỄN NGUYỄN

​​​​​​​

Tập San Khoa Học Công Nghệ / 2023

Số 02/2016: Phát triển thị trường khoa học và công nghệ: Thực trạng và giải pháp

Phòng Quản lý Công nghệ và Thị trường Công nghệ

Khoa học và công nghệ (KHCN) muốn phát triển cần rất nhiều yếu tố, trong đó thị trường KHCN đóng một vị trí quan trọng. Trong những năm gần đây, thị trường KHCN ở nước ta tuy đã có những bước tiến đáng kể nhưng chưa thực sự sôi động và hiệu quả.

Thị trường khoa học & công nghệ (TTKH&CN) được hiểu là tổng hòa các mối quan hệ mua bán, trao đổi, môi giới, giám định, khiếu kiện giữa các bên giao dịch. Hay nói cách khác TTKH&CN là phương thức thương mại hóa các thành quả KH&CN, thúc đẩy gắn kết KH&CN với sản xuất.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cùng Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân tại Techmart Vietnam 2015

Techmart 2015 đã thu hút gần 700 gian hàng, trong đó có trên 500 doanh nghiệp; 110 viện nghiên cứu; 22 trường đại học; 32 sở KH&CN; 30 tổ chức hỗ trợ phát triển khoa học và chuyển giao công nghệ; 50 nhà sáng chế không chuyên…

Do tính đặc thù từ việc đầu tư nghiên cứu phải chấp nhận nhiều rủi ro, đến việc chuyển giao công nghệ lại đòi hỏi phải có đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp và mức độ am hiểu về hàng hóa công nghệ phải rất cao… nên thị trường khoa học công nghệ có tính “đặc thù” và đặc biệt hơn so với các thị trường khác. Để thị trường khoa học công nghệ phát triển ngoài vai trò tiên phong của các nhà khoa học và các doanh nghiệp, theo ông Phạm Hồng Quất, Cục trưởng Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Nhà nước giữ vai trò rất quan trọng…

Thị trường khoa học và công nghệ (KH&CN) Việt Nam đang có những bước tiến đáng kể trong các năm gần đây. Theo số liệu thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2011, số lượng giao dịch công nghệ là 3.038, năm 2012 tăng lên 4.106, năm 2013 là 4.568. Giá trị giao dịch năm 2011 đạt 1.586 tỷ đồng, năm 2012 là 2.418 tỷ đồng

Cùng với việc hình thành sàn giao dịch công nghệ, các văn phòng sở hữu trí tuệ đã bắt đầu được thành lập ở một số Viện nghiên cứu lớn như: Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Viện Công nghệ thực phẩm Hà Nội. Các văn phòng, trung tâm dịch vụ chuyển giao công nghệ được thành lập tại một số trường đại học, có hoạt động nghiên cứu mạnh gồm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội,…

Techmart Dong Nai 2015 thu hút trên 275 gian hàng của gần 200 đơn vị, trong đó có 125 gian hàng của các tổ chức KH&CN và doanh nghiệp đến từ 07 Sở KH&CN vùng Đông Nam bộ và 150 gian hàng thương mại.

Về cơ sở hạ tầng, ngành đã hình thành tương đối đầy đủ bộ máy quản lý, đơn vị sự nghiệp, tổ chức dịch vụ để hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ trong nước. Trong đó, đã có hệ thống tổ chức hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ giúp các doanh nghiệp tìm kiếm sáng chế và công nghệ phù hợp với nhu cầu đổi mới quy trình sản xuất, phát triển sản phẩm mới và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh; các Viện, trung tâm hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thành lập, vận hành các tổ chức trung gian của thị trường công nghệ, hỗ trợ các bên tham gia giao dịch công nghệ trong các lĩnh vực như: Tư vấn chuyển giao công nghệ, thương mại hóa công nghệ, thông tin công nghệ, sở hữu trí tuệ,… Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu, đào tạo được chú trọng với nhiều khóa đào tạo về sở hữu hữu trí tuệ cho đội ngũ cán bộ thực thi của các bộ, ngành, địa phương.

Hình 3: Các đại biểu tham dự lễ khai mạc sự kiện “Khoa học và công nghệ các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam chào mừng 40 năm giải phóng miền Nam -2015” vào ngày 24/4/2015

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, trong những năm qua, thị trường KHCN nước ta đã có nhiều khởi sắc và hứa hẹn tiềm năng to lớn. Nhà nước đã tập trung đầu tư nhiều dự án, chương trình nhằm thúc đẩy nguồn cung sản phẩm KHCN do các viện nghiên cứu, trường đại học hoặc doanh nghiệp tạo ra. Đặc biệt, việc chuyển đổi các tổ chức KHCN công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghị định 115 – năm 2005) hoặc doanh nghiệp KH – CN (Nghị định 80 – năm 2007) đã tạo cơ sở cho các tổ chức KHCN thay đổi cách thức hoạt động, chú trọng tới thị trường và khách hàng nhiều hơn…

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã thực hiện các chính sách hỗ trợ bên có nhu cầu sử dụng sản phẩm KHCN; ban hành các chính sách tín dụng ưu đãi thông qua việc thành lập các loại quỹ: Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia, Quỹ Phát triển KHCN của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh thành phố trực thuộc TW … Các cơ chế, chính sách khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, đổi mới đã có những tác động tích cực giúp các doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh để phát triển. công nghệ

Để tạo bước đột phá về thị trường KHCN, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2075/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Phát triển thị trường KHCN đến năm 2020.

Theo Quyết định, có 03 mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là: Thứ nhất là, tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm, dịch vụ KHCN trên thị trường hằng năm bình quân không dưới 15%, không dưới 20% đối với một số công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển; thứ hai là, tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ (giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật) trong tổng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm, dịch vụ trên thị trường KHCN đạt không dưới 10% vào năm 2015 và không dưới 20% vào năm 2020; và thứ ba là, đến năm 2020, sẽ thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ KHCN hỗ trợ, trọng tâm là TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, TP Đà Nẵng.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chương trình là thúc đẩy hoạt động dịch vụ thị trường KHCN. Trong đó, sẽ đổi mới quy trình, thủ tục đăng ký thành lập và hoạt động của tổ chức dịch vụ KHCN; thực hiện cơ chế khuyến khích hoạt động dịch vụ KHCN; rút ngắn khoảng cách phát triển của thị trường KHCN so với các loại thị trường khác. Bên cạnh đó, đầu tư xây dựng các sàn giao dịch công nghệ quốc gia với mạng lưới tổ chức dịch vụ KHCN đồng bộ đi kèm; mở rộng quy mô, tần suất, địa bàn hoạt động của các chợ công nghệ và thiết bị; đa dạng hóa các hình thức hoạt động và nâng cao tỷ lệ giao dịch thành công tại các chợ công nghệ và thiết bị; hỗ trợ thành lập các công ty đánh giá, định giá công nghệ, xuất nhập khẩu công nghệ, tổ chức chuyển giao công nghệ trong các trường đại học và viện nghiên cứu; khuyến khích, hỗ trợ phát triển tổ chức thuộc khu vực tư nhân thực hiện dịch vụ kỹ thuật, môi giới, tư vấn đánh giá, định giá, giám định công nghệ; đào tạo, xây dựng đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp về dịch vụ công nghệ và thị trường KHCN…

Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường khoa học công nghệ có thể tính đến như sau:

Tạo ra môi trường và phương thức hoạt động thích hợp cho các đối tượng hỗ trợ việc giao dịch công nghệ trên thị trường, gồm các chủ thể: Sàn giao dịch công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ; các trung tâm ứng dụng chuyển giao công nghệ tại các địa phương; các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ phục vụ giao dịch công nghệ như dịch vụ định giá, đánh giá công nghệ, dịch vụ tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ.

Và giải pháp cuối cùng là chú trọng phát triển thị trường khoa học công nghệ, thực hiện cơ chế thị trường và có các chính sách hỗ trợ để khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ cơ chế quản lý tài chính, tổ chức và hoạt động KH&CN, tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ.

Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, kết nối với ba vùng Đông Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên, gần Thành phố Hồ Chí Minh, nên có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế – xã hội.

Techmart Dong Nai 2015 thu hút trên 275 gian hàng của gần 200 đơn vị, trong đó có 125 gian hàng của các tổ chức KH&CN và doanh nghiệp đến từ 07 Sở KH&CN vùng Đông Nam bộ và 150 gian hàng thương mại.

Trong những năm qua sản xuất công nghiệp của Đồng Nai đã có những bước chuyển mạnh về chất với sự hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực như: Công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, công nghiệp cơ khí và luyện kim, công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng, công nghiệp điện tử và viễn thông, … công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn và ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất từng bước được đẩy mạnh.

Để thúc đẩy sự phát triển thị trường KHCN trong thời gian tới. Sở KH&CN Đồng Nai sẽ tham mưu UBND tỉnh tiến hành triển khai các giải pháp trên địa bàn và tạo mối liên kết sâu rộng đến các sàn giao dịch, trung tâm giao dịch công nghệ; các trung tâm ứng dụng chuyển giao công nghệ tại các địa phương… và là cầu nối cung cầu công nghệ giữa các bên. Đề xuất các chính sách hỗ trợ để khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư trong tỉnh nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh.

Trên cơ sở những tiềm năng, thế mạnh sẵn có, Đồng Nai sẽ nỗ lực phấn đấu xây dựng và phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội, đưa Đồng Nai trở thành một trong những tỉnh quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam góp phần thúc đẩy cho sự phát triển KH&CN của đất nước.

Trong số này

Tìm kiếm

Khoa Học Và Nghệ Thuật / 2023

Bài báo cáo

Chuyn d?: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌCĐề tàiKhoa học và nghệ thuật TÀI LIỆU THAM KHẢOTrịnh Văn Biều (2005), Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, Đại học Sư phạm TpHCM.Denis Huisman (1999), Mỹ học, Nhà xuất bản thế giới Hà Nội.Vũ Cao Đàm (1996), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Hà Nội. Đỗ Huy (2001), Mỹ học khoa học về các quan hệ thẫm mỹ, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội.Đỗ Văn Khang, Mỹ học đại cương, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội.Nguyễn Văn Lê (2001), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản trẻ.M.F.Ốp-Xi-An-Nhi-Cốp (2001), Mỹ học cơ bản và nâng cao, Nhà xuất bản văn hoá thông tin Hà Nội.Phương Kỳ Sơn (2001), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội.Phạm Viết Vượng (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội. Internet: Nguyễn Đình Đăng, Nghệ thuật là gì?, tại trang web http://vietsciences.free.frNguyễn Hoàng Đức, Khoa học và nghệ thuật trong sáng tạo, tại trang web http://www.chungta.comHồng Ngọc, Hóa học phục vụ nghệ thuật, tại trang webhttp://www.vinachem.com.vnNguyễn Bỉnh Quân, Vật lý và nghệ thuật, tại trang web http://www.chungta.comMở đầu Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương 2: KHOA HỌC VÀ NGHỆ THUẬTTóm tắtKết luậnDÀN BÀI Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN1.1. KHOA HỌC1.2. NGHỆ THUẬT1.1.1. Khái niệm khoa học 1.1.2. Phân loại khoa học 1.1.3. Ý nghĩa của khoa học 1.1.4. Quá trình phát triển của khoa học 1.1.5. Quy luật phát triển của khoa học 1.1.6. Động lực phát triển của khoa học 1.1.7. Đặc tính và phương pháp của khoa học 1.2.1. Khái niệm nghệ thuật 1.2.2. Đặc trưng của nghệ thuật 1.2.3. Bản chất xã hội của nghệ thuật 1.2.4. Các loại hình nghệ thuật Chương 2: KHOA HỌC VÀ NGHỆ THUẬT2.1. SO SÁNH KHOA HỌC VÀ NGHỆ THUẬT2.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOA HỌC VÀ NGHỆ THUẬT2.3. NGHỆ THUẬT VỚI MỘT SỐ NGÀNH KHOA HỌC CỤ THỂ 2.1.1. Giống nhau2.1.2. Khác nhau2.2.1. Khoa học và nghệ thuật gắn bó hữu cơ với nhau2.2.2. Khoa học và nghệ thuật làm phong phú lẫn nhau2.3.1. Nghệ thuật và hóa học 2.3.2. Nghệ thuật và vật lý

Trong thời đại ngày nay, khoa học và nghệ thuật chiếm một vị trí quan trọng trong nền văn minh của nhân loại. Khoa học và nghệ thuật là hai trong ba hình thức nhận thức của con người, là sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người.

Khoa học giúp con người mở mang trí tuệ, chinh phục cải tạo thế giới còn nghệ thuật có tác dụng phát triển toàn diện con người và làm cuộc sống con người trở nên vui tươi.

Khoa học và nghệ thuật, giống như đôi cánh, nhấc bổng nhân loại và đưa nhân loại đến những chân trời mới lạ, những nền văn minh tuyệt đỉnh. Do vậy, tìm hiểu về khoa học, về nghệ thuật và về mối quan hệ giữa chúng là một vấn đề hết sức thú vị và cần thiết. MỞ ĐẦU[7, tr.525]

Theo Từ điển Tiếng việt : “Khoa học là hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những qui luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như về hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực”.

Theo Lalande: “Khoa học là một hệ thống tri thức gồm những qui luật về tự nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong quá trình nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết. Nhiệm vụ của khoa học là miêu tả hiện tượng một cách chính xác và phát hiện những qui luật khách quan của hiện tượng ngẫu nhiên để giải thích và dự kiến chúng. Khoa học giúp con người ngày càng có khả năng chinh phục tự nhiên và xã hội”.

Theo Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, quyển XIX, tr.241, bản tiếng Nga: “Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về những qui luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. 1.1.1. Khái niệm khoa học [1, tr.9-10]

Phân loại theo nguồn gốc hình thành khoa học: khoa học lý thuyết, khoa học thuần tuý, khoa học thực nghiệm, khoa học thực chứng, khoa học quy nạp, khoa học diễn dịch. Phân loại theo mục đích ứng dụng của khoa học: khoa học mô tả, khoa học phân tích, khoa học tổng hợp, khoa học ứng dụng, khoa học hành động , khoa học sáng tạo. Phân loại theo mức độ khái quát hoá của khoa học : khoa học cụ thể, khoa học trừu tượng , khoa học đặc thù. Phân loại theo tính tương liên giữa các khoa học : khoa học liên bộ môn, khoa học đa bộ môn. Phân loại theo kết quả hoạt động chủ quan của con người : khoa học kí ức, khoa học tư duy , khoa học suy luận, khoa học tưởng tượng. Phân loại theo cơ cấu của hệ thống tri thức hoặc chương trình đào tạo: khoa học cơ bản, khoa học cơ sở, khoa học chuyên môn.Phân loại theo đối tượng nghiên cứu của khoa học: khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ, khoa học xã hội, khoa học nhân văn, khoa học nông nghiệp, khoa học sức khoẻ. 1.1.2. Phân loại khoa học Tuỳ mục đích sử dụng mà người ta những cách tiếp cận phân loại khác nhau: [3, tr.15-16]

Con người hiểu được tự nhiên, nắm được các qui luật biến đổi, chuyển hóa của vật chất, chinh phục tự nhiên theo qui luật của nó. Con người nắm được các qui luật vận động của chính xã hội mình đang sống và vận dụng chúng để thúc đẩy xã hội ấy phát triển nhanh chóng hơn. Con người ngày càng có ý thức, càng thận trọng hơn trong việc nhận thức khoa học: không vội vã, không ngộ nhận, không chủ quan, tiến vững chắc đến chân lí của tự nhiên. Khoa học chân chính chống lại những quan điểm sai trái (mê tín dị đoan, phân biệt chủng tộc…). Khoa học làm giảm nhẹ lao động của con người, cải thiện chất lượng cuộc sống. 1.1.3. Ý nghĩa của khoa học Khoa học là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, làm cho con người ngày càng văn minh hơn, nhân ái hơn, sống tốt hơn và vững tin hơn vào chính bản thân mình trong cuộc sống. Cụ thể : [10] 1.1.5. Quy luật phát triển của khoa học

Quy luật phát triển có gia tốc của tất cả các lĩnh vực khoa học Quy luật phát triển phân hoá của khoa học Quy luật tích hợp của các lĩnh vực khoa học Quy luật ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học 1.1.4. Quá trình phát triển của khoa học

Các dấu hiệu về hình thức của sự phát triển: Từ không biết đến biết, từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều ….

Các dấu hiệu về bản chất của sự phát triển: Sự đấu tranh (con người với thiên nhiên, con người với con người), Sự riêng biệt và thống nhất (sự phân chia và sự nối liền các ngành khoa học) , Sự tăng tốc.

Nguyên nhân của sự phát triển: Nhu cầu của con người (ghi chép, truyền đạt, lao động); nhu cầu của chính khoa học; phát hiện sự kiện ; sự xuất hiện của ngôn ngữ. [6, tr.16-17] [9, tr.21-25] Thực tiễn là nguồn gốc và là chân lí của khoa học. Thực tiễn đó gồm :

Thực tiễn con người và tự nhiên: Lao động sản xuất để phát triển cuộc sống. Tìm hiểu tự nhiên để cùng sống với tự nhiên.

Thực tiễn xã hội và sự phát triển của lịch sử: Các quan hệ trong xã hội.Phương thức sản xuất thay đổi.

Thực tiễn quan hệ giữa con người và con người: gồm giáo dục, tâm lí, y tế, chiến tranh.

Thực tiễn sự phát triển của khoa học: Sự kích thích của khoa học đối với các nhà khoa học. (đôi khi khoa học đi trước nhu cầu của thực tiễn). Sự kế thừa của các nhà khoa học. Sự đấu tranh giữa các quan điểm. 1.1.6. Động lực phát triển của khoa học [6, tr.14-16] Khoa học có 3 đặc tính căn bản:

Số lượng (số đếm), ngày nay người ta còn gọi là “kỹ thuật số”.Thí nghiệm, thực nghiệm. Kỹ thuật. ( là đặc tính then chốt nhất của khoa học )

Phương pháp của khoa học thường theo tiến trình bốn giai đoạn sau:

Quan sát và trình bày biến cố hoặc một chuỗi những biến cố. Thành lập giả thuyết để giải thích biến cố. Dùng giả thuyết để tiên đoán biến cố sẽ xảy ra. Thực hiện các thí nghiệm độc lập để xem những tiên đoán có đúng hay không. 1.1.7. Đặc tính và phương pháp của khoa học Tiến trình bốn giai đoạn trên dĩ nhiên không nhất thiết phải theo tuần tự như vậy. Điều quan trọng nhất là giả thuyết phải được thực chứng trong thực tế.[10] 1.2.1. Khái niệm nghệ thuật Nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng-thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức. Theo ý nghĩa này thường là các loại hình nghệ thuật khác nhau.

Nghệ thuật là cái hay cái đẹp để người ta chiêm nghiệm qua các giác quan từ đó ngưỡng mộ bởi trình độ, tài năng, kĩ năng, kĩ xảo cao vượt lên trên mức thông thường phổ biến. Theo nghĩa này thường là một tác phẩm nghệ thuật hoặc một nghệ sỹ cụ thể nào đó.

Được gọi là nghệ thuật là khi một nghề nghiệp nào đó được thực hiện ở mức hoàn hảo với trình độ điêu luyện, thậm chí siêu việt. Chẳng hạn nghệ thuật viết báo, nghệ thuật diễn thuyết, nghệ thuật nấu ăn,… Theo nghĩa này thường là một tài khéo đặc biệt nào đó. Khái niệm nghệ thuật có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:[10] 1.2.2. Đặc trưng nghệ thuật

Hình tượng nghệ thuật là phương thức đặc thù của nghệ thuật để mô tả hiện thực và thể hiện tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ. Đó là sự thống nhất phản ánh, sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật .

Trong hình tượng nghệ thuật dựa trên nguyên tắc hay hai phẩm chất quan trọng: tính trừu tượng và tính cụ thể cảm tính. Nó được thể hiện ở ba cấp độ: trình độ tư tưởng, tâm lý và vật chất (đó là ngôn ngữ, âm thanh và màu sắc).

Trong hình tượng nghệ thuật, có sự thống nhất giữa : Hình tượng nghệ thuật Nội dung và hình thức của nghệ thuật

yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan . cái chung và cái riêng lý trí và tình cảm [4, tr.326-327] Giữa nội dung và hình thức nghệ thuật có sự thống nhất biện chứng: Nội dung là nội dung của hình thức, hình thức là sự biểu hiện của một nội dung nhất định. Nội dung nghệ thuật đóng vai trò chủ đạo, quyết định đối với hình thức nghệ thuật. Khi nội dung thay đổi thì hình thức cũng thay đổi theo. Hình thức có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nội dung. 1.2.2. Đặc trưng nghệ thuật Hình tương nghệ thuật Nội dung và hình thức của nghệ thuật [4, tr.332-340] 1.2.3. Bản chất xã hội của nghệ thuật

Nghệ thuật là một hiện tượng xã hội . Nghệ thuật có tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân và tính thời đại.

Chức năng xã hội cơ bản của nghệ thuật Chức năng thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ Chức năng nhận thức – phản ánhChức năng giáo dục

Nghệ thuật với các hình thái ý thức xã hội khác Là một bộ phận của ý thức xã hội, nghệ thuật không thể phát triển một cách cô lập khỏi các lĩnh vực hoạt động tinh thần khác của con người. Nghệ thuật có mối quan hệ mật thiết với triết học, khoa học, chính trị, đạo đức, tôn giáo. [4, tr.357] 1.2.4. Các loại hình nghệ thuật – Dựa vào tiêu chuẩn bản thể học, nghệ thuật được phân chia thành 3 nhóm lớn: Nhóm nghệ thuật không gian: Kiến trúc, điêu khắc, hội họa… Nhóm nghệ thuật thời gian: Văn học, âm nhạc Nhóm nghệ thuật không – thời gian: Múa, kịch, điện ảnh… – Dựa vào tiêu chí tín hiệu, nghệ thuật được chia thành: những loại hình nghệ thuật thính giác, nghệ thuật thị giác, nghệ thuật miêu tả, nghệ thuật không miêu tả…

Về mặt đặc trưng, nghệ thuật có 1 số loại hình cụ thể sau :

Đều là sản phẩm của hoạt động tư duy của con người, có chức năng phục vụ cho nhu cầu của con người. Đều là hình thái ý thức xã hội, là những thành tố của thượng tầng kiến trúc.Đều có cùng một khách thể phản ánh là thực tại tự nhiên và xã hội khách quan.Tiêu chuẩn nói lên giá trị của chúng là chiều sâu nhận thức các tính quy luật tự nhiên và xã hội.Mục đích cuối cùng của chúng là cải tạo thực tại.Nhìn nhận một cách tương đối, KH và NT đều mang tính hiện thực và chân thực.2.2.1. GIỐNG NHAU2.1. SO SÁNH KHOA HỌC VÀ NGHỆ THUẬT[7, tr.525] [7] 2.2.1. KHÁC NHAU cùng một khách thể, KH quan tâm đến những tính quy luật chung→ nhận thức thế giới bằng khái niệm nghiên cứu các mối quan hệ tương tác giữa các sự vật. KH tuy cũng là sản phẩm của con người nhưng KH lại không lưu giữ lại tình cảm của con người KH thiên về lý trí và mang tính chính xác. KH giữ lại chân lý trong các định đề, các công thức và tư duy lý luận. NT cố gắng khám phá cái chung này qua cái cá thể, cục bộ, có một không hai→ nhận thức thế giới bằng hình tượng phản ánh các xúc động của con người về các sự vật bằng sự hồi hộp và khát vọng của con tim. NT mang người tính một cách rõ rệt NT thiên về tình cảm, mang tính ước lệ. NT thì giữ lại tình người, cuộc sống sôi động của con người và các mối quan hệ của nó với thế giới trong các hình ảnh. NT gắn liền với trí tưởng tượng của con người. [4; 10] 2.2.1. KHÁC NHAU PP của KH đòi hỏi các phép đo chính xác, có thể lặp lại được, và mang tính khách quan tới mức có thể loại trừ tất cả các yếu tố chủ quan từ phía người tiến hành thí nghiệm.(quy nap, định tính, định lượng, quan sát, thí nghiệm, khái quát hóa, thống kê, so sánh, mô hình..) KH thì giữ lại cái chungVD: hóa học biểu thị đối tượng “Nước” bằng công thức H2O là đủ để có nước. PP của NT hoàn toàn ngược lại. NT đương đại đòi hỏi tính chủ quan của nghệ sĩ trong các tác phẩm. Nghệ thuật tối kỵ sự lặp lại. (tái hiện có cải biến, sáng tạo…)

NT phải giữ lại cái riêng VD: “Nước” trong đời sống con người không chỉ của H và O. Nó còn là nước ao làng, nước mùa thu,nước mắt… → Chỉ có hình tượng NT mới phản ánh hết được sự phong phú ấy của các quan hệ của nước với con người. [4; 10] 2.2.1. KHÁC NHAU[4] Nghệ thuật phải tuân thủ tính kỹ thuật của khoa học, không có kỹ thuật con người sẽ không đạt đến bất cứ một thành tựu nào. (VD: Một bức tượng có đẹp cỡ nào nếu không tuân thủ kỹ thuật về trọng lượng sẽ đổ vỡ.)

Nghệ thuật cũng có những tác động lớn lên khoa học, có đầu óc nghệ thuật người ta mới có thể trình bày, thể hiện được các tư duy khoa học, các công trình khoa học một cách tốt nhất: vừa đảm bảo được tính chính xác lẫn tính thẩm mỹ. (VD: Trong ngành chế tạo máy, cần những máy móc khỏe, chạy nhanh, chạy êm… nhưng máy móc cũng cần phải nhỏ gọn, đẹp mắt và không nguy hiểm.)

Vậy, khoa học và nghệ thuật gắn bó hữu cơ với nhau và đồng thời có những điểm khác biệt. Song không thể tuyệt đối hoá những khác biệt này. Nhân tố thẩm mỹ chiếm vị trí lớn lao trong nhận thức khoa học, trong việc xây dựng hệ thống lý luận. (VD: trong tác phẩm “Tư bản” C. Mác không chỉ vạch trần những quy luật nảy sinh, phát triển và tiêu vong của hình thái TBCN mà còn biểu hiện rõ ràng, khúc chiết quan hệ phủ định về mặt tình cảm của mình với hình thái xã hội vô nhân này.) 2.2.1. Khoa học và nghệ thuật gắn bó hữu cơ với nhau2.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOA HỌC VÀ NGHỆ THUẬT[7; 10] Khoa học sản sinh ra nhiều loại hình nghệ thuật và hỗ trợ cho nghệ thuật phát triển. Những phép đo khách quan, như luật viễn cận, luật hòa sắc, pha màu, hoà thanh, lên dây đàn, v.v. được dùng trong nghệ thuật như sự hỗ trợ về kỹ thuật cho sáng tạo. Công nghệ hiện đại là yếu tố quan trọng sản sinh ra nhiều hình thức nghệ thuật đương đại như điện ảnh, âm nhạc điện tử, nghệ thuật video, v.v…

Thường các tác phẩm nghệ thuật chính là những tài liệu hết sức quan trọng để phân tích và khái quát hoá khoa học. Ví dụ như I-li-át và Ô-đi-xê được khoa học sử dụng với tư cách là nguồn tài liệu để nghiên cứu xã hội cổ đại.

Ngày nay khoa học được áp dụng để thẩm định nghệ thuật (qua các phương pháp như đánh dấu carbon, dùng máy tính điện tử…)2.2.2. Khoa học và nghệ thuật làm phong phú lẫn nhau2.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOA HỌC VÀ NGHỆ THUẬT[7; 10] 2.3.1. Nghệ thuật và hóa học Tác giả Hồng Ngọc trong bài viết ” Hóa học phục vụ nghệ thuật” đã viết:Hóa học là một bộ môn khoa học có nhiều ứng dụng trong nghệ thuật, phục vụ cho nghệ thuậtVD: Với nghệ thuật hội hoạ, kể từ khi xuất hiện chất liệu tổng hợp, các họa sĩ đã sử dụng chúng vào công việc của họ: nhà điêu khắc Leo Amino người Mỹ gốc Nhật đã chuyển từ tạc trên gỗ sang tạc và đúc trên polyeste. Hoạ sĩ người Mexico David Alfaro Siqueiros đã đi tiên phong trong việc chuyển sử dụng sơn dầu để vẽ tranh sang sử dụng acrylic…Nghệ thuật là động lực thúc đẩy hóa học phát triển. VD: Khi các tác phẩm nghệ thuật ngày càng cũ đi, việc nghiên cứu chất liệu để bảo tồn và sửa chữa chúng đặt ra vấn đề cho các nhà khoa học: tác phẩm điêu khắc “Cây ăn thịt” của Amino bị hư hỏng đã được nhà hoá học polime John A.Reffmer nghiên cứu chất dẻo giúp sửa chữa lại tác phẩm.2.3. NGHỆ THUẬT VỚI MỘT SỐ NGÀNH KHOA HỌC CỤ THỂ[10] 2.3.2. Nghệ thuật và vật lý 2.3. NGHỆ THUẬT VỚI MỘT SỐ NGÀNH KHOA HỌC CỤ THỂTác giả Nguyễn Bỉnh Quân trong bài viết ” Vật lý và nghệ thuật” đã cho rằng: Vật lý góp phần tạo nền tảng cho nghệ thuật ở nhiều thang bậc:Vẻ đẹp của toán – lý đã sinh ra vẻ đẹp của các đền đài, cách thức kiến trúc và các pho tượng cổ điển Hy Lạp hay nói cách khác vẻ đẹp của các công trình này là hiện thân của vẻ đẹp toán-lý.(VD: Những hiểu biết về thiên văn và tài năng vật lý đã làm cho người Ai Cập cổ xây được kim tự tháp với hình thù và quy mô kết cấu hết sức độc đáo và bền vững.)Đối với mỹ thuật , các chất liệu kỹ thuật sáng tác tạo hình sinh ra theo các quy luật toán, lý, hoá mà nó phải tuân thủ (VD: quy luật về trọng lực, vật liệu và quang học thị giác…)Những quan điểm khoa học và giả thuyết vật lý nhiều khi gợi huớng đi cho các trường phái nghệ thuật (VD: Các thuyết về ánh sáng, về không gian, vũ trụ về các hạt cơ bản, về tốc độ, khí động học… đã là cơ sở cho những phái ấn tượng, điểm họa, lập thể…cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.) [10] 2.3.2. Nghệ thuật và vật lý

Vật lý góp phần tạo nền tảng cho nghệ thuật ở nhiều thang bậc:Về mặt nghệ thuật học, các cảm nhận vật lý là điều tiên quyết cho cảm xúc thẩm mỹ hay nói khác các cảm xúc thẩm mỹ thường có tính vật lý. (VD: Trong các câu thơ của Nguyễn Du: “Trắng phau cầu giá đen rầm ngàn mây”, “Đùng đùng gió dục mây vần, Một xe trong cõi hồng trần như bay”,”Long lanh đáy nước in trời, Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng” chính là cảm giác về lực trọng trường, về nặng nhẹ bị đảo lộn gây cảm giác đè nặng và bất an hay về sự khúc xạ, khuyếch tán ánh sáng về các màu gợi cảm giác nhẹ và xa…) Các quy luật quang học thị giác đã quyết định các hình thức biểu hiện mỹ thuật … (VD: việc trừu tượng hoá không gian ba chiều lên mặt phẳng hai chiều, ảnh hưởng của thuyết địa tâm tới cách xây dựng hình ảnh và bố cục các tranh trường, tranh giá vẽ về các đề tài tôn giáo Châu Âu.) Nghệ thuật tác động trở lại vật lý VD: vấn đề nghiên cứu về viễn tãi lượng tử (Có thể làm biến mất một con người tại một điểm, để rồi tái tạo con người đó tại một điểm khác hay không ? → ý tưởng xuất phát từ bộ phim viễn tưởng Star Trek.) 2.3. NGHỆ THUẬT VỚI MỘT SỐ NGÀNH KHOA HỌC CỤ THỂ[10]

Khoa học và nghệ thuật tuy có những điểm giống và khác nhau, có những nét đặc trưng và tính độc lập tương đối nhưng lại có sự gắn bó hữu cơ với nhau, làm giàu lẫn nhau. Khoa học giúp con người mở mang trí tuệ, chinh phục cải tạo thế giới còn nghệ thuật có tác dụng phát triển toàn diện con người và làm cuộc sống trở nên vui tươi.

Nghệ thuật và khoa học là các thành tố của văn hóa. Vì thế bản chất và quan hệ giữa chúng thực ra khá phức tạp, thay đổi tùy theo thời gian và địa điểm. Sẽ thật ngây thơ khi cho rằng có thể tìm thấy một sự mô tả quan hệ bất biến giữa chúng. Trong tương lai sự tiến triển mau lẹ của nghệ thuật, khoa học và công nghệ sẽ còn đem lại cho chúng ta nhiều điều bất ngờ. KẾT LUẬN[7, tr.525] TÓM TẮTTheo Từ điển Tiếng việt : “Khoa học là hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những qui luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như về hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực”. Khoa học Nghệ thuật Nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng-thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức. Theo ý nghĩa này thường là các loại hình nghệ thuật khác nhau. Khái niệm TÓM TẮT Đều là sản phẩm của hoạt động tư duy của con người, có chức năng phục vụ cho nhu cầu của con người. Đều là hình thái ý thức xã hội, là những thành tố của thượng tầng kiến trúc. Đều có cùng một khách thể phản ánh là thực tại tự nhiên và xã hội khách quan. Tiêu chuẩn nói lên giá trị của chúng là chiều sâu nhận thức các tính quy luật tự nhiên và xã hội. Mục đích cuối cùng của chúng là cải tạo thực tại. Nhìn nhận một cách tương đối, KH và NT đều mang tính hiện thực và chân thực. Khoa học Nghệ thuật Giống nhau TÓM TẮT quan tâm đến những tính quy luật chung của khách thể→ nhận thức thế giới bằng khái niệm tuy là sản phẩm của con người nhưng KH lại không lưu giữ lại tình cảm của con người thiên về lý trí và mang tính chính xác PP của KH đòi hỏi các phép đo chính xác, có thể lặp lại được và mang tính khách quan KH giữ lại cái chung Sản phẩm là các phát minh, sáng chế, ghi nhận sau một quá trình nghiên cứu của một cá nhân hoặc một tập thể.Khoa học Nghệ thuật khám phá cái cá thể, cục bộ, có một không hai của khách thể→ nhận thức thế giới bằng hình tượng NT mang người tính một cách rõ rệt thiên về tình cảm, mang tính ước lệ, gắn liền với trí tưởng tượng của con người PP của NT đòi hỏi tính chủ quan của nghệ sĩ trong các tác phẩm, tối kỵ sự lặp lại NT phải giữ lại cái riêng Sản phẩm là một tác phẩm thường xây dựng trên ý tưởng của một người, mang tính độc đáo, riêng biệt. Khác nhau TÓM TẮT

Khoa học và nghệ thuật có sự gắn bó hữu cơ với nhau, làm giàu lẫn nhau:Nghệ thuật phải tuân thủ tính kỹ thuật của khoa học.Nghệ thuật cũng có những tác động lớn lên khoa học.Khoa học sản sinh ra nhiều loại hình nghệ thuật và hỗ trợ cho nghệ thuật phát triển.Các tác phẩm nghệ thuật chính là những tài liệu hết sức. quan trọng để phân tích và khái quát hoá khoa học.Ngày nay khoa học được áp dụng để thẩm định nghệ thuật.Khoa học Nghệ thuật Mối quan hệ Chúc buổi báo cáo thành công tốt đẹp!Xin chân thành cám ơn quí thầy côvà các bạn đã lắng nghe

Các Cơ Sở Khoa Học Của Công Tác Quản Lý Môi Trường / 2023

Quản lý môi trường không phải là một công tác quản lý thông thường, mà nó được dựa trên những cơ sở khoa học tương đối toàn diện. Cũng chính nhờ có cơ sở khoa học vững chắc này mà công tác Quản lý môi trường mới vượt qua được những thách thức, những trở ngại từ thực tiễn để đem lại những kết quả mong đợi.1. Cơ sở triết học của QLMTNguyên lý về tĩnh thống nhất vật chất của thế giới gắn tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “Tự nhiên – Con người – Xã hội”, trong đó yếu tố con người giữ vai trò rất quan trọng. Sự thống nhất của hệ thống trên được thực hiện trong các chu trình sinh địa hóa.Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội” đòi hỏi việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải toàn diện và hệ thống. Con người nắm bắt cội nguồn sự thống nhất đó, phải đưa ra các phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống đó. Nhưng chính con người đã góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa Tự nhiên – Con người – Xã hội. Sự hình thành những chuyên ngành khoa học như quản lý môi trường, sinh thái nhân văn là sự tìm kiếm của con người nhằm nấm bắt và giải quyết các mâu thuẫn trong tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội”.Quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội loài người. Với sự xuất hiện nền văn minh trí tuệ sự thống nhất giữa quan hệ Con người – Tự nhiên và Con người – Xã hội được đảm bảo bởi hoạt động trí tuệ của con người. môi trường tự nhiên và môi trường xã hội sẽ được duy trì cân bằng một cách hợp lý. Như vậy để bảo vệ môi trường sống cần giữ hài hòa quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với xã hội bằng cách đưa thêm vào nền sản xuất vật chất của con người chức nãng tái sản xuất tài nguyên thiên nhiên. Mặt khác, cần phải tạo công nghệ mới, công nghệ sạch để chuyển sản xuất của con người thành một mắt xích của tự nhiên và xã hội. Để đánh giá chất lượng môi trường sống, cần phải xét đến tiêu chuẩn môi trường, trạng thái các hệ sinh thái tự nhiên và sức khỏe của dân cư sống trong khu vực. Như vậy phải kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu môi trường trong việc hoạch định các chính sách kinh tế.2. Cơ sở khoa học kỹ thuật công nghệ của QLMTQuản lý môi trường là việc thực hiện tổng hợp các biện pháp khoa học kỹ thuật, kinh tế, luật pháp, xã hội nhằm bảo vệ môi trường sống và phát triển bền vững. Các nguyên tắc QLMT, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý môi trường, được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành KHMT. Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa học thế giới trong thời gian từ năm 1960 đến nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình, sách chuyên khảo. Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên lý và quy luật môi trường. Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học đã được phát triển ở nhiều nước phát triển trên thế giới.Tóm lại quản lý môi trường là cầu nối giữa khoa học môi trường với hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội”, đã được phát triển trên nền phát triển của các bộ môn chuyên ngành.3. Cơ sở kinh tế của QLMTQuản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điểu tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất đều diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị. Loại hàng hóa có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh, trong khi đó loại hàng hóa kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng. Vì vậy, chúng ta có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường. Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm: các loại thuế, phí và lệ phí, cota ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi hoàn, trợ cấp kinh tế, nhãn sinh thái, hệ thống các tiêu chuẩn ISO, đặc biệt là hệ thống tiêu chuẩn ISO 14000.4. Cơ sở luật pháp của QLMTCơ sở luật pháp của QLMT là các văn bản về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường.Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và tàn phá môi trường ngoài phạm vi quốc gia. Các vãn bản của quốc tế về môi trường được hình thành từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia chân Âu, châu Mỹ, châu Phi. Nhưng từ hội nghị quốc tế “Môi trường con người” tổ chức năm 1972 tại Thụy Điển và sau hội nghị thượng đỉnh Rio 92 thì nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết. Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được Chính phủ Việt Nam tham gia ký kết.Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật Bảo vệ Môi trường 1993 trước đây (nay đã hết hiệu lực) và thay vào đó là Luật Bảo vệ môi trường 2005 (có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thực hiện của Chính Phủ, các thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiện luật Bảo vệ môi trường được ban hành và còn hiệu lực là những văn bản quan trọng nhất. Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được đề cập trong các văn bản khác như luật Khoáng sản, luật Dầu khí, luật Hàng hải, luật Lao động, luật Đất đai, luật Phát triển và Bảo vệ rừng, luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về Đê điều, pháp lệnh về việc Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Pháp lệnh Bảo vệ các công trình giao thông hiện hành… là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý nhà nước về môi trường.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sở Khoa Học Công Nghệ / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!