Đề Xuất 12/2022 # Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Công Nghệ Lớp 7.2 Trường Trung Học Cơ Sở Truông Mít Thông Qua Sử Dụng Video Clip, Hình Ảnh Bổ Sung Khi Dạy Phần Trồng Trọt / 2023 # Top 13 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Công Nghệ Lớp 7.2 Trường Trung Học Cơ Sở Truông Mít Thông Qua Sử Dụng Video Clip, Hình Ảnh Bổ Sung Khi Dạy Phần Trồng Trọt / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Công Nghệ Lớp 7.2 Trường Trung Học Cơ Sở Truông Mít Thông Qua Sử Dụng Video Clip, Hình Ảnh Bổ Sung Khi Dạy Phần Trồng Trọt / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

0

1

2

3

III. PHƯƠNG PHÁP 1. Khách thể nghiên cứu Trường trung học cơ sở Truông Mít có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu: * Giáo viên: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – giáo viên dạy Công nghệ cả hai lớp 72 và 73 trường trung học cơ sở Truông Mít, có khả năng khai thác công nghệ thông tin, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh, trực tiếp thực hiện việc nghiên cứu. * Học sinh: Chọn học sinh hai lớp: Lớp 72 (lớp thực nghiệm) và lớp 73 (lớp đối chứng), là hai lớp có nhiều điểm tương đồng nhau về số lượng, giới tính, thành tích học tập và ý thức học tập. Cụ thể: Bảng 1: Tỷ lệ về số lượng, giới tính, thành phần dân tộc lớp 72, 73 . Giới tính Tổng số học Lớp Dân tộc sinh Nam Nữ 72 38 18 20 Kinh 3 7 37 15 22 Kinh * Về ý thức học tập của học sinh hai lớp: Đa số đều ngoan, tích cực, chủ động thích học môn Công nghệ. Bên cạnh đó cả 2 lớp vẫn còn một số học sinh thụ động, chưa nhiệt tình trong các hoạt động chung của lớp. * Về thành tích học tập môn Công nghệ của hai lớp ở năm học trước là tương đương nhau Bảng 2: Kết quả học tập môn Công nghệ lớp 72 và 73 năm học 2013 – 2014 Mức độ đánh giá Tổng số Lớp học sinh Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém 72 38 8 11 14 5 0 3 7 37 8 12 12 5 0 2. Thiết kế nghiên cứu – Chọn hai lớp nguyên vẹn: Lớp 72 là lớp thực nghiệm, lớp 73 là lớp đối chứng. – Tôi dùng bài kiểm tra một tiết làm bài kiểm tra trước tác động. Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau. Do đó, tôi dùng phép kiểm chứng T – Test độc lập để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước khi tác động. Bảng 3: Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương. Điểm trung bình

Nhóm đối chứng (73)

Nhóm thực nghiệm (72)

6,2

6,3

Giá trị P của T- Test p =

0,79

4

Bảng 4: Thiết kế nghiên cứu Lớp

Kiểm tra trước tác động

Tác động

Kiểm tra sau tác động

Phân gia súc (phân hữu cơ)

Vi sinh vâ ât cố định đạm ở rễ cây họ đậu

5

Phân hoá học

Phân NPK Tái sử dụng rác thải làm phân bón + Phân tích nhu cầu Trên cơ sở nghiên cứu sách giáo khoa và phân tích mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học (nội dung – mục tiêu – phương pháp – phương tiện – hình thức tổ chức dạy học – kiểm tra, đánh giá), tùy nội dung từng bài mà xác định nguồn tư liệu cho phù hợp. Ví dụ: Khi dạy phần II bài 6 hay phần II bài 15, cần minh họa đoạn video hay hình ảnh về các biện pháp cải tạo đất.

Làm ruô âng bâ âc thang

Mô hình nông lâm kết hợp

6

Bón phân

Đất phèn

Cày sâu

Đất xám bạc màu

Đất mặn

Nhấn vào đây xem Video làm đất. + Lựa chọn hình ảnh. Trong dạy học phần trồng trọt – Công nghê ă 7, hình ảnh có thể tìm kiếm ở các nguồn khác nhau (sách, tạp chí chuyên ngành, sách phổ biến kỹ thuâ tă , các chương trình tâ ăp huấn kỹ thuâ tă , chương trình khuyến nông, bạn của nhà nông, các webside trên internet,…). Trên cơ sở phân tích nhu cầu về nguồn và loại hình ảnh cho nô ăi dung bài học cụ thể, giáo viên có thể lựa chọn tư liê ău hình ảnh cho phù hợp. Ví dụ: Khi dạy bài 11: Sản xuất và bảo quản giống cây trồng. Cần minh họa cho học sinh thấy được kĩ thuật ghép mắt, chiết cành qua đoạn video cụ thể Nhấn vào đây xem Video ghép mắt

7

Bốc vỏ tiến hành ghép cành

Các bước chiết cành Bài 19: Các biê ăn pháp chăm sóc cây trồng. Tỉa và dă ăm lúa

Ví dụ: Bài 21: Luân canh, xen canh, tăng vụ có thể lấy thêm ví dụ cụ thể về hình thức xen canh có ở địa phương như trồng lúa xen với cây ăn quả, mì xen với đậu phộng

8

+Xử lý sư phạm hình ảnh bổ sung. Hình ảnh sau khi thu thâ ăp, để sử dụng trong dạy học cần phải xử lý để hình ảnh phù hợp với mục tiêu, nô ăi dung bài học trong sách giáo khoa và định hướng quá trình tổ chức dạy học. Sau khi xử lý, hình ảnh phải đáp ứng mục tiêu và nô ăi dung bài học, là nguồn cung cấp kiến thức hay cách thức để giáo viên tổ chức hoạt đô ăng nhâ nă thức cho học sinh. Như vâ yă , hình ảnh phải chứa đựng kiến thức và phương pháp dạy học cho mô tă nô iă dung cụ thể. Hình ảnh sau khi được xử lý sư phạm có thể sử dụng trong hoạt đô ăng dạy học. Hình ảnh có thể được lưu trữ ở các hình thức khác nhau như trên giấy khổ lớn hoă ăc ảnh kỹ thuâ tă số. Để lưu trữ ảnh trong các thiết bị điê ăn tử, các loại hình ảnh được đưa vào xử lý và liên kết trong các bài dạy cụ thể. Sau khi lựa chọn các hình ảnh, tiến hành xử lý và tạo các hiê ău ứng để đưa vào giảng dạy. 3.2. Tiến hành dạy thực nghiệm Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan. – Lớp đối chứng (lớp 73): Giáo viên dạy theo thiết kế bài giảng ở các tiết 5, 13, 21 sử dụng hình ảnh trong sách giáo khoa. – Lớp thực nghiệm (lớp 72): Giáo viên dạy theo thiết kế bài giảng ở các tiết 5, 13, 21 qua sử dụng các video, hình ảnh bổ sung phù hợp được tải từ internet tại các website chúng tôi baigiangdientubachkim.com,…vào bài học. Bảng 5: Thời gian thực nghiệm Thứ ngày

Môn / Lớp

Tiết ppct

17.09.2014

Công nghệ 72

05

10.11.2014

Công nghệ 72

13

20.01.2015

Công nghệ 72

21

Tên bài dạy

Bài 7: Tác dụng của phân bón trong trồng trọt Bài 13: Phòng trừ sâu, bệnh hại Bài 20: Thu hoạch, bảo quản và chế biến nông sản

4. Đo lường và thu thập dữ liệu: Bài kiểm tra trước tác động: Là bài kiểm tra 1 tiết (khảo sát chất lượng giữa học kì I) gồm 4 câu tự luận.(xem phần phụ lục) Bài kiểm tra sau tác động: Là bài kiểm tra sau khi học xong phần trồng trọt, thời gian 45 phút cũng gồm 4 câu hỏi tự luận (xem phần phụ lục). Đề kiểm tra này không có trong phân phối chương trình mà do tôi cùng các cô cùng dạy Công nghệ trong tổ biên soạn ra đề, được tổ trưởng chuyên môn phê duyệt nhằm kiểm chứng việc sử dụng

9

video, hình ảnh bổ sung phù hợp có nâng cao kết quả học tập môn Công nghệ 7 của học sinh hay không. * Quy trình kiểm tra và chấm bài kiểm tra. Tổ chức cho hai lớp kiểm tra cùng lúc, cùng đề. Để khách quan tôi nhờ giáo viên không dạy Công nghệ lớp 72, 73 trong trường chấm bài theo đáp án đã xây dựng. Sau đó, tôi thống kê điểm và phân tích kết quả đó (xem phần phụ lục) Bằng phương pháp chia đôi dữ liệu thông qua công thức Spearman – Brown đã thu được kết quả cụ thể như sau: Độ tin cậy rSB ≥ 0,7

Sau tác động

Lớp thực nghiệm (72)

0,79 ≥ 0,7

Dữ liệu đáng tin cậy

Lớp đối chứng (73)

0,72 ≥ 0,7

Dữ liệu đáng tin cậy

IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ 1. Trình bày kết quả Bảng 6: So sánh điểm trung bình của bài kiểm tra sau khi tác động Các giá trị Mốt Trung vị

Lớp thực nghiệm (72) Trước tác động

Sau tác động

6

8

6

7

6

8

Giá trị trung bình

6.2

6.5

6.3

7.7

Độc lệch chuẩn

1.20

1.01

1.22

1.23

Trước tác động

Sau tác động

Giá trị p của T-Test

0.79

0.0000085

Có giá trị p ≤ 0.005

Không ý nghĩa

Có ý nghĩa

Giá trị SMD Mức độ ảnh hưởng (ES)

0.06

1.18

Rất nhỏ

Rất lớn

2. Phân tích dữ liệu – Kết quả kiểm tra sau tác động cho thấy điểm trung bình của nhóm thực nghiệm là 7.7 cao hơn so với điểm trung bình kiểm tra trước tác động là 6.3. Điều này chứng tỏ rằng chất lượng học tập môn Công nghệ lớp 72 đã được nâng lên đáng kể. – Độ chênh lệch điểm trung bình T – Test cho kết quả p = 0.0000085 < 0.05 cho thấy sự chênh lệch điểm khảo sát trung bình giữa trước và sau tác động là có ý nghĩa, tức là sự chênh lệch điểm trung bình khảo sát trước và sau tác động là không xảy ra ngẫu nhiên mà là do tác động của giải pháp thay thế đã mang lại hiệu quả.

10

7,7 – 6,5 – Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD =

Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của giải pháp nâng cao kết quả học tập môn Công nghệ ở lớp 72 (nhóm thực nghiệm) là rất lớn. – Như vậy giả thuyết của đề tài “Nâng cao chất lượng môn Công nghệ lớp 7 2 Trường Trung học cơ sở Truông Mít thông qua sử dụng video clip, hình ảnh bổ sung khi dạy phần trồng trọt” đã được kiểm chứng.

Hình 1. Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 3. Bàn luận * Ưu điểm: – Kết quả bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là 7,7; kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là 6,5. Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 1,2. Điều đó cho thấy điểm trung bình của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng đã có sự khác biệt rõ rệt, nhóm thực nghiệm được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng. – Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 1,18. Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là rất lớn. Phép kiểm chứng T- test p = 0,0000085 < 0,05. Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải ngẫu nhiên mà do tác động mà có. * Hạn chế: Nghiên cứu này sử dụng video clip, hình ảnh bổ sung trong giờ học môn Công nghệ 7 là một giải pháp rất tốt nhưng để sử dụng có hiệu quả, người giáo viên cần phải có trình độ về công nghệ thông tin, có kĩ năng thiết kế giáo án điện tử, biết khai thác và sử dụng các nguồn thông tin trên mạng Internet, biết thiết kế bài học hợp lí. Người giáo viên mất khá nhiều thời gian cho một thiết kế trên máy nếu chưa thành thạo trong việc sử dụng các hiệu ứng.

11

Dương Minh Châu, Ngày 16 tháng 03 năm 2015 Người thực hiện

12

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO – Sách giáo khoa Công nghệ 7, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản giáo dục. – Sách giáo viên Công nghệ 7, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản giáo dục. – Lý luận dạy học Sinh học đại cương, Nhà xuất bản giáo dục, 1996 – Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn công nghệ 7 – Vụ giáo dục trung học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội 2009 – Tài liệu tập huấn Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, Dự án Việt – Bỉ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2011 – Nhũng vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học cơ sở môn Công Nghệ – Nhà xuất bản giáo dục. – Bổ sung tư liệu dạy học môn Công nghệ lớp 7 (phần Nông nghiệp) – Truy cập Internet các trang website: tvtlbachkim. com, tulieuhinhanh, baigiangdientubachkim.com, bạn của nhà nông… – Tham luận “Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học, thuận lợi và thách thức” – Huỳnh Tấn Thông, trường THPT Lấp Vò 2, Đồng Tháp.

13

14

VII. PHỤ LỤC KÈM THEO

▲ Phụ lục 1: KẾ HOẠCH BÀI HỌC 1. Kế hoạch bài học trước tác động Bài 7 – Tiết 5 TÁC DỤNG CỦA PHÂN BÓN TRONG TRỒNG TRỌT Tuần dạy: 5 Ngày dạy:17.09.2014 1. MỤC TIÊU 1.1. Kiến thức – Biết được thế nào là phân bón và các loại phân bón – Hiểu được tác dụng của phân bón đối với đất và cây trồng. 1.2. Kĩ năng Rèn kĩ năng quan sát, phân tích, hoạt động nhóm. 1.3. Thái độ Có ý thức sử dụng tiết kiệm, tận dụng nguồn phân bón và bảo vệ môi trường. 2. TRỌNG TÂM Khái niệm phân bón, tác dụng của phân bón đối với đất và cây trồng. 3. CHUẨN BỊ 3.1. Giáo viên: Kế hoạch bài học, sách giáo khoa 3.2. Học sinh: Đọc trước nội dung bài 4. TIẾN TRÌNH 4.1. Ổn định tổ chức và kiểm diện: Kiểm diện học sinh lớp 73 4.2. Kiểm tra miệng: Câu 1: Vì sao phải cải tạo đất? Ở địa phương em thường cải tạo đất bằng những biện pháp nào?(8đ) Câu 2: Em thấy ở nhà (ở địa phương em) thường bón cho cây trồng những loại phân gì? (2đ) Đáp án: Câu 1: – Vì một số loại đất còn mang tính chất xấu như: chua, mặn, phèn,… nên cần cải tạo. – Ở địa phương em thường cải tạo đất bằng những biện pháp: + Cày sâu, bừa kĩ, bón phân hữu cơ, + Cày nông, bừa sục, giữ nước liên tục, thay nước thường xuyên + Bón vôi + Trồng xen cây nông nghiệp giữa các băng cây phân xanh. Câu 2: Ví dụ: phân chuồng, phân ure, phân NPK,… 4.3. Bài mới: Bài 7: TÁC DỤNG CỦA PHÂN BÓN TRONG TRỒNG TRỌT * Giới thiệu bài: Các em đã được nghe nhiều về hai chữ “phân bón”, vậy em có

biết phân bón là gì, có những loại phân bón nào và bón phân có tác dụng gì? Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu bài HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG BÀI HỌC Hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm về phân bón. I/ Phân bón là gì? GV yêu cầu HS nghiên cứu thông tin trả lời câu hỏi – Phân bón là gì? Phân bón là “thức ăn” của cây – Có mấy nhóm phân bón chính? Cho ví dụ trồng do con người bổ sung. Có

1

2

Bài 13 – Tiết 13 Tuần dạy: 13 Ngày dạy:10.11.2014

PHÒNG TRỪ SÂU, BỆNH HẠI

1. MỤC TIÊU: 1.1. Kiến thức: – Biết được các nguyên tắc phòng trừ sâu, bệnh hại . – Hiểu được các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại. 1.2. Kĩ năng: – Rèn kĩ năng quan sát, phân tích, so sánh. – Rèn kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế trong phòng trừ sâu, bệnh hại. 1.3. Thái đô ô: – Có ý thức chăm sóc và bảo vệ cây trồng chống sâu, bệnh hại. – Hình thành ý thức tự giác bảo vệ cây trồng, đồng thời bảo vệ môi trường sống. 2. TRỌNG TÂM Nguyên tắc và các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng. 3. CHUẨN BỊ: 3.1. Giáo viên: Bảng phụ kẻ bảng trang 31 SGK 3.2. Học sinh: Nghiên cứu nội dung bài và tìm hiểu cách phòng trừ sâu, bệnh hại ở địa phương 4.TIẾN TRÌNH: 4.1. Ổn định tổ chức và kiểm diện: Kiểm tra sĩ số lớp 73 4.2. Kiểm tra miệng: không, nhận xét bài kiểm tra. 4.3. Bài mới: Bài 13: PHÒNG TRỪ SÂU, BÊôNH HẠI Giới thiệu bài: Hàng năm ở nước ta sâu, bệnh đã làm thiệt hại tới 10 – 12% sản lượng thu hoạch nông sản. Nhiều nơi sản lượng thu hoạch được rất ít hoặc mất trắng. Do vậy, việc phòng trừ sâu, bệnh phải được tiến hành thường xuyên, kịp thời. Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta nắm được nguyên tắc cũng như các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh phổ biến.

3

HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS Hoạt động 1: Tìm hiểu nguyên tắc phòng trừ sâu, bệnh hại. GV:Yêu cầu HS nghiên cứu thông tin (I) cho biết: – Khi tiến hành phòng trừ sâu, bệnh hại phải đảm bảo những nguyên tắc nào? -Tại sao lấy nguyên tắc ” Phòng là chính” để phòng trừ sâu, bệnh hại? HS nghiên cứu thông tin SGK trả lời: + Phòng là chính vì: ít tốn công; sâu, bệnh ít; giá thành thấp. Gọi 1, 2 HS trả lời, lớp nhận xét và rút ra kết luận Hoạt động 2: Tìm hiểu các biện pháp phòng trừ. GV: Yêu cầu HS nghiên cứu thông tin (II) cho biết: – Có mấy biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại? HS dựa vào thông tin SGK trả lời (có 5 biện pháp) GV: Yêu cầu HS làm bài tập trong bảng trang 31 SGK vào vở bài tập HS Cá nhân làm việc, báo cáo kết quả GV Gọi lần lượt HS trả lời, nhận xét GV nhận xét và thông báo kết quả đúng Biện pháp phòng trừ Tác dụng phòng trừ sâu, bệnh hại – Vệ sinh đồng ruộng – Diệt trừ mầm móng sâu, bệnh. – Làm đất – Phá nơi ẩn náo của sâu, bệnh – Gieo trồng đúng thời – Tránh thời kì sâu, bệnh vụ phát sinh mạnh – Chăm sóc kịp thời, – Để tăng sức chống chịu bón phân hợp lí sâu, bệnh cho cây – Luân phiên các loại – Làm thay đổi điều kiện cây trồng khác nhau sống và nguồn thức ăn trên một đơn vị diện của sâu, bệnh tích. – Sử dụng giống chống – Chống (kháng) lại sâu, sâu, bệnh bệnh GV: Giải thích thêm biện pháp này dễ làm, mang lại hiệu quả cao nên cần áp dụng có hiệu quả. GV yêu cầu HS quan sát hình 21,22 SGK HS nghiên cứu thông tin (2) kết hợp quan sát hình 21, 22 trang 31 SGK, cho biết: – Trong phòng trừ sâu, bệnh biện pháp thủ công được thực hiện như thế nào? HS nghiên cứu trả lời, nhận xét. – Thực hiện biện pháp thủ công có ưu điểm gì? (+ Ưu điểm: – Đơn giản dễ thực hiện. Có hiệu quả

4

NÔôI DUNG BÀI HỌC I/ Nguyên tắc phòng trừ sâu, bệnh hại: – Phòng là chính. – Trừ sớm, trừ kịp thời, nhanh chóng và triệt để. – Sử dụng tổng hợp các biện pháp phòng trừ.

II/ Các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại: 1/ Biện pháp canh tác và sử dụng giống chống sâu, bệnh hại: Học nội dung trong bảng đã sửa vào vở bài tập

2/ Biện pháp thủ công: – Dùng tay bắt sâu hay ngắt bỏ những cành lá bị bệnh, dùng vợt, bẫy đèn để diệt sâu hại.

khi sâu, bệnh mới phát sinh.) – Thực hiện biện pháp thủ công có nhược điểm gì? (+Nhược điểm: – Tốn công, hiệu quả thấp khi sâu, bệnh phát sinh nhiều.) GV yêu cầu HS quan sát hình kết hợp đọc thông tin (3) trả lời câu hỏi – Trong phòng trừ sâu, bệnh biện pháp hoá học được thực hiện như thế nào? – Thực hiện biện pháp hoá học có ưu điểm gì? – Thực hiện biện pháp hoá học có nhược điểm gì? -HS đọc thông tin SGK trả lời (+ Ưu điểm: Diệt sâu, bệnh nhanh, ít tốn công. + Nhược điểm: – Gây độc cho người, cây trồng, vật nuôi. – Làm ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí – Giết chết các sinh vật khác ở ruộng.) – GV nêu ví dụ minh họa – Khi sử dụng thuốc hóa học cần đảm bảo những yêu cầu gì? (+ Sử dụng đúng loại thuốc, nồng độ, liều lượng. + Phun đúng kĩ thuật) – Để an toàn khi tiếp xúc với thuốc hóa học cần chú ý điều gì? (Đảm bảo an toàn khi tiếp xúc với thuốc như: đeo khẩu trang, đi ủng, đeo găng tay, mang kính,…) -HS đọc thông tin trả lời GDMT: Hàng năm số người bị ngộ độc thuốc trừ sâu ở nước ta có hàng ngàn trường hợp do không tuân thủ các biện pháp an toàn trong sử dụng các loại thuốc hoá học, không đảm bảo thời gian cách li…do đó chúng ta cần phải biết cách khắc phục để tránh xảy ra những hậu quả đáng tiếc. Giáo dục các em tuyên truyền gia đình sau khi phun thuốc phải thu gom vỏ để đúng nơi để hạn chế ô nhiễm môi trường. GV treo hình 1 số sinh vật có ích giới thiệu cho HS Yêu cầu HS đọc thông tin (4) cho biết: – Biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu, bệnh được tiến hành như thế nào? HS đọc thông tin trả lời, nhận xét – Thực hiện biện pháp này có ưu điểm gì? (+Ưu điểm: Có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường.) HS trả lời, nhận xét – Thực hiện biện pháp này có nhược điểm gì? HS trả lời, nhận xét (+ Nhược điểm: Khó thực hiện, có tác dụng chậm.) GV Giảng giải cho HS nắm rõ nội dung và nêu vai trò của biện pháp kiểm dịch thực vật.

5

3/ Biện pháp hóa học: – Sử dụng các loại thuốc hoá học để trừ sâu, bệnh. + Ưu điểm: – Diệt sâu, bệnh nhanh, – Ít tốn công. + Nhược điểm: – Gây độc cho người, cây trồng, vật nuôi. – Làm ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí – Giết chết các sinh vật khác ở ruộng.

4/ Biện pháp sinh học: – Dùng các loại sinh vật như nấm, bọ rùa, ong mắt đỏ, chim, ếch,…và các chế phẩm sinh học để diệt sâu hại.

5/ Biện pháp kiểm dịch thực vật:

Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen / 2023

Trong bài “Nên học sử ta” ghi trên báo “Việt Nam Độc lập” Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết:

“Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà việt Nam”

Đất nước ta, nhân dân Việt Nam ta đã trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước với nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng. Là một người dân Việt Nam yêu nước, mỗi chúng ta phải yêu và hiểu biết về lịch sử của đất nước, của dân tộc mình. Chính vì vậy mà trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Lịch sử đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục học sinh (HS) tình yêu quê hương đất nước, tự hào về truyền thống của dân tộc. Lịch sử là chiếc nôi để các em hiểu biết và hướng về cội nguồn lịch sử dân tộc. Dạy học lịch sử không chỉ khơi dậy các nhân vật, sự kiện lịch sử mà làm tái hiện lại một cách sống động lịch sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử không thể tái hiện lại trước mắt học sinh ở trong phòng thí nghiệm hoặc trong thực tiễn mà thông qua việc tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tạo ra những biểu tượng về con người và hoạt động của họ trong bối cảnh thời gian, không gian xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể.

Dạy Lịch sử là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau. Góp phần bồi dưỡng ở học sinh thái độ và thói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết, nắm vững kiến thức về Lịch sử dân tộc Việt Nam và thêm yêu mến tự hào về lịch sử dân tộc. Do vậy, việc khơi dậy niềm say mê, tìm tòi, tiếp thu kiến thức của học sinh, tạo sự hứng thú trong giờ học lịch sử là nhiệm vụ và mục đích của người giáo viên (GV) trong sự nghiệp đào tạo thế hệ mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

Môn Lịch sử nói chung, phân môn Lịch sử lớp 4 bậc Tiểu học nói riêng đều nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước (khoảng năm 700 trước công nguyên) đến năm 1858. Về nội dung chương trình môn lịch sử lớp 4. Với dòng thời gian kéo dài từ buổi đầu dựng nước (700 năm trước Công Nguyên đến đầu thời Nguyễn giữa thế kỉ XIX) được chia làm 8 giai đoạn, 26 sự kiện lớn, 22 mốc thời gian cụ thể, rất nhiều đời vua, nhiều tên nước và nhiều kinh đô khác nhau.

1. MỞ ĐẦU: 1.1. Lí do chọn đề tài Trong bài "Nên học sử ta" ghi trên báo "Việt Nam Độc lập" Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: "Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà việt Nam" Đất nước ta, nhân dân Việt Nam ta đã trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước với nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng. Là một người dân Việt Nam yêu nước, mỗi chúng ta phải yêu và hiểu biết về lịch sử của đất nước, của dân tộc mình. Chính vì vậy mà trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Lịch sử đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục học sinh (HS) tình yêu quê hương đất nước, tự hào về truyền thống của dân tộc. Lịch sử là chiếc nôi để các em hiểu biết và hướng về cội nguồn lịch sử dân tộc. Dạy học lịch sử không chỉ khơi dậy các nhân vật, sự kiện lịch sử mà làm tái hiện lại một cách sống động lịch sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử không thể tái hiện lại trước mắt học sinh ở trong phòng thí nghiệm hoặc trong thực tiễn mà thông qua việc tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tạo ra những biểu tượng về con người và hoạt động của họ trong bối cảnh thời gian, không gian xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Dạy Lịch sử là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau. Góp phần bồi dưỡng ở học sinh thái độ và thói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết, nắm vững kiến thức về Lịch sử dân tộc Việt Nam và thêm yêu mến tự hào về lịch sử dân tộc. Do vậy, việc khơi dậy niềm say mê, tìm tòi, tiếp thu kiến thức của học sinh, tạo sự hứng thú trong giờ học lịch sử là nhiệm vụ và mục đích của người giáo viên (GV) trong sự nghiệp đào tạo thế hệ mới, con người mới xã hội chủ nghĩa. Môn Lịch sử nói chung, phân môn Lịch sử lớp 4 bậc Tiểu học nói riêng đều nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước (khoảng năm 700 trước công nguyên) đến năm 1858. Về nội dung chương trình môn lịch sử lớp 4. Với dòng thời gian kéo dài từ buổi đầu dựng nước (700 năm trước Công Nguyên đến đầu thời Nguyễn giữa thế kỉ XIX) được chia làm 8 giai đoạn, 26 sự kiện lớn, 22 mốc thời gian cụ thể, rất nhiều đời vua, nhiều tên nước và nhiều kinh đô khác nhau. Với thời lượng 1tiết/tuần của phân môn lịch sử. Nếu giáo viên chỉ đơn thuần dựa vào sách hướng dẫn học mà không nghiên cứu sâu về phương pháp giảng dạy thì học sinh khó có thể ghi nhớ được lượng kiến thức lớn như đã nêu. Mặt khác, thực tế hiện nay, học sinh ở các bậc học nói chung đều không yêu thích học môn Lịch sử mà thường dành nhiều thời gian cho việc học Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh. Nhiều năm gần đây, tình hình HS học và tiếp thu, ghi nhận những kiến thức Lịch sử của dân tộc, của đất nước khá hạn chế. Đặc biệt là kết quả thi của bậc học THPT còn quá thấp làm cho dư luận không khỏi băn khoăn suy nghĩ và đặt ra câu hỏi tại sao các em lại ngại, lại không thích học hay thờ ơ với Lịch sử dân tộc, thờ ơ với Lịch sử đất nước như vậy? Đây là nỗi đau, sự trăn trở của người thầy, cô trước vấn đề này. Trước thực trạng đó tôi đã rất trăn trở trong việc đổi mới phương pháp dạy học, làm thế nào để các em hứng thú trong học tập và nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử. Đó cũng chính là lí do thúc đẩy tôi chọn đề tài "Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4 theo mô hình dạy học mới VNEN" làm đề tài nghiên cứu. 1.2. Mục đích nghiên cứu: - Với đề tài này, tôi mong muốn được nâng cao nhận thức của bản thân về việc dạy học Lịch sử cho học sinh, tìm ra các biện pháp khắc phục tồn tại, khó khăn, giúp giáo viên soạn giảng linh hoạt, trên cơ sở đó giúp học sinh hình thành kỹ năng học Lịch sử hiệu quả. - Cung cấp những tri thức thực tiễn về tổ chức dạy học Lịch sử cho học sinh lớp 4. - Đề xuất một số biện pháp thực hiện dạy học Lịch sử cho học sinh lớp 4 theo hướng tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy môn Lịch sử lớp 4. 1.3. Phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 4. Phương pháp dạy, học môn Lịch sử ở lớp 4. 1.4 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp phân tích tổng hợp Phương pháp điều tra, quan sát Phương pháp trải nghiệm Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu Phương pháp nghiên cứu sản phẩm + Phương pháp đàm thoại - gợi mở. Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm 2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận. 2.1.1. Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy học Lịch sử. Để có giờ dạy Lịch sử thành công, chúng ta cần hiểu rõ về đặc điểm nhận thức và quá trình tư duy của học sinh. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh là cơ sở nền móng của việc xây dựng các phương pháp dạy học lịch sử ở Tiểu học. Lịch sử vốn là một môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ. Chính vì thế, nhiệm vụ dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh quá khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ, vận dụng nó vào trong cuộc sống hiện tại và tương lai. Do đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học còn non yếu, chưa đầy đủ, sâu sắc và chưa đạt đến trình độ tư duy khái quát cao nên việc trình bày và giảng dạy kiến thức phải hết sức đơn giản, nhẹ nhàng, cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ. Đặc biệt, tư duy của các em luôn dựa trên các hình ảnh lịch sử cụ thể nên khi trình bày phải hết sức coi trọng việc tạo biểu tượng cụ thể. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp hình thành năng lực học lịch sử cho học sinh Tiểu học. 2.1.2. Cơ sở sử học của việc dạy học Lịch sử trong trường Tiểu học. Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được thực hiện ở tất cả các trường tiểu học trong cả nước. Đây là con đường giúp HS tiếp cận với tri thức mới, nhằm thay đổi cách dạy học truyền thống "thầy giảng - trò nghe, thầy đọc - trò chép". Theo quan điểm dạy học mới, dạy học là quá trình HS tự khám phá, tự tìm ra chân lí. Phương pháp dạy môn Lịch sử cũng không nằm ngoài định hướng đó. Đặc trưng nổi bật của nhận thức Lịch sử là con người không thể tri giác trực tiếp những gì thuộc về quá khứ. Vì vậy nhiệm vụ tất yếu của dạy Lịch sử là phải tái hiện lại bức tranh Lịch sử, cho HS tiếp cận những thông tin từ sử liệu, các sự kiện, hiện tượng, nhân vật tiêu biểu - người thật, việc thật trong lịch sử, những chứng cứ, những dấu vết của quá khứ. Tạo ra ở HS những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các nhân vật, sự kiện Lịch sử mà vẫn phải đảm bảo tính chính xác, khoa học; tính tư tưởng chính trị; tính vừa sức; tính thực tiễn - học đi đôi với hành. Lịch sử không chỉ là môn học có tác dụng quan trọng trong việc phát triển trí tuệ mà còn giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho thế hệ trẻ. Nghị quyết Hội nghị TƯ 5 (khóa VIII) chỉ rõ: "Để nền giáo dục phát triển bền vững, xây dựng lớp thế hệ trẻ có đủ đức, tài thì bên cạnh các môn khoa học tự nhiên, cần coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lý và Văn hóa Việt Nam". Nhưng trong thực tế, một bộ phận GV và cả HS vẫn còn những nhận thức chưa đúng về môn Lịch sử, xem nhẹ vai trò của Lịch sử, thờ ơ với môn học này dẫn đến chất lượng dạy và học không cao. Như vậy, muốn đào tạo con người phát triển toàn diện thì vấn đề cấp thiết là thay đổi cách dạy, cách học môn Lịch sử. 2.2. Thực trạng dạy - học Lịch sử ở trường Tiểu học. * Thuận lợi: Chương trình Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới Việt Nam gọi tắt là VNEN được phân chia theo từng giai đoạn hay gắn với từng triều đại lịch sử. Các đề mục trong sách giáo khoa đã được biên soạn sắp xếp thành một hệ thống khoa học, kênh hình, kênh chữ rõ ràng, màu sắc đẹp. Hình thức học thể hiện rất rõ nét, HS có thể tự điều hành lẫn nhau để tìm hiểu nội dung kiến thức. Sau mỗi bài đều có các bài tập vận dụng và có cả Hoạt động ứng dụng (Tìm kiếm sự hỗ trợ của người thân ) để củng cố, mở rộng kiến thức đã học Giáo viên được thực hiện mô hình dạy học mới VNEN nên đã quen dần với việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học của học sinh. Học sinh đã có ý thức hơn trong học tập, việc tổ chức các hoạt động học,chủ động tìm hiểu kiến thức thông qua logo hướng dẫn học, bước đầu có ý thức học hỏi, tìm tòi, khám phá về Lịch sử. * Khó khăn Về nội dung chương trình Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới VNEN cũng giống như chương trình trước đây nhưng cách chia nội dung bài theo sách VNEN thì mỗi bài học là được tích hợp nhiều nội dung, gồm một chuỗi sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử tiêu biểu của một giai đoạn lịch sử nhất định. Thời lượng dành cho mỗi bài học thường là 2 đến 3 tiết. Sự liên kết về mặt thời gian của các triều đại trong từng giai đoạn còn chưa rõ ràng . Nội dung bài khá dài và dàn trải. Thiết bị dạy học phục vụ cho việc dạy học môn Lịch sử trong nhà trường còn nhiều hạn chế, thiếu tranh ảnh, mô hình, sa bàn, tư liệu Nhận thức, quan niệm của một bộ phận GV đặc biệt là phụ huynh còn xem nhẹ môn Lịch sử mà chỉ chú trọng vào các môn Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh. Vì vậy nên chưa đầu tư, quan tâm đúng mức vào chất lương dạy và học cho môn Lịch sử. Tình trạng GV khi dạy thường cắt xén thời gian, nội dung, chương trình còn HS học Lịch sử chỉ để đối phó vẫn còn xảy ra. Với HS lớp 4, môn Lịch sử là môn học hoàn toàn mới mẻ đối với chính các em,Trong khi muốn cho HS yêu thích, hứng thú với môn học lại phụ thuộc rất lớn vào GV, việc dạy môn Lịch sử không hấp dẫn, khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, tưởng tượng, khái quát hóa còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm mà các nhân vật, mốc lịch sử, sự kiện lịch sử lại nhiều nên các em chỉ có thể ghi nhớ một cách máy móc (nhanh nhớ nhưng lại mau quên). Kĩ năng đọc, kể, tường thuật của các em chưa lưu loát, do đó ảnh hưởng đến thời gian và tiến trình chung của môn học. Tinh thần hợp tác chưa cao, nhiều em chưa tự tin khi hợp tác trong nhóm, một số em còn thụ động, các em chưa biết cách theo dõi kênh chữ kết hợp kênh hình để tìm hiểu nội dung bài. Vì vậy, sau thời gian tiếp cận với môn học, tôi đã khảo sát HS và thu được kết quả như sau : Thời gian Kết quả đạt được Hoàn thành Tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Đầu năm học: 2017- 2018 Tổng số HS 4A(30 em) 3 10 19 63,6 8 26.4 Có thể thấy rằng, số HS thích học, tìm hiểu về Lịch sử đạt ở mức hoàn thành tốt kết quả chưa cao. Vẫn còn nhiều HS ở mức chưa hoàn thành. Vì vậy, việc hình thành kiến thức lịch sử để tiến tới bồi dưỡng lòng yêu nước, lòng tự tôn, tự cường dân tộc cho mỗi học sinh chính là cái đích của dạy lịch sử mà mỗi giáo viên mong muốn. Giáo viên cần phải có những biện pháp phù hợp để dạy Lịch sử cho học sinh. Đó cũng là lí do để tôi đưa ra các biện pháp áp dụng vào dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử 4. 2.3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4. 2.3.1. Biện pháp 1: Góp phần nâng cao nhận thức và quan điểm về môn học Lịch sử. Trên thực tế giảng dạy, tôi thấy môn Lịch sử chưa tìm được chỗ đứng xứng đáng trong nhà trường, số tiết vào loại ít nhất (1tiết/ tuần). Nội dung kiến thức dài và có phần cứng nhắc, HS ngại học.Vì vậy, phải có sự thay đổi mang tính cách mạng về quan niệm đối với môn Lịch sử. Phải xây dựng và hình thành quan niệm đúng đắn về vị trí và tầm quan trọng của môn Lịch sử từ các cấp quản lí giáo dục đến cha mẹ học sinh và toàn xã hội. Theo giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: "Thế hệ trẻ lớn lên qua nền giáo dục phổ thông mà không yêu mến lịch sử dân tộc, không có một vốn hiểu biết cần thiết về lịch sử và văn hóa dân tộc và nhân loại, không có một niềm tự tin dân tộc, thì làm sao có thể hoàn chỉnh được phẩm chất của người công dân Việt Nam. Từ đặc điểm đó, vấn đề được đặt ra là: * Đối với giáo viên: Phải luôn xác định rằng muốn các em học tốt môn Lịch sử thì giáo viên phải là người yêu thích Lịch sử, phải tự trang bị cho mình kho tàng kiến thức về lịch sử. Việc bồi đắp kho tàng này không bao giờ là đủ mà phải được thực hiện liên tục, thường xuyên suốt cuộc đời. Bởi vậy, tôi luôn tìm đọc những cuốn sách về lịch sử, những câu chuyện, bộ phim lịch sử, các tài liệu trên mạng internet để hiểu hơn về lịch sử dân tộc cũng như thế giới. Giáo viên có yêu lịch sử thì mới có thể truyền được tình yêu đó đến học sinh của mình bởi vì ở cấp tiểu học các em xem giáo viên như thần tượng, như một chuẩn mực để các em hướng đến, các em bắt chước, làm theo. Với mô hình trường học mới VNEN phương pháp dạy và học đã có sự thay đổi, học sinh được chủ động học tập, chủ động tìm hiểu kiến thức song các em chỉ máy móc làm theo câu lệnh của sách chứ thực ra cũng không hiểu hoặc không nắm được cách học, cách ghi nhớ. Do đó, giáo viên vẫn là người đóng vai trò rất quan trọng. Lời giảng,lời kể của giáo viên rõ ràng, truyền cảm sẽ gây được sự chú ý của học sinh. Giáo viên phải nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, tài liệu, nắm vững các kiến thức cơ bản cần truyền đạt, đảm bảo hệ thống kiến thức chính xác, từ đó có phương pháp giảng dạy thích hợp. Ví dụ: Nếu giải quyết chung một đề tài khó thì cần có sự đan xen về trình độ học sinh trong cùng một nhóm để các em hỗ trợ cho nhau. Nhưng cũng có lúc, tôi tạo điều kiện cho các em học sinh còn chậm, còn nhiều hạn chế cùng làm việc với nhau theo nhóm và dành riêng cho các em một đề tài dễ hơn . Đây cũng là lúc tôi phát huy vai trò của mình " Dạy học phân hóa đối tượng học sinh." Trong quá trình giảng dạy, tôi hướng dẫn học sinh khai thác nội dung bài học qua từng hoạt động học tập. Phân chia thời gian hợp lý. Có hình thức khen thưởng, khuyến khích học sinh tích cực phát biểu ý kiến, tham gia xây dựng bài, tránh tối đa hình thức xử phạt, la mắng làm học sinh tự ti mà thu mình lại . * Đối với học sinh: Phải thay đổi suy nghĩ về môn Lịch sử bởi đây chính là môn học giúp HS tìm về cội nguồn dân tộc. Đây cũng là môn học bổ trợ kiến thức cho các môn học khác. * Đối với phụ huynh: Thay đổi quan điểm, nhận thức Lịch sử chỉ là môn phụ nên không cần dành nhiều thời gian mà chỉ tập trung vào những môn cần thiết. Phụ huyngh phải thấy được trách nhiệm, vai trò của mình trong việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc từ đó giúp HS hiểu và có trách nhiệm với môn học, với chính bản thân mình. Ở tiểu học, phụ huynh có thể đọc sách cùng con, cùng tìm hiểu về các sự kiện, các trận đánh hay nhân vật, triều đại Lịch sử trên cơ sở định hướng, khắc sâu kiến thức và khơi gợi cho con ham thích tìm hiểu về Lịch sử nước nhà, từ đó sẽ yêu thích môn học hơn. 2.3.2.Biện pháp 2: Trên sơ sở nắm vững chương trình, nội dung dạy học Lịch sử lớp 4. Phân loại dạng bài và xác định những phương pháp dạy học phù hợp Các bài học Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới VNEN thì mỗi bài học là được tích hợp nhiều nội dung, gồm một chuỗi sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử tiêu biểu của một giai đoạn lịch sử nhất định. Thời lượng dành cho mỗi bài học thường là 2 đến 3 tiết. Vì vậy, ở mỗi bài sẽ có sự vận dụng phương pháp dạy học cho từng tiết khác nhau. Do đó, GV cần xác định linh hoạt phương pháp dạy học cho từng nội dung kiến thức phù hợp. . a) Dạng bài có nội dung về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, tình hình kinh tế - chính trị, văn hóa- xã hội. Gồm các bài dạy: Bài 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng năm 700 TCN đến năm 179 TCN) - Tiết1: Nhà nước Văn Lang; Nhà nước Âu Lạc; Bài 2: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập - Tiết1: Nước ta dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc; Bài 4: Nước Đại Việt thời Lý (Từ năm 1009 đến năm 1226) - (Tiết 1&2); Bài 5: Nước Đại Việt thời Trần. Bài 6: Nhà Hồ. Bài 8: Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê. Bài 9: Trịnh - Nguyễn phân tranh; Công cuộc khẩn hoang và sự phát triển của thành thị. Sau mỗi bài học HS nắm được: - Hoàn cảnh, địa phận, thời gian ra đời và tồn tại của nhà nước; tên vua, tên nước, nơi đóng đô, - Hiểu một cách đơn giản về tổ chức bộ máy nhà nước. - Biết được những nét chính về đời sống kinh tế, vật chất; văn hóa tinh thần của con người trong xã hội. - Vẽ hoặc mô tả đơn giản bộ máy chính quyền nhà nước. - So sánh ở mức độ thấp tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của các triều đại hoặc các giai đoạn lịch sử khác nhau. Học sinh có thái độ: Có ý thức tìm hiểu lịch sử dân tộc qua các triều đại thông qua phim ảnh, các câu chuyện lịch sử, Vấn đề cần lưu ý: Phải mô tả được tình hình nước ta như thế nào, tình cảnh đất nước, quan lại, chính quyền, cuộc sống nhân dân. Trong tình cảnh đó, chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như thế nào và kết quả của những việc làm đó. b) Dạng bài thứ 2: Dạng bài về các nhân vật Lịch sử gắn liền cuộc khởi nghĩa, các trận đánh. Gồm các tiết dạy: Bài 1: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành độc lập(Khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 (Tiết 2); Chiến thăng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo năm 938 (Tiết 3). Bài 3: Buổi đầu độc lập (Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất do Lê Hoàn chỉ huy). Bài 4: Nước Đại Việt thời Lý (cuộc kháng chiến chống quân Tống lần 2 (Lý Thường Kiệt). Bài 5: Nước Đại Việt thời Trần (cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên. Bài 7: Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt buổi đầu thời kì Hậu Lê (trận Chi Lăng). Bài 10: Phong trào Tây Sơn và vương triều Tây Sơn (Quang Trung đại phá quân Thanh). Vấn đề

Skkn Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Trực Quan Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Lớp 6 / 2023

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI: “ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC LỚP 6″

A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài. Thực hiện Nghị quyết 40/2000/NQ-QH của Quốc hội và chỉ thị số 14/2001 CTTTg của thủ tướng chính phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Đến nay việc đổi mới giáo dục phổ thông đã trở thành nền nếp sâu rộng từ đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, phương pháp dạy học, đặc biệt là chú trọng đến đối tượng dạy học. Phần lớn giáo viên đứng lớp đã thích nghi với chương trình, phương pháp mới nhất là sử dụng, khai thác triệt để tác dụng thiết bị thực hành, của trang thiết bị, phương tiện dạy học như bảng phụ, tranh ảnh, thiết bị thí nghiệm – thực hành, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa chức năng, ….. Xuất phát từ cuộc vận động ứng dụng đẩy mạnh công nghệ thông tin vào dạy học của Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục và ban lãnh đạo nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Đặc biệt là bộ môn Tin học nói chung và bộ môn tin học lớp 6 nói riêng việc sử dụng công nghệ thông tin là rất cần thiết Do hạn chế về nhiều mặt cơ sở vật chất, trang thiết bị, trình độ giáo viên… mà đôi khi phương pháp dạy học đã không tận dụng hết những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, để truyền tải nhiều thông tin cho người học một cách trực quan nên chất lượng dạy và học có mặt hạn chế. Sự thành công của một tiết dạy ngoài phương pháp dạy của giáo viên và cách học của học sinh, còn cần sự có mặt của đồ dùng dạy học. Chính vì cậy mà bản thân tôi luôn cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, trao đổi với đồng nghiệp và ứng dụng. Trong qúa trình tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi và ứng dụng đó bản thân tôi đã tìm ra một số giải pháp hữu ích góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng bộ môn Tin học lớp 6. Bằng những kinh nghiệm rút ra sau nhiều năm giảng dạy ở trường phổ thông tôi đã mạnh dạn viết đề tài ”Áp dụng phương pháp dạy học trực quan để nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học lớp 6” .

B. PHẦN NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN. Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học. Chỉ có đổi mới căn bản phương pháp dạy học và chúng ta có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới hướng tới nền kinh tế tri thức. Trong vài thập kỷ gần đây, đã có sự bùng nổ về thông tin hay gọi là thời đại thông tin. Cùng với việc sáng tạo ra hệ thống công cụ mới, con người cũng đã tập trung trí tuệ từng bước xây dựng ngành khoa học tương ứng để đáp ứng những yêu cầu khai thác tài nguyên thông tin. Trong bối cảnh đó, ngành Tin học được hình thành và phát triển thành một ngành khoa học độc lập với các nội dung, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu riêng và ngày càng có nhiều ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người. Tin học được đưa vào nhà trường, vào giáo dục của nước ta nhằm giúp học sinh chúng ta theo kịp với trình độ phát triển của khu vực và thế giới. Đưa Tin học vào nhà trường nói chung và THCS nói riêng là một việc làm cần thiết để các em làm quen và tiếp cận với công nghệ khoa học tiên tiến. Hoạt động nhận thức của con người là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Đối với học sinh lớp 6 khi học bộ môn Tin học này không thể làm trái với nguyên lý nhận thức đó. Việc dạy tin học trong nhà trường hiện nay đối với nước ta không phải là dễ, vì Tin học nó gắn liền với một công cụ riêng của môn học là máy tính. “Tin học là ngành khoa học nghiên cứu các quá trình có tính chất thuật toán nhằm mô tả biến đổi thông tin. Là khoa học dựa trên máy tính điện tử nghiên cứu cấu trúc, các tính chất chung của thông tin, các quy luật và phương pháp thu thập, lưu trữ, tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin một cách tự động chính xác qua công cụ là máy tính

điện tử”. Vậy làm thế nào để cho học sinh dễ hiểu một cách nhanh chóng chính xác và có kỹ năng thực hành là một nhiệm vụ rất quan trọng của người giáo viên dạy Tin học hiện nay. Để giảng dạy tốt bộ môn Tin học có chất lượng, đạt kết cao thì người thầy giáo ngoài tin thông về bộ môn Tin học, cần nắm chắc phương pháp dạy học trực quan. Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp dạy học mà từ các hình ảnh, hoạt động trực quan đến tư duy trừu tượng hay còn gọi trực quan hoá thông tin thông qua các công cụ trực quan. II. THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức hướng dẫn các hoạt động độc lập để học sinh tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu chương trình. Trên lớp, học sinh hoạt động là chính nhưng khi soạn giáo án, giáo viên phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện trên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng tranh luận sôi nổi của học sinh. Để làm được điều này thì đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên. Khó khăn lớn nhất hiện nay ở các trường học khi áp dụng phương pháp dạy học trực quan vào giảng dạy vẫn là trang thiết bị nghe nhìn, phương tiện dạy học… còn nhiều thiếu thốn và bất cập. Trường THCS Lãng Ngâm chưa có phòng học bộ môn, phòng học máy tính chưa đạt chuẩn về cả số lượng lẫn chất lượng. Để áp dụng phương pháp này vào dạy Tin học thì đòi hỏi phải có đèn chiếu (máy chiếu qua đầu – Over head) hay đèn chiếu (Projecter), máy vi tính đó là chưa kể đến việc nếu áp dụng đồng loạt thì mỗi lớp cũng đều phải được trang bị.

Tin học là một môn học mới được đưa vào giảng dạy tại trường THCS Lãng Ngâm từ năm 2005 đến nay chậm hơn so với các trường vùng đô thị đặc biệt là các em lớp 6 vừa mới tiếp xúc với bộ môn mới đầu tiên mặc dù các em rất thích máy tính nhưng là để chơi các trò chơi trên máy chứ chưa ý thức được tầm quan trọng của bộ môn nên chất lượng học tập còn hạn chế. Đây là bộ môn đặc trưng muốn đạt chất lượng cao đòi hỏi các em phải tiếp xúc với máy tính nhiều nhưng thời lượng mỗi tuần chỉ có 2 tiết trên lớp thì các em chưa thể thực hành hết các kiến thức đã học mà nếu có thực hành hết thì sẽ chóng quên. Trong giờ thực hành các em phải ngồi theo nhóm: 3 – 4 em/1 máy. Bên cạnh đó do hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn gia đình không có điều kiện để mua máy tính cho con em học, theo thống kê của giáo viên dạy thì mỗi lới chỉ được 3 đến 4 em là gia đình có máy vi tính. Một thực tế khác là ý thức học tập của một số học sinh không cao, không hứng thú trong học tập, lười hoạt động, không tích cực tự giác, ý thức tự học, tự rèn luyện yếu. Qua điều tra những tiết học đầu tiên về cả lí thuyết và thực hành tôi tiến hành đã thu được kết quả như sau: Lớp 6A

0

23

quên và chưa vận dụng vào thực hành được nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên. Từ thực tế trên và bản thân tôi là một giáo viên dạy bộ môn Tin học luôn suy nghĩa phải đưa ra những giải pháp như thế nào để các em nắm lí thuyết chắc hơn nhớ lâu hơn và vận dụng vào thực hành tốt hơn. Sau một thời gian suy nghĩ tiến hành thực nghiệm tôi đã thu được những kết quả rất tốt sau đây tôi xin đề ra một số giải pháp sử dụng các dụng cụ trực quan trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Tin học lớp 6 III. GIẢI PHÁP. 1. Trực quan hoá thông tin dạy học. Trực quan hoá thông tin dạy học là một quá trình thông qua đó người học tri giác các tài liệu học tập dưới dạng các biểu trưng hình ảnh, âm thanh, mô hình, vật thật,… với sự hỗ trợ của dụng cụ trực quan. Dụng cụ trực quan được sử dụng trong môi trường học tập như trong dạy học, giáo dục qua vệ tinh dựa trên cơ sở máy tính,… dụng cụ trực quan có thể được sử dụng hiệu quả để giảng dạy các sự kiện, các chỉ dẫn, các quá trình và các khái niệm trừu tượng mà chúng thường khó nhớ, khó hiểu. Các mục tiêu dạy học có thể thực hiện tốt nếu biết phát huy thông qua công cụ trực quan. Có thể nói dụng cụ trực quan có nhiều thuận lợi hơn hẳn so với dạy học bằng ngôn ngữ: Chứa nhiều thông tin và tổ chức thuận lợi các thông tin trong cùng một vị trí, làm đơn giản các khái niệm, làm sáng tỏ các chi tiết của một khái niệm dựa trên ngôn ngữ trừu tượng. Đặc biệt là tranh ảnh trực quan làm tăng sự nhớ trong học tập đây là một trong những mục tiêu hàng đầu của giáo dục. Từ những ưu điểm trên, tôi nhận thấy nếu áp dụng vào dạy học nhờ dụng cụ trực quan là đèn chiếu, tranh ảnh, biểu tượng…. vào dạy Tin học có hiệu quả rất cao.

Muốn sử dụng phương pháp dạy học này thành công thì việc đầu tiên người thầy phải làm là thiết kế các thông điệp trực quan đòi hỏi nhiều sức lực và trí lực nhưng lại là công việc đem lại nhiều lợi ích. Việc thiết kế các tài liệu dạy học trực quan mới có thể tạo nên sự thay đổi, và khi người học chú ý sẽ cho nhiều điều bổ ích. Người thiết kế

phải quan tâm tới khía cạnh giảng dạy, tính trực giác và đặc biệt quan tâm tới những kĩ năng học tập của học sinh trong nghiên cứu và thực hành. Người giáo viên phải biết phân tích chọn lựa các loại hình trực quan sao cho phù hợp với nội dung bài học. a. Dạy học trực quan bằng biểu trưng ngôn ngữ. Biểu trưng ngôn ngữ được tạo ra từ chữ viết dưới dạng một từ đơn lẽ hoặc câu hoàn chỉnh dùng đặt tên đối tượng, định nghĩa, mô tả đối tượng. Thường khi dạy các bài học lý thuyết tôi thường sử dụng loại biểu trưng trực quan bằng ngôn ngữ. Ví dụ: Dạy bài “Máy tính và phần mềm máy tính” tôi chiếu sơ đồ cấu trúc chung của máy tính điện tử lên màn hình rồi yêu cầu học sinh quan sát và cho biết máy tính điện tự gồm những phần nào. Sau đó giáo viên chỉ vào từng đối tượng trên sơ đồ và giới thiệu lần lượt các khái niệm của các thành phần trong cấu trúc máy tính.

cở chữ màu chữ đường gạch chân màu đường gạch chân các hiệu ứng khung hiển thị

? Hãy nêu tên các biểu tượng trên và tính năng của các biểu tượng * Dạy bài “Định dạng văn bản” ngoài việc định dạng văn bản bằng menu lệnh giáo viên cần cho học sinh định dạng văn bản thông qua các biểu tượng sau.

Hs nhìn vào biểu tượng và nêu chức năng của các biểu trượng từ đó các em nắm chắc hơn kiến thức lí thuyết để vận dụng vào làm thực hành tốt hơn. * Dạy bài “Trình bày trang văn bản và in” ngoài việc dùng lệnh in, xem văn bản bằng menu lệnh thì có thể in, xem văn bản thông qua các biểu tượng sau.

Các biểu tượng chương trình

Thanh công việc

d. Kết hợp các loại hình trực quan. Giữa các loại hình trực quan, người thiết kế có thể kết hợp đa dạng các loại biểu trưng trực quan ngôn ngữ, hình ảnh, đồ hoạ với nhau. Đối với hầu hết học sinh ba loại này bao gồm nhiều mức độ khác nhau rất có ích trong học tập. Ví dụ: Khi dạy bài “Máy tính và phần mềm máy tính” ta có thể sử dụng kết hợp giữa biểu trưng hình ảnh và biểu trưng ngôn ngữ.

Giáo viên yêu cầu: – Quan sát hình ảnh và cho biết ở hình trên đâu là thiết bị xuất, nhập,. .. * Dạy bài “Làm quen với soạn thảo văn bản”, “Định dạng văn bản”… ta có thể sử dụng kết hợp cả ba hình thức trực quan

Thanh Menu bar

Thước ngang Thanh Tool bar

Thanh Formating

Thướ c dọc Than h * Dạy bài “Định cuộn dạng văn bản” ta chiếu hình ảnh sau và kết hợp cho học sinh Than thực hiện định dạng phông chữ, cỡ chữ, kiểu chữ… trên máy tính thì học sinh dể tiếp h Draw thu bài và ghi nhớ lâu hơn. ing

3. Xây dựng các kĩ năng, thực hành a. Kĩ năng nhận biết tính năng các loại biểu tượng. Sau một tiết học tôi thường củng cố lại cho học sinh những cái vừa học bằng các dạng bài tập trắc nghiệm giúp học sinh nắm lại bài, học sinh có thể phân biệt được lệnh, các biểu tượng và nắm ý nghĩa của các biểu tượng. Ví dụ: Dạy bài “Làm quen với soạn thảo văn bản”: Nối các ý của cột A, B, C, D sao cho hợp lý. A

B

C

Ctrl + O

File Open

Ctrl + N

File Save

Ctrl + S

File Exit

Alt + F4

File New

D Tạo tập tin văn bản mới Đóng tập tin văn bản Mở văn bản đã có

Lưu văn bản * Khi dạy bài “Chỉnh sửa văn bản”: Dùng các từ, cụm từ điền vào chổ trống cho phù hợp. (1) Edit Copy

(5) Ctrl + V

(8)

(2) Edit Cut

(6) Ctrl + C

(9)

(3) Edit Paste (7) Ctrl + X (4) Delete Các bước sao chép khối

(10)

Để cho học sinh có hứng thú học tập, tạo kích thích tìm tòi, đồng thời góp phần thư giản cho các em thì trước khi kết thúc tiết học (5-10 phút) tôi thường tổ chức cho các em chơi một số trò chơi như: Solitaire, Spider Solitaire, Freecell… hay cho học sinh vẽ hình tự do bằng chương trình Paint mà qua các chương trình này học sinh được hình thành các kĩ năng sử dụng chuột, các thao tác với chuột. Với các giải pháp thực hiện nói trên nên năm học 2010-2011 hai lớp 6A, 6B trường THCS Lãng Ngâm đã đạt được kết quả đáng khả quan.

C. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Kết qủa Qua một thời gian ngắn thực hiện ứng dụng các dụng cụ trực quan vào dạy học tin học lớp 6 tôi nhận thấy: – Việc ứng dụng giúp Giáo viên truyền thụ kiến thức cho học sinh một cách tích cực và trực quan, tiết kiệm thời gian trong tiết dạy lí thuyết từ đó HS có thời gian thực hành nhiều hơn và trong quá trình thực hành học sinh nhớ kiến thức lâu hơn – Đối với học sinh tôi nhận thấy học sinh học tập tích cực hơn, hào hứng hơn, chú ý hơn, tham gia xây dựng bài sôi nổi hơn. Đặc biệt các em ghi nhớ kiến thức lâu hơn, chất lượng đi lên rõ rệt. Sau khi áp dụng các biện pháp trên vào các tiết dạy thể hiện chất lượng các mứt như sau. Cụ thể: * Về mức độ tiếp thu lý thuyết: Tổng số 6A 23 6B 23 Cộng 46 Lớp

Qua kết quả trên thể hiện rõ việc sử cải tiến phương pháp dạy học trong các bài giảng tin học đã có hiệu quả, chất lượng mũi nhọn và đại trà khá vững chắc học sinh đã chủ động trong các thao tác thực hành cụ thể là: So sánh với khảo sát đầu năm + Số em hiểu bài biết vận dụng kiến thức kĩ năng trình bày bài lí thuyết tăng 15.3% + Số em đạt trung bình tăng 13.1 % + Số em chưa hiểu bài, vận dụng yếu giảm 28.3 % + Số lượng học sinh kém không còn * Về kĩ năng thực hành: Lớp Tổng sốThực hành

Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử Lớp 9 Trung Học Cơ Sở / 2023

TIÊU ĐỀ1. Mở đầu

1

1.1 Lí do chọn đề tài1-21.2 Mục đích nghiên cứu1.3 Đối tượng nghiên cứu1.4 Phương pháp nghiên cứu2. Nội dung

2

2.1 Cơ sở lí luận

2.2 Thực trạng của vấn đề

3

2

3

2.3 Giải pháp

3-16

Kết luận, kiến nghị

17-18

1

1. MỞ ĐẦU1.1 Lý do chọn đề tài:Như chúng ta đã biết môn Lịch sử có một vị trí, ý nghĩa rất quan trọng đốivới việc giáo dục thế hệ trẻ. Nhà Bác học F-Ba-con đã chứng minh tầm quan trọngcủa việc học lịch sử trong việc hình thành và giáo dục trẻ em: ” Muốn tinh phải họcthơ, muốn đầu óc tập trung phải học sách Toán, muốn tư duy sáng suốt phải họclịch sử và các điều của luật pháp” ( Bàn về đọc sách)Từ những hiểu biết về quá khứ học sinh hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hàovới truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta, xác định nhiệm vụ hiệntại, có thái độ đúng với quy luật của tương lai, nhất là đối với học sinh lớp 9 cuốicấp trung học cơ sở.Tuy nhiên thời gian qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng đang rộ lênnhững tin, bài dở khóc dở cười về kiến thức làm bài thi môn Lịch sử của học sinh có thể nói là sự mơ hồ về lịch sử. Hơn nữa bộ môn Lịch sử được xem là môn phụ,lại khó học, khó nhớ, khó viết, khó làm bài nên điểm kiểm tra cũng như thi cử rấtthấp cho nên rất ít học sinh yêu thích học môn lịch sử, ngại học Lịch sử; cũng rất ítphụ huynh muốn con mình theo học bộ môn này.Nhưng bên cạnh đó vẫn có những học sinh đam mê môn học, yêu thích mônhọc và mạnh dạn đăng ký tham gia bồi dưỡng và tham dự kỳ thi học sinh giỏi môn

Lịch sử ở các cấp; và cũng có nhiều người trưởng thành, thành đạt từ môn Lịch sử như người ta thường nói “Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống”.Vậy làm thế nào để bồi dưỡng có hiệu quả – thực hiện công cuộc “bồi dưỡngnhân tài cho đất nước” trở thành nỗi trăn trở của những nhà quản lý cũng nhưnhững người trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử ở các cấp học, bậc học.Đối với bậc THCS, vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi văn hóa nói chung vàmôn Lịch sử nói riêng đã được nhiều nhà trường chăm lo, đầu tư rất bài bản. Tuynhiên, do nhiều yếu tố, kết quả mang lại không cao – đặc biệt đối với bộ môn Lịchsử.Qua thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch sử tham dự kỳ thi họcsinh giỏi cấp tỉnh trong những năm gần đây, bản thân tôi đã lựa chọn những giảipháp thiết thực, phù hợp và mang lại hiệu quả, có nhiều học sinh đạt giải cấp Tỉnh.Bởi vậy tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến của mình: Một số giải pháp nhằm nângcao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử lớp 9- THCS1.2 Mục đích nghiên cứu:Bồi dưỡng học sinh giỏi là công tác cực kì quan trọng giúp cho ngành giáodục phát hiện nhân tài, lựa chọn những mầm giống tương lai cho đất nước trong sựnghiệp trồng người. Đồng thời giúp cho học sinh thực hiện được ước mơ là conngoan, trò giỏi và có định hướng đúng về nghề nghiệp của mình trong tương lai.

2

ra những kết luận có ý nghĩa quan trọng thiết thực”. Đây chính là cơ sở để nhữngngười quan tâm đến sử học và những thầy cô giáo giảng dạy môn lịch sử cần nhậnthức đúng, sâu sắc, ý nghĩa, vị trí của bộ môn Lịch sử ở trường THCS và tìm ranhững phương pháp để nâng cao chất lượng bộ môn, thu hút được nhiều học sinhyêu thích học lịch sử và học giỏi lịch sử.2.2 Thực trạng của vấn đề:Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lịch sử ở trường THCS trong nhiều năm tôinhận thấy:– Học sinh chưa thật sự yêu thích môn học này , khả năng đánh giá, nắm bắtsự kiện chưa cao, chưa hiểu hết bản chất của sự kiện, vấn đề của lịch sử.– Hiện nay một số học sinh và phụ huynh có thái độ chưa coi trọng bộ mônlịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần làm bài tập, khôngcần học. Học không biết sau này làm được gì? Do đó việc tuyển chọn học sinh cóhọc lực khá giỏi vào đội tuyển sử rất khó khăn. Dẫn đến chất lượng bài thi học sinhgiỏi môn lịch sử của các trường trung học Sầm Sơn trong những năm gần đây rấtthấp.– Phương pháp giảng dạy cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi còn nghèo nàn,đơn điệu, khả năng kết hợp đa dạng các phương pháp chưa tốt, tính sáng tạo tronggiảng dạy chưa cao.– Kết quả học tập của học sinh còn thấp, đặc biệt là ở kì thi học sinh giỏinhững năm trước đây.– Xuất phát từ nhu cầu của học sinh và tình hình môn học, qua quá trìnhgiảng dạy tôi đã tìm tòi và thực nghiệm nhiều giải pháp, kết quả học sinh hứng thú,chăm chỉ học tập, nắm bắt sử liệu nhanh, so sánh, nhận xét đánh giá linh hoạt hẳnlên, kết quả thi học sinh giỏi ngày càng cao.Từ những cơ sở trên tôi quyết định chọn đề tài này, để nêu lên những kinhnghiệm của bản thân, đóng góp một số ý kiến vào quá trình đổi mới môn học, nângcao khả năng nhận thức của học sinh, nhằm giúp các em đạt kết quả cao trong cáckì thi học sinh giỏi.2.3 Giải pháp:Để đạt được kết quả cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, bản thân tôi đãthực hiện các giải pháp sau:Giải pháp 1. Sử dụng phim tư liệu và công nghệ thông tin nhằm gây hứng thúcho học sinh, giúp các em yêu thích môn lịch sử.Lâu nay nói đến môn lịch sử đa số học sinh đều ngại học vì kiến thức dài,phải ghi nhớ nhiều sự kiện…..Vì vậy việc chọn lựa học sinh vào đội tuyển rất khó.Để thay đổi cách dạy truyền thống tôi đã đưa nhiều bộ phim tư liệu vào dạy chohọc sinh. Qua những tiết học như vậy tôi thấy học sinh rất hứng thú học tập, chămchú xem và hiểu bài ngay trên lớp, giờ học sôi nổi, nhẹ nhàng. Từ đó rất nhiều học

4

sinh thích học bộ môn lịch sử. Thậm chí nhiều học sinh xung phong vào đội tuyểnhọc sinh giỏi.Ví dụ khi dạy đến chương III: Việt Nam trong những năm 1939-1945.Tôihướng dẫn cho học sinh xem bộ phim tư liệu: ” Nỗi đau lịch sử- Nạn đói khủngkhiếp năm 1945″ Học sinh xem phim và sẽ hiểu được dưới hai tầng áp bức Pháp –Nhật nhân dân ta đã bị đẩy đến thảm họa hơn hai triệu đồng bào bị chết đói.Ví dụ Khi dạy chương V: Kháng chiến chống Pháp 1946-1954. Tôi hướngdẫn cho học sinh xem các bộ phim tư liệu:– Phim tư liệu cuộc kháng chiến chống Pháp– Đại tướng Võ Nguyên Giáp ” Những trận đáng chấn động thế giới”– Điện Biên Phủ: Sự kiện và nhân chứng.Ví dụ khi dạy chương VI: Việt Nam từ năm 1954- 1975. Cuộc kháng chiếnchống Mĩ cứu nước của nhân dân ta. Tôi hướng dẫn cho học sinh xem bộ phim tưliệu ” Đường mòn Hồ Chí Minh”Sau hiệp định Giơ-ne-vơ nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Mĩ nhảyvào biến Miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ. Vĩ tuyến17 trở thành phòng tuyến quân sự của Mĩ.Mĩ ban hành Luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam thảm sát tập thể,các hình thức tra tấn thời trung cổ nhưng không lay chuyển được ý chí chiến đấucủa nhân dân miền Nam .Bác Hồ quyết định : Đấu tranh chính trị kết hợp với đấutranh vũ trang, quyết định mở Đường Trường Sơn. Thượng tá Võ Bẩm người gốcLiên khu V được giao nhiệm vụ dẫn đoàn quân sự đặc biệt mở đường 559. Chuyếnđầu tiên đưa 10 vạn tấn hàng đi B – giữ bí mật tuyệt đối- chi viện người và của chomiền Nam.Đường Trường Sơn là một kì công trong lịch sử chiến tranh. Thể hiện quyếttâm sắt đá của Đảng ta ” Dù khó khăn đến mấy cũng phải mở đường Trường Sơn”Con đường mòn, con đường ra tiền tuyến. ” Đi không dấu, nấu không khói, nóikhông tiếng”Chuyên gia Mĩ đã nói: Cuộc chiến tranh này đã sử dụng những thành tựu tốitân nhất, những loại vũ khí tân tiến lần đầu tiên được sử dụng ở Việt Nam. Mĩ chi110 tỉ đô la cho cuộc chiến tranh này. Cứ 5 quả bom trên 1 mét đường Trường Sơn.Nhà báo Pháp đã nói: Điều làm ta buồn phiền là đườn mòn Hồ Chí Minhkhông phá hủy được. Trên Đường mòn ấy, cộng sản đã được Đức Phật phùhộ.Lịch sử là một môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì diễn ra trongquá khứ. Chính vì thế nhiệm vụ của dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh quákhứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ , vân dụng nó vào trong cuộc sống hiện tạivà tương lai. Trong việc khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, thìnhững bộ phim tư liệu, phương tiện trực quan là yếu tố hết sức cần thiết. Tuy nhiêncác đồ dùng truyền thống chưa đủ để truyền tải thông tin, chưa có tính sinh động,5

hấp dẫn để cuốn hút học sinh tập trung vào bài giảng… Có những bài kênh hìnhsách giáo khoa chưa đủ để học sinh nắm bắt được đầy đủ các thông tin sự kiện,nhân vật lịch sử… mà cần phải có những hình ảnh, những bức tranh bên ngoài đưavào để minh hoạ cho bài giảng.Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, xu hướng dạy học hiện đại với sự kết hợpnhững thành tựu công nghệ thông tin đã và đang diễn ra một cách khá phổ biến ởcác nghành học, cấp học. Ứng dụng Công nghệ thông tin với tư cách là một phươngtiện hỗ trợ cho việc dạy học mang lại ưu thế và hiệu quả cao trong dạy học bộ mônlịch sử.Giáo viên dùng lời nói , sử dụng hình ảnh, phim ảnh kết hợp với tổ chức chohọc sinh phát hiện … giúp học sinh học tập chú ý hơn, tạo được cảm xúc tìm tòi,nhận thức và khái quát hoá sự kiện, hiện tượng lịch sử.Cũng giống như các bộ môn khác lịch sử có nhiều khả năng để ứng dụngcông nghệ thông tin vào dạy học. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên cùng một lúccác em huy động nhiều giác quan để học tập, do đó việc ghi nhớ sự kiện, địa danh,nhân vật tốt hơn, tái tạo quá khứ dễ dàng hơn. Không có đồ dùng trực quan dù giáoviên có dạy hay đến đâu, lời nói dù có sinh động, giàu hình ảnh đến mấy cũng khócó thể tái tạo cho học sinh biểu tượng cụ thể, chính xác về quá khứ.Khi ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học lịch sử, chỉ với một thao tácđơn giản, cùng một lúc giáo viên sẽ thực hiện được các nhiệm vụ: Cung cấp sựkiện, tạo biểu tượng và đặt cơ sở cho việc hình thành khái niệm.Ví dụ: Khi dạy bài 27: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Phápxâm lược kết thúc( 1953-1954)Để tổ chức học sinh trả lời câu hỏi: Vì sao Pháp- Mĩ lại chọn Điên Biên Phủđể xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương ? ( Coi Điện Biên Phủ làpháo đài bất khả xâm phạm)Giáo viên trình chiếu cho học sinh quan sát lược đồ giáo khoa điện tử khắchoạ về địa thế của Điện Biên Phủ, về sự gấp rút xây dựng lực lượng cơ động mạnhcủa quân Pháp ở đây. Kết hợp với phương pháp trao đổi, đàm thoại, nêu vấn đề…Lược đồ được xây dựng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, có hiệu ứng sinhđộng, kèm theo hình ảnh…học sinh sẽ cảm nhận được các sự kiện lịch sử sâu sắc.

6

Phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài như thế sẽ giúp các em hiểurằng trước những đòn tấn công quyết liệt của quân dân ta, Na Va đã quyết định xâydựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm hùng mạnh, chấp nhận giao chiến vớita. điều này xuất phát từ nhận định: Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn, baoquanh toàn là đồi núi trùng điệp nhưng lại là chìa khoá để bảo vệ Thượng Lào vàchiếm lại các vùng đất đã mất ở Tây Bắc Việt Nam. Đối với Việt Minh nơi đây quáxa hậu phương, địa hình rừng núi hiểm trở nên tiếp tế sẽ khó khăn. Nếu chẳng maythất bại, Pháp sẽ dễ dàng mở một con đường tháo chạy sang Lào …Từ nhận địnhnày, được sự giúp đỡ của Mĩ, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàncứ điểm hùng mạnh với 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu lớn, với số quân tinhnhuệ 16.200 tên, được trang bị những loại vũ khí tối tân, hiện đại… nên cả Pháp vàMĩ đều nhận định: ” Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả xâm phạm “.

7

Ứng dụng công nghệ thông tin còn mở rộng tầm hiểu biết của học sinh ra thếgiới bên ngoài. Thấy được sự tiến bộ vượt bậc của khoa học- kĩ thuật, trí thôngminh của con người. Từ đó giáo dục cho học sinh ý thức học hỏi, vận động, sángtạo trong học tập và đời sống.Ví dụ khi dạy bài 9: Nhật Bản- SGK lớp 9– Giáo viên cho học sinh sử dụng loại kênh hình để khai thác kiến thức thì giáoviên cần cho học sinh quan sát và qua đó yêu cầu học sinh miêu tả, phân tích, vàđánh giá các sự kiện lịch sử, rút ra mối liên hệ giữa các sự kiện.–

Khi cho học sinh quan sát các hình ảnh của nước Nhật:+ Tàu chạy trên đệm từ đạt tốc độ 4000km/h

+ Cầu Sê-tô O-ha-si nối liền các đảo chính Hôn-Xiu và Xi-cô-cư.

8

Nhật Bản là một quốc gia không được thiên nhiên ưu đãi như các nước kháctrên thế giới. Tuy nhiên với sự nỗ lực của bản thân, người dân Nhật Bản đã vươnlên và trở thành một trong ba trung trung kinh tế lớn của thế giới ( Mĩ – Tây Âu Nhật Bản).Nhật Bản rất chú trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong tất cả cáclĩnh vực và cầu Sê-tô-O-ha-ri là một trong lĩnh vực về sự phát triển trong giaothông vận tải của nước này.Cầu Sê-tô-O-ha-ri là một cây cầu lớn của Nhật Bản vượt biển dài 9,4km.Lũng cầu đôi, dành cho đường ôtô cao tốc và xe lửa. Tuyến đường này có bốn lànđường cho ôtô và một đường ray cho xe lửa.Cầu Sê-tô-O-ha-ri được biết đến với sự thán phục hâm mộ với nhân dân thếgiới. Một loạt tuyến đường cao tốc và đường ray được kết nối với nhau và chạy quacây cầu nổi tiếng nối hai đảo chính Hôn -Xiu và Xi-cô-cư .Qua quan sát các hình ảnh này giáo viên phải đặt các câu hỏi gợi mở để học sinhrút ra nhận xét đánh giá được sự phát triển thần kì về kinh tế và khoa học kỹ thuậtcủa Nhật Bản. Cũng thông qua đó giáo dục cho học sinh ý thức tự lực tự cường,phấn đấu để vươn lên.Giải pháp 2. Tuyển chọn học sinh:Trong công tác Bồi dưỡng HSG khâu phát hiện và tuyển chọn học sinh rấtquan trọng chẳng khác nào “chọn giống của nhà nông”. Giáo viên cần lựa chọn đốitượng học sinh khá, giỏi, có kiến thức bộ môn, yêu thích môn học, có tính năngchuyên cần, thích học hỏi, chữ viết đẹp.Trong những năm gần đây, việc thành lập các đội tuyển của nhà trường đượctiến hành từ đầu năm học lớp 9 .Tuy nhiên tôi đã ngầm thành lập đội tuyển củamình trước đó thông qua các bài kiểm tra định kì ở các lớp dưới phát hiện học sinhcó năng khiếu, có sự yêu thích học Lịch sử tôi trực tiếp gặp các em để tìm hiểu tâmlý, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê, giới thiệu các em tham gia vào đội tuyển đểbồi dưỡng. Phân tích cho các em niềm tự hào, hãnh diện khi đỗ đạt. Đã là học sinhgiỏi cấp Thị, cấp Tỉnh có giải thì đương nhiên bất cứ môn học nào cũng đượchưởng chế độ ưu tiên ngang nhau và vinh quang như nhau.– Bên cạnh đó, tôi còn gặp các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm thămhỏi tình hình học tập của các em để chọn ra những học sinh có năng lực, có tố chấtthông minh và làm siêng. Học sinh đó phải học khá các môn khác, nhất là mônToán, Ngữ văn, vì môn lịch sử cũng cần ở học sinh khả năng phân tích, tư duy logicvà kết hợp những kiến thức văn, thơ minh họa cho bài viết thêm sinh động, giảm sựkhô khan nhàm chán gây được thiện cảm cho người đọc.Giải pháp 3. Xây dựng kế hoạch/ chương trình bồi dưỡng/ Tài liệu, giáo án chitiết cụ thể:9

Lịch sử địa phươngÔn luyện

Giáo viên cần biên soạn chương trình, giáo án bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chitiết cho từng buổi, về từng mảng kiến thức theo số tiết quy định nhất định và nhấtthiết phải bồi dưỡng theo quy trình từ thấp đến cao, từ dễ đến khó để các em họcsinh bắt nhịp dần.Chương trình bồi dưỡng cần có sự liên thông trong suốt 4 năm liền (từ lớp 6đến lớp 9 ). Hệ thống đề cương cho học sinh ôn luyện gồm 3 phần: Lịch sử thế giới,Lịch sử Việt Nam và lịch sử địa phương.Chương trình lớp 6, 7 chọn những sự kiện tiêu biểu.Lớp 8 bao gồm: Lịch sử thế giới cận đại và lịch sử Việt Nam cận đại,Lớp 9: Lịch sử Thế giới hiện đại và lịch sử Việt Nam.Lịch sử địa phương từ lớp 6 -lớp 9.Giáo viên sưu tầm tài liệu bồi dưỡng, bộ đề thi các cấp trong tỉnh nhà vàcác tỉnh khác thông qua công nghệ thông tin nhằm giúp các em tiếp xúc làm quenvới các dạng đề , luôn tìm đọc, tham khảo các tài liệu hay để hướng dẫn cho họcsinh.Giáo viên hướng dẫn học sinh các tài liệu, sách vở, băng đĩa phù hợp vớitrình độ của các em để tự rèn luyện thêm ở nhà. Đồng thời cung cấp hoặc giới thiệucác địa chỉ trên mạng để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức.Nắm vững phương châm : dạy chắc cơ bản rồi mới nâng caoThông qua những bài luyện cụ thể để dạy phương pháp tư duy, khả năngphân tích, đánh giá, so sánh các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử.Để chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả thì cần có kế hoạchbồi dưỡng học sinh giỏi liên tục và đều đặn, không dồn ép ở tháng cuối trước khithi vừa quá tải đối với học sinh vừa ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu kiến thức ởmôn học khác của học sinh.Giải pháp 4. Giáo viên dạy đội tuyển phải thường xuyên trao dồi kiến thức, tựhọc tự bồi dưỡng:Muốn có HSG phải có Thầy giỏi vì thế người thầy phải luôn luôn có ý thứctự rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh nghiệm, trau dồi chuyên môn, luôn xứng đánglà “người dẫn đường tin cậy” cho học sinh noi theo. Cổ nhân có câu: ” Một gánhsách hay không bằng một thầy giáo giỏi” . Thực tế chứng minh có những ngườithầy giáo lịch sử giỏi đã trở thành một vĩ nhân của dân tộc, cả thế giới ngưỡng mộtôn vinh. Đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Đại tướng của nhân dân, vị tướnghuyền thoại của lịch sử chiến tranh thế giới. Cho nên người thầy phải giúp học sinhhiểu hết ý nghĩa của môn lịch sử trong cuộc sống, xã hội…Phải thường xuyên tìmtòi các tư liệu, sách báo, kiến thức nâng cao trên các phương tiện, đặc biệt là trên

11

mạng internet. Lựa chọn trang Web nào hữu ích nhất, tiện dụng nhất, tác giả nàohay có các chuyên đề hay, khả quan nhất để sưu tầm tài liệu…Giải pháp 5 .Hướng dẫn học sinh hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy vàlập bảng niên biểu.Trong dạy học lịch sử, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh vẽ sơ đồ tư duyđể khái quát lại nội dung kiến thức của toàn bài, toàn chương…Ví dụ khi dạy bài 13 SGK lịch sử lớp 9: Tổng kết lịch sử thế giới từ sau năm1945 đến nay. Giáo viên cần cho học sinh hệ thống lại kiến thức bằng sơ đồ tư duy.Hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy giúp học sinh có khả năng kháiquát cao, ghi nhớ được những sự kiện, những nội dung lịch sử nổi bật.Niên biểu được tạm chia thành 3 loại chính:– Niên biểu tổng hợp: bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra trong thời gian dài.Loại niên biểu này giúp học sinh không chỉ ghi nhớ những sự kiện chính mà cònnắm được các mốc thời gian đánh dấu mối quan hệ của các sự kiện quan trọng.Ví dụ niên biểu những sự kiện chính từ năm 1930-1945; 1946- 1954; 19541975; niên biểu những thành tựu của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chíênchống Pháp 1946-1954…– Niên biểu chuyên đề: đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan trọng nổi bậtnào đó của một thời kì lịch sử nhất định nhờ đó mà học sinh hiểu được bản chất sựkiện một cách toàn diện, đầy đủ. Ví dụ niên biểu “8 sự kiện chính của cách mạngtháng Tám”– Niên biểu so sánh dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện xảy ra cùng một lúctrong lịch sử, hoặc ở thời gian khác nhau nhưng có những điểm tương đồng, dị biệtnhằm làm nổi bật bản chất, đặc trưng của các sự kiện ấy, hoặc để rút ra một kết luậnkhái quát. Bảng so sánh là một dạng của niên biểu so sánh nhưng có thể dùng sốliệu và cả tài liệu sự kiện chi tiết để làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện cùngloại hoặc khác loại.Ví dụ niên biểu so sánh chủ trương của Đảng trong cao trào 1930-1931 và 19361939 có gì khác nhau; Bảng so sánh giữa chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiếnlược chiến tranh cục bộ của Mĩ…..*.Cách thức lập bảng niên biểu hệ thống hoá kiến thứcCó thể tiến hành việc lập bảng theo các bước sau.-Trước hết, giáo viên tìm hoặc hướng dẫn học sinh tìm những vấn đề, những nộidung có thể hệ thống hoá bằng cách lập bảng. Đó là các sự kiện theo trình tự thờigian, các lĩnh vực … Tuy nhiên chỉ nên chọn những vấn đề tiêu biểu giúp việc nắmkiến thức tốt nhất, đơn giản nhất, không nên đưa ra quá nhiều các loại bảng làmviệc hệ thống kiến thức trở nên rối.-Thứ hai, lựa chọn hình thức lập bảng với các tiêu chí phù hợp.12

Với bảng niên biểu sự kiện: có thể lập theo các tiêu chí thời gian, sự kiện, kếtquả- ý nghĩa…* Em hãy chọn 08 sự kiện tiêu biểu trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm1945 và điền vào bảng sau :STT Thời gian114-15/82

15/8/1945

3

1617/8/1945

4

19/8/1945

5

23/8/1945

6

25/8/1945

7

30/8/1945

8

2/9/1945

Tên sự kiệnHội nghị toàn quốc củaĐCS Đông Dương họp ởTân Trào( Tuyên Quang)Mệnh lệnh khởi nghĩa từTân Trào truyền về HàNộiĐại hội quốc dân họp ởTân Trào (tuyên Quang)

Nội dung, ý nghĩaQuyết định tổng khởi nghĩa dànhchính quyền trong toàn quốctrước khi quân đồng minh vàoCổ vũ mạnh mẽ công cuộc chuẩnbị khởi nghĩa giành chính quyềnở Hà Nội và trong toàn quốcLãnh tụ Hồ Chí Minh ra mắttrước đại biểu quốc dân. Lệnhtổng khởi nghĩa được ban bố, 10chính sách của Việt Minh đượcthông qua khích lệ cả nước nổidậy giành chính quyền.Giành chính quyền ở Hà Giành chính quyền ở Hà Nội, cơNộiquan đầu nãm của Nhật bị tiêudiệt.Quyết định đến thắng lợi trongtoàn quốcGiành chính quyền ở Trung tâm đầu não chính quyềnHuếthân Nhật bị tiêu diệtGiành chính quyền ở SàiGònTại Huế, vua Bảo Đạinộp ấn kiếm cho chínhquyền cách mạng.Nước VNDCCH ra đời

Thủ tiêu cơ quan kinh tế quantrọng của NhậtChế độ phong kiến Viêt Nam bịsụp đổ hoàn toàn

Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặtchính phủ lâm thời đọc Tuyênngôn độc lập- Khai sinh ra nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà.1Với bảng niên biểu tổng hợp: tùy vấn đề mà xác định tiêu chí phù hợp.Ví dụ, với bảng niên biểu những thành tựu toàn diện của cuộc kháng chiến chốngPháp có thể lập với các tiêu chí: lĩnh vực, thành tựu, kết quả – ý nghĩa; niên biểunhững thắng lợi tiêu biểu trên mặt trận quân sự trong kháng chiến chống Pháp vớicác tiêu chí thời gian, chiến thắng, kết quả-ý nghĩa…13

* Trình bày những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta trên cácmặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao trong kháng chiến chống Pháp từ12/1946- 7/1954Thời gianQuân sựChính trịNgoại giao12/1946Cuộc chiến đấucủa quân dân HàNội và các đô thịvĩ tuyến 16 ” giamchân địch”1947Chiến dịch ViệtBắc Thu-Đông kếtthúc bằng sự rútchạy của quânPháp khỏi ViệtBắc.Cơ quan đầu nãokháng chiến đượcan toàn.1950Chiến dịch BiênTrung Quốc, Liêngiới thu đông làmXô và các nước dânphá sản kế hoạchchủ nhân dân đãRơ ve của Pháp.đặt quan hệ ngoạigiao với nước ta.1950-1953Ta mở các chiến – 2/1951 Đại hộidịch: Trung du, đại biểu toàn quốcĐường số 18, Hà lần thứ 2 họp ởNam Ninh, Hòa Chiêm Hóa(TuyênBình, Tây Bắc, Quang). Đánh dấuThượng Lào và bước trưởng thànhgiành thế chủ động của Đảng và thúctrên chiến trường. đẩy kháng chiến điđến thắng lợi.– Mặt trận LiênViệt được thành lập3/1951– Đại hội chiến sĩthi đua và cán bộgương mẫu lần thứnhất đã bầu chọnđược 7 anh hùng.14

1954

Chiến cuộc ĐôngXuân 1953-1954bước đầu làm phásản kế hoạch NaVa7/5/1954Chiếndịch Điện BiênPhủ toàn thắng.Đánh bại cuộc xâmlược của Pháp vàcan thiệp Mĩ ởĐông Dương

21/7/1954Hiệpđịnh Giơ ne vơ vềĐông Dương đượckí kết- Là văn bănquốc tế ghi nhậncác quyền cơ bảncủa 3 nước ĐôngDương.

-Với niên biểu so sánh :Ví dụ: Hãy so sánh hai phong trào cách mạng 1930-1931 và 1936-1939 theo nhữngnội dung sau:Nội dung1930-19311936-1939Kẻ thù cách mạngĐế quốc và phong kiếnBọn phản động Pháp vàtay saiNhiệm vụ và mục tiêu cách Chống đế quốc giành độc Chống phát xít, chốngmạnglập dân tộc, chống phong chiến tranh. Chống bọnkiến chia ruộng đất cho phản động thuộc địa vàdân càytay sai đòi tự do dânchủ, cơm áo, hòa bìnhHình thức đấu tranhBí mật, bất hợp phápHợp pháp, nửa hợppháp, công khai, nửacông khai.Lực lượng tham giaNông dân, công nhânĐông đảo các tầng lớpnhân dân.Ví dụ: So sánh chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và chiến lược ” chiến tranh cụcbộ” của đế quốc Mĩ theo các nội dung sau:Nội dungChiến tranh đặc biệtChiến tranh cục bộThời gian tiến hành chiến 1961- 19651965- 1968tranhPhạm vi chiến tranhMiền Nam Việt NamCả nước Việt NamLực lượng chính tham giaQuân đội ngụy Sài GònQuân đội Mĩ và quânđồng minh

15

Tính chất chiến tranh

Chiến tranh xâm lược Chiến tranh xâm lượcthực dân kiểu mới của Mĩ thực dân kiểu mới củaMĩ

Giải pháp 5. Thường xuyên chấm chữa bài cho học sinhMột học sinh giỏi không chỉ nắm vững kiến thức lịch sử, vững kỹ năng màcòn có sự sáng tạo. Vì vậy, trong quá trình bồi dưỡng cho học sinh tôi thườngxuyên quan tâm đến việc chấm và sửa bài cho học sinh. Bài viết cần phải được sửachữa, chỉ bảo cụ thể, để phát huy những cái hay, sửa sai kịp thời những cái dở, đểcó sự nhìn nhận đánh giá một cách công bằng, khách quan mỗi khi tuyển lựa độituyển chính thức đi dự thi.Sau khi dạy một chuyên đề, hay một giai đoạn lịch sử tôi thường tổ chứckiểm tra để chấm và sửa bài cho học sinh. Kiểm tra có thể cho bài tập các em vềnhà làm, quy định thời gian nộp bài, nhưng theo tôi tốt nhất là cho học sinh làm bàikiểm tra ngay trên lớp bồi dưỡng.Việc chấm chữa bài cho học sinh còn nhằm rèn cho các em kĩ năng làm bài,kĩ năng ghi nhớ các sự kiện qua sơ đồ tư duy, bảng thống kê, lập bảng so sánh cácsự kiện lịch sử…, kĩ năng trình bày, kĩ năng diễn đạt,Ngoài việc thường xuyên chấm chữa bài cho học sinh, tôi còn giao cho họcsinh kiểm tra chéo lẫn nhau, chấm chữa bài cho nhau, kiểm tra miệng theo cặp…giúp học sinh củng cố và bổ sung kiến thức cho nhau, rút kinh nghiệm cho nhau.Giải pháp 6. Hướng dẫn cho học sinh một số kĩ thuật khi làm bài thi.– Đọc kĩ đề để nhận định đúng tránh lạc đề.– Lập dàn ý cho từng câu để tránh tình trạng bỏ sót ý.– Phải làm hết tất cả các câu hỏi.– Tùy theo số điểm của từng câu hỏi trong đề mà phân bố thời gian làm bàicho hợp lí. Trung bình câu 2 điểm tối đa làm hết 15 phút. Nếu các câu nhiều điểmcứ như thế mà nhân lên.– Câu nào dễ làm trước, khó làm sau.– Bài viết phải rõ ràng, sạch sẽ, không sai lỗi chính tả, ngữ pháp, dễ đọc,tránh tẩy xóa, tránh thay giấy.2.4 Hiệu quả:Nhờ những giải pháp trên cùng với sự nổ lực của cả thầy và trò, sự quan tâmcủa lãnh đạo nhà trường, đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9 do tôi dạy đãđạt được một số kết quả sau:– Chọn lựa được những học sinh có năng lực và phẩm chất tốt vào đội tuyển.– Đa số các em đều yêu thích môn học và có động cơ học tập đúng đắn.– Chữ viết và trình bày ngày càng tiến bộ.– Rèn luyện được các kĩ năng cho học sinh.

16

– Số giải học sinh giỏi cấp Thị, cấp Tỉnh năm sau nhiều hơn năm trước.Nhiều em thi đậu vào chuyên Lam SơnNăm họcĐạt giải cấp ThịĐạt giải cấp TỉnhThi đậu vào chuyênLam Sơn2013-20145/5 em đạt giải2 em đạt giải3 em thi đậu2014-2015

6/8 em đạt giải

3 em đạt giải

2015-2016

7/8 em đạt giải

6 em đạt giải

5 em thi đậu( Trongđó 2 em đạt điểm tốp10)

17

– Phòng giáo dục nên tổ chức thi chọn đội tuyển và bồi dưỡng học sinh giỏingay cuối năm học lớp 8.– Soạn thảo khung chương trình và kiến thức ôn thi chung cho học sinh giỏitoàn thị. Giáo viên các trường bám theo khung phân phối chương trình để ôn thicho học sinh.– Chú trọng hơn công tác khảo sát, lựa chọn học sinh vào lớp bồi dưỡng họcsinh giỏi.– Chọn nguồn học sinh số lượng nhiều(20 học sinh). Khảo sát chọn học sinhgiỏi thi đội tuyển cấp Tỉnh qua nhiều bài khảo sát.– Ra đề thi cần bám sát cấu trúc đề thi của Sở giáo dục.

Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

Sầm Sơn, ngày 25 tháng 3 năm 2016Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinhnghiệm của mình viết, không sao chépnội dung của người khác.Người viết

Lê Tiến DũngNguyễn Thị Lý

18

TÀI LIỆU THAM KHẢOTuyển tập bộ đề thi học sinh giỏi cấp Tỉnh của các Tỉnh qua nhiều năm.SGK Lịch sử Lớp 9, SGK Lịch sử Lớp 12 NXB giáo dục Việt Nam.Tuyển chọn đề thi học sinh giỏi 9 và tuyển sinh vào Lớp 10 chuyên mônLịch sử, NXB Đại học sư phạm năm 2011 của tác giả Lê Thị Hà, Đặng ThịQuyên.Giải đáp câu hỏi và bài tập Lịch sử 9, NXB Sư phạm Hà Nội của tác giảĐoàn Công Thương, Nguyễn Thị Kim Hoa.Các bộ phim tư liệu trên kênh VTV1 của Đài truyền hình Việt Nam.

19

Bạn đang đọc nội dung bài viết Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Công Nghệ Lớp 7.2 Trường Trung Học Cơ Sở Truông Mít Thông Qua Sử Dụng Video Clip, Hình Ảnh Bổ Sung Khi Dạy Phần Trồng Trọt / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!