Đề Xuất 5/2022 # Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mẫu Giáo 5 6 Tuổi Trong Trường Mầm Non # Top Like

Xem 13,464

Cập nhật nội dung chi tiết về Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mẫu Giáo 5 6 Tuổi Trong Trường Mầm Non mới nhất ngày 25/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 13,464 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Gdngll
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên
  • Làm Thế Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo?
  • Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Phổ Thông Quảng Trị
  • THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

    1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục lễ

    giáo cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi trong trường Mầm Non.

    2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực phát triển tình cảm- kỹ năng

    xã hội.

    3. Tên tác giả:

    Họ và tên: Nguyễn Thị Nguyệt

    Ngày tháng năm sinh: 22/8/1981

    Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Mầm Non

    Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Mầm non Chí Minh.

    Điện thoại: 01682777244

    4. Đồng tác giả: Không.

    5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

    6. Đơn vị áp dụng: Trường Mầm Non Chí Minh- Thị xã Chí Linh- Tỉnh

    Hải Dương.

    7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

    Giáo viên có trình độ chuyên môn

    Nhà trường có đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ đề tài nghiên cứu

    Phối hợp với các bậc phụ huynh chặt chẽ về việc dạy trẻ ở nhà.

    8.Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 9/2014 đến tháng 2/2015

    HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ

    XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ

    ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

    NGUYỄN THỊ NGUYÖT

    1

    TÓM TẮT SÁNG KIẾN

    1. Hoàn cảnh này sinh sáng kiến

    Trong thời đại ngày nay, Việt Nam đang trên đà tiến lên công nghiệp

    hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự phát triển của một thế giới hiện đại đòi hỏi mỗi

    chúng ta phải nhanh nhạy, linh hoạt, sáng tạo mới bắt kịp được sự thay đổi

    không ngừng của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Chính vì vậy mà

    thời gian dành cho gia đình, con cái ngày càng bị thu hẹp, hạn chế hơn. Hàng

    ngày trong gia đình bố mẹ, con cái ít có thời gian trò chuyện, gặp mặt nhau.

    Gia đình hiện đại bây giờ họ thường phó mặc con cái cho người giúp việc ở

    nhà hoặc cô giáo ở lớp. Nên họ không có thời gian giáo dục, dạy dỗ con cái cho

    dù chỉ là những “lời ăn tiếng nói” gần gũi nhất đối với con trẻ như: những tiếng

    chào hỏi lễ phép, đi thưa về gửi, kính trọng người lớn, sự ngăn nắp gọn gàng…

    Khi nhận thấy được thực trạng lễ giáo của lớp mình còn rất nhiều hạn chế nên

    ngay từ đầu năm tôi đã khảo sát trên trẻ về giáo dục lễ giáo kết quả chỉ có 24%

    trẻ biết chào hỏi lễ phép, 29% trẻ có thói quen ngăn nắp gọn gàng, 26% trẻ biết

    kính trọng người lớn, 21% trẻ biết cảm ơn, xin lỗi. Do thấy được những thực tế

    đó tôi đã suy nghĩ và tìm tòi ra một số biện pháp nhằm giúp trẻ mẫu giáo 5 -6

    tuổi trong trường mầm non có thói quen lễ giáo trong cuộc sống hàng ngày.

    2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.

    + Điều kiện: Để thực hiện tốt các biện pháp đề ra bản thân giáo viên

    phải luôn tìm tòi và thực hiện nghiêm túc thời gian biểu. Phối kết hợp chặt chẽ

    giữa phụ huynh và giáo viên, thông tin 2 chiều giữa gia đình và nhà trường kịp

    thời để có những biện pháp giáo dục cụ thể phù hợp với tâm sinh lý của trẻ.

    + Thời gian: Để đạt được kết quả như mong đợi thời gian áp dụng sáng

    kiến này ít nhất là 06 tháng và dài nhất là 02 năm.

    + Đối tượng: Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trường Mầm non.

    3. Nội dung sáng kiến

    Muốn đạt được kết quả giáo dục lễ giáo cho trẻ như mong muốn thì môi

    trường giáo dục xung quanh trẻ rất quan trọng. Đầu tiên đó là môi trường lớp

    học của trẻ, chúng ta cần xây dựng một trường lớp lễ giáo. Đó là lớp học phải

    2

    luôn sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng, đồ dùng đồ chơi phải sắp xếp hợp lý, luôn

    được lau chùi, vệ sinh thường xuyên để tạo cho trẻ thói quen sạch sẽ, gọn gàng

    ngăn nắp. Bên cạnh đó, cô giáo phải luôn là tấm gương sáng về lễ giáo cho trẻ

    học tập và noi theo. Khi tiếp xúc với bạn bè đồng nghiệp, với lãnh đạo cấp trên

    và kể cả với trẻ thì cô giáo phải có những cử chỉ, lời lẽ khiêm tốn, thân thiện và

    tôn trọng mọi người, kể cả với trẻ. Gia đình cũng là nơi giáo dục lễ giáo rất

    quan trọng chính vì vậy giáo viên phải phối kết hợp với gia đình để giáo dục lễ

    giáo thường xuyên, liên tục có như vậy thì mới đạt hiệu quả cao. Cô giáo cũng

    cần động viên khen ngợi, khích lệ trẻ kịp thời để trẻ hào hứng, tích cực tham

    gia vào các hoạt động lễ giáo một cách tự nhiên và thường xuyên hơn. Ngoài ra

    trong các hoạt động giáo dục giáo viên có thể lựa chọn những nội dung phù

    hợp để tích hợp giáo dục lễ giáo nhằm đưa giáo dục lễ giáo đến với trẻ một

    cách nhẹ nhàng, gần gũi hơn như trong các hoạt động học làm quen với văn

    học, khám phá xã hội, giáo dục âm nhạc, thông qua các ngày hội ngày

    lễ….Giáo dục lễ giáo không chỉ nằm ở trong các hoạt động học mà nó còn phải

    được giáo dục ở mọi lúc mọi nơi như: giờ đón trả trẻ, giờ chơi, giờ ăn, giờ ngủ,

    hoạt động ngoài trời, đi dạo đi thăm…Có như vậy thì mới rèn cho trẻ có thói

    quen với giáo dục lễ giáo mọi lúc mọi nơi. Từ đó hình thành cho trẻ có thói

    quen lễ giáo, để giáo dục lễ giáo ăn sâu vào trong tiềm thức trẻ một cách tự

    nhiên, không gò ép.

    4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến

    Từ những biện pháp trên tôi nhận thấy việc giáo dục lễ giáo của lớp mình

    đã đi lên một cách rõ rệt. Kết quả cuối năm học: 95% trẻ biết chào hỏi lễ phép;

    95% trẻ có thói quen ngăn nắp gọn gàng, 95% trẻ biết kính trọng người lớn và

    92% trẻ biết cảm ơn, xin lỗi. Đó là những kết quả mà lớp tôi đã đạt được sau

    một thời gian áp dụng những biện pháp giáo dục lễ giáo mà tôi đã tìm tòi và

    lồng ghép vào các hoạt động giáo dục trẻ. Kết quả đó đã đóng góp phần nào

    trong việc phát triển toàn diện cho trẻ đặc biệt, là phát triển nhân cách cho trẻ

    sau này.

    3

    5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến

    * Đối với phòng giáo dục:

    – Thường xuyên tổ chức các buổi chuyên đề, tọa đàm về nội dung giáo dục lễ

    giáo cho trẻ trong trường mầm non.

    – Phổ biến rộng rãi nội dung giáo dục lễ giáo bằng cách đưa lên wedside, lên

    hòm thư chung của phòng giáo dục để tất cả các giáo viên, bạn bè đồng nghiệp

    có cơ hội học hỏi, trao đổi và đúc rút kinh nghiệm

    – Tổ chức hội thảo, tọa đàm qua các buổi tập huấn hè.

    * Đối với nhà trường:

    – Đưa nội dung sáng kiến này vào trong các cuộc họp chuyên môn, các buổi

    sinh hoạt tổ và đưa nội dung sáng kiến này lên hòm thư chung của nhà trường.

    * Đối với phụ huynh:

    – Tổ chức họp phụ huynh, tuyên truyên tới toàn thể phụ huynh về những biện

    pháp giáo dục lễ giáo nêu trên.

    PHẦN II: MÔ TẢ SÁNG KIẾN

    4

    1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:

    Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc

    dân, chịu trách nhiệm chăm sóc, giáo dục trẻ từ 0 – 6 tuổi. Đây là giai đoạn đặt

    nền móng đầu tiên, quan trọng nhất của nhân cách con người. Đây là giai đoạn

    phát triển rất nhanh của trẻ cả về mặt thể lực, nhận thức lẫn tình cảm và tinh

    thần. Do vậy kinh nghiệm học tập của trẻ ở bậc học mầm non rất quan trọng, nó

    ảnh hưởng đến tương lai của trẻ, giúp thiết lập nền tảng cho việc lĩnh hội các

    kiến thức và kỹ năng, dẫn đến việc tác động vào khả năng học tập và các hành

    vi của trẻ. Việc học tập và tích lũy kinh nghiệm tại trường là hết sức quan trọng

    với trẻ nhỏ. Trẻ sẽ phát triển mạnh mẽ trong môi trường được tiếp xúc với

    những giáo viên có nghiệp vụ sư phạm giỏi, được đảm bảo an toàn, được tôn

    trọng, được chăm sóc chu đáo và được sử dụng các trang thiết bị đáp ứng nhu

    cầu về thể chất và phát triển trí tuệ. Với mong muốn đàn con thân yêu của mình

    phát triển một cách toàn diện cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, phát triển đồng

    bộ về tấtcả các mặt và để thực hiện được tốt mục tiêu của mình thì tôi phải linh

    hoạt, chủ động lựa chọn các nội dung giáo dục phù hợp với lứa tuổi mầm non.

    Việc dạy trẻ Mầm Non cũng như trồng cây non, có chăm sóc từ khi còn non trẻ

    thì sau này mới cho kết quả tốt.

    Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Vì lợi ích mười năm

    trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Người không chỉ quan tâm đến

    việc “trồng cây” để “Ích nước lợi nhà” mà Người còn quan tâm đến việc “trồng

    người”. “Trồng người”ở đây là giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện tư cách, phẩm

    chất, đạo đức lễ giáo để giúp cho thế hệ trẻ hội tụ đầy đủ những yếu tố đó để

    trở thành người công dân tốt, người chủ nhân tương lai của đất nước. Chính vì

    vậy nghị quyết TW2 khóa VIII của đảng cộng sản Việt Nam về định hướng

    chiến lược giáo dục đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa và đề

    ra mục tiêu giáo dục Mầm Non phải chuẩn bị những gì tốt nhất, kể cả về mặt

    vật chất và tinh thần một cách toàn diện. Đặc biệt là đối với trẻ 5- 6 tuổi chuẩn

    bị tốt mọi điều kiện cũng như tâm thế cho trẻ bước vào lớp 1 một cách tự tin.

    5

    Như chúng ta đã biết, đất nước ta đang trên đà phát triển kinh tế, hội

    nhập và giao lưu với nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Làm thế nào để

    cho thế hệ trẻ biết chắt lọc những tinh hoa văn hóa thế giới ” Hòa nhập chứ

    không hòa tan” không đánh mất bản than mình, mất đi phong tục truyền thống

    về văn hóa nói chung và truyền thống lễ giáo nói chung từ ngàn xưa ông cha ta

    đẻ lại. Trong thời đại này việc giáo dục lễ giáo cho trẻ là rất quan trọng đặc biệt

    là trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vì ở lứa tuổi này trẻ đã có nhận thức được phần nào

    tầm quan trọng của giáo dục lễ giáo. Giáo dục lễ giáo cho trẻ ở giai đoạn 5-6

    tuổi trong trường Mầm Non nó sẽ quyết định đến việc phát triển nhân cách,

    phẩm chất đạo đức của mỗi đứa trẻ sau này.

    Là một giáo viên mầm non trong thời cuộc du nhập nhiều nền văn hóa

    khác nhau như hiện nay đòi hỏi người giáo viên phải cần có bản lĩnh nghề

    nghiệp, tình yêu nghề, lòng yêu nước nồng nàn, tình yêu trẻ thiết tha có như

    vậy thì mới hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Một trong những nhiệm vụ đó

    là giáo dục trẻ biết giữ lại vẻ đẹp truyền thống văn hóa vốn có của cha ông ta

    để lại từ ngàn xưa. Đây là một nhiệm vụ đầy khó khăn, vất vả và vô cùng cấp

    bách trong các mục tiêu giáo dục con người toàn diện hiện nay. Nhận thức

    được tầm quan trọng của việc giáo dục lề giáo cho trẻ 5-6 trong trường Mầm

    Non. Tôi đã tích cực nghiên cứu tài liệu, đúc rút kinh nghiệm, học hỏi bạn bè

    đồng nghiệp để tìm ra những giải pháp tốt nhất để giáo dục lễ giáo cho trẻ và

    đây cũng chính là lí do tôi chọn và thực thi đề tài: Một số biện pháp nâng cao

    chất lượng giáo dục lễ giáo cho trẻ 5-6 tuổi trong trường Mầm Non.

    Tôi đã áp dụng và đem lại hiệu quả rất cao, xin được chia sẽ cùng bạn bè

    đồng nghiệp.

    2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ

    Lễ giáo là giáo dục con người biết được lễ nghi, phép tắc ứng xử trong

    xã hội, làm cho phần con nhỏ đi, phần người lớn lên. Nếu là NGƯỜI thì trước

    hết phải là lễ, nếu không có lễ thì người chỉ có phần CON. Ông cha ta đã có

    câu: “Tiên học lễ, hậu học văn” điều đó muốn nói lên là trước tiên chúng ta

    phải học cái lễ phép ứng xử trong xã hội, sau đó là học những lời ăn tiếng nói,

    6

    người nghiên cứu định hướng được những vấn đề ta cần làm để có biện pháp cụ

    thể, phù hợp với thực tế, thực hiện có hiệu quả. Chính vì vậy để thực thi đề tài

    này tôi đã tiến hành điều tra thực trạng về kết quả chất lượng giáo dục lễ giáo

    của trẻ đầu năm học 2014 – 2022

    Kết quả thu được như sau:

    Tổng

    Th áng

    9/2014

    Tỷ lệ

    Biết gọn

    Biết kính

    gàng, ngăn

    trọng người

    Tỷ lệ

    Năm học

    cháu

    %

    cháu

    %

    cháu

    %

    cháu

    %

    2014

    38

    9

    24

    11

    29

    10

    26

    8

    21

    Qua việc theo dõi thường xuyên việc lễ giáo của trẻ tôi nhận thấy ở lớp

    -2015

    tôi còn một số hạn chế như sau:

    – Trẻ chưa có thói quen chào hỏi, trẻ chỉ chào hỏi khi cô giáo nhắc nhở

    hay còn gọi là chào vẹt, chưa xuất phát từ trong tâm của trẻ.

    – Trẻ chưa biết cách sắp đồ dùng đồ chơi đứng nơi quy định, chơi xong

    thường là vứt tại chỗ, chưa cất ngăn nắp, thậm chí là đồ dùng cá nhân của trẻ

    vẫn còn vứt bừa bãi, cuối giờ bố mẹ hoặc cô giáo phải đi tìm….

    – Trẻ chưa biết nghe lời cô giáo hoặc bố mẹ, trẻ thường làm nũng với bố

    mẹ, hay đòi hỏi, vòi vĩnh. Bố mẹ nói vẫn chưa biết nghe lời và kính trọng. Với

    cô giáo đôi khi trẻ còn tỏ thái độ không hài lòng khi cô giáo nhắc nhở trẻ lúc trẻ

    mắc khuyết điểm.

    – Khi trẻ mắc lỗi thì trẻ chưa thực sự tự giác để nhận lỗi của mình, trẻ

    thường đùn đẩy trách nhiệm, đổ lỗi cho nhau. Khi được ai đó cho quà và giúp

    đỡ trẻ chưa biết nói lời cảm ơn, chỉ khi cô giáo nhắc nhở thì trẻ mới nói lời

    cảm ơn.

    4. CÁC BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN

    4.1. Biện pháp 1: Xây dựng lớp học lễ giáo

    Xây dựng lớp học lễ giáo ở đây là giáo viên tạo ra môi trường học tập,

    đồ dùng đồ chơi luôn được sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng, bố trí khoa học. Đồ

    chơi của từng góc phải được sắp xếp riêng biệt tạo ra được hướng mở, mới lạ,

    8

    9

    4.3. Biện pháp 3: Lồng ghép nội dung giáo dục lễ giáo vào các tiết

    học.

    Đây là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để trẻ có thể nắm bắt,

    tiếp thu từ đó hình thành cho trẻ thói quen, hành vi có văn hóa, có lễ giáo. Bất

    cứ giờ học nào giáo viên cũng có thể lồng ghép nội dung giáo dục lễ giáo vào

    trong tiết học đó.

    VD1: Trong tiết học tạo hình “Vẽ chân dung cô giáo” giáo viên có thể

    hỏi: Trong lớp con có mấy cô giáo? Hàng ngày cô giáo phải làm những công

    việc gì? Khi hỏi về công việc của cô giáo cho trẻ kể một số công việc hàng

    ngày của cô giáo từ đó nói nên sự vất vả của cô giáo. Giáo dục trẻ yêu quý,

    kính trọng, biết nghe lời cô giáo, biết giúp đỡ cô giáo những việc nhỏ vừa sức

    của mình. Hoặc trong giờ tạo hình “Những người thân trong gia đình” Giáo

    viên có thể hỏi: Gia đình con có mấy người? Đó là những ai? Gia đình con

    thuộc gia đình lớn hay gia đình nhỏ? Mọi người sống trong gia đình phải đối xử

    với nhau như thế nào? GD trẻ phải biết yêu thương, kính trọng ông bà, bố mẹ,

    phải biết quan tâm, chăm sóc những thành viên trong gia đình khi họ bị ốm.

    Phải biết nhường nhịn em bé….

    VD2: Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, trong tiết kể chuyện:

    “Ba cô gái” cô đàm thoại với trẻ: Trong truyện cô cả và cô hai là người như thế

    nào? Ai là người thương mẹ nhất? Trong truyện các con nên học đức tính của

    ai? Vì sao? Khi bố mẹ các con ốm các con sẽ làm gì? Từ đó giáo dục trẻ biết

    yêu thương, chăm sóc người thân khi họ bị ốm. Hoặc trong tiết thơ “Bó hoa

    tặng cô” thì đàm thoại với trẻ: Các bạn nhỏ đã rủ nhau đi đâu vào ngày 8/3?

    Các bạn nhỏ đem hoa tặng ai? Vì sao lại tặng cô giáo? Khi tặng hoa cô giáo

    con tặng bằng mấy tay? Từ đó giáo dục trẻ lòng biết ơn, kính trọng cô giáo đã

    dạy dỗ mình và cũng từ đó giáo dục trẻ khi trao vật gì đó cho người lớn hơn

    hoặc nhận quà từ tay người khác thì phải trao và nhận bằng hai tay và nói lời

    cảm ơn.

    Còn rất nhiều bài thơ, câu chuyện nói về tình cảm gia đình, tình cảm thầy

    trò, tình yêu thiên nhiên và những tấm gương sáng giúp đỡ những người xung

    10

    quanh mà giáo viên có thể lồng ghép những nội dung giáo giục lễ giáo vào

    trong đó để cho trẻ có thể thấy được những hành vi, những chuẩn mực đạo đức

    và từ đó hình thành cho trẻ có thói quen về những chuẩn mực đạo đức đó.

    VD3: Trong giờ Giáo dục âm nhạc, dạy hát “Em yêu cây xanh” cô giáo

    hỏi trẻ: Trồng cây xanh để làm gì? Cây xanh có ích lợi như thế nào? Thông qua

    đó cô giáo dục trẻ không được ngắt lá bẻ cành cây, biết chăm sóc và bảo vệ cây

    xung quanh bé, để cây xanh cho ta rất nhiều lợi ích.

    VD4: Đối với khám phá khoa học “Phương tiện giao thông xung quanh

    bé” Cô đàm thoại với trẻ: Đây là phương tiện giao thông đường gì? Ai là người

    điều khiển phương tiện giao thông này? Các con đã đi phương tiện giao thông

    này bao giờ chưa? Khi ngồi trên những phương tiện giao thông này các con

    phải chấp hành như thế nào? Từ đó giáo dục trẻ khi tham gia giao thông phải

    biết chấp hành những quy định, luật giao thông, biết tôn trọng, yêu quý những

    người điều khiển phương tiện giao thông và cho trẻ biết những hành vi văn

    minh khi tham gia các phương tiện giao thông công cộng như là phải biết

    nhường chỗ cho người già, phụ nữ có thai và các em nhỏ….

    VD5: Trong giờ thể dục kỹ năng: Cô luôn ăn mặc trang phục gọn gàng,

    yêu cầu phụ huynh học sinh cùng kết hợp với cô giáo may đồng phục thể dục

    cho trẻ và giờ dạy thể dục kỹ năng thường dạy vào thứ 2 hàng tuần để cho trẻ

    mặc đồng phục. Trong giờ dạy thể dục đàm thoại với trẻ: Muốn có một cơ thể

    khỏe mạnh chúng ta phải làm gì? Ngoài ăn uống đủ chất ra chúng ta còn phải

    làm gì nữa? Giáo dục trẻ ăn uống điều độ, nghỉ ngơi hợp lý và thường xuyên

    tập thể dục để có một cơ thể khỏe mạnh và dẻo dai.

    VD6: Trong giờ làm quen với chữ cái cho trẻ làm quen với chữ cái mới.

    Làm quen chữ cái qua tranh giáo viên nên chọn những bức tranh mang nội

    dung giáo dục lễ giáo. Ví dụ: Khi cho làm quen với chữ cái a, ă, â thì giáo viên

    chọn những bức tranh: Đôi mắt, bàn tay, bàn chân. Đàm thoại với trẻ muốn cho

    cơ thể sạch sẽ như vậy chúng ta phải làm gì? Giáo dục cho trẻ biết giữ gìn vệ

    sinh than thể…Hoặc khi cho trẻ làm quen với chữ cái e,ê thì cho trẻ làm quen

    với từ dưới tranh ” Mẹ bế bé” hỏi trẻ: Mẹ đang làm gì? Khi các con còn nhỏ mẹ

    11

    các con chăm sóc các con như thế nào? Nói cho trẻ biết được sự vất vả, sự yêu

    thương của mẹ dành cho con cái. Giáo dục trẻ biết yêu quý, kính trọng mẹ, biết

    nghe lời mẹ, cố gắng học thật giỏi để mẹ vui lòng. Qua giờ học cũng luôn nhắc

    nhở ngồi ngay ngắn, chú ý tập trung nghe cô giảng bài. Sau giờ học nhắc nhở

    trẻ cất đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định. Tạo cho trẻ thói quen ngăn nắp sau

    mỗi tiết học.

    4.4. Biện pháp 4: Giáo dục lễ giáo cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi

    Đây là một biện pháp vô cùng quan trọng vì ở bất cứ đâu và bất kỳ nơi

    nào trẻ cũng được tiếp xúc với môi trường giáo dục lễ giáo. Giáo viên có thể

    lồng ghép giáo dục lễ giáo vào trong các hoạt động như hoạt động góc, hoạt

    động ngoài trời, hoạt động chiều, qua các giờ đón và trả trẻ.

    VD1: Trong các giờ hoạt động góc qua những lời đối thoại của trẻ với

    nhau những buổi đầu cô có thể vào vai những người mua và bán hàng cho trẻ

    quan sát, cô thường xuyên sử dụng những câu chào hỏi lễ phép, những lời cảm

    ơn, xin lỗi và những hành động đưa- nhận bằng hai tay. Sau đó cô quan sát

    những buổi chơi của trẻ, nếu trẻ chưa có những hành vi đúng thì cô kịp thời

    uốn nắn cho trẻ. Để từ đó giúp cho trẻ có những thói quen hành vi văn minh

    trong giao tiếp.( Hình ảnh 2)

    VD2: Trong các giờ đón và trả trẻ cô giáo luôn ân cần, dịu dàng, cởi mở

    đối với trẻ và phụ huynh. Trong giờ đón trẻ phải hình thành cho trẻ có thói

    quen chào bố mẹ và cô giáo. Nếu như trẻ quên không chào cô khi đến lớp thì

    giáo viên khéo léo xử lý tình huống đó bằng cách là cô giáo sẽ chào trẻ trước.

    Còn nếu như trẻ quên không chào bố mẹ trẻ thì giáo viên cũng chào phụ huynh

    để trẻ nghe thấy và làm theo. Từ đó giáo dục trẻ khi đến lớp thì phải chào bố

    mẹ và cô giáo, khi về cũng phải biết chào cô giáo, chào các bạn và chào bố mẹ

    ( Hình ảnh 3). Từ đó hình thành cho trẻ có thói quen chào hỏi người khác và

    khi chào người khác phải có thái độ lễ phép.

    VD3: Trong các giờ hoạt động chiều cô giáo có thể tổ chức cho trẻ xem

    những hình ảnh thật về các hành vi văn minh, lễ phép như: nhặt rác ngoài sân

    trường, nhận quà bằng hai tay, nói lời cảm ơn khi được người khác cho quà,

    12

    được người khác giúp đỡ và nói lời xin lỗi khi mắc khuyết điểm. Có thể tổ chức

    thực hành những tình huống đó vào các hoạt động chiều. Từ đó sẽ khắc sâu cho

    trẻ những hành vi văn minh.

    VD4. Trong các giờ hoạt động ngoài trời cô thường xuyên tổ chức cho

    trẻ nhặt lá rụng ngoài sân trường, dọn vệ sinh sân trường. Sau khi dọn xong cho

    trẻ nhìn lại và cảm nhận vẻ đẹp của sân trường. Từ đó giáo dục cho trẻ biết vứt

    rác vào thùng, biết được sự lao động vất vả của các cô bác lao công khi quét

    dọn sân trường.(Hình ảnh 4)

    VD5: Tổ chức cho trẻ đi dạo đi thăm như: thăm quan những di tích lịch

    sử, nghĩa trang liệt sỹ, ủy ban nhân dân, trường tiểu học…

    Thực tế trường tôi hàng năm đã tổ chức cho trẻ đi thăm quan những danh lam

    thắng cảnh, những di tích lịch sử ở địa phương, nghĩa trang liệt sỹ từ đó nói cho

    trẻ biết được những vẻ đẹp của danh lam, ý nghĩa của những di tích mà trẻ

    tham quan. Giáo dục trẻ biết giữ gìn vẻ đẹp của danh lam thắng cảnh đó, tình

    yêu quê hương đất nước, lòng thành kính, biết ơn đối với cha ông và các anh

    hùng liệt sỹ đã hy sinh cho dân tộc. Từ đó khơi dậy lòng tự hào về dân tộc, đất

    nước của mình. Giáo dục trẻ chăm ngoan học giỏi để đền đáp công ơn những

    người đã có công xây dựng, bảo vệ đất nước. (Hình ảnh 5)

    VD6: Tổ chức cho trẻ tham gia vào những buổi lao động của những

    người nông dân như những buổi gặt lúa, phơi thóc… để trẻ thấy được sự vất vả

    của các bác nông dân khi làm lên hạt thóc hạt gạo. Sau đó giáo dục trẻ lòng yêu

    quý kính trọng các bác nông dân và giáo dục trẻ khi ăn phải ăn hết xuất, ăn gọn

    gàng, không được làm rơi vãi cơm.

    4.5. Biện pháp 5: Phối kết hợp chặt chẽ với bậc phụ huynh về giáo

    dục lễ giáo.

    Giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh qua các buổi họp phụ huynh đầu

    năm, qua các giờ đón trả trẻ. Đề nghị phụ huynh nói lên những đặc điểm tâm

    sinh lý của trẻ để giáo viên có thể nắm bắt được đặc điểm riêng của từng em, có

    như vậy cô giáo mới có những biện pháp tích cực, phù hợp với từng em. Bên

    cạnh đó giáo viên cũng mạnh dạn trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng của

    13

    lễ giáo đối với trẻ. Nhất là trong thời đại ngày nay, nhiều nền văn hóa và các

    trò chơi hiện đại du nhập vào nước ta đã ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ rất

    nhiều, dẫn đến những hành vi đạo đức lệch chuẩn trong xã hội. Đồng thời, cũng

    cần trao đổi với phụ huynh là không nên nuông chiều con quá vì trẻ bây giờ rất

    nhạy bén. Nếu như trẻ đòi hỏi được lần này lần sau trẻ sẽ lại tiếp tục đòi hỏi.

    Phụ huynh cần giải thích và nói cho trẻ hiểu cái gì là tốt, cái gì là không tốt, cái

    gì là đúng, cái gì là sai. Để từ đó trẻ nhận ra được những hành vi của mình là

    chưa đúng, chưa ngoan. Giáo viên cũng đề nghị phụ huynh cần phối hợp chặt

    chẽ với cô giáo trong việc giáo dục con em mình ở nhà để cô giáo sẽ có biện

    pháp uốn nắm kịp thời.

    Giáo viên lên kế hoạch học tập ở lớp, các hoạt động ngoài trời, các buổi

    dã ngoại cũng như các buổi thực hành, rèn luyện giáo dục lễ giáo cho trẻ. Kế

    hoạch này sẽ dán ở một vị trí mà phụ huynh dễ quan sát nhất như ở bảng biểu ở

    ngoài cửa để từ đó phụ huynh sẽ nắm bắt được và cùng cô có những biện pháp

    giáo dục phù hợp, hiệu quả nhất.

    Ngoài ra giáo viên cũng đề nghị các bậc phụ huynh khi biết được nội

    dung giáo dục ở lớp thì khi trẻ về gia đình, phụ huynh cũng phải có trách nhiệm

    giáo dục cùng cô giáo. Có như vậy thì mới hình thành được những thói quen

    hành vi văn minh, đạo đức lễ giáo cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Từ đó mọi hành vi

    văn minh, đạo đức lễ giáo sẽ ăn sâu vào trong nhận thức của trẻ.

    4.6. Biện pháp 6: Giáo dục lễ giáo qua việc tổ chức các ngày hội ngày

    lễ.

    Giáo viên tổ chức các ngày lễ lớn, truyền thống của dân tộc sao cho tất

    cả trẻ trong lớp đều được tham gia. Qua đó giáo dục trẻ lòng tự hào dân tộc. Cô

    cung cấp cho trẻ biết những ý nghĩa của những ngày lễ lớn đó như ngày: 20/11;

    ngày 22/12; ngày 8/3, ngày tết cổ truyền của dân tộc….Từ đó hình thành cho

    trẻ lòng tự hào dân tộc, tôn trọng, kính yêu đối với những người lớn tuổi.

    Khuyến khích trẻ tích cực học tập, phấn đấu trở thành những người con có ích

    cho xã hội sau này.

    14

    Ví dụ 1: Tổ chức ngày 20/11 hoặc ngày 8/3 cô giáo có thể tổ chức cho trẻ thi

    hát về cô giáo hoặc về mẹ, về bà. Từ việc thi hát đó giúp trẻ nhớ tên các bài hát,

    thuốc lời bài hát về cô giáo, về mẹ và cả về bà. Sau đó trò chuyện cùng trẻ về

    ngày lễ đó, giúp trẻ hiểu thêm về công việc của cô giáo, của mẹ, cũng như của

    bà. Giáo dục trẻ biết yêu quý, kính trọng, nghe lời người lớn và cố gắng học

    giỏi để cho ông bà, bố mẹ và cô giáo vui lòng.

    Ví dụ 2: Tổ chức ngày 22/12 cho trẻ được tham dự. Có thể mời một bác thương

    binh về lớp học cùng trò chuyện với trẻ. Cung cấp cho trẻ biết để có cuộc sống

    thanh bình như ngày hôm nay các bác thương binh, các anh hùng liệt sỹ đã để

    lại một phần máu thịt của mình nơi chiến trường. Giáo dục cho trẻ biết yêu quê

    hương đất nước, lòng biết ơn đối với các anh hung liệt sỹ, các bác thương

    binh….và giáo dục trẻ học cố gắng giỏi để trở thành những người con ngoan,

    trò giỏi sau này.

    4.7. Biện pháp 7: Giáo dục lễ giáo bằng việc động viên, khích lệ trẻ kịp thời

    Trẻ ở lứa tuổi mầm non rất thích được khen ngơi, thích được cô giáo

    tuyên dương hay thưởng quà. Vì vậy việc động viên khích lệ trẻ đúng lúc, đúng

    chỗ, kịp thời sẽ giúp trẻ hào hứng, tích cực làm những việc tốt và mong muốn

    được làm những việc tốt.

    Trong giờ bình cờ cuối ngày, cho trẻ tự nhận xét là hôm nay mình đã

    ngoan chưa, trong lớp bạn nào hôm nay ngoan và bạn nào chưa ngoan, vì sao?

    Động viên để cho trẻ tự giác nhận lỗi, tạo điều kiện cho trẻ sửa sai khuyết điểm

    của mình bằng cách sẽ cho trẻ đọc thơ, múa hát và có thể là tặng những món

    quà nhỏ để khuyến khích động viên trẻ cố gắng hơn, không tái phạm nữa, để

    được nhận quà nhiều hơn. Ngoài ra, giáo viên phải luôn dành thời gian để gần

    gũi trẻ, cùng trò chuyện với trẻ, tìm những câu nói hài hước, hóm hỉnh, những

    món quà bất ngờ để động viên khích lệ trẻ kịp thời. Điều đó sẽ tạo cho trẻ một

    động lực luôn muốn được làm việc tốt, có ý nghĩa.

    5. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

    Sau thời gian thực hiện các biện pháp trên đến nay tôi nhận thấy kết quả đạt

    được như sau:

    15

    Tổng

    2014-2015 số cháu

    Biết chào hỏi

    lễ phép

    Biết gọn

    Biết kính

    gàng, ngăn

    trọng người

    Số

    95

    36

    95

    36

    Tháng

    38

    9/2014

    Tháng 2/

    38

    36

    Tỷ lệ

    95

    35

    92

    2015

    Nhìn vào bảng so sánh trên ta thấy kết quả đầu năm học so với cuối năm

    học đã được nâng nên rõ rệt.

    + Các cháu đã có thói quen chào hỏi ở mọi lúc mọi nơi, các cháu chào từ

    trong tâm của mình chứ không phải chào vẹt, hoặc cô giáo nhắc mới chào.

    + Các cháu được đi dạo đi thăm các danh lam thắng cảnh, di tích lịch

    sử… từ đó trẻ đã có tình yêu đất nước, lòng biết ơn, sự kính trọng đối với cha

    ông, những anh hùng liệt sỹ. Biết quý trọng những gì mà trẻ đang có, biết giữ

    gìn cảnh quang môi trường của những danh lam thắng cảnh, gìn giữ giá trị văn

    hóa tinh thần của di tích lịch sử, có ý thức giữ gìn môi trường xung quanh

    mình.

    + Trẻ đã có thói quen trong việc sắp xếp đồ chơi ngăn nắp, gọn gàng vào

    đúng vị trí sau khi chơi và cứ đến cuối tuần là trẻ biết lau chùi đồ chơi và sắp

    xếp đồ dùng đồ chơi cùng cô giáo.

    + Thông qua các buổi nêu gương cuối ngày, cuối tuần thì trẻ cũng biết tự

    nhận lỗi khi mắc khuyết điểm. Trẻ đã biết cảm ơn khi nhận được sự giúp đỡ từ

    ai đó. Khi nhận quà thì trẻ đã biết nhận bằng hai tay và nói lời cảm ơn khi được

    nhận quà.

    + Trẻ đã biết sắp xếp những đồ dùng cá nhân của tmình đúng vị trí quy

    định. Mỗi khi đến lớp trẻ đã biết để đồ dùng cá nhân của mình vào tủ cá nhân,

    không để lung tung, mỗi khi chiều đến bố mẹ đón cô giáo cũng như bố mẹ

    không phải tìm đồ dùng cá nhân cho trẻ.

    16

    17

    18

    PHẦN III

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    1. KẾT LUẬN CHUNG

    Qua việc nghiên cứu và thực thi đề tài tôi nhận thấy nâng cao chất lượng

    giáo dục lễ giáo cho trẻ 5- 6 tuổi là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết trong

    trường mầm non. Nó là một trong những nội dung tạo tiền đề cho việc phát

    triển nhân cách cho trẻ sau này. Việc giáo dục lễ giáo cho trẻ trong trường

    Mầm non không chỉ hình thành những thói quen, hành vi văn minh trong giao

    tiếp, có lối sống lành mạnh mà còn giúp hình thành một nhân cách tốt cho trẻ.

    Đặc biệt giáo dục lễ giáo giúp cho lòng tự hào về dân tộc, tình yêu đất nước,

    lòng biết ơn sâu sắc đối với ông cha ta đã anh dũng hi sinh để bảo vệ tổ quốc và

    sự yêu quý và kính trọng đối với ông bà, bố mẹ, thầy cô giáo và những người

    lớn.

    Khi giáo dục lễ giáo cho trẻ cô giáo cần chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý

    của trẻ, cô giáo luôn là một tấm gương sáng trong giáo dục lễ giáo, cần phối kết

    hợp chặt chẽ với phụ huynh để có những biện pháp giáo dục kịp thời. Bên cạnh

    đó giáo viên cần lựa chọn những nội dung lễ giáo phù hợp để tích hợp vào

    trong các môn học từ đó trẻ sẽ biết được nhiều hình thức, nội dung lễ giáo khác

    nhau hơn. Giáo dục lễ giáo cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi rất quan trọng vì khi trẻ

    được làm quen ở mọi lúc mọi thì sẽ hình thành được những thói quen hành vi

    văn hóa, lễ giáo.

    Sau một thời gian tuy không dài áp dụng những biện pháp đó đa số trẻ

    lớp tôi phụ trách đã có những tiến bộ vượt bậc về giáo dục lễ giáo. Trẻ đã biết

    chào hỏi mọi người ở mọ lúc mọi nơi, biết sắp xếp đồ dùng cá nhân, đồ chơi

    của lớp gọn gàng, sạch sẽ, đúng nơi quy định. Trẻ biết khi nào nói lời cảm ơn,

    khi nào nói lời xin lỗi, tự giác nhận lỗi khi có khuyết điểm, biết trao vật gì đó

    cho người lớn, nhận quà bằng hai tay. Đặc biệt trẻ đã biết yêu quê hương đất

    nước, lòng tự hào về dân tộc, biết nghe lời người lớn, kính trọng, yêu quý cô

    giáo, yêu quý ông bà, bố mẹ.

    19

    20

    DANH MỤC, PHỤ LỤC VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. DANH MỤC

    THỨ TỰ

    Phần I

    Phần III

    NỘI DUNG

    THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

    TÓM TẮT SÁNG KIẾN

    I. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

    2.Cơ sở khoa học lý luận

    3. Thực trạng của vấn đề

    4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện

    5. Kết quả đạt được

    6. Những điều kiện để sáng kiến được nhân rộng

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    19

    2.Kiến nghị

    20

    HÌNH ẢNH MINH HỌA

    21

    23

    25

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Dinh Dưỡng Và Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Trong Trường Mầm Non
  • Skkn Một Số Biên Pháp Nâng Cao Kết Quả Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Trường Mầm Non Lộc Thủy
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mẫu Giáo 5 6 Tuổi Trong Trường Mầm Non trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100