Đề Xuất 12/2022 # Skkn Đạt Loại C Cấp Huyện Năm Học 2014 / 2023 # Top 13 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Skkn Đạt Loại C Cấp Huyện Năm Học 2014 / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Skkn Đạt Loại C Cấp Huyện Năm Học 2014 / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

SKKN đạt loại C cấp Huyện năm học 2014-2015. Đề tài ” Một vài biện pháp giúp trẻ học tốt môn LQVT

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ HỌC TỐT MÔN LÀM QUEN VỚI TOÁN

ĐẶT VẤN ĐỀ:

Tầm quan trọng

Trong thời đại ngày nay, trẻ em luôn được xác định là tương lai của đất nước, là những chủ nhân quyết định vận mệnh đất nước trong một thế kỷ tiếp theo. Quan tâm tới cả chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ là vấn đề nóng được cả xã hội quan tâm hàng năm, khi chuẩn bị bước vào một mùa khai giảng mới.

Theo các nhà tâm lý học, sự phát triển tâm lý – nhân cách là một quá trình kế thừa liên tục những thành tựu của các giai đoạn trước đó. Sự phát triển tâm lý – nhân cách ở lứa tuổi này vừa là sự kế thừa những thành tựu phát triển tâm lý – nhân cách ở lứa tuổi tiếp theo. Trẻ phát triển tốt ở giai đoạn này, sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ở giai đoạn tiếp theo.

Quá trình hình thành các biểu tượng ban đầu về toán cho trẻ mẫu giáo là điều cần thiết. Góp phần quan trọng cho việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, nên việc dạy học và giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cùng với việc tiếp thu lĩnh hội tri thức của trẻ, vì thế để đạt được hiệu quả cao trong công tác giảng dạy và hình thành được các biểu tượng sơ đẳng ban đầu về toán cho trẻ là một hoạt động thiết thực và quan trọng của việc giáo dục trẻ mầm non. Điều đó có tác dụng thúc đẩy và góp phần tích cực vào việc giáo dục và truyền thụ tri thức giúp cho trẻ phát triển được đầy đủ hơn và toàn diện hơn.

    Thực trạng:

    Qua tìm hiểu của việc dạy và học, nhằm hình thành kỹ năng về tập hợp – số lượng – phép đếm cho trẻ mầm non. Tôi đã tiến hành khảo sát 28 trẻ thuộc lớp mẫu giáo 4-5 tuổi trường mầm non Đại Quang bằng trò truyện, bài tập và quan sát các hoạt động hàng ngày của trẻ, kết quả cụ thể như sau: 50% trẻ biết đếm; 40% trẻ biết so sánh, thêm bớt; 45% trẻ có kỹ năng  xếp tương ứng và sắp xếp theo quy tắc.

    Thực trạng của chương trình hình thành các kỹ năng về tập hợp – số lượng phép đếm cho trẻ 4-5 tuổi chiếm số lượng ít so với các lứa tuổi khác, chỉ có 15 tiết về tập hợp – số lượng.

    Ngoài ra qua tìm hiểu tôi nhận thấy hiện nay trong trường mầm non còn chưa phát huy được việc sử dụng đồ dùng dạy học ở lớp, còn lãng phí, chưa tận dụng được hết điều kiện cơ sở vật chất ở xung quanh trẻ. Nên việc học những nội dung về tập hợp – số lượng – phép đếm mới chỉ dừng lại trên tiết học mà chưa thực sự lan toả vào các hoạt động khai thác trong cuộc sống.

    Để nâng cao chất lượng dạy và học cho trẻ là một quá trình phát triển có hệ thống có kế hoạch, có mục đích các năng lực nhận thức của trẻ.Trang bị cho trẻ hệ thống tri thức sơ đẳng, hình thành nhân cách cho trẻ thì người giáo viên sử dụng cần tổ chức sắp xếp công việc thật khoa học theo cơ sở vận dụng phù hợp là con đường là cách thức mà giáo viên sử dụng để giúp trẻ học tốt môn làm quen với toán.

      Lý do chọn đề tài:

      Đối với trẻ mầm non, môn Làm quen với toán (LQVT) là môn học rất quan trọng và cần thiết, nó cung cấp vốn kiến thức ban đầu để trẻ bước vào ngưỡng cửa mới của cuộc sống sau này của trẻ. Môn toán đã mang lại cho trẻ sự phát triển tư duy đồng thời thông qua môn LQVT trẻ có thể tìm hiểu, khám phá thêm về thế giới xung quanh mình. Đến với môn LQVT trẻ trở nên tích cực, nhanh nhẹn hơn, trẻ biết đếm, phân biệt nhiều hơn, ít hơn, trẻ biết tách gộp, phân chia nhóm, ngoài ra trẻ có thể xác định được các hình khối, xác định không gian…Như vậy trẻ đã dần hình thành những kiến thức sơ đẳng biểu tượng ban đầu của toán học. Xuất phát từ nhận thức trên nên tôi chọn đề tài: “Một vài biện pháp giúp trẻ học tốt môn làm quen với toán”.

      CƠ SỞ LÝ LUẬN:

      Tại hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục và đào tạo là “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học sinh”. Phương pháp dạy học tích cực đã được nước ta áp dụng đồng bộ trên tất cả các trường mầm non của cả nước.

      Môn học làm quen với toán khi được giáo viên mầm non tổ chức cho trẻ học tập một cách có mục đích, phù hợp sáng tạo sẽ hỗ trợ trẻ tiếp thu kiến thức một cách tích cực và taọ cảm giác hưng phấn,vui tươi. Giáo viên có thể dạy tích hợp, lồng ghép vào các hoạt động (giò ăn, họat động góc, chơi ngoài trời, trẻ làm bài tập theo nhóm) từ đó giúp trẻ tập trung, phấn khởi trong khi hoạt động, ý thức rõ vai trò của bộ môn toán đã trở thành một hoạt động không thể thiếu được trong trường lớp mầm non và hơn nữa tôi nhận thấy trẻ em bây giờ rất thông minh và lanh lợi. Tôi luôn mong muốn truyền đạt thật nhiều kiến thức cho trẻ, giúp trẻ phát triển hết những khả năng vốn có. Chính vì điều đó tôi đã luôn trăn trở, tìm tòi và sáng tạo, để tìm ra những cách thức hay, những phương pháp tốt nhất cho bài giảng của mình. Trong tất cả các môn học của trẻ tôi đặc biệt yêu thích môn toán, có lẽ vì bản thân bộ môn toán đã mang nhiều thế mạnh.

      Để minh chứng cho điều này, chúng ta hãy quan sát quá trình phát triển nhận thức của trẻ em. Sự phát triển tâm vận động, sự phát triển các giác quan, khả năng định hướng và ngôn ngữ của trẻ em tuổi nhà trẻ là điều kiện quan trọng để trẻ tiếp thu lĩnh hội những biểu tượng sơ đẳng về thế giới xung quanh thông qua nhận thức cảm tính và tư duy trực quan ở lứa tuổi mẫu giáo. Và, nhờ có vốn hiểu biết phong phú về thế giới xung quanh dưới dạng những biểu tượng, nhờ có tư duy trực quan, ngôn ngữ của trẻ ở tuổi mẫu giáo phát triển, mà vào lớp một trẻ tiếp thu dễ dàng những tri thức khoa học mang tính khái quát ở trường phổ thông, và tư duy khái quát, tư duy logic phát triển.

      Toán học là một môn khoa học cần có độ chính xác cao. Do trẻ ở độ tuổi mẫu giáo chưa có một biểu tượng khoa học nào. Nên nhiệm vụ của giáo viên là phải hình thành cho trẻ các biểu tượng toán học, cung cấp những kỹ năng cơ bản nhất để trẻ có thể vận dụng vào trong thực tế.

      Dựa vào mục tiêu và yêu cầu đó, tôi đã nghiên cứu và tìm ra biện pháp giúp trẻ học đạt hiệu quả hơn và phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình thông qua môn học làm quen với toán.

      III. CƠ SỞ THỰC TIỄN:

      Mỗi môn học đều có vai trò quan trọng góp phần vào việc hình thành nhân cách học sinh. Trong đó môn toán ở trường mầm non giữ vai trò hết sức quan trọng, bởi toán học cung cấp cho trẻ em những kiến thức đầu tiên, là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chóng hoàn thiện mình. Hiện nay tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp Nhỡ 4 tại Trường Mầm non Đại Quang với  tổng số trẻ  28 có những thuận lợi và khó khăn sau:

      Thuận lợi:

      Đa số phụ huynh còn trẻ  nên rất quan tâm đến việc học của con em mình.

      Là lớp điểm của trường nên được nhà trường rất quan tâm, thường xuyên chọn lớp tôi tổ chức các chuyên đề trọng tâm của trường và được hội đồng đánh giá cao.

      Trẻ ở cùng một độ tuổi nên mức độ nhận thức tương đối đồng đều chính vì vậy việc dạy trẻ cũng gặp nhiều thuận lợi.

      Cụm trung tâm vừa mới xây dựng, lớp học khang trang, thoáng mát, sạch sẽ, có đầy đủ đồ dùng cho học sinh, bàn ghế nhựa cao cấp…

      Bản thân được đào tạo và đã trải qua nhiều năm kinh nghiệm thực tế nên cũng đã học tập được một số kinh nghiệm trong phương pháp giảng dạy bộ môn LQVT

        Khó khăn:

        Một số phụ huynh còn coi nhẹ việc học tập của con, thường cho con nghỉ học tùy tiện nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến chất lượng học tập của lớp.

        Lớp có sĩ số học sinh đông, đa số là trẻ nam nên hay nghịch ngợm, chưa tham gia tích cực vào các hoạt động có chủ đích. Một số trẻ chậm phát triển trí tuệ, ghi nhớ không chủ định chiếm ưu thế… nhưng với môn học làm quen với toán thì thật là khó, chất lượng bộ môn LQVT đầu năm đạt thấp chỉ đạt mức 50%. Điều này khiến tôi phải suy nghĩ nhiều làm sao tạo được hứng thú cho trẻ tham gia học tập một cách tốt nhất.

        Với thực trạng như vậy bản thân tôi suy nghĩ tìm ra những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học, trong đó tập trung cho hoạt động nâng cao chất lượng môn “Làm quen với toán”.

        NỘI DUNG THỰC HIỆN:

        Biện pháp 1: Tạo môi trường cho trẻ hoạt động

        Trong thời đại ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, thông tin khoa học ngày càng nhiều. Song thời gian dành cho một tiết học trong trường mầm non không thay đổi. Để theo kịp sự phát triển của xã hội và cung cấp cho học sinh những thông tin mới nhất trong một thời gian có hạn.Vậy việc đổi mới phương pháp dạy học luôn là một vấn đề bức xúc và được mọi người quan tâm. Thực tế cho thấy việc dạy học nói chung và dạy học ở trường mầm non nói riêng đã có nhiều đổi mới về phương pháp, hình thức tổ chức tiết học. Nhưng phương pháp dạy học kích thích tự tìm tòi và khám phá của học sinh đặc biệt được chú trọng đó là việc tạo môi trường cho trẻ hoạt động nhằm giúp các cháu quan sát sự vật, hiện tựơng một cách trực quan, trẻ có cơ hội trải nghiệm từ đó trẻ nhận thức sâu hơn nội dung bài học. Chính vì vậy tôi tạo môi trường học tập trong lớp cho trẻ 4-5 tuổi hoạt động một cách tích cực góp phần thực hiện tốt phương pháp  đổi mới giáo dục mầm non cụ thể như sau:

        * Xây dựng các góc hoạt động trong lớp:

        Xây dựng các góc hoạt động khác nhau trong lớp nhằm tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ được nhiều hơn, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng hơn. Giúp trẻ tìm hiểu và khám phá cái mới, hoạt động với đồ vật và rèn luyện kỹ năng. Bên cạnh đó trong lớp bố trí các góc yên tĩnh xa góc hoạt động ồn ào

        Ví dụ: Góc xây dựng ở xa góc đọc sách

        Góc đọc sách                                                  Góc xây dựng

        * Trang trí lớp và làm đồ dùng đồ chơi:

        Việc trang trí trong lớp học rất cần thiết đối với trẻ, bởi trẻ dễ nhớ những hình ảnh trực quan hơn hơn từ ngữ, do vậy để củng cố lại kiến thức đã học cô giáo cần sưu tầm những hình ảnh, tranh trang trí, làm đồ dùng đồ chơi phù hợp với chủ điểm và những nội dung trang trí chú ý đưa những hình ảnh, chữ số, đồ chơi phong phú và đa dạng giúp trẻ hứng thú quan sát và thích hoạt động với đồ vật có như vậy trẻ sẽ ghi nhớ tốt những kiến thức mà cô đã cung cấp.

                 Cô và trẻ cùng làm đồ chơi trang trí lớp và phục vụ tiết học

        Biện pháp 2: Thông qua các trò chơi

        Căn cứ vào nhu cầu và khả năng phát triển của trẻ 4-5 đây là lứa tuổi kỳ diệu, trẻ rất hiếu động tò mò, ham học hỏi, tìm hiểu thế giới tự nhiên và xã hội. Trong các hoạt động của tuổi mẫu giáo hoạt động vui chơi giữ vai trò chủ đạo giữa hoạt động vui chơi và hoạt động học chưa có ranh giới rõ ràng, khác với người lớn trẻ em thật sự học trong khi chơi, trẻ lĩnh hội các tri thức tiền khoa học trong trường mầm non theo phương châm “chơi mà học, học mà chơi”.

        Trẻ là chủ thể tích cực, giáo viên là người tạo cơ hội, hướng dẫn gợi mở các hoạt động, tìm tòi khám phá của trẻ. Trẻ chủ động tham gia các hoạt động đó để phát triển khả năng, năng lực của mình. Trước những vấn đề trên không chỉ cho trẻ hoạt động tích cực trong giờ học mà còn phải cho trẻ hoạt động tích cực ở giờ chơi.

        Việc sử dụng trò chơi để củng cố hiểu biết kỹ năng đã thu nhận được của trẻ là quan trọng, trẻ tham gia trò chơi, hoạt động hết mình, được trải nghiệm, rèn luyện và một điều đặc biệt là bản thân trò chơi, bản thân trẻ thấy được sự thiếu hụt của mình, qua đó củng cố lại luyện tập. Chính vì những lý do nêu trên mà ta nói trò chơi giúp trẻ củng cố, mở rộng chính xác hoá những kiến thức, kỹ năng đã thu nhận được.

        Nắm vững những vấn đề đó trong việc hình thành cho trẻ các hiểu biết về toán học, tôi cố gắng trong quá trình giảng dạy, chịu khó sưu tầm hình ảnh, đồ dùng qua mạng Internet và tận dụng nguyên vật liệu có tại đia phương để làm đồ dùng phục vụ các bài tập, các trò chơi cho môn học này, luôn nghiên cứu tìm nhiều trò chơi mới trong quá trình đổi mới hình thức tổ chức tiết học.

        Ngoài số lượng trò chơi phong phú, mang tính chọn lọc được đưa vào chương trình tôi còn nghiên cứu các trò chơi trong các sách, tài liệu, trong ngôi nhà toán học của Milye … và sáng tạo thêm một số trò chơi nhằm giúp các cháu lĩnh hội tốt kiến thức mà cô giáo đã truyền thụ.

        Ví dụ: Thông qua trò chơi “Tìm ô số bí mật” nhằm giúp trẻ trải nghiệm và phát huy trí tuệ cho trẻ

        Cách chơi: Cô thiết kế các ô số từ 1-5, sau mỗi ô số là một câu hỏi dành cho cho trẻ, cô cho trẻ lên chọn và kích vào một ô số bất kỳ các câu hỏi xuất hiện, sau đó các cháu lắng nghe cô đọc câu hỏi và tham gia trả lời.

        Câu hỏi có thể là: Cô có 4 bông hoa hồng, các em lớp bé tặng thêm cho cô 1 bông hoa hồng nữa. Vậy cô có tất cả bao nhiêu bông hoa hồng? Các cháu cùng nhau hội ý, suy nghĩ để trả lời kết quả.

        Như vậy qua trò chơi nhằm củng cố được những chữ số đã học đồng thời phát huy trí tuệ, giúp trẻ thông minh, nhanh nhẹn khi tham gia vào trò chơi.

        Hay trò chơi “Điền số còn thiếu vào ô trống”

        Cách chơi: Cô yêu cầu trẻ điền những chữ số còn thiếu vào đúng dãy số tự nhiên, sau đó dùng màu để tô vào những chữ số đó.

        Qua trò chơi phát huy sự sáng tạo của trẻ, tạo hứng thú cho trẻ khi tham gia vào tiết học.

        Hơn nữa việc đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động là rất cần thiết bởi vì trẻ mầm non rất thích tò mò tìm hiểu những điều mới lạ, những hình ảnh sinh động, ngộ nghĩnh sẽ thu hút các cháu thì hoạt động sẽ đạt hiệu quả hơn.

        Như thông qua hoạt động vui cùng kidsmatr trẻ vừa được chơi vừa được học: Ngôi nhà toán học của Milie trẻ dùng các hình để ghép tạo thành các sản phẩm mà trẻ thích như: ngôi nhà, ô tô tải, hình cây thông v.v…từ sản phẩm mà trẻ ghép được trẻ sẽ biết được ghép bằng những hình nào? VD: Cô có thể hỏi con dùng những hình gì để ghép thành ngôi nhà? …

        Ngôi nhà toán học của Milie – Với căn phòng “Bé xíu, bé vừa, và bé bự” Trẻ nhận biết các hình dạng kích thước cơ bản: To, nhỏ, vừa trên các đối tượng cụ thể. Trẻ nhận biết phân biệt các hình dạng, kích thước khác nhau…Biết lựa chọn các cặp đối tượng tương ứng về kích thước.

        Phát triển khả năng quan sát, óc sáng tạo tư duy và ngôn ngữ cho trẻ.

        Ngôi nhà Toán học của Milie – Với căn phòng “Máy đếm số”. Trẻ nhận biết các số trong phạm vi 10 trên máy đếm số.Trẻ biết đếm theo số lượng, biết thao tác đếm. Trẻ bước đầu nhận biết về mối tương quan giữa số và nhóm đối tượng, liên hệ đếm các bộ phận trên cơ thể trẻ.

                       Các cháu đang chơi trò chơi trên máy kidsmatr

        Biện pháp 3: Thông qua các hoạt động trong ngày

        Trẻ mẫu giáo dễ nhớ nhưng mau quên và trí nhớ không chủ định chiếm ưu thế, chính vì vậy trẻ phải được ôn luyện thường xuyên thông qua các hoạt động trong ngày.

        Cô cho cháu điểm danh sĩ số hằng ngày bằng cách đếm sĩ số các bạn trong lớp. Cháu sẽ đếm xem tổ của mình có bao nhiêu bạn? Có bao nhiêu bạn vắng trong ngày? và tổ của bạn có bao nhiêu bạn? Nhằm để củng cố số lượng và so sánh hơn kém.

        Lồng ghép môn LQVT nếu có thể vào các bộ môn khác để giúp các cháu tiếp cận thường xuyên

        Ở góc chơi tôi sử dụng các tài liệu, tranh ảnh, mô hình, album về toán để giúp các cháu hằng ngày nhìn vào, tiếp xúc nhớ lâu làm quen với những biểu tượng, số lượng, hình khối, kích thước… Ngoài các biện pháp này tôi còn sử dụng phương pháp đàm thoại các góc để hình thành cho trẻ kỹ năng về toán. Cô giáo luôn hoà nhập cùng chơi với cháu, hỏi xem cháu tô được bao nhiêu bông hoa và hãy khoanh tròn số hoa theo yêu cầu của cô. Cháu có thể cùng nhau so sánh, trao đổi đồ vật, đồ chơi của mình, của bạn nhằm luyện cho trẻ kỹ năng đếm, so sánh và tư duy logic phát triển

        Với góc xây dựng cô luôn hỏi cháu, cháu xây ngôi nhà nầy được mấy tầng? và sử dụng những khối gì? Đặc điểm các khối nầy như thế nào? Qua đó giúp cháu nhận biết nhanh và khắc sâu hơn về các hình dạng.

        Thường xuyên tạo tình huống gợi mở dẫn dắt để trẻ có thể xem xét, quan sát và phát hiện những biểu tượng mới cụ thể để trẻ xác định phía trên – phía dưới; phải -trái; trước- sau

        VÍ dụ: Khi dạy trẻ xác định phía trên – phía dưới tôi treo lồng đèn ở trên cao và để có thể nhìn thấy trẻ phải ngẩng đầu lên. Cô hỏi trẻ: lồng đèn ở phía nào của con? Tại sao con biết nó ở phía trên? Trẻ trả lời: Con phải ngẩng đầu lên con mới nhìn thấy chiếc lồng đèn.

        Sau một thời gian thực hiện các biện pháp trên, các cháu có nhiều tiến bộ về kỹ năng đếm và nhận biết số lượng, về hình dạng, kích thước cũng như về định hướng không gian. Song phần diễn đạt khi trả lời câu hỏi của cô chưa mạch lạc, cháu chưa sử dụng đúng các thuật ngữ toán học.

        Biện pháp 4: Cho trẻ làm quen các thuật ngữ toán học ở mọi lúc, mọi nơi

        Ở độ tuổi này các cháu hay bắt chước, lời nói  của  các cháu  thường hay đi ngược lại vấn đề, vốn từ của trẻ còn ít ỏi nhiều lúc trẻ muốn diễn đạt suy nghĩ của mình nhưng không mạch lạc chuẩn  xác do đó muốn trẻ có một suy nghĩ chung nhất về môn  toán đầu tiên là phải làm sao cho trẻ  hiểu  được những thuật ngữ về toán học như: Cao hơn – thấp hơn; bên trái  –  bên phải; trên dưới – trước sau;, to hơn nhỏ hơn; bằng nhau ; làm thế nào để bằng nhau; nhiều hơn – ít hơn…vv .. vv

        Có như thế mới thực hiện tốt yêu cầu đề ra và việc làm cho trẻ nắm được các thuật ngữ đó phải giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi nơi để mỗi ngày từng ít, từng ít một trẻ sẽ nhớ và nhận thức đúng từ, đúng nghĩa

        Ví dụ: Khi cho trẻ xếp hàng tập thể dục tôi nói: Nữ đứng trước, nam đứng sau. Hay khi xếp hàng vào lớp hoặc ra về tôi nói: Tổ 1 đứng bên tay phải cô, tổ 2 đứng bên tay trái cô.Hay khi tổ chức trò chơi cô nói: Lớp chia làm 4 đội: Đội 1 và 2 đứng phía trên thực hiện trò chơi, đội 3 và 4 đứng phía dưới cổ vũ các bạn.Hay qua tập bài hát ở mọi lúc mọi nơi để chuẩn bị cho bài dạy sắp đến cô nói: Đội nam hát to câu 1,2. Đội nữ hát nhỏ câu 3,4…

        Tương tự như vậy qua từng hoạt động diễn ra trong ngày dưới nhiều hình thức qua bài hát, bài thơ, câu chuyện, câu đố, trò chơi, hoạt động ngoài trời…tôi luôn cung cấp các thuật ngữ toán học đến với trẻ và mong rằng những kiến thức tuy nhỏ bé nhưng sẽ được góp phần cho sự phát triển nhận thức của trẻ sau này

        Ngoài ra khi cho trẻ dạo chơi trong sân trường tôi cho các cháu nhặt lá vàng theo số lượng cô giáo qui định và xếp thành hình tròn,vuông, chữ nhật, tam giác…bằng những chiếc lá vàng , cô kiểm tra để kịp thời giúp đỡ những cháu thực hiện chưa đúng yêu cầu

        Ví dụ:

        Tổ 1 mỗi bạn nhặt cho cô 5 chiếc lá và xếp thành hình tròn, cho cháu đếm

        Tổ 2 mỗi bạn nhặt cho cô 8 chiếc lá và xếp thành hình vuông…

        Ở hoạt động này cô giáo cho trẻ thoải mái thực hiện yêu cầu một cách tự nhiên, cô phát hiện nhanh những cháu thực hiện chưa chính xác để hướng trẻ sửa sai, không để trẻ sợ hãi khi thực hiện chưa tốt, bằng tình cảm của người mẹ thứ 2 để giáo dục trẻ

        Ví dụ: Khi sắp hàng tập thể dục cô nói: Các bạn nữ đứng trước, các bạn nam đứng sau và hướng dẫn cho trẻ đứng đúng vị trí. Hay khi sắp hàng vào lớp cô hướng dẫn: Tổ 1 đứng bên tay phải cô, tổ 2 đứng trước mặt cô và tổ 3 đứng bên trái cô, hay khi dạy cao thấp  tôi  cho 2 trẻ cao thấp lên nói: Cháu thấp đứng trước mặt cô, cháu cao đứng sau lưng cô, tương tự như vậy qua từng hoạt động diễn ra trong ngày bằng nhiều hình thức khác nhau những bài hát,bài thơ những câu chuyện

        Biện pháp 5. Khuyến khích trẻ tự đặt câu hỏi nêu những thắc mắc diễn ra và chia sẻ ý tưởng của trẻ

        Thông thường trong các hoạt động dạy học cô giáo hay đặt câu hỏi cho trẻ trả lời, hay áp đặt trẻ mà ít chú ý đến việc khuyến khích trẻ đặt câu hỏi điều nầy dẫn đến hạn chế việc sử dụng ngôn ngữ sẵn có của trẻ cũng như hạn chế việc suy nghĩ, tìm tòi, sử dụng các thuật ngữ toán học…Vì vậy cô luôn khuyến khích trẻ nêu các câu hỏi do cháu nghĩ ra

        Ví dụ: Sau khi tìm hiểu về các hình (vuông, tròn, chữ nhật), cô giáo  hãy cho trẻ quan sát lại các hình này và có thể đưa ra một lời đề nghị: Các con tự suy nghĩ và hỏi bạn một câu về đặc điểm của hình vuông này, trẻ có thể đặt đúng hoặc chưa đúng nhưng bước đầu đã tạo cho trẻ sự mạnh dạn, tự tin trong học tập. Bên cạnh đó cô giáo cũng tạo ra nhiều cơ hội khác như khuyến khích trẻ đặt ra các câu đố khác nhau để đố bạn hoặc thi nói nhanh: một trẻ nói số lượng nhóm đồ vật, trẻ khác nói chữ số tương ứng…

        Biện pháp 6: Phối hợp với phụ huynh

        Tất cả mọi công việc của lớp muốn thực hiện đạt kết quả tốt cần phải có sự phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh. Để thực hiện tốt công việc nầy tôi thường xuyên gặp gỡ với phụ huynh vào các giờ đón trả trẻ nhằm tìm hiểu và nắm rõ được hoàn cảnh gia đình của từng cháu tìm hiểu cá tính khả năng của từng trẻ để có biện pháp hướng dẫn phù hợp, để các cháu có đủ đồ dùng học tập tôi vận động phụ huynh đóng góp nguyên vật liệu để làm đồ dùng cho cháu học. Đồng thời giúp cho phụ huynh có cơ sở nắm bắt về hình thức tổ chức và phương pháp dạy các cháu học môn LQVT tôi đã tổ chức tiết dạy mẫu trong thời gian đầu năm mời phụ huynh dự để phụ huynh nắm được nhằm giúp trẻ học toán tốt hơn. Mặt khác ngoài việc tham gia các hội thi do trường tổ chức như hội thi “Bé thông minh nhanh trí” … ở lớp tôi cũng tổ chức nhiều hội thi như hội thi “Xem ai tài”, hội thi “Bé khỏe bé ngoan”… trong từng hội thi giáo viên liên hệ với phụ huynh chuẩn bị đồ dùng cho trẻ để phụ huynh hỗ trợ. Trong mỗi lần tổ chức hội thi giáo viên mời phụ huynh của tất cả các cháu trong lớp đến dự. Trong phạm vi nhỏ (lớp học) nhưng đã góp phần trong việc tuyên truyền kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ đến phụ huynh, đặc biệt việc tuyên truyền thực hiện chuyên đề LQVT trong năm học này.

        KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

        Sau gần 1 năm thực hiện đến nay đa số các cháu trong lớp tôi đã đạt được những kết quả rất khả quan. Trong giờ học toán đầu năm trẻ rụt rè, nhút nhát thì nay gần 95 % cháu đã dần trở nên nhanh nhẹn, hoạt bát,  mạnh dạn, tự tin thực hiện các yêu cầu của cô đề ra và sẵn sàng chia sẻ cùng cô mỗi khi gặp khó khăn. 85% trẻ biết sử dụng thuật ngữ toán học, 90% trẻ biết sắp xếp tương ứng và sắp xếp theo quy tắc, vốn từ toán học của các cháu càng ngày càng phong phú. 90% trẻ có thao tác, kỹ năng so sánh, thêm bớt, phân biệt…100% trẻ thích tham gia vào giờ học một cách hứng thú. Quan trọng hơn hết là các cháu tiếp thu tốt kiến thức cô truyền đạt và thực hành một cách nhanh gọn, chính xác.

        Tỉ lệ trẻ khá giỏi tăng hẳn so với đầu năm, thực tế là đến nay số trẻ khá giỏi về bộ môn toán trong lớp tôi đã đạt 95%. Phụ huynh vui mừng, tin tưởng khi gởi con vào lớp và sẵn sàng phối hợp cùng cô trong mọi hoạt động chăm sóc trẻ.

        KẾT LUẬN:

                 Giúp trẻ học tốt môn toán là nâng cao lĩnh vực phát triển nhận thức cho trẻ nhằm tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện về 5 lĩnh vực. Để đạt được mục tiêu quan trọng đó chúng ta cần thực hiện tốt các biện pháp giáo dục nhằm đem lại kết quả tốt.

        Trước hết qua cách dạy của mình cô giáo cho trẻ nắm và hiểu rõ các thuật ngữ toán học một cách chính xác, sử dụng đúng từ, đúng nghĩa. Mặt khác phải tích cực làm nhiều đồ dùng cho trẻ được khám phá, được trải nghiệm và tạo cơ hội để trẻ tham gia trực tiếp các hoạt động. Giáo viên thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức tiết học dưới dạng tổ chức các trò chơi, thông qua các hoạt động trong ngày hoặc tổ chức cho trẻ thi “Đố vui”…ở mọi lúc mọi nơi cô giáo cần lồng ghép các kiến thức toán để cung cấp cho trẻ.

        Vai trò của cô giáo cũng góp phần rất quan trọng tạo cho trẻ tham gia học tập tích cực để nắm được kiến thức bài học, vậy mỗi cô giáo hãy luôn thể hiện mình là vai trò một người mẹ , một người bạn luôn lắng nghe ý kiến và luôn chia sẻ khi trẻ gặp khó khăn. Một yếu tố rất quan trọng không thể thiếu góp phần và sự thành công của trẻ chính là sự phối hợp chặt chẽ giữa cô giáo và phụ huynh trong cách giáo dục trẻ .

        Với tấm lòng yêu nghề mến trẻ, lại luôn được sự giúp đỡ của chị em trong trường cộng với sự cố gắng của bản thân. Song do khả năng còn hạn chế vì vậy đề tài nhất định còn nhiều thiếu sót rất mong được sự góp ý của Hội đồng nghiên cứu khoa học các cấp để đề tài được hoàn chỉnh hơn.    

                 VII. ĐỀ NGHỊ

        Để tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện tốt môn LQVT, kính đề nghị các cấp lãnh đạo quan tâm hơn nữa về việc đầu tư đồ dùng, đồ chơi đầy đủ ở các góc cho trẻ 4-5 tuổi để trẻ học tập và vui chơi, nhằm củng cố và nâng cao chất lượng học tập cho các cháu để các cháu có đủ kiến thức bước vào các lớp tiếp theo.

        Những biện pháp giúp trẻ học tốt môn LQVT mà tôi đã trình bày rất dễ dàng thực hiện nhưng đòi hỏi mỗi giáo viên phải có tâm huyết với nghề, luôn tích cực tìm tòi, học hỏi và đặc biệt là phải yêu thương trẻ như chính con đẻ của mình thì chắc chắn sẽ đạt một kết quả như ta mong đợi .

        VIII. PHỤ LỤC:

        Giờ học môn LQVT của cô và cháu 

            

        Giờ thao giảng chuyên đề toán cócác bạn đồng nghiệp tham dự

        TÀI LIỆU THAM KHẢO:

        – Tài liệu bồi dưỡng chuyên môn hè năm  2012-2013; 2013-2014; 2014-2015

        – Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên.

        MỤC LỤC:

        Đặt vấn đề: Trang 1

        Tầm quan trọng

        Thực trạng

        Lý do chọn đề tài

        Cơ sở lý luận: Trang 2

        III. Cơ sở thực tiễn:                  Trang 2

        Nội dung nghiên cứu Trang 2 – 8

        Thông qua các trò chơi

        Tạo môi trường cho trẻ hoạt động

        Thông qua các hoạt động

        Cho trẻ làm quen với các thuật ngữ toán học ở mọi lúc, mọi nơi

        Khuyến khích trẻ tự đặt những câu hỏi nêu những thắc mắc diễn ra và chia sẻ ý tưởng của trẻ

        Kết quả nghiên cứu: Trang 8 – 9

        Kết luận: Trang 9

        VII. Đề nghị:                            Trang 9

        VIII. Phụ lục:                           Trang 10

                                                        Đại Quang, ngày 20 tháng 3 năm 2015

                                                                           Người viết

                                                                                  Hồ Thị Như Thủy

        Sáng Kiến Giáo Dục Đạo Đức Đạt Giải Huyện Năm Học: 2022 / 2023

        1. Lý do chọn đề tài:

        Giáo dục đạo đức là một trong những mục tiêu giáo dục hàng đầu trong nhà trường tiểu học. Nhưng thực tế, một số giáo viên còn xem nhẹ, dạy lướt qua khi học sinh học đến môn này. Nhiều học sinh có thái độ, hành vi ứng xử chưa phù hợp với chuẩn mực đạo đức khi cùng học, cùng chơi với bạn, khi giao tiếp với người lớn hoặc nhỏ tuổi hơn mình. Vì vậy tôi chọn đề tài : ” Một số biên pháp giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1″ để nghiên cứu, giáo dục, nhằm giúp cho học sinh lớp tôi chủ nhiệm có kĩ năng, thái độ lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ và tình huống đơn giản, trong sinh hoạt cuộc sống hằng ngày.

        2. Mục đích nghiên cứu:

        Nhằm giúp học sinh lớp 1 có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng, môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện theo các chuẩn mực đạo đức đó.

        Từng bước hình thành kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thản và những người xung quanh theo chuẩn mực đã học; kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng sử phù hợp với chuẩn mực trong các quan hệ tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống; biết nhắc nhở bạn bè cùng thực hiện.

        Từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin, yêu thương, tôn trọng con người, yêu cái thiện, cá đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái xấu, cái sai.

        3. Đối tượng nghiên cứu:

        Đề tài nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh; đối tượng là giáo viên và học sinh trường Tiểu học số 2 Hoài Tân nói chung và học sinh lớp 1 A do tôi chủ nhiệm nói riêng.

        4. Đối tượng khảo sát và thực nghiệm:

        Lớp 1A trường Tiểu học số 2 Hoài Tân.

        5. Phương pháp nghiên cứu:

        – Tôi quan sát việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh ở trường, tôi thấy những hành vi đạo đức của học sinh chưa tốt, khả năng giải quyết tình huống đạo đức của học sinh chưa đúng, chẳng hạn:

        Hoặc có hướng giải quyết đúng nhưng chưa trọn vẹn hành vi ứng xử tốt. Ví dụ: Em A làm rơi hộp bút của bạn chỉ nói xin lỗi bạn mà không nhặt hộp bút lên cho bạn.

        – Quan sát trong giờ ra chơi, tôi thấy một số em có tính nghịch ngợm, đánh bạn, gọi bạn là “mày”, xô đẩy chen lấn nhau khi đi xuống cầu thang, chơi không hòa đồng, ví dụ: thích chơi với bạn học tốt, nhà giàu, không chơi với bạn nhà nghèo, học yếu.

        – Quan sát cách ứng xử giữa phụ huynh và học sinh khi đưa đón con đi học, học sinh có hành vi đạo đức chưa tốt nhưng phụ huynh không khuyên bảo con, dạy dỗ con đến nơi đến chốn, chẳng hạn: Mẹ đưa cho con hộp sữa, con cầm bằng một tay, không nói gì và đi thẳng vào lớp học.

        Từ đó tôi đưa ra biện pháp khắc phục trong quá trình giảng dạy từng bài Đạo đức, có liên hệ thực tế, đưa ra nhiều tình huống mà các em thường gặp trong cuộc sống hằng ngày, để học sinh định hướng giải quyết tốt các tình huống theo đúng hành vi chuẩn mực đạo đức hoặc giáo dục học sinh ngay lúc học sinh có hành vi ứng xử không tốt.

        6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu:

        Tôi bắt đầu nghiên cứu đề tài giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1 từ năm học 2014 – 2015 và áp dụng vào giáo dục đạo đức cho học sinh năm học 2015 – 2016 và học kì 1 năm học này. Tôi thấy rất khả quan, học sinh nhớ những cách ứng xử, biết giải quyết tốt các tình huống theo đúng hành vi chuẩn mực đạo đức.

        II. NỘI DUNG: 1. Nội dung lý luận về vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1:

        Trong công cuộc đổi mới hiện nay khi yếu tố con người được đặc biệt coi trọng, thì tiềm năng trí tuệ cùng với sức mạnh tinh thần đạo đức của con người càng được đề cao và phát huy mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực xã hội. Việc nâng chất lượng và hiệu quả đạo đức cho học sinh là đòi hỏi, thường xuyên liên tục trong công tác giáo dục “Trồng người”.

        Giáo dục đạo đức cho học sinh làm cho các em phát triển đúng về mặt đạo đức. Taọ cơ sở cho các em biết cư xử, và ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ của bản thân với bạn bè, người khác ngay từ khi mới bước vào lớp 1. Với độ tuổi “non nớt” đó thì việc giáo dục đạo đức càng được quan tâm và kỹ lưỡng hơn của từng giáo viên đối với học sinh. Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức là học sinh có những phẩm chất tốt đẹp và bền vững để ứng xử tốt trong các mối quan hệ xã hội.

        Như Bác Hồ đã dạy “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức vì : Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Chính vì thế đức và tài luôn luôn phải song song với nhau.

        Vậy làm thế nào để học sinh có được những phẩm chất tốt đẹp đó. Nhất là trong trào lưu xã hội hiện nay. Đây chính là một vấn đề quan trọng đặt ra cho mọi người giáo viên. Trong công tác giảng dạy đòi hỏi giáo viên phải có những kinh nghiệm, các phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với điều kiện của địa phương để phát huy được khả năng nhận thức của học sinh và giúp các em hiểu rằng bằng các hoạt động học tập – vui chơi… sinh hoạt của mình để tự hình thành con người có ích cho xã hội, là người chủ nhân tương lai của đất nước.

        2. Thực trạng vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh: 2.1 Ở nhà trường: a) Giáo viên:

        – Quan niệm của một số giáo viên chủ nhiệm cho rằng, môn Đạo đức là dễ dạy, dễ nói chỉ cần lướt qua là đủ. Thực sực không chú trọng, mà thường quan tâm và chú trọng nhất ở hai môn Toán và Tiếng việt . Chính vì thế mà rèn luyện đạo đức đúng cho học sinh thông qua môn học Đạo đức hay bị xem nhẹ.

        Một số giáo viên còn lúng túng khi xây dựng thiết kế tiết “Luyện tập – thực hành đạo đức (tiết 2)”. Nên giờ dạy không được đảm bảo, cách truyền thụ đạo đức còn khô khan, rời rạc, không lôi cuốn học sinh tích cực học tập.

        b) Đối với học sinh:

        – Đa số học sinh của lớp đều là con em nông thôn, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên họ ít chú trọng đến việc học tập và rèn luyện hành vi đạo đức cho con em mình chỉ cần đến trường để biết đọc, biết viết là được.

        – Khi đến trường, các em được thầy cô dạy bảo điều đầu tiên là “lễ phép”, “kính trên nhường dưới, gọi dạ bảo vâng”, không nói tục, chửi bậy. Xong ở nhà trường thì vậy, còn ở gia đình và xã hội thì sao? Vì thế cho nên việc dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh phải biết kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

        2.2. Ở gia đình.

        Vì công việc gia đình nên phụ huynh thường giao hẳn cho thầy cô, nhà trường và ít quan tâm đến việc giáo dục con cái.

        Ví dụ: Có những phụ huynh hay phàn nàn với cô giáo chủ nhiệm rằng “Cháu còn chưa ngoan, hay nghịch, mải chơi, không nghe lời bố mẹ, hay nói tục, chửi thề … Vì vậy nhờ cô, nhờ thầy khuyên bảo cháu giúp tôi.

        Đây là một vấn đề thật quan trọng trong gia đình. Nếu vấn đề này không được giáo dục kịp thời thì ngay từ khi còn nhỏ. Thì chắc chắn dần dần các em hình thành nên những hành vi không tốt dẫn đến phải giáo dục.

        Bên cạnh đó có nhiều phụ huynh có quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho con em mình. Xong kết quả còn hạn chế do bận bịu với công việc gia đình, còn thiếu kinh nghiệm và các kĩ năng cần thiết trong việc giáo dục con cái. Để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức phải thường xuyên học tập trao đổi để nâng cao trình độ về kiến thức. Cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong công tác giáo dục.

        2.3. Thực tiễn ngoài xã hội.

        Trong giai đoạn hiện nay chuẩn mực đạo đức có phần bị lơ lỏng. Những hành vi, thói quen đạo đức xấu diễn ra hằng ngày, hằng giờ. Đối với học sinh việc bắt chước thì rất nhanh vì sự nhận thức của các em còn hạn chế. Vậy sự nhận thức hiểu biết của các em không còn bó hẹp trong nhà trường mà còn ảnh hưởng nhiều của xã hội. Nếu ảnh hưởng của người lớn tốt hay xấu thì các em có thể nhận ra để học tập hoặc làm theo.

        Vì thế nhà trường, gia đình và xã hội là một mối tổng hoà các mối quan hệ để giúp các em trở thành người công dân tốt, là người chủ tương lai của đất nước.

        3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1:

        Để phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học phải đổi mới đồng bộ về cơ cấu, hệ thống giáo dục, nội dung phương pháp, hình thức tổ chức phương tiện dạy học.

        3.1. Khi tiến hành dạy học môn Đạo đức ở lớp 1 phải kết hợp chặt chẽ các phương pháp giáo dục. Các phương tiện dạy học với các phương tiện giáo dục.

        Để tiết dạy đạo đức được thành công thì giáo viên phải sử dụng các phương pháp đặc trưng chủ yếu và kể chuyện theo tranh, trình bày trực quan, đàm thoại, nêu gương, đóng vai, vv … và kèm theo các phương tiện giáo dục như tranh ảnh, truyện kể, phim, … phù hợp với nội dung của từng bài.

        3.2. Dạy học đạo đức phải luôn gắn bó với thực tiễn trong cuộc sống.

        Giáo viên tạo điều kiện cho học sinh tập xử lý, giải quyết các tình huống cụ thể gần gũi với cuộc sống của các em để các em tự nhận xét và đánh giá hành vi của hản thân, của những người xung quanh.

        Ví dụ: Sau khi truyền thụ bài “Lễ phép với anh chị – Nhường nhịn em nhỏ (Tuần 9).

        Giáo viên cho học sinh tập xử lí và giải quyết các tình huống như:

        “Cô đến chơi nhà Lan. Cho hai chị em 2 quả táo. 1 quả to. 1 quả nhỏ Lan đã xử lý như thế nào.

        a) Đưa cho em quả nhỏ – còn Lan quả to.

        b) Đưa cho em quả to – còn Lan quả nhỏ.

        c) Chia đôi mỗi quả một nửa để công bằng.

        d) Nhường cho em chọn trước.

        Học sinh tìm phương án và đưa ra cách lựa chọn đúng nhất (Học sinh lựa chọn).

        Đưa câu hỏi:

        Em thử đoán xem Lan đã lựa chọn tình huống nào? Vì sao?

        Nếu là em em sẽ chọn tình huống nào? Tại sao?

        Em có nhận xét gì về tình huống đó:

        Hay: Hùng có một chiếc ô tô đẹp – em hỏi mượn: Hùng đã:

        a) Không cho em mượn.

        b) Cho em mượn và để em chơi 1 mình.

        c) Cho em mượn và hướng dẫn, cùng chơi với em.

        “Là anh chị luôn luôn phải nhường nhịn và giúp đỡ em nhỏ, … “

        – Những người trong tranh đang làm gì?

        – Tư thế của họ đứng như thế nào?

        – Vì sao họ phải đứng nghiêm trang khi chào cờ?

        – Vì sao họ lại sung sướng để cùng nhau nâng niu lá cờ của Tổ Quốc? (đối với tranh 3).

        Khi học sinh trả lời xong. Giáo viên cho các em nhận xét câu trả lời của các bạn và liên hệ thực tế giờ chào cờ, đầu tuần của lớp, rồi đi tới kết luận Quốc kì là tượng trưng cho một nước. Quốc kì Việt Nam màu đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Quốc ca là bài hát chính thức của một nước dùng khi chào cờ cần phải bỏ mũ nón, sửa sang lại, đầu tóc, quần áo chỉnh tề, đứng nghiêm, mắt hướng nhìn lá Quốc kì. Phải nghiêm trang khi chào cờ để tỏ lòng tôn kính Quốc kì, thể hiện tình yêu đối với đất nước Việt Nam.

        Hoặc dạy bài: Trật tự trong trường học (Tuần 16)

        Đối với bài tập 3 giáo viên cho học sinh quan sát tranh để nhận xét các bạn trong tranh ngồi học như thế nào?

        Giáo viên cho nhiều học sinh trả lời và lấy ý kiến nhận xét của các bạn và kết luận: “Phải giữ trật tự trong giờ học, ngồi học phải ngay ngắn, chăm chú nghe cô giáo giảng bài. Muốn phát biểu phải giơ tay để xin ý kiến, liên hệ thực tế để các em có ý thức tốt trong hoạt động học tập và các hoạt động khác.

        3.3. Giáo dục đạo đức không chỉ ở môn đạo đức, mà ở bất kì môn học nào người giáo viên phải làm nhiệm vụ giáo dục giá trị đạo đức. Cung cấp cho học sinh kiến thức về các chuẩn mực, hành vi đạo đức thông qua môn đạo đức và các môn học khác.

        Ví dụ: dạy môn Tự nhiên và xã hội lớp 1 – dạy bài: Gia đình; giáo dục cho các em phải biết kính trọng” Kính trên nhường dưới, biết giúp đỡ bố mẹ làm các việc phù hợp với tuổi nhỏ các em có thể làm được: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình.”

        Dạy học vần: Trong bài ôn tập số 37 có phần kể chuyện “Cây khế” Giáo dục cho học sinh anh em phải biết chia sẻ, hoà thuận không được tham lam.

        Hay trong bài tiếng việt 43 phần kể chuyện “Sói và Cừu”: Giáo dục cho học sinh sự gan dạ, thông minh để xử lí mọi tình huống.

        3.4. Giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1 không chỉ bó hẹp trong phạm vi lớp học mà còn được giáo dục bằng các giờ hoạt động tập thể, ngoại khoá.

        Ví dụ: Như sinh hoạt văn nghệ, vui chơi luôn giúp đỡ các em cách cư xử, ứng xử trong lời ăn tiếng nói để thể hiện là người học sinh ngoan, có lòng chân thành, thẳng thắn, nguyên tắc, ý thức tốt, tự giác trong mọi công việc.

        – Luyện tập cho học sinh các quy định – nội dung do nhà trường đề ra như “nội quy về học tập”, “Nội quy về cách ăn mặc”, “Nội quy sinh hoạt sao”, …

        + Tổ chức sinh hoạt tập thể vào buổi cuối tuần để biểu dương, nêu gương, khen thưởng cho học sinh có nhiều thành tích, ngoan ngoãn trong các hoạt động học tập – sinh hoạt.

        Đồng thời cũng nhắc nhở, phê bình một số học sinh còn chưa thực hiện tốt các nội quy quy định của lớp, của trường để các em sửa chữa và nhanh tiến bộ.

        3.5. Nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp, nắm vững các đối tượng học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, sự tiếp thu, nhận thức của từng em. Căn cứ vào đặc điểm của nhà trường và điều kiện của địa phương để chọn ra nội dung sinh hoạt phù hợp cho học sinh.

        Ở lớp tôi chủ nhiệm tôi luôn tìm hiểu tâm lí của học sinh. Trong các buổi sinh hoạt tập thể tôi thường tổ chức sinh hoạt theo chủ điểm của tuần, của tháng như cho các em thi văn nghệ, kể chuyện tổ chức trò chơi sắm vai, với cách hoá trang đơn giản. Nhất là các câu chuyện tự biên, có nội dung đơn giản nhưng gần gũi với cuộc sống để các em tích cực tham gia sôi nổi. Qua buổi sinh hoạt đó, lồng ghép giáo dục cho học sinh có tinh thần đoàn kết, tinh thần tập thể, tình yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết, công bằng, phát huy tính sáng tạo của học sinh.

        Ví dụ: Trong tháng 9 chủ điểm “Chào mừng năm học mới”: Các em vào năm học mới giáo viên định hướng cho các em thấy rõ nhiệm vụ của năm học vì đây là năm đầu tiên các em làm quen với trường tiểu học, có nhiều môn học, có nhiều điều mới lạ, giáo viên hướng dẫn và giúp đỡ các em sẵn sàng nhận nhiệm vụ được giao và hoàn thành tốt các nhiệm vụ của người học sinh.

        Hay tháng 11 chủ điểm “Chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam”, phát động phong trào “Bông hoa học tốt” giúp các em học tập và rèn luyện tốt, xây dựng đôi bạn cùng tiến. Giáo dục cho học sinh có thái độ, tinh thần học tập đúng đắn. Học tập tốt dành nhiều bông hoa. Đó chính là sự thể hiện lòng kính trọng và biết ơn thầy cô giáo.

        Giáo viên có thể kết hợp nhiều hình thức thi đua để hoạt động gây hứng thú cho học sinh.

        Ví dụ: Làm báo ảnh chào mừng ngày 20 – 11.

        Đi thăm thầy cô giáo cũ.

        Tháng 12: chủ điểm “Chào mừng ngày Thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12”. Giáo dục cho học sinh những đức tính tốt đẹp của anh bộ đội cụ Hồ. Học tập và làm việc theo gương anh bộ đội. Giúp học sinh có phẩm chất tốt đẹp, có ý thức tổ chức kỉ luật, có tinh thần vượt khó, lòng trung thành trong học tập và các hoạt động khác, giúp đỡ các gia đình thương bình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng bằng những việc làm nhỏ của mình.

        – Các hình thức hoạt động, giáo viên có thể tổ chức như: Hát, múa, thi kể chuyện về anh bộ đội.

        – Đến thăm các gia đình thương bình liệt sĩ và gia đình có công với cách mạng.

        – Tổ chức mít tinh, nghe nói chuyện truyền thống kỉ niệm 22/12.

        3.6. Người xưa thường nói: “Tấm gương bao giờ cũng có giá trị hơn giáo huấn” đối với học sinh lớp 1. Người giáo viên là thần tượng, là trí tuệ, là lí tưởng của các em, các em tin vào lời dặn dò vào việc làm của giáo viên hơn cả những điều cha mẹ dặn dò, khuyên nhủ.

        Vì vậy người giáo viên dạy đạo đức không phải chỉ có nhiệt tình, cần có kiến thức, có vốn kinh nghịêm để ứng xử. Đặc biệt ở mỗi thầy cô giáo, phải là một tấm gương sáng về đạo đức, mẫu mực để học sinh noi theo, để củng cố niềm tin cho trẻ về đạo đức. Các em thu nhận được những điều cô dạy ở trên lớp không mâu thuẫn với thực tế.

        3.7. Việc giáo dục đối với học sinh còn chưa ngoan: Giáo viên phải thường xuyên gặp gỡ học sinh để giúp đỡ các em, thống nhất với phụ huynh cách giáo dục em học sinh đó (Dựa vào tâm lí của các em).

        Học sinh muốn có sự chuyển biến tốt thì người thầy phải kiên trì, không nôn nóng, chán nản, luôn luôn gần gũi và đồng thời là chỗ dựa vững chắc của các em khi các em đến trường.

        3.8. Giáo viên kết hợp với phụ huynh giáo dục học sinh ngay từ đầu năm học để cùng nhau làm tốt việc giáo dục đạo đức.

        Tóm lại: Việc giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1 phải thực hiện ngay từ đầu như người xưa đã nói ” Dạy con từ thuở còn thơ”,trẻ em như tờ giấy trắng nên việc giáo dục đạo đức là quan trọng. Việc giáo dục đạo đức cho các em không chỉ là lí thuyết, không phải đơn thuần chỉ là quá trình chuyển động thông tin từ thầy đến trò mà là một quá trình tâm lí xã hội tác động đến trí tuệ của các em.

        4. Kết quả thực hiện:

        – Khi áp dụng giải pháp này thì kết quả đạt được như sau:

        + Học sinh ngoan hơn, biết lễ phép chào hỏi thầy cô giáo và người lớn tuổi, biết cách xưng hô với người lớn, đoàn kết và giúp đỡ bạn bè, biết cách ứng xử đúng mực với các bạn.

        + Có ý thức tổ chức kỉ luật: Thể hiện là ít đi học muộn hơn, nghỉ học là các em đều có giấy xin phép, giữ trật tự khi nghe giảng.

        + Tích cực tham gia các hoạt động của lớp, của trường đề ra.

        + Tự giác trong các hoạt động ngoại khoá.

        + Vệ sinh cá nhân gọn gàng và đẹp đẽ hơn.

        Kết quả đánh giá phẩm chất của lớp 1A, năm học 2015-2016, sĩ số: 27 học sinh, trong đó nữ:12 học sinh cả năm đạt 27/27 tỉ lệ 100%

        Kết quả đánh giá phẩm chất cuối học kì 1 của lớp 1A,năm học 2016-2017, sĩ số: 35 học sinh, trong đó nữ: 20 học sinh, như sau:

        III. Kết luận và khuyến nghị.

        Bài học rút ra kinh nghiệm của đề tài: Để nâng cao giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 1 trước hết người giáo viên phải:

        + Luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

        + Phải kết hợp chặt chẽ các phương pháp giáo dục và các phương tiện dạy học.

        Dạy học đạo đức phải luôn gắn bó với thực tiễn trong cuộc sống. Phối hợp tốt công tác chủ nhiệm giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội để giáo dục cho học sinh trở thành những người con ngoan, trò giỏi …

        Tôi xin chân thành cảm ơn!

        Hoài Tân, ngày 26 tháng 1 năm 2017

        Nguyễn Thị Thu Hương

        Sách giáo khoa Đạo đức lớp 1;

        Các tài liệu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học.

        Đặng Văn Mười @ 08:50 17/05/2017 Số lượt xem: 3076

        Diễn Đàn ‘An Toàn Thực Phẩm Năm 2014 / 2023

        VietGAP là quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng và ban hành từ ngày 28/1/2008. Mặc dù, tiêu chuẩn này đã ban hành được 6 năm, song vẫn còn nhiều bất cập và khó nhân rộng do có nhiều tiêu chí kiểm soát và nông dân phải ghi chép nhật ký chăm sóc phức tạp.

        Sản xuất rau sạch tại Hợp tác xã rau an toàn Phước Hậu huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. (Ảnh: Phạm Thị Bình/TTXVN)

        Phát biểu tại Diễn dàn, ông Ngô Tùng Thu, Quản đốc dự án “Sinh kế nông thôn bền vững” tại Bình Định cho rằng VietGAP được ban hành như một tiêu chuẩn tự nguyện để thực hành nông nghiệp tốt, song có đến 65 tiêu chí kiểm soát, đảm bảo truy xuất nguồn gốc với sổ tay ghi chép nhật ký sản xuất cho người sản xuất thực hiện, trong đó khá nhiều chỉ tiêu, bảng biểu phức tạp.

        “Hơn nữa, việc chứng nhận sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn VietGAP phải thông qua một số tổ chức chứng nhận chất lượng. Vì vậy, chỉ một số ít cơ sở sản xuất liên kết với doanh nghiệp và có hợp đồng bao tiêu sản phẩm mới chứng nhận, hoặc các dự án hỗ trợ kinh phí cho cơ sở sản xuất chứng nhận thì họ mới chứng nhận. Nhìn chung sản phẩm áp dụng theo tiêu chí VietGAP chủ yếu là hướng tới xuất khẩu, chưa phục vụ được nhu cầu tiêu dùng nội địa,” ông Ngô Tùng Thu phân tích.

        Theo ông Ngô Tùng Thu, hiện chênh lệch “cung-cầu” đối với các sản phẩm an toàn vẫn còn khoảng cách khá xa, ngoài khâu sản xuất đảm bảo các tiêu chí thì việc quản lý các chứng chỉ cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế nên tâm lý người tiêu dùng vẫn còn nhiều e ngại khi lựa chọn phân biệt các sản phẩm.

        Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã xác định rõ thị trường là cơ sở chính để cải thiện chất lượng, nhà nước với vai trò hỗ trợ, đặc biệt là đảm bảo chất lượng giống cây trồng địa phương, phân bón, thức ăn chăn nuôi và vật tư nông nghiệp khác.

        Phát biểu tại Diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lê Quốc Doanh cũng cho biết, triển khai chương trình quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030, Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực hoàn thiện bộ khung pháp lý, quản lý tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật canh tác an toàn vệ sinh thực phẩm. Theo đó, các đơn vị cơ sở cần tăng cường tập huấn nâng cao nhận thức cho cả người sản xuất và người tiêu dùng về an toàn thực phẩm đồng thời tuyên truyền về các sản phẩm nông sản an toàn hướng tới cả thị trường nội địa và xuất khẩu./.

        Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Tdtt Quần Chúng Năm 2014 ( 17/4/2014 ) / 2023

        (Lý luận & Thực tiễn) – Công tác TDTT trong năm 2014 có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tiến trình phát triển sự nghiệp TDTT phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện tốt nhiệm vụ “Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động thể dục, thể thao quần chúng” được đặt ra trong Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 1/12/2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục thể thao đến năm 2020, ngành TDTT từ Trung ương tới địa phương đã triển khai nhiều giải pháp cụ thể nhằm xây dựng nền TDTT phát triển bền vững vì mục tiêu nâng cao sức khỏe và góp phần làm phong phú đời sống tinh thần cho nhân dân.

        Một trong những giải pháp có tính thời sự và lâu dài đó là “Duy trì và nâng cao chất lượng phong trào toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Đây là một cuộc vận động lớn được kế thừa từ các phong trào thi đua do ngành TDTT phát động như phong trào chạy Quang Trung, bơi Yết Kiêu, phong trào thanh niên học tập và rèn luyện thân thể theo lời Bác… Từ những năm của thể kỷ XX đến cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại được Ủy ban TDTT (nay là Tổng cục TDTT) phát động từ năm 2000-2011 và giai đoạn 2 được Bộ VHTTDL phát động vào dịp 27/3/ 2012 với các chỉ tiêu cơ bản đến 2015 là đạt tỷ lệ 28% dân số tập luyện TDTT thường xuyên chỉ tiêu này đến hết 2013 cả nước đạt 27,2% dân số; số gia đình luyện tập TDTT chỉ tiêu 2015 là 22% hộ gia đình đến hết 2013 đạt 18,1%; Thiết chế Văn hóa – Thể thao cơ sở ở xã, phường, thị trấn chỉ tiêu 2020 là 85% đến 2013 đạt tỷ lệ 42% các xã có thiết chế theo chuẩn của Bộ VHTTDL (hầu hết các xã đều đã có sân thể thao ở quy mô mức độ khác nhau). Đối với TDTT nhà trường, TDTT trong lực lượng vũ trang nhiều chỉ tiêu đề ra đã đạt được. Có thể nói phong trào hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” có sức lan tỏa mạnh mẽ rộng khắp trên toàn quốc tới mọi đối tượng thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề đặt ra cần sớm được khắc phục để nâng cao chất lượng cuộc vận động, trong đó vấn đề tạo dựng được một nếp sống vận động khoa học hợp lý cho mỗi người dân là cần thiết. Việc tạo dựng được thói quen vận động hợp lý trước hết phải làm cho mọi người biết vận động thế nào là hợp lý. Nói đến hợp lý là hàm chứa tính khoa học ở trong đó, luyện tập TDTT hay sử dụng các yếu tố thiên thiên để rèn luyện thân thể là rất tốt và chỉ tốt khi được đảm bảo rằng các phương tiện này được sử dụng một cách khoa học phù hợp với lứa tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe của mỗi người. Việc này trong nhiều năm qua chúng ta đã làm nhưng chưa thường xuyên và hiệu quả còn hạn chế, bởi vậy Tổng cục TDTT và Ủy ban Olympich Việt Nam phối hợp với các tổ chức xã hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức rèn luyện thân thể trong đó luyện tập TDTT có hướng dẫn tới từng người bằng nội dung chỉ đạo các địa phương triển khai mô hình hoạt động TDTT trong chương trình xây dựng nông thôn mới.

        Hai là, tiếp tục chỉ đạo các địa phương tổ chức Đại hội TDTT các cấp tiến tới tổ chức Đại hội TDTT toàn quốc vào tháng 12/2014 tại Nam Định và một số tỉnh phía Bắc. Đến nay đã có 94,6% xã , phường, thị trấn tổ chức Đại hội đạt tỷ lệ khá cao 10.489/11.093 xã, có nhiều tỉnh, thành phố đạt 100% xã tổ chức Đại hội TDTT. Đại hội TDTT là dịp để cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tổng kết đánh giá sự lãnh đạo, chỉ đạo của mình đối với việc chăm lo sức khỏe, đời sống tinh thần cho nhân dân thông qua công tác thể dục thể thao theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết 16/NQ-CP của Chính phủ về triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020. Đặc biệt là cơ sở vật chất sân bãi cho TDTT được đầu tư xây mới, sửa chữa nâng cấp đáp ứng yêu cầu tập luyện của nhân dân. Bởi vậy, mục tiêu 100% cấp huyện và cấp tỉnh tổ chức Đại hội TDTT ở cấp mình hoàn thành trước Đại hội TDTT Toàn quốc với chất lượng và thu hút đông đảo quần chúng tham gia.

        Ba là, đẩy mạnh phong trào quần chúng tự nguyện tham gia xây dựng các CLB TDTT cơ sở. Đây là nơi quần chúng tự tổ chức hướng dẫn, phổ biến kiến thức rèn luyện thân thể, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau trong tập luyện TDTT và tổ chức các hoạt động văn hóa giải trí khác nhằm góp phần thực hiện Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030. Năm 2014 chỉ tiêu đặt ra là đạt 50.000 CLB TDTT cơ sở (có quyết định công nhận của Chủ tịch UBND cấp xã). Các địa phương thường xuyên mở các lớp tập huấn chuyên môn cho lực lượng hướng dẫn viên của các CLB. Cùng với việc triển khai quy hoạch xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở đã được phê duyệt tạo ra mạng lưới vật chất sân chơi bãi tập cho các CLB sử dụng.

        Bốn là, đất nước ta có điều kiện tự nhiên rất đa dạng phong phú, việc tận dụng điều kiện thiên nhiên để rèn luyện thể chất nâng cao sức đề kháng với những biến đổi của thời tiết là rất cần thiết đối với mọi người. Ngành TDTT kiến nghị và tổ chức hướng dẫn các địa phương tích cực khai thác các trò chơi vận động dân gian, tận dụng các điều kiện thiên nhiên sẵn có để tạo ra môi trường lành mạnh phục vụ rèn luyện thể chất cho nhân dân như các bãi biển, rừng núi, sông ngòi, kênh rạch, hồ ao, đồng ruộng… Đi đôi với khai thác sử dụng các điều kiện thiên nhiên có sẵn cần hướng dẫn kiểm soát chặt chẽ đảm bảo an toàn, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Đồng thời với bảo tồn, phát triển các môn thể thao dân tộc, các môn thể thao mới, thể thao giải trí tạo ra nhiều sự lựa chọn để mọi người có cơ hội tiếp cận với những dịch vụ phù hợp với nhu cầu, sở thích và khả năng tài chính của mình.

        Nam. Hiện nay chúng ta đã là thành viên của các tổ chức quốc tế về thể thao cho học sinh và sinh viên, nhưng chủ yếu mới tham gia và tổ chức các sự kiện như Đại hội thể thao học sinh, Đại hội thể thao sinh viên khu vực, châu Á, thế giới, việc hợp tác đầu tư nghiên cứu ứng dụng khoa học giáo dục thể chất tiên tiến cho học sinh, sinh viên còn hạn chế. Việc hợp tác quốc tế về thể thao cho mọi người với các quốc gia và các tổ chức quốc tế là để học tập kinh nghiệm của các nước về tổ chức các hoạt động TDTT mang tính cộng đồng do các tổ chức kinh tế, xã hội cùng đầu tư dưới sự định hướng của Nhà nước; nghiên cứu học tập việc bảo tồn và phát triển, quảng bá các môn thể thao dân tộc của các quốc gia trên thế giới. Đồng thời hợp tác quốc tế về thể thao cho mọi người là cơ hội để chúng ta phổ biến các môn thể thao của dân tộc Việt Nam ra nước ngoài nhằm giới thiệu nét văn hóa truyền thống của dân tộc góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè trên thế giới.

        Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế về thể thao cho mọi người để tiếp cận với những nền TDTT tiên tiến trong việc chăm lo phát triển thể chất và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, nhất là trong giáo dục thể chất và thể thao trường học. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TW VIII khóa XI vừa qua về đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo là căn cứ quan trọng để đổi mới giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường đảm bảo yêu cầu đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ chính trị đã chỉ rõ. Việc đổi mới giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường rất cần sự hợp tác, trao đổi và giúp đỡ của các nước phát triển có quan hệ hợp tác toàn diện là đối tác chiến lược của Việt. Hiện nay chúng ta đã là thành viên của các tổ chức quốc tế về thể thao cho học sinh và sinh viên, nhưng chủ yếu mới tham gia và tổ chức các sự kiện như Đại hội thể thao học sinh, Đại hội thể thao sinh viên khu vực, châu Á, thế giới, việc hợp tác đầu tư nghiên cứu ứng dụng khoa học giáo dục thể chất tiên tiến cho học sinh, sinh viên còn hạn chế. Việc hợp tác quốc tế về thể thao cho mọi người với các quốc gia và các tổ chức quốc tế là để học tập kinh nghiệm của các nước về tổ chức các hoạt động TDTT mang tính cộng đồng do các tổ chức kinh tế, xã hội cùng đầu tư dưới sự định hướng của Nhà nước; nghiên cứu học tập việc bảo tồn và phát triển, quảng bá các môn thể thao dân tộc của các quốc gia trên thế giới. Đồng thời hợp tác quốc tế về thể thao cho mọi người là cơ hội để chúng ta phổ biến các môn thể thao của dân tộc Việt Nam ra nước ngoài nhằm giới thiệu nét văn hóa truyền thống của dân tộc góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè trên thế giới.

        Vũ Trọng Lợi – Vụ trưởng Vụ TDTT quần chúng – Tổng cục TDTT

        Bạn đang đọc nội dung bài viết Skkn Đạt Loại C Cấp Huyện Năm Học 2014 / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!