Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Rèn Kỉ Năng Đọc Cho Học Sinh Yếu Kém Lớp 2 / 2023 # Top 21 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Rèn Kỉ Năng Đọc Cho Học Sinh Yếu Kém Lớp 2 / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Rèn Kỉ Năng Đọc Cho Học Sinh Yếu Kém Lớp 2 / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

– Như chúng ta đã biết : Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng cuả loài người . Thật vậy những kinh nghiệm của đời sống , những thành tựu văn hoá khoa học tư tưởng tình cảm của các thế hệ trước và của những người đương thời phàn lớn được ghi lại bằng chữ viết .Đọc là một kĩ năng quan trọng hàng đầu của con người . Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người không thể sống một cuộc sống một cuộc sống bình thường ,có hạnh phúc với đúng nghĩa của nó từ này trong xã hội hiện đại . Nhờ biết đọc, con người có khả năng chế ngự một số phương tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp với thế giới bên trong của người khác .

– Đặc biệt khi tác phẩm văn chương con người không chỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động về tình cảm, nảy nở về những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn.Còn không biết đọc con người không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà xã họi dành cho, không thể hình thành được một nhân cách toàn diện. Biết đọc sẽ gây hứng thú đọc, thích nghiên cứu và sẽ học tốt các môn học khác. biết đọc hiểu được là chìa khoá cho mọi kiến thức tiếp theo mà kiến thức nằm trong chữ và nghĩa. đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì viêc đọc ngày càng quan trọng vì nó giúp con người sử dụng mãi để tự học, học cả cuộc đời.

– Trong nhà trường các em có biết đọc thì mới tiếp thu bài nhanh và hiểu biết nhiều hơn. Biết đọc thì tạo ra hứng thú, độmg co học tập nhưng rèn luyện diễn đạt ngôn ngữ như thế nào trong môi trường nào cụ thể và học sinh dễ tiếp thu nhất chính là rèn trong các môn học nhất là tập đọc. Có biết đọc các em mới nắm được nội dung của bài thơ, bài văn mới sống lại tâm tư tình cảm của nhân vật, cùng khóc, cùng cười với nhân vật.

Mặt khác trong đời học sinh sử dụng đến đọc nhiều nhất là các em đọc bài học, đọc bài ghi, đọc sánh giáo khoa, báo, truyện .chủ yếu là đọc thầm và đọc thành tiếng

TRAÂN TROẽNG GIễÙI THIEÄU Một số biện pháp rèn kỉ năng đọc cho học sinh yếu kém lớp 2 I .Đặt vấn đề : - Như chúng ta đã biết : Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng cuả loài người . Thật vậy những kinh nghiệm của đời sống , những thành tựu văn hoá khoa học tư tưởng tình cảm của các thế hệ trước và của những người đương thời phàn lớn được ghi lại bằng chữ viết .Đọc là một kĩ năng quan trọng hàng đầu của con người . Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người không thể sống một cuộc sống một cuộc sống bình thường ,có hạnh phúc với đúng nghĩa của nó từ này trong xã hội hiện đại . Nhờ biết đọc, con người có khả năng chế ngự một số phương tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp với thế giới bên trong của người khác . - Đặc biệt khi tác phẩm văn chương con người không chỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động về tình cảm, nảy nở về những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn.Còn không biết đọc con người không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà xã họi dành cho, không thể hình thành được một nhân cách toàn diện. Biết đọc sẽ gây hứng thú đọc, thích nghiên cứu và sẽ học tốt các môn học khác. biết đọc hiểu được là chìa khoá cho mọi kiến thức tiếp theo mà kiến thức nằm trong chữ và nghĩa. đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì viêc đọc ngày càng quan trọng vì nó giúp con người sử dụng mãi để tự học, học cả cuộc đời. - Trong nhà trường các em có biết đọc thì mới tiếp thu bài nhanh và hiểu biết nhiều hơn. Biết đọc thì tạo ra hứng thú, độmg co học tập nhưng rèn luyện diễn đạt ngôn ngữ như thế nào trong môi trường nào cụ thể và học sinh dễ tiếp thu nhất chính là rèn trong các môn học nhất là tập đọc. Có biết đọc các em mới nắm được nội dung của bài thơ, bài văn mới sống lại tâm tư tình cảm của nhân vật, cùng khóc, cùng cười với nhân vật. Mặt khác trong đời học sinh sử dụng đến đọc nhiều nhất là các em đọc bài học, đọc bài ghi, đọc sánh giáo khoa, báo, truyện.chủ yếu là đọc thầm và đọc thành tiếng II) Thực trạng và nguyên nhân 1)Thực trạng hiện nay: - Thực trạng hiện nay cho thấy kĩ năng đọc của học sinh lớp hai. Nhất là lớp 2A còn yếu so với yêu cầu đề ra. Học sinh của chúng ta đọc đang còn chậm, hay đọc sai...chưa đọc được như mong muốn, kết quả đọc của các em chưa nắm chắc được công cụ hũư hiệu để lĩnh hội tri thức, tư tưởng tình cảm của nhười khác chứa đựng trong văn bản được đọc. Qua khảo sát chất luợng đầu năm về môn tập đọc ở lớp 2A tôi thấy đạt kết quả rất thấp trong quá trình giảng dạy theo dõi, dự giời tôi thấy một số nguyên nhân một số yếu kém trong khâu dọc bài của học sinh . 2) Nguyên nhân: * Đối với GV: - Gv đọc mẫu chưa tốt -Sửa sai lỗi phát âm của học sinh chưa kịp thời. - Trong các tiết tập đọc GV chưa chú trọng tới việc rèn đọc cho học sinh - Chưa phân loại kĩ các đối tượng học sinh đọc kém để rèn đọc cho các em - GV chưa gây được húng thú cho học sinh thích đọc . * Đối với học sinh: -Một số phụ huynh học sinh chưa quan tâm tới kĩ năng đọc của con em mình.Đi học còn hay quên sách, ngồi học ít tập trung ỷ lại bạn đọc khi cô giáo không gọi tên mình - Phần lớn HS thuộc lớn đối tương trên là những HS đọc yếu, chưa biết phân biệt các âm vị, phát âm theo thói phương hay nhầm lẫn câu, phụ âm đầu x/ s ch/ tr, thanh ngã ,thanh nặng , ngắt nghỉ hơi chưa đúng chỗ .. -Thêm vào đó là một số hạn chế chủ quan của HS . - Có một số em do hoạt động của cơ quan phát âm kém. - Để khắc phục tình trạng trên tôi đã đầu tư nhiều thời gian suy nghĩ để tìm ra những biện pháp nâng cao chất lượng đọc cho HS . III. Giải quyết vấn đề : - Xuất phát từ tình hình thực tế của HS lớp 2a mình có phần nào chưa làm tròn bộn phận của người GV trong nhà trường tiểu học trên mặt trận văn hoá . Chính vì vậy mà tôi còn nhiều trăn trở nên phải bắt tay vào việc rèn đọc cho HS nhất là giờ tập đọc. Trước hết phải thấu hiểu nguyên nhân chính khách quan và chủ quan dẫn đến việt đọc còn hạn chế đối với các em , bản thân tôi có những biện pháp sau : Giáo viên rèn đọcthật nhiều các loại văn bản , để đọc đúng các văn bản , nắm nội dung của tưng loại văn bản . - Trước khi lên lớp phải xác định được mục tiêu bài học , để lựa chọn câu hỏi , hình thức ,phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh - Sử dụng nhiều hình thức và phương pháp dạy học để rèn đọc cho các em - Lựa chọn các nội dung dạy học cơ bản thiết thực, tinh giản, có thể là từ, câu, đoạn, bài, Phải đi từ dễ đến khó, tích hợp được nhiều mặt giáo dục, gần gũi với đời sống của học sinh đặc biệt là các em đọc yếu, tạo hứng thú học tập cho học sinh - Đa dạng hoá các hình thức tổ choc dạy học: Dạy theo lớp, theo nhóm, Đưa các trò chơi học tập vào trong giờ học để giảm bớt những căng thẳng cho các em. - Trong giờ học giáo viên cần quan tâm dành nhiều thời gian hơn để rèn đọc cho các em. - Khi học sinh đọc cần theo dõi để sữa chữa lỗi sai kịp thời. - Thường xuyên ra bài tập về nhà để các em rèn đọc. - Động viên khen , chê đúng mức thì học sinh mới xác định đúng năng lực của mìnhđể cầu tiến bộ. - Khi gọi học sinh đọc cần gọi học sinh đọc liên tiếp nhau không nên để quá lâu mới gọi đến em khác vì nó gây chán nản sự chú ý của học sinh. - Trong khâu rèn đọc giáo viên phải phân loại ra từng đối tượng học sinh để tiện trong việc rèn đọc: + Đọc phát âm sai thêm bớt trong văn bản + Đọc ê, a ngắc ngứ, đọc nhỏ A, Đối với những học sinh đọc quá kém phát âm sai - Trong quá trình luyện đọc bài ở lớp tôi đặc biệt chú ý đến những em đọc kém và phát âm sai này. phải dành thời gian luyện đọc nhiều hơn so với các bạn khác. Đối với các em hay phát âm sai phụ âm đầu s/x, ch/ tr, thanh ngã, thanh nặng hoặc khi đọc mội từ hay một câu phải đánh vần nhẩm mới đọc được. Để giải quyết vấn đè này tôi đã làm như sau: Giáo viên đọc mẫu khi hướng dẫn phát âm tôi phân tích cho các em thấy được sự khác nhau của cách phát âm đúng và phát am sai mà các em hay mắc phải. đi sâu và phân tíc có khi ding cả hình vẽ để minh hoạ cho các em thấy hệ thống môi, răng, lưỡi khi phát âm. Ví dụ: Tiếng súng gồm âm s ghép với vần ung thêm thanh sắc đánh vần: sờ-ung- sung sắc súng. Tôi phát âm trước rồi sau đó cho các emphát âm sờ lấy hơi uốn đầu lưỡi sát vòm miệng, dồn hơi bật mạnh ra đồng thời hạ đầu lưỡi xuống, miệng hé mở. Khác hẳn phát âm tiếng xung không uốn lưỡi. - Có một số em đọc sai thanh ngã/ thanh nặng. - Ví dụ: " Lặng lẽ'' với " lặng lẹ '' - Trong các tiết dạy tôi cố gắng tìm thêm những tiếng có thanh ngã cho các em luyện đọc. - Những em đọc quá yếu còn phải đánh vần vì nhớ vần không chính xác, tôi cho các em dùng thước chỉ từng chữ nghe tôi đọc mẫu và hướng dẫn các em đọc thật nhiều lần đọc trơn không đánh vần nữa và phải đọc liền tiếng, liền từ, liền câu. - Lập bảng theo dõi việc phát âm của học sinh, ghi rõ mức độ tiến bộ những khuyết điểm còn mắc phải trong từng tháng để từng bước để có kế hoạch điều chỉnh lỗ phát âm của từng em. - Tuy nhiên việc luyện đọc, phát âm là việc làm tương đối khó đòi hỏi giáo viên phải kiên trì ,bền bỉ để giúp đỡ các em. B, Đối với những em đọc ê, a , chưa ngắt câu đúng chỗ. Để khắc phục tình trạng này tôi tiến hành dành nhiều thời gian thích đáng cho việc luyện đọc (ở lớp, ở nhà) - Khi đọc nhắc các em phải đọc rõ từng tiếng, tuyệt đối không được đọc kéo liền tiếng này sang tiếng khác ( Đọc ê, a) Nhắc ngay khi học sinh không đọc đúng cụm từ, câu. - Tôi dùng những ký hiệu để hướng dãn học sinh đọc đúng ngữ điệu: (/) ngắt hơi , nghỉ hơi (//), lên giọng ( ) xuống dọng ( ), kéo dài (-), từ ngữ câu nhấn mạnh (-) - Hướng dấn cho học sinh thành thạo các ngắt giọng như sau: Khi đọc các bài văn xuôi, chỗ ngát giọng phải trùng hợp với danh giới ngữ đoạn. Phải hiểu được nghĩa và các quan hệ ngữ pháp ta đọc đúng chỗ ngát giọng và ngược lại. Chỗ ngắt giọng cũng là một căn cứ để người nghe xác định được ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp, nội dung bài đọc. - Có mội số em thường ngát giọng để lấy hơi một cách tuỳ tiện mà không tính đến nghĩa - Ví dụ : Kìa /trống đang gọi Yêu thương / em ngắm mãi - Tôi đã phân tích cho các em thấy cách ngắt giọng trên là sai vì các em chưa tính đến nghĩa của các cụm từ. - Vì thế phải ngắt giọng như sau : Kìa trống / đang gọi Yêu thương em / ngắm mãi - Mặt khác phải tăng cường kiểm tra bài cũ nhiều hơn . - Lập bảng theo dõi hàng tháng để thấy mức độ tiến bộ của từng em . - Họ và tên Tháng Mức độ đọc Điểm TB Nguyễn văn Tuấn 8 -Đọc còn nhỏ , đang còn phải đánh vần mội số từ và câu 3 3 - Đọc ngắt nghỉ chưa đúng chỗ ,còn rời rạc ... 4 10 - Đọc to, song chưa trôi chảy ,rõ ràng lắm 5 IV .Kết quả đạt được : - Trong năm học này tôi đã áp dụng các biện pháp luyện đọc nói trên đã thu được kết quả như sau : 1 . Khảo sát đầu năm về kĩ năng đọc của các em : - 15 em : 50 / 2.Khảo sát cuối kì 1 : - 8 em : 26/ 3 . Khảo sát giữa học kì 2 : - 4em : 13 / - Nhìn vào kết quả trên ta tháy so với kết quả đầu năm thì chất lượng đọc ở học sinh có nhiều tiến bộ rõ rệt . Tôi hi vọng rằng cuối năm chỉ còn lại một vài em nữa . - Những giờ tập đọc đối với cô trò chúng tôi làịư trong mong chờ đợi không khí sôi động của những tiếng đọc bài sâu lắng trong tâm hồn tất cả các em . Bằng giọng đọc của mình các em đã bộc lộ , diễn tả hết cái hay ,cái đẹp về nội dung . V .Bài học kinh nghiệm : - Qua quá trình áp dụng các biện pháp rèn đọc cho HS tôi rút ra một số bài hộc kinh nghiệm như sau : - Việc đọc mẫu của GV phải tạo được cảm xúc cho các em , để lớp học có không khí thoải mái HS dễ tiếp thu, có tâm trạng chờ đợi và lắng nghe GV đọc . - Đầu năm học ,GV phải phân loại kĩ các đối tượng HS đọc yếu ở những phần nào để từ đó có biện pháp rèn đọc phù hợp với lỗi sai của từng em . - Trong quá trình rèn đọc GV phải theo dõi sát sao để thấy mức độ tiến bộ của từng HS . - Giáo viên sử dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức lên phù hợp với từng đối tượng HS , để lôi cuốn các em vào cuộc . - Thường xuyên ra bài tập về nhà để các em có thời gian luyện đọc - Kiểm tra bài cũ thường xuyên . - Việc rèn đọc cho HS không phải ngày một , ngày hai mà đòi hỏi giáo viên phải kiên trì , chịu khó , bền bỉ để giúp các em biết đọc. Tôi xin chân thành cảm ơn Nam Đàn ngày 14 tháng 3 năm 2010 ========##### HEÁT ####========

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Học Sinh Yếu Toán Lớp 2 / 2023

Qua thực tiễn giảng dạy, Chúng tôi nhận thấy rằng trong một lớp bao giờ cũng xuất hiện 3 đối tượng hs: Học sinh khá giỏi, học sinh trung bình, học sinh yếu kém. Do vậy chất lượng của lớp không đồng đều. Vì thế trong quá trình giảng dạy, người giáo viên phải chú ý cả ba đối tượng hs này, phải có một phương pháp giảng dạy thích hợp. Trong bài giảng bao giờ cũng phải có hệ thống câu hỏi thích hợp, dành cho từng đối tượng hs để gây cho các em lòng tin, tự khẳng định bản thân mình. Nếu chỉ có lòng nhiệt tình thôi thì chưa đủ mà giáo viên còn phải có phương pháp giảng dạy thích hợp, có năng lực và trình độ sư phạm tốt có kinh nghiệm trong giảng dạy. Nhất là đối với hs yếu, kém phải hết sức quan tâm bồi dưỡng thì các em mới theo kịp bạn bè và nắm được hệ thống kiến thức lô gíc. Mỗi thầy cô là một tấm gương sáng cho hs noi theo. Muốn đạt được điều đó thì người giáo viên phải có trình độ cao, có ý thức học hỏi, trau dồi và nâng cao kiến thức, nâng cao trình độ cho bản thân.

ến 1. Hoàn cảnh nảy sinh sỏng kiến: Đổi mới phương phỏp dạy học là một vấn đề rất cần thiết trong quỏ trỡnh giảng dạy hiện nay. Đũi hỏi người giỏo viờn cần cú sự đầu tư rất lớn để tỡm ra phương phỏp dạy thớch hợp. Tuy nhiờn, đú khụng là một vấn đề đơn giản mà mỗi chỳng ta cần phải gúp một phần cụng sức nhỏ bộ của mỡnh trong giảng dạy. Từ đú rỳt ra những kinh nghiệm của bản thõn trong thực tế giảng dạy, để cú biện phỏp dạy học tốt hơn nhất là phần rốn học sinh học yếu Toỏn lớp 2.Chớnh vỡ vậy,chỳng tụi đó cố gắng tỡm hiểu, nghiờn cứu để tỡm ra những biện phỏp rốn học sinh yếu Toỏn ở lớp 2. Cơ sở lớ luận: Tiểu học là bậc học" nền tảng" trong nền giáo dục nước nhà. Vì vậy người giáo dục- giáo viên Tiểu học có một vai trò rất quan trọng là người đặt viên gạch hồng đầu tiên xây dựng nền móng tri thức cho các em là một ông thầy tổng thể tạo điều kiện cho các em phát triển toàn diện. Đối với học sinh Tiểu học, được đi học là bước ngoặt trong cuộc sống của trẻ. Các em được đặt chân vào một thế giới khoa học đầy mầu sắc và cũng rất mới mẻ. Các em được tiếp cận với các môn học về tự nhiên và xã hội. Trong đó môn Toán có một vị trí rất quan trọng, nó đòi hỏi người thầy giáo có một sự lao động nghệ thuật sáng tạo, tìm ra những phương pháp phù hợp. Đặc biệt nó đòi hỏi mỗi học sinh phải có niềm say mê, có phương pháp học tập sáng tạo để giải các bài tập toán. Với hs lớp 2, các em đã được học Một năm ở bậc Tiểu học lẽ ra các em phải có phương pháp và các kỹ năng cơ bản để giải toán. Song trong thực tế giảng dạy chỳng tôi thấy vẫn còn một số hs học yếu môn Toán. Trước tình hình của lớp, với lòng yêu nghề mến trẻ của mình, với trách của một người giáo viên chỳng tôi đã băn khoăn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để hs dễ hiểu giảm bớt khó khăn, hạn chế hs học yếu toán ở lớp 2. Đây cũng chính là lí do khiến chỳng tôi chọn đề tài: " Một số biện pháp rèn học sinh yếu Toán ở lớp 2". Nghiên cứu đề tài này chỳng tôi mong rằng sẽ tìm ra được những nguyên nhân học sinh học yếu toán và tìm ra được những giải pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng môn Toán ở lơp 2, góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giáo dục nói chung và công tác giảng dạy ở trường Tiểu học nói riêng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp " Công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước". 2. Thực trạng của vấn đề: Ngay từ khi nhận lớp chỳng tôi đã bắt tay vào việc nghiên cứu tình hình học tập của các em. Thông qua sổ điểm, học bạ, vở nghi, vở bài tập của các em chỳng tôi thấy các em nắm kiến thức Toán còn mơ hồ chưa chắc, có nhưng em học rất yếu. Số em yếu là đa dạng, có những em yếu cả Toán và Tiếng Việtnhưng đa số các em học yếu Toán. Cụ thể tôi đã thống kê được kết quả về môn Toán của hai lớp như sau: Cụ thể chỳng tôi đã thống kê được kết quả về môn Toán của hai lớp như sau: Số HS Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Lớp2A(29 ) 6 21 12 41 6 21 5 17 Lớp 2B(24) 4 17 10 41 6 25 4 17 Như vậy bước đầu chỳng tôi đã tìm ra những hs yếu trong số em được bồi dưỡng, kèm cặp. Để chính xác hơn về số lượng và phần kiến thức nào các em còn hổng chỳng tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng vòng đầu với đề sau: Câu 1: Tính ( có đặt tính) 42 + 54 5 + 23 66 - 16 60 +25 84 - 21 58 - 7 Câu 2: Viết các số: a) Từ 70 đến 80. b) Từ 89 đến 95 Câu 3: Mai và Hoa làm được 36 bông hoa, riêng Hoa làm được 16 bông hoa. Hỏi Mai làm được bao nhiêu bông hoa. Chấm bài xong tôi thu được kết quả như sau: Số HS Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Lớp2A(29 ) 8 28 12 42 5 17 4 13 Lớp 2B(24) 6 25 10 42 5 21 3 12 Qua khảo sát chất lượng, theo dõi cách học của học sinh tôi nhận thấy hs yếu Toán do một số nguyên nhân sau: Học sinh có nhiều" lỗ hổng" kiến thức ngay từ lớp dưới. Mặt khác khi đến trường cũng như ở nhà các em còn mải chơi không chú ý đến việc học tập. Trong lớp không chú nghe giảng nhất là giờ toán các em hay mất trật tự, nghịch ngơm, làm việc riêng, khi cô hỏi không trả lời được. Các em ngồi học nhưng vẫn nhớ đến đồ chơi đẹp hay những trò chơi thích thú trong giờ ra chơi sắp tới nên không tiếp thu được bài dẫn tới hổng kiến thức. Đặc điểm của hs Tiểu học là mau nhớ nhưng lại chóng quên, tư duy lô gích kém nên không hiểu bài này thì sang bài sau các em sẽ không tiếp thu được. Cứ như vậy kiến thức sẽ chồng chất lên nhau tạo thành sự thiếu hụt lớn. *Về phía giáo viên: Trong quá trình giảng dạy, giáo viên chủ nhiệm lớp còn mải truyền thụ kiến thức mới cho kịp thời gian. Chưa chú ý tới việc kèm cặp hs yếu, nếu có chỉ qua loa một vài lần thế các em chậm hiểu, lại không có thời gian lên bỏ mặc. Trong khi giảng bài hệ thống câu hỏi chủ yếu dành cho hs khá, giỏi và trung bình, không chú ý ra câu hỏi giành cho hs yếu: Do vậy, nhiều khi ngồi trong lớp học toán mà các em thấy quá nhàn dỗi sinh ra nói chuyện, làm việc riêng, không chú ý đến bài giảng. Khi về nhà lại lười học, không chịu làm bài tập nên đã học yếu lại càng yếu hơn. *Về phía gia đình: phần lớn phụ huynh các em làm nông nghiệp, suốt ngày:" Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời". Nên ít có thời gian quan tâm đến việc học tập của con cái mình. Mặt khác do trình độ dân chí còn thấp nên có quan tâm dạy dỗ thì củng chưa đúng phương pháp hay cáu gắt, mắng mỏ làm các em rối trí lại càng không hiểu. Còn có gia đình lại cho rằng việc dạy dỗ là do nhà trường do thầy cô giáo nên không cần dạy ở nhà. Có những phụ huynh không tạo điều kiện về cơ sở vật chất: Bàn học, bút, vở, thước, Không tạo điều kiện về thời gian bắt trông em nhiều khi đang học bài bị bố mẹ sai việc này, việc khác dẫn đến các em lười học, kiến thức không lô gíc. Như vậy môi trường sống, phương pháp dạy, sự quan tâm của ba môi trường giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em. Qua đó chỳng tôi thấy việc rèn hs học yếu toán là việc làm cần thiết và tạo tiền đề cho các em học tốt các môn học khác. 4.,Cỏc giải phỏp thực hiện: Từ việc nghiên cứu các tài liệu trên chỳng tôi đã hiểu và nắm vững nội dung chương trình. Nắm vững được kiến thức cơ bản, kiến thức trọng tâm cần truyền đạt cho các em b- Trong giảng dạy khi lên lớp chỳng tôi tìm tòi những phương pháp thích hợp nhất với đối tượng hs yếu như giảng chậm, sử dụng đồ dùng trực quan phù hợp trong khi giảng cần đặt ra những câu hỏi riêng cho những hs yếu. Ví dụ: Dạy bài tìm số bị trừ: x - 5 = 15 ở những hs khá, giỏi, trung bình chúng tôi yêu cầu các em làm bài xong mới trình bày cách làm. - Nhưng ở những hs yếu chúng tôi đòi hỏi cách làm trước sau đó các em mới làm bài. + Em hãy nêu thành phần trong phép tính? + Thành phần nào trong phép tính đã biết? + Thành phần nào trong phép tính chưa biết? + Trong phép tính ta phải tìm thành phần nào? Muốn tìm số bị trừ chưa biết em làm như thế nào? Từ việc trẻ nhỏ các câu hỏi như vậy, các em nắm chắc cách tìm số bị trừ chưa biết chúng tôi hướng dẫn các em vận dụng làm bài tập. Khi dạy đến phép cộng và phép trừ có nhớ trong phạm vi 100 chúng tôi yêu cầu hs nắm chắc được các hàng. Chúng tôi phân tích số tỉ mỉ và yêu cầu hs yếu ghi vào vở để về nhà xem lại. Chúng tôi phân tích số cụ thể như sau: Số 56 gồm: 5 chục và 6 đơn vị. Sau đó chúng tôi lấy ví dụ khác và gọi hs yếu lên bảng phân tích như trên. Dạy cộng trừ các số có nhớ trong phạm vi 100 tôi lưu ý cho các em cách đặt tính đúng thì mới tính kết quả đúng được. Ví dụ: 56 + 28 Việc đầu tiên chúng tôi yêu cầu hs phân tích cấu tạo số như phân tích ở trên. Qua phân tích các em nắm được đâu là hàng chục, đâu là hàng đơn vị. Khi đặt tính phải đặt thẳng hàng chục với hàng chục ( 2 đặt dưới 5 ) . Sau đó hs thực hiện tính từ phải sang trái cách viết kết quả cũng thẳng hàng. Đối với loại toán có lời văn tôi đã hướng dẫn các em làm từng phần từng bước đúng quy trình nhưng dễ hiểu, dễ nhớ. Ví dụ: Bài 4 ( trang 82) Lớp 2A trồng được 48 cây, lớp 2B trồng nhiều hơn lớp 2A 12 cây. Hỏi lớp 2B trồng được bao nhiêu cây? Đối với loại toán này tôi yêu cầu các em học yếu phải đọc nhiều lần sau đo gợi mở giải bài toán theo các bước sau: Bước1: Nghiên cứu bài. Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Bước 2: Các bước giải. Tóm tắt ( giáo viên gợi ý tóm tắt) 48 cây Lớp 2A: Lớp 2B: ? cây Bước 3: Lập kế hoạch giải. Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi, gợi mở để dẫn dắt hs. Bài toán hỏi gì? ( Lơp 2B trồng được bao nhiêu cây) Muốn biết lớp 2B trồng được bao nhiêu cây ta làm thế nào? ( lấy 48 + 12 ) Bước 4: Thực hiện các phép tính theo trình tự thiết lập. Sau khi hướng dẫn xong chúng tôi yêu cầu hs khá, giỏi, trung bình làm vào vở, riêng hs yếu làm ra nháp. Chúng tôi quan sát, bao quát toàn lớp nhưng đặc biệt chú ý tới hs yếu. Nếu thấy em nào còn lúng túng về cách làm bài thì giúp các em bằng những câu hỏi gợi mở riêng để các em hiểu thêm và tìm ra cách giải sau đó làm vào vở. Khi chấm bài chúng tôi thường chấm tay đôi với những em hs yếu để chỉ cho các em những cái đúng, cái sai trong bài làm của mình và hướng dẫn cho hs sửa những chỗ sai đó như thế nào. Trong quá trình chấm nếu các em này giải đúng phép tính và câu trả lời còn chưa hoàn chỉnh tôi vẫn cho điểm tối đa để động viên khích lệ các em hào hứng học tập hơn. Đối với những em chưa đúng hết còn có phần sai thì tìm những chỗ đúng, chỉ ra những chỗ sai và cho điểm động viên thêm để các em không bị mặc cảm. Những em quá yếu khi thấy các em giơ tay phát biểu ý kiến là phải gọi và gợi mở để các em trả lời. Nếu trả lời đúng chúng tôi cho điểm, khen trước lớp, có thể cho cả lớp vỗ tay khen bạn. Sau khi học xong phần kến thức nào chúng tôi cũng cho hs ôn bài lại và cho các em làm bài kiểm tra đánh giá cho điểm thật chính xác. Bài tập về nhà hôm nào chúng tôi cũng kiểm tra xem bài giải của các em thường sai phần kiến thức nào thì bổ sung kịp thời. Song song với việc đó chúng tôi còn hướng dẫn các em cách đọc, có phương pháp học theo thời gian biểu, học kĩ lý thuyết xong mới làm bài tập. Khi làm bài tập phải đọc kỹ đề bài, nêu tóm tắt bằng sơ đồ hoặc bằng lời văn ngắn gọn. Làm bài bao giờ cũng làm vào vở nháp trước sau đó mới chép vào vở chính. c. Trong từng tiết dạy chúng tôi chuẩn bị bài chu đáo, nhiều nghiên cứu bài dạy từ phần mục tiêu, đồ dùng dạy học, phương pháp giảng dạy và những kiến thức cần truyền đạt.Chúng tôi chuẩn bị những câu hỏi cho từng đối tượng hs. Vì các em học yếu toán thường hay tư duy cụ thể nên tôi sử dụng nhiều đồ dùng trực quan và yêu cầu các em thực hành nhiều vào nháp, lên bảng làm bài tập để các em làm quen mạnh bạo dần và tự khẳng định mình trước tập thể. Bên cạnh việc hướng dẫn các em học tập trên lớp tôi còn xây dựng các nhóm học tập cho các em. Mỗi nhóm khoảng 5 em trong đó có những em học chắc hơn một chút để kèm cặp, giúp đỡ các em học yếu. d. Ngoài việc trao đổi qua sổ liên lạc với phụ huynh học sinh về việc học tập của con em mình chúng tôi còn thường xuyên thông báo và gặp gỡ tới từng phụ huynh để trao đổi, đề nghị gia đình tạo điều kiện về thời gian, về cơ sở vật chất ( bàn học, sách, vở, đồ dùng học tập,) phải có góc học tập ở nơi có đủ ánh sáng và yên tĩnh, phải theo dõi sát việc học tập của con em mình hạn chế ti vi, không sai việc vặt khi các em đang học bàiGiáo viên và phụ huynh phải có sự gặp gỡ, trao đổi thường xuyên để tìm ra những biện pháp tích cực giúp đỡ các em nhanh tiến bộ. Về phần cá nhân mình, chúng tôi luôn luôn chuẩn bị bài chu đáo, luôn học hỏi và trao đổi kiến thức, đổi mới phương pháp giảng dạy, luôn có tình cảm và thái độ tốt với các em. Với mỗi em, tôi tìm ra một phương pháp, một cách tiếp cận khác nhau để bồi dưỡng lượng kiến thức cho phù hợp. Khi giao bài về nhà chúng tôi luôn tìm, giao cho các em những bài toán vừa sức, vừa đủ với lực học của các em. Tạo không khí thoải mái, hào hứng khi học toán. Trước khi giao bài về nhà chúng tôi hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể để các em có điều kiện làm tốt vở bài tập. 5, Kết quả đạt được: Qua quá trình hướng dẫn, rèn luyện và kèm cặp thường xuyên cùng với sự vận dụng nhiều phương pháp trong quá trình giảng dạy tôi đã thu được những kết quả sau: - Các em đã hạn chế và khắc phục được rất nhiều sai sót trong quá trình làm bài. Các em đã biết phân tích, suy luận và biết chọn phương pháp giải toán thích hợp cho từng bài. Từ đó các em biết phân tích đề ở những bài toán có lời văn để đi tới giải đúng, lời giải gãy gọn, không còn trường hợp phép tính này lời giải kia vì thế kết quả được nâng lên rõ rệt. Nhiều em đầu năm học chỉ là học sinh trung bình nhưng nay đã trở thành học sinh khá. Các em đã hiểu rằng muốn làm đúng thì phải đọc kĩ đề bài, phải thực hiện thành thạo các phép tính cộng, trừ. - Một số em học yếu toán giờ đây đã biết thực hiện các phép tính cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 100, không nhớ trong phạm vi 1000, biết cách giải toán, tự sửa chữa được sai sót của mình và tiến tới không mắc nữa. - Sau khi học xong phép cộng, phép trừ có nhớ trong phạm vi 100, bảng nhân 5, bảng chia 5chúng tôi đã khảo sát chất lượng của các em bằng đề sau: Câu 1: Tính 68 + 17 47 + 35 58 -29 55 +16 81 - 27 72 - 31 Câu 2: Tìm x: x + 18 = 62 x - 27 = 37 40 - x = 8 Câu 3: Lan hái được 36 bông hoa, Mai hái ít hơn Lan 6 bông hoa. Hỏi Mai hái được bao nhiêu bông? Sau khi chấm bài tôi đã thu được kết quả như sau: Số HS Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Lớp2A(29 ) 10 34 13 46 5 17 1 3 Lớp 2B(24) 8 33 11 46 4 17 1 4 *, So sánh đối chứng. Qua phương pháp rèn luyện, kèm cặp như trên chúng tôi rất phấn khởi vì thấy trong giờ toán hs say mê học tập, lớp học thật sự sôi nổi, đặc biệt là những em hs yếu đã có tiến bộ rõ rệt. Đầu năm các em học rất yếu, ngay cả việc đọc, viết còn nhầm, tính cộng, trừ còn tính đầu ngón tay, phép cộng,trừ có nhớ còn nhầm lẫn. Giờ đây các em đọc, viết số rất thành thạo, các kĩ năng cộng, trừ đã được nâng cao. Số học sinh khá giỏi tăng lên, hạn chế được số hs yếu. Cụ thể: Kết quả như sau Lớp 2A (29) Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Đầu năm 6 21 12 41 6 21 5 17 Giữa kì II 10 34 13 46 5 17 1 3 Lớp 2C (24) Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Đầu năm 4 17 10 41 6 25 4 17 Giữa kì II 8 33 11 46 4 17 1 4 Như vậy: *Lớp 2A Số hs giỏi tăng 4 em = 14 % Số hs khá tăng 1 em = 3 % Số hs trung bình giảm 1 em = 3 % Số lượng hs yếu giảm 4 em = 14 % *Lớp 2C Số hs giỏi tăng 4 em = 17 % Số hs khá tăng 1 em = 4 % Số hs trung bình giảm 1 em = 4 % Số lượng hs yếu giảm 3 em = 13 % Tuy kết quả chưa cao như ý muốn nhưng đó cũng là thành công bước đầu của chúng tôi trong quá trình giảng dạy để nghiên cứu, tìm tòi ra những phương pháp tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng môn toán nói chung và hạn chế số lượng hs yếu nói riêng. .6, Bài học kinh nghiệm: Để đảm bảo cho việc cung cấp và rèn luyện những tri thức kĩ năng toán học cơ bản, có hệ thống phù hợp với những điều kiện cụ thể của nhà trường Tiểu học. Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu phương pháp hạn chế số học sinh yếu Toán 2. Chúng tôi tự rút ra một số kinh nghiệm sư phạm như sau: - Ngay từ khi bắt tay vào năm học mới phải diều tra, nắm chắc trình độ học Toán và khả năng tính toán của từng hs trong lớp mình chủ nhiệm. - Biết phối hợp tốt giữa ba môi trường giáo dục. - Đọc sách giáo khoa, sách tham khảo để nắm vững nội dung chương rrình của khối lớp mình dạy. - Phải nghiên cứu chuẩn bị bài và đồ dùng dạy học thật chu đáo trước khi đến lớp. - Trong khi soạn phải có những câu hỏi và bài tập dành riêng cho hs yếu. - Khi dạy, lời nói phải nhẹ nhàng, dễ hiểu. - Thường xuyên ôn tập, củng cố kiến thức thành hệ thống và rèn kĩ năng giải toán. - Luôn có đổi mới về cách dạy gây hứng thú, tạo không khí thoải mái cho các em trong các giờ học nói chung và giờ Tôán nói riêng. - Thường xuyên kiểm tra sát sao việc học và làm bài ở nhà của hs. Khi chấm phải nên chấm tay đôi để chỉ và và phân tích những chỗ sai cho hs. - Học sinh yếu thường bi quan, chán nản, sợ học nên giáo viên phải sử dụng biện pháp đơn giản nhưng vô cùng quan trọng đó là động viên, khích lệ các em. Để làm tốt những việc trên đòi hỏi giáo viên có lòng say mê nghề nghiệp, phải có năng lực giảng dạy Toán, phải có tính kiên trì, thương yêu hs. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1.Kết luận Qua thực tiễn giảng dạy, Chúng tôi nhận thấy rằng trong một lớp bao giờ cũng xuất hiện 3 đối tượng hs: Học sinh khá giỏi, học sinh trung bình, học sinh yếu kém. Do vậy chất lượng của lớp không đồng đều. Vì thế trong quá trình giảng dạy, người giáo viên phải chú ý cả ba đối tượng hs này, phải có một phương pháp giảng dạy thích hợp. Trong bài giảng bao giờ cũng phải có hệ thống câu hỏi thích hợp, dành cho từng đối tượng hs để gây cho các em lòng tin, tự khẳng định bản thân mình. Nếu chỉ có lòng nhiệt tình thôi thì chưa đủ mà giáo viên còn phải có phương pháp giảng dạy thích hợp, có năng lực và trình độ sư phạm tốt có kinh nghiệm trong giảng dạy. Nhất là đối với hs yếu, kém phải hết sức quan tâm bồi dưỡng thì các em mới theo kịp bạn bè và nắm được hệ thống kiến thức lô gíc. Mỗi thầy cô là một tấm gương sáng cho hs noi theo. Muốn đạt được điều đó thì người giáo viên phải có trình độ cao, có ý thức học hỏi, trau dồi và nâng cao kiến thức, nâng cao trình độ cho bản thân. Trong lớp người giáo viên phải làm tốt công tác tổ chức lớp và luôn chú ý, quan sát phát hiện kịp thời những hs yếu để từ đó đi sâu tìm hiểu nguyên nhân và tìm những biện pháp tốt, phù hợp giúp các em ngày càng tiến bộ. Đặc biệt người giáo viên cần phải kết hợp với gia đình học sinh trao đổi, hướng dấn họ phương pháp kèm cặp, dạy dỗ các em ở nhà, xây dựng góc học tập, thời gian biểu cho các em. Đồng thời biết gây hứng thú học tập và ý thức tự giác học tập cho các em. Có như vậy việc bồi dưỡng hs yếu, chất lượng giảng dạy mới có hiệu quả cao. 2. Kiến nghị: Để nâng cao chất lượng môn Toán cho hs hạn chế số hs học yếu môn Toán. chỳng tôi có một số ý kiến đề xuất với các cấp lãnh đạo như sau: - Thường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên nhất là môn Toán. - Mở nhiều lớp đào tạo lại cho giáo viên tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên được học tập, mở rộng và nâng cao kiến thức, nâng cao trình độ giáo viên. - Hỗ trợ tạo điều kiện tốt hơn nữa về cơ sở vất chất, trang thiết bị đồ dùng dạy học cho các trường nhất là các trường ở vùng nông thôn như trường Tiểu học Tân Hồng của chúng tôi để phục vụ tốt hơn nữa cho việc dạy và học theo yêu cầu đổi mới. Tôi xin chân thành cảm ơn! * GIAể ÁN DẠY THỰC NGHIỆM TOÁN Tiết 81: ễn tập phộp cộng và phộp trừ I - Mục tiờu: - Hs thuộc bảng cộng trừ nhẩm trong phạm vi 20, cộng trừ cú nhớ trong phạm vi 100.Biết giải bài toỏn nhiều hơn. -Rốn kĩ năng làm tớnh, giải toỏn chớnh xỏc. -Giỏo dục HS ý thức học tốt II, Đồ dựng day học : -Phiếu học tập. -Bảng con, VBT II - Hoạt động dạy học A, Kiểm tra bài cũ : Đặt tớnh rồi tớnh : 28 + 36 ; 61 - 35 - GV gọi 2 HS làm bài. - Nhận xột đỏnh giỏ (GV -HS) B, Hoạt động dạy học : 1- Giới thiệu bài : - GV nờu mục đớch yờu cầu tiết học. 2- ễn tập Bài 1: Tớnh nhẩm -GV cho HS đọc yờu cầu. - Cho hs nhẩm theo cặp -Gv gọi vài cặp nhẩm trước lớp. - Khi HS nờu kết quả 9 + 7 và 7 + 9 - GV ghi bảng. -Khi biết 9 + 7 = 16 tại sao ta cú thể trả lời ngay được 16 - 7 = 9 ? *Củng cố cỏc bảng cộng, trừ Bài 2: Đặt tớnh rồi tớnh. - GV cho HS đọc yờu cầu -Cho hs làm bảng con -Gọi hs làm bảng lớp. - Gọi HS nờu cỏch làm. * GV củng cố cỏch đặt tớnh và thực hiện phộp tớnh.. Bài 3: (a,c):

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp Một / 2023

III. PHẠM VI ĐỀ TÀI: Học sinh lớp Một 6 trường tiểu học Đoàn Thị Nghiệp năm học 2014 – 2015. IV. CƠ SỞ LÍ LUẬN: – Kỹ năng đọc cho học sinh lớp Một rất quan trọng, đó cũng là sự phản hồi của kết quả tiếp thu sau một quá trình học tập của các em. Nó thể hiện kết quả nhận biết các con chữ, các vần, và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần, ghép chữ cái với vần thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu sau cùng là đọc được một bài văn ngắn, một đoạn thơ ngắn – Học sinh đã nhận được mặt chữ, biết ghép vần, ghép tiếng, ghép từ, đọc câu còn yêu cầu các em phải đọc đúng, đọc chuẩn, đọc chính xác. Vì nếu các em phát âm chuẩn đọc đúng các em sẽ viết đúng, bài chính tả sai ít lỗi, và các em sẽ hiểu được ý của tiếng, từ, câu mà các em viết. V. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU B. NỘI DUNG: I. THỰC TRẠNG: 1. Thuận lợi: Giáo viên: – Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, có nhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn hay xử lý các trường hợp học sinh cá biệt về học tập cũng như năng lực, phẩm chất. – Bản thân giáo viên có sức khoẻ tốt , trẻ, có năng lực và nhiệt tình trong giảng dạy, luôn đặt chữ tâm lên hàng đầu. Học sinh: Các em lớp 1 đa số đã học mẫu giáo nên rất ngoan, dễ vâng lời, biết nghe lời thầy cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng . – Phụ huynh có ý thức trách nhiệm, quan tâm đến việc học tập của con em mình và phối hợp với giáo viên trong việc học tập của con em mình như: chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập,thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà. 2/ Khó khăn Giáo viên: b Học sinh: – Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh những em phát triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em yếu về thể chất, bé nhỏ hơn so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên sau, chậm tiến. – Do đặc trưng vùng miền nên các em chủ yếu phát âm sai x / s , r/g , ch/tr , dấu thanh hỏi – ngã, – Đa số phụ huynh trong lớp là dân làm vườn, nhiều trường hợp phải lo cho kinh tế cuộc sống nên chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em mình, chưa tạo điều kiện tốt để kèm cặp con em mình học bài, đọc bài ở nhà. – Một số trường hợp học sinh phải ở với ông bà do cha mẹ làm ăn xa, làm mướn theo thời vụ, cha mẹ li hôn nên mức độ quan tâm, theo dõi có giới hạn cũng ảnh hưởng đến việc học tập của các em. II. BIỆN PHÁP: 1/ Nắm bắt thực trạng, tình hình học sinh qua khảo sát điều tra kiến thức đầu năm – Tìm hiểu để biết rõ số học sinh trong lớp đi học Mẫu giáo và số học sinh không đi học Mẫu giáo, hoặc đi học không đều. Tìm hiểu nguyên nhân, lý do vì sao học sinh đó không đi học Mẫu giáo. – Kiểm tra sự nắm bắt, nhận diện chữ cái các em đã học ở Mẫu giáo và kết quả điều tra năm 2014 – 2015 thu được như sau: Tình hình học sinh: lớp Một 6 sĩ số : 33 học sinh Học sinh không đi học Mẫu giáo : 3 em Học sinh đi học không đều : 3 em Học sinh đi học đều : 30 em Kết quả khảo sát nhận diện chữ cái: Học sinh không biết chữ cái nào : 3 em Biết 6 – 10 chữ cái : 10 em Nhận biết hết : 20 em Một trong những lý do dễ thấy là vì các em còn quá nhỏ, chưa ý thức tự giác, cố gắng trong học tập. Vì vậy giáo viên chúng ta phải biết được đặc điểm tình hình của từng đối tượng, khả năng tiếp thu của từng em để phát huy tính tích cực ham học cho học sinh. Tổ chức tiết dạy sao cho các em luôn cảm thấy nhẹ nhàng, vui tươi và các em sẽ thích học. Nhận thức rõ được các khó khăn cơ bản về học sinh tôi đã có những biện pháp cụ thể sau 2/ Biện pháp a/ Biện pháp tác động giáo dục – Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành họp phụ huynh học sinh đầu năm học: Đề nghị và yêu cầu thống nhất trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng cần thiết phục vụ cho môn học. – Yêu cầu phụ huynh thường xuyên nhắc nhở việc học bài đọc bài ở nhà của con em mình, đồng thời hướng dẫn phụ huynh cơ bản về cách đọc, các phát âm chữ cái, cách đánh vần vần, đánh vần tiếng để phụ huynh nắm rõ cách dạy học hỗ trợ giáo viên kèm cặp con em mình ở nhà. – Tham mưu với nhà trường để giáo viên có đủ tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học, tự làm thêm tranh ảnh mô hình, sưu tầm thêm những mô hình vật thật để tiết dạy vui, sinh động. Đồng thời mượn đồ dùng học tập, sách giáo khoa cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn. – Xây dựng đôi bạn học tốt – chưa tốt kèm cặp nhau. – Giáo viên có thể cho học sinh học chậm, đọc chậm để ngồi gần với một học sinh đọc tốt. Bạn đọc tốt sẽ giúp bạn đọc còn chậm khi chỉ chữ đọc bài, giúp bạn đánh vần, đọc tiếng và giúp bạn trong thao tác cài chữ để ghép vần, ghép tiếng. – Bồi dưỡng, luyện tập cho học sinh sau khi phân loại học sinh ngay từ đầu năm giáo viên nên nắm vững trình độ học sinh trong lớp mình theo mức hoàn thành và chưa hoàn thành. Đối với các học sinh chưa hoàn thành, các em chưa nhìn được mặt chữ cái hoặc chưa biết đủ 29 chữ cái đơn giản, giáo viên nên dành nhiều thời gian để bồi dưỡng cho đối tượng này, ôn và dạy lại 29 chữ cái cơ bản cho các em bắt đầu học lại những nét cơ bản. b/ Phần học các nét cơ bản: Giáo viên nên dạy thật kỹ, thật tỷ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản. Để cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ những nét chữ này tôi phân theo cấu tạo các nét có tên gọi và cấu tạo gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và so sánh.Dựa vào các nét cơ bản này mà học sinh phân biệt được chữ cái, kể cả những chữ cái có hình dáng cấu tạo giống nhau. VD: – Các nét chữ cơ bản và tên gọi: nét sổ thẳng, nét ngang – Nhóm 1: Nét xiên: nét xiên phải, nét xiên trái – Nhóm 2: Nét móc: nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu – Nhóm 3: Nét cong: nét cong hở phải, nét cong hở trái, nét cong kín – Nhóm 4: Nét khuyết: nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt c/ Phần học âm: Sau khi cho học sinh học thật thuộc tên gọi và cấu tạo các nét chữ cơ bản một cách vững vàng thì tiếp theo là phần học chữ cái. Giai đoạn này vô cùng quan trọng. Trẻ có nắm chắc từng chữ cái thì mới có thể ghép các được các chữ cái với nhau để tạo thành vần, thành tiếng, ghép các tiếng đơn lại với nhau tạo thành từ, thành câu. Lúc này tôi dạy cho các em nhận diện, phân tích từng nét trong từng con chữ cái và nếu chữ cái đó có cùng tên mà lại có nhiều kiểu viết – kiểu in khác nhau hay gặp trong sách báo như chữ a, chữ g thi tôi phân tích cho học sinh hiểu và nhận biết đó cũng là chữ q hay chữ p để khi gặp kiểu chữ đó được in trong sách báo trẻ dễ hiểu, dễ đọc không bị lúng túng. VD: Âm – q, p + Âm q gồm 2 nét: Nét cong kín nằm bên trái và nét sổ thẳng nằm bên phải. + Âm p gồm 2 nét: Nét cong kín nằm bên phải và nét sổ thẳng nằm bên trái. Từ việc học kỹ cấu tạo âm bởi những nét chữ cơ bản thật kỹ và tỉ mỉ như trên sẽ giúp trẻ phân biệt được sự khác nhau cả về cấu tạo và tên gọi của các chữ cái. Sang phần âm ghép ( chữ có hai âm ghép lại với nhau). Tôi cho học sinh sắp xếp các âm có âm h đứng sau thành một nhóm để thấy được sự giống nhau và khác nhau của các âm đó. VD: + Các âm ghép: ch – c nh – n th – t kh – k gh – g ph – p ngh – ng + Còn lại các âm : gi,tr, qu,ng tôi cho học kỹ về cấu tạo + Phân từng cặp : ch – tr , ng – ngh, c – k, g – gh để học sinh phát âm chính xác và viết c hính tả. Trong từng tiết học, từng bài ôn tôi luôn tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện sự tiến bộ của trẻ thông qua các bài đọc, các giờ chơi, giờ nghỉ.. từ đó củng cố thêm kiến thức cho học sinh. d/ Phần học vần Sang giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm quen với các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận biết các kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng. Để giúp trẻ học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen: nhận diện, phân tích cấu tạo của vần, nhận biết vị trí các âm trong vần để các em học vững. VD: Học vần ăm : 1/ Cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần ăm: vần ăm gồm 2 âm: âm ă và âm m Vị trí âm trong vần: âm ă đứng trước, âm m đứng sau. 2/ Đánh vần vần ăm: Hướng dẫn học sinh: âm ă đứng trước , ta đọc ă trước, âm m đứng sau ta đọc m sau : ă _mờ _ăm. Đọc trơn vần: : ăm Kết hợp dùng bộ chữ học vần tiếng vần dành cho học sinh để ghép vần Yêu cầu các em: chọn đúng hai con chữ: ă và m Ghép đúng vị trí: ă trước m sau Nếu các em đã ghép đúng giáo viên hướng dẫn cách đánh vần và đọc trơn vần như trên các em sẽ nhận biết và đọc được vần ăm. Với cách dạy phân tích, nhận diện và ghép vần vào bảng cài học sinh như thế, nếu được áp dụng thường xuyên cho mỗi tiết học vần chúng ta sẽ tạo cho các em kỹ năng phân tích, nhận diện và ghép vần dẫn đến đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng và thành thạo giúp các em học phần vần đạt hiệu quả tốt. Trong các bài dạy vần, sách giáo khoa Tiếng Việt 1 có kèm theo các từ khóa, từ ứng dụng và các câu thơ, câu văn ngắn để học sinh luyện đọc. Muốn cho học sinh đọc được các từ và câu ứng dụng trong bài giáo viên cho học sinh nắm chắc các vần sau đó cho các em ghép chữ cái đầu với vần vừa học để đọc tiếng, đọc từ của bài. VD: dạy vần ăm có từ con tằm. Sau khi học sinh nắm vững vần ăm, nhìn và đọc được vần ăm một cách chắc chắn. Giáo viên đưa ra từ con tằm và giúp học sinh nhận biết: Âm gì đứng trước vần ăm (âm t) dấu thanh gì ở trên vần ăm (dấu huyền) vậy ta có thể ghép và đánh vần : tờ – ăm – tăm- huyền – tằm, đọc trơn : tằm, ghép từ : con tằm . e/ Phần tập đọc: – Đây là giai đoạn khó khăn đối với học sinh. Nhất là đối tượng học sinh chưa hoàn thành. Học sinh hoàn thành đã vững phần chữ cái, nắm vững phần vần chỉ nhìn vào bài là các em đọc được ngay tiếng, từ hoặc câu khá nhanh vì khả năng nhận biết tốt. Còn học sinh chưa hoàn thành các em nhận biết còn chậm, chưa nhìn chính xác vần nên ghép tiếng rất chậm, ghép tiếng chậm dẫn đến đọc từ chậm và đọc câu rất khó khăn. Vì thế đối với các học sinh này, sang phần tập đọc giáo viên cần hết sức kiên nhẫn, giành nhiều cơ hội tập đọc cho các em giúp các em đọc bài từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều. giáo viên tránh nóng vội để đọc trước cho các em đọc lại dẫn đến tình trạng đọc vẹt và tính ỷ lại thụ động của học sinh.Giáo viên nên cho học sinh nhẩm đánh vần lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong đọc trơn lại tiếng đó nhiều lần để nhớ sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp lại đọc trơn tiếng vừa đánh vần rồi đọc lại từng cụm từ. VD: Dạy bài tập đọc Trường em (sách giáo khoa Tiếng Việt 1) 1/ Học sinh chưa đọc được tiếng trường, giáo viên nên cho các em đánh vần tiếng trường bằng cách phân tích như sau: GV: Tiếng trường gồm có âm gì và ghép với vần gì? Có dấu thanh gì? HS: Tiếng trường gồm có âm tr ghép với vần ương và dấu thanh huyền. GV: Vậy đánh vần tiếng trường thế nào? HS: trờ – ương – trương – huyền – trường. GV: Đọc trơn tiếng này thế nào? Hs: Trường. Rồi cho học sinh đọc nối tiếp: trường em. 2/ Học sinh yếu không đọc được tiếng trường GV nên cho học sinh ôn lại cấu tạo vần ương trong tiếng trường. GV: Vần ương gồm có mấy âm? HS: Vần ương gồm có 2 âm. Âm đôi ươ và âm ng. GV: Vị trí các âm trong vần thế nào? HS: Âm đôi ươ đứng trước, âm ng đứng sau. GV: Đánh vần và đọc trơn vần ương. HS: ươ- ng- ương, ương GV: Thêm âm tr vào trước vần ương và dấu huyền trên vần ương.Ta đánh vần, đọc trơn tiếng thế nào? HS: Trờ – ương – trương- huyền – trường, trường và sau mỗi lần đánh vần, cho học sinh đọc trơn lại tiếng vừa đánh vần nhiều lần để khắc sâu vào trí nhớ học sinh. III. NHỮNG PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC Trong từng tiết dạy môn Tiếng việt, để giúp học sinh tích cực và ham học giáo viên cần sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương tiện hỗ trợ tiết dạy như sau: Sử dụng tranh ảnh trong sách giáo khoa là chủ yếu. Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để các em quan sát tìm hiểu. Sưu tầm thêm một số tranh ảnh, mẫu vật có liên qua đến bài dạy. Sử dụng thường xuyên bộ đồ dùng học Tiếng Việt của học sinh và giáo viên. IV. PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY 1.Phương pháp đọc mẫu của giáo viên: Muốn rèn luyện kĩ năng cho học sinh được tốt trước hết phải chú ý đến việc đọc mẫu của giáo viên. Qua việc đọc mẫu của giáo viên các em có thể bắt chước đọc đúng từ phát âm đến giọng đọc. Đồng thời người giáo viên còn phải kết hợp nhiều phương pháp mới có chất lượng cao. – Việc đầu tiên mà tôi thực hiện là rèn cho học sinh đọc đúng qua 3 bước: + Bước 1: Rèn cho học sinh phát âm đúng (đúng phụ âm đầu, đúng vần, đúng phụ âm cuối, dấu thanh) + Bước 2: Luyện cho học sinh đọc đúng một số từ khó. Bước này tôi dựa vào trình độ của học sinh lớp tôi, tôi đã chọn một số từ ngữ cần luyện đọc hoặc cho các em tự tìm ra các từ ngữ khó. + Bước 3: Luyện cho học sinh đọc đúng cụm từ khó. Để làm tốt khâu này, tôi phải phát âm đọc mẫu chuẩn xác với cường độ cho học sinh nghe rõ ràng, tốc độ vừa đủ cho học sinh nghe kịp và hiểu được. – Luyện đọc cho học sinh đọc bằng mắt: việc này tôi hướng dẫn học sinh không đánh vần từng chữ, cũng không phải đọc lẩm nhẩm trong miệng mà có thể nhìn bằng mắt lướt qua các chữ, từ đó đọc trọn được một câu. Thực hiện điều này tôi hướng dẫn học sinh dùng que tính chỉ lướt theo các chữ đang đọc và đồng thời tôi cũng đọc thầm theo để phát hiện học sinh không đọc cũng giơ tay. – Luyện cho học sinh đọc diễn cảm: trong khi hướng dẫn học sinh luyện đọc, tôi kết hợp hướng dẫn các em biết sắc thái tình cảm khác nhau của một bài văn tạo được âm hưởng của đoạn văn, bài thơ, bài văn VD: Khi dạy bài “ Mưu chú Sẻ” tôi hướng dẫn học sinh thể hiện cách phân vai như sau: – Giọng người dẫn chuyện với giọng kể hồi hộp, căng thẳng ( Buổi sớm, một con Mèo chộp được một chú Sẻ. Sẻ hoảng lắm, nhưng nó nén sợ, lễ phép nói) – Giọng Sẻ: nhẹ nhàng, lễ độ ( Thưa anh, tại sao một người sạch sẽ như anh trước khi ăn sáng lại không rửa mặt? ) – Người dẫn chuyện: thoải mái ( Nghe vậy, Mèo bèn đặt Sẻ xuống, đưa hai chân lên vuốt râu, xoa mép. Thế là Sẻ vụt bay đi. Mèo rất tức giận nhưng đã muộn mất rồi.) 2. Phương pháp đàm thoại, vấn đáp: Tôi đưa ra nhiều câu hỏi để học sinh trả lời nhằm phát hiện sự hiểu biết của các em hoặc để gợi mở giúp các em phát hiện cách đọc. VD: – Chữ này là chữ gì? ( chữ a, u, x, m, t …) Âm h đứng trước, vần uynh đứng sau, em đánh vần thế nào?( hờ- uynh – huynh). Khi sử dụng phương pháp này, tôi dùng ngôn ngữ dễ nghe, nhẹ nhàng, tránh cáu gắt khi các em chậm nhớ, chậm hiểu. Luôn ôn tồn dẫn dắt học sinh từng bước một để dạy các em đọc từng chữ, từng tiếng, từng câu trong mỗi ngày. 3. Phương pháp quan sát, động viên khen thưởng học sinh: Trong tiết dạy tôi thường chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, học sinh đọc chậm, đọc yếu để gọi các em thường xuyên đọc bài . Đối với học sinh hoàn thành tốt tôi thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn.Còn đối với học sinh chưa hoàn thành tôi nhẹ nhàng an ủi động viên: “ Cố lên, rồi các em sẽ đọc tốt như các bạn nếu các em cố gắng đọc bài nhều ở lớp cũng như ở nhà.” Trong tiết dạy tập đọc, sau khi cho cả lớp đọc xong, tôi mời các em đọc chậm, hay sai nhiều lên bàn giáo viên để cùng đọc bài với tôi. Tôi giành nhiều thời gian cho đối tượng này hơn. Cùng đọc bài với các em trong giờ ra chơi ( nhưng vẫn để cho các em có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi). Khi các em có biểu hiện tiến bộ tôi thường khen thưởng các em bằng những lần khen tên trước lớp hay những phần quà nhỏ như cái kẹo, cuốn vở, viên phấn màu, để các em thích thú và cố gắng hơn. 4. Phương pháp học nhóm: Như đã nói ở trên,tôi cho học sinh đọc tốt kèm học sinh đọc chậm, em học tốt ngồi gần em đọc yếu để giúp bạn học tập ở lớp. Còn khi về nhà tôi phân công và giao nhiệm vụ cho em đọc chậm đem sách đến để cùng học, cùng đọc bài với bạn đọc tốt gần nhà nhất và cho bạn đọc tốt báo cáo với cô: sau buổi đọc bài cùng nhau em đã thấy bạn đọc có tiến bộ chưa,có còn vấp nữa không?… 5. Phương pháp tổ chức các trò chơi: Trong giờ học vần, tôi hay lồng ghép các trò chơi nhỏ để cả lớp cùng tham gia. VD – Trò chơi Ai nhanh – Ai đúng Giáo viên ghi một số từ vào các mảnh bìa và đưa ra cho học sinh đọc. Bạn nào đọc nhanh, đọc đúng 3 từ liên tiếp sẽ được cả lớp khen là giỏi và tôi thường hay chọn các học sinh còn chậm để đọc nhiều hơn nhằm giúp các em cố gắng đọc để thi đua và tạo cho các em khả năng đọc nhanh, đọc đúng. – Cuối mỗi giờ học tôi thường tổ chức cho các em thi đọc đúng, diễn cảm hay học thuộc lòng một đoạn thơ, đoạn văn theo nhiều hình thức như cá nhân, tổ, nhóm. 6. Phương pháp nhận xét nêu gương: Để nâng dần chất lượng học sinh trong lớp, muốn cho trình độ học sinh đồng đều vào cuối năm học, tôi thường trò chuyện với học sinh đọc chậm để dẫn dắt các em cố gắng hơn cho kịp bằng các bạn. Tôi cho các em nhận xét các bạn giỏi trong lớp. VD: Tôi chọn 2, 3 học sinh đọc tốt, học cũng tốt làm gương cho cả lớp học tập theo. Các bạn ấy rất chăm chỉ đọc bài và đọc rất nhiều ở nhà. Ở lớp các bạn cũng rất cố gắng đọc bài và luyện tập thêm để ngày càng đọc tốt đọc hay hơn. Các bạn luôn thi đua với nhau xem ai đọc nhiều hơn, ai đọc đúng hơn và ai đọc hay hơn. Các em cũng sẽ đọc giỏi như các bạn ấy nếu có cố gắng đọc nhiều, như các bạn : đọc chưa thông,đọc chưa nhanh thì đánh vần, đọc nhẩm nhẩm xong đọc to lên và cứ thế mà đọc mãi, đọc đi đọc lại, đọc đến khi nào nhìn vào chữ là đọc được ngay mới thôi. Và tôi đã cũng đọc với các bạn còn đọc chậm ấy hằng ngày nhằm giúp đỡ khả năng đọc bài, cũng như giúp các em phân tích tiếng, cách đọc một tiếng, cách đọc sao cho nhanh như: nhẩm âm đầu → nhẩm vần → ghép âm đầu với vần → ghép dấu thanh thành tiếng V. KẾT QUẢ Trong quá trình áp dụng các biện pháp, phương pháp trên để rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1. Tôi đã thu được những kết quả đáng khích lệ sau: Số học sinh yếu giảm dần trong năm học: Năm học Sĩ số học sinh Số học sinh đọc yếu Đầu năm Cuối kỳ I Cuối năm 2014 – 2015 33 13 3 1 Tuy số học sinh đọc yếu chưa đạt 100% nhưng kết quả này cũng rất đáng mừng, xứng đáng cho công sức và sự kiên nhẫn của tôi khi đứng lớp. VI. BÀI HỌC KINH NGHIỆM Rèn kỹ năng đọc cho học sinh là đọc đúng âm, vần, tiếng, từ,câu, đoạn, bài Đọc còn yêu cầu học sinh biết ngắt nghỉ đúng ở dấu phẩy, dấu chấm, đọc còn yêu cầu các em phát âm chuẩn, chính xác các con chữ để khi viết các em không nhầm lẫn dẫn đến sai lỗi chính tả. Vì thế để phân môn tập đọc của học sinh lớp 1 có kết quả cao. Giáo viên chủ nhiệm lớp phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, phải yêu học sinh như chính con mình, biết rõ mặt mạnh,mặt yếu của học sinh để bồi dưỡng, luyện tập. Trong từng tiết dạy giáo viên phải xác định khối lượng kiến thức cần truyền thụ cho học sinh thông qua mục đích, yêu cầu của bài dạy. Khi giảng dạy cần lựa chọn nhiều phương pháp phù hợp, vận dụng việc đổi mới

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém / 2023

1. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh:

– Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn mình, tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn.

– Phải tạo cho không khí lớp học thoải mái nhẹ nhàng, đừng để cho học sinh sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu, tôn trọng mình. Giáo viên không nên dùng biện pháp đuổi học sinh ra ngoài không cho học sinh học tiết học đó khi học sinh không ngoan, không chép bài vì làm như thế học sinh sẽ không được học tiết đó thế là học sinh lại có một buổi học không thu hoạch được gì. Chúng ta phải tìm cách khuyên nhủ, nhắc nhở học sinh giáo dục ý thức học tập của học sinh hoặc dùng một biện pháp giáo dục đó chứ đừng đuổi học sinh ra ngoài trong giờ học.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đổi mới phương pháp dạy học là tổ chức các hoạt động tích cực cho người học, kích thích, thúc đẩy, hướng tư duy của người học vào vấn đề mà họ cần phải lĩnh hội. Từ đó khơi dậy lòng ham muốn, phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh trong tự thân của người học để phát huy khả năng tự học của họ. Đối với học sinh bậc THCS cũng vậy, các em là những đối tượng người học nhạy cảm việc đưa phương pháp học tập theo hướng đổi mới là cần thiết và thiết thực. Vậy làm gì để khơi dậy và kích thích nhu cầu tư duy, khả năng tư duy tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo phù hợp với đặc điểm của môn học đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh? Trước vấn đề đó người giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong các giờ học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh một hướng tư duy chủ động, sáng tạo. Bên cạnh đó, vấn đề học sinh yếu kém hiện nay cũng được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này, để đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện thì người giáo viên không chỉ phải biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém. Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại giúp cho học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức. II. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU Do điều kiện và thời gian nên phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm chỉ gói gọn ở những đối tượng học sinh yếu kém năm học 2010 -2011 của trường THCS Phong Thạnh Tây - Giá Rai - Bạc Liêu. B. NỘI DUNG. I. THỰC TRẠNG Trường THCS Phong Thạnh Tây thuộc vùng nông thôn sâu của Huyện Giá Rai. Đa số học sinh đều chăm ngoan, vâng lời thầy cô, tích cực trong học tập. Bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh thờ ơ với việc học và chưa xác định rõ mục đích của việc học tập là để làm gì dẫn đến kết quả học tập yếu kém. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm xong, lãnh đạo trường thường chia ra một lớp điểm sáng và một, hai lớp còn lại là học sinh yếu kém. Những đối tượng này không thích học phụ đạo nên rất khó khăn trong việc giảng dạy của giáo viên. Hiểu được vấn đề đó và dưới sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT Giá Rai lãnh đạo trường phân công những đồng chí giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt tình để dạy các lớp này. Năm học 2010-2011 tôi được phân công dạy môn Tiếng Anh khối 9 trong đó cũng có một lớp điểm sáng và một lớp học sinh yếu kém. Qua kết quả khảo sát đầu năm có đến 56,7% học sinh yếu-kém,Tôi đã tìm hiểu và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, chỗ yếu của các em để từ đó tìm ra phương pháp phụ đạo cho phù hợp. Phần lớn các em cho biết không thích học phụ đạo sở dĩ đi học là do nhà trường bắt buột vì thời khóa biểu phụ đạo được xem như là buổi học chính khóa. Qua nhiều năm giảng dạy và làm công tác phụ đạo học sinh yếu kém, tôi nhận thấy muốn nâng dần chất lượng học sinh yếu kém không phải là chuyện một sớm một chiều mà nó đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn và lòng quyết tâm của người giáo viên. Sau đây tôi xin phân tích một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém để từ những nguyên nhân đó có thể tìm ra hướng khắc phục khó khăn giúp học sinh vươn lên trong học tập. II. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HỌC SINH YẾU KÉM: 1. Về phía học sinh: Học sinh là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân học sinh yếu kém có thể kể đến là do cá nhân học sinh trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân sau: - HS lười học: qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đa số các học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì cặp sách đến trường, nhiều khi học sinh còn không biết ngày đó học môn gì, vào lớp thì không chép bài vì lí do là không có đem tập học của môn đó. Còn một bộ phận không ít học sinh thì không xác định được mục đích của việc học, học để có điều kiện đi chơi, đến lớp thì lo chọc phá bạn bè, gọi đến thì không biết trả lời, đang giờ học thì xin ra ngoài để chơi. Theo sách giáo khoa hiện hành thì để dễ dàng tiếp thu bài, nhanh chóng lĩnh hội được tri thức thì người học phải biết tự tìm tòi, tự khám phá, có như thế thì khi vào lớp mới nhanh chóng tiếp thu và hiểu bài một cách sâu sắc được. Tuy nhiên, phần lớn học sinh hiện nay đều không nhận thức được điều đó. Học sinh chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học rồi về về nhà lấy tập ra "học vẹt" mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì. 2. Về phía giáo viên: Học sinh học yếu không phải nguyên nhân toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên. Thầy hay thì mới có trò giỏi. Ngày nay, để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, ở đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ giảng dạy tốt mà ở đây đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học nào là tốt với từng đối tượng học sinh và với từng nội dung kiến thức. Qua quá trình công tác tôi nhận thấy, vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa thật tâm huyết với nghề, chỉ rập khuôn theo một khuôn mẫu nhất định mà chưa chú ý quan tâm đến các đối tượng học sinh. Chưa tìm tòi nhiều phương dạy học mới kích thích tích tích cực chủ động của học sinh. Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh của học sinh, có khi học sinh hỏi một vấn đề gì đó thì giáo viên lại tỏ ra khó chịu hay trả lời cho học sinh với thái độ cọc cằn làm cho học sinh không còn dám hỏi khi có điều gì chưa rõ. - Gia đình không quan tâm: Một số gia đình có khả năng cho con đi học nhưng không quan tâm đến việc học hành của con em hàng ngày, không biết được thời gian học của các em bắt đầu lúc mấy giờ và kết thúc khi nào, thời khóa biểu hôm nay có mấy tiết gồm những môn gì? Không đôn đốc, nhắc nhở và tạo điều kiện học tập cho các em, họ cứ nghĩ học đến đâu hay đến đó, thích học thì cho học, chán thì cho nghỉ. - Do sức khỏe yếu: Một số em thể trạng yếu , không thích nghi với điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột đẽ mắc bệnh đẫn đến phải nghỉ học đến khi nào khỏi bệnh đi học lại dẫn đến tiếp thu không kịp bài. Hoặc một số em có bệnh bẩm sinh, trí tuệ kém thông minh cũng là nguyên nhân dẫn đến yếu kém. III. CÁC BIỆN PHÁP PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM: 1. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh: - Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn mình, tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn. - Phải tạo cho không khí lớp học thoải mái nhẹ nhàng, đừng để cho học sinh sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu, tôn trọng mình. Giáo viên không nên dùng biện pháp đuổi học sinh ra ngoài không cho học sinh học tiết học đó khi học sinh không ngoan, không chép bài vì làm như thế học sinh sẽ không được học tiết đó thế là học sinh lại có một buổi học không thu hoạch được gì. Chúng ta phải tìm cách khuyên nhủ, nhắc nhở học sinh giáo dục ý thức học tập của học sinh hoặc dùng một biện pháp giáo dục đó chứ đừng đuổi học sinh ra ngoài trong giờ học. - Bên cạnh đó, việc giáo dục ý thức học tập của học sinh cũng phụ thuộc rất lớn vào giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm là người gần gủi với học sinh, phải tìm hiểu đối từng đối tượng học sinh, thường xuyên theo dõi các em về cả học lực và hạnh kiểm để kịp thời giáo dục, uốn nắn học sinh của mình. Ví dụ 1: Học sinh Nguyễn Văn B, học lớp 9A2, không thích học nhưng vì bị gia đình ép buộc đi học nên đến lớp không chú ý nghe giảng mà chỉ lo nói chuyện, làm mất trật tự trong giờ học, kết quả là học sinh đó học tập kém. Hướng giải quyết: Trước tiên, Giáo viên chủ nhiệm trao đổi với chính học sinh đó để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh, đồng thời hỏi bạn bè của học sinh đó về hoàn cảnh gia đình và sinh hoạt của học sinh. Từ đó giáo viên tìm hiểu được nguyên nhân và thường xuyên gần gủi, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh nhận thấy tầm quan trọng của việc học. Bên cạnh đó, giáo viên trao đổi với gia đình, phối hợp với gia đình giáo dục ý thức của học sinh, khuyên nhủ gia đình không nên quá gò ép học sinh mà từ từ hướng dẫn học sinh học tập, thường xuyên gần gủi giúp đở em để em thấy được sự quan tâm của gia đình mà phấn đấu. 2. Kèm cặp học sinh yếu kém: - Ngay từ đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh yếu kém bộ môn mình ở năm học trước để nắm rõ các đối tượng học sinh, lập danh sách học sinh yếu kém và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết học như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời, khen ngợi khi các em trả lời đúng, có thể cho điểm tối đa để khích lệ tinh thần học tập cho các em. - Khi soạn giáo án phụ đạo cho các em phải chú ý đến những điểm kiến thức mà các em đã hỏng trong năm học trước và trong năm học này để dần bổ sung những kiến thức đó cho các em. Ví dụ: ở bộ môn Tiếng Anh, khi học đến lớp 8 các em đã được học thì quá khứ đơn nhưng khi giáo viên cho bài tập các em làm không đúng, lúc này giáo viên phải giải thích lại cách dùng của thì này và ghi lại công thức cho các em và cho nhiều ví dụ mẫu để cho các em hiễu rõ và có thể làm được. - Phải thường xuyên kiểm tra sĩ số: Để nắm được nguyên nhân các em nghỉ học, răn đe đối với các em nghỉ học nhiều lần trong các buổi phụ đạo không có lý do, động viên đối với những trường hợp nghỉ có lí do chính đáng, phải kết hợp với GVCN trong việc theo dõi tỉ lệ chuyên cần của các em. Vì có đi học đều mới có thể lĩnh hội được kiến thức. - Kiểm tra vở học của các em vào cuối buổi học: Một số em ý thức học chưa tốt thường không chép bài đầy đủ, khi nghe hiệu lệnh trống là gấp vỡ lại ra chơi. Giáo viên có thể nhắc nhở ngay từ đầu giờ khi vào lớp để các em theo dõi và ghi chép đầy đủ nhưng khi có một dấu hiệu nghi ngờ nào đó thì cuối buổi gọi em đó mang vỡ ghi chép lên xem, nếu em đó chưa hoàn thành thì cho chép bài lại giờ ra chơi. Có như thế các em mới chép bài đầy đủ. - Kiểm tra kiến thức cũ trước khi bổ sung kiến thức mới: Vào đầu giờ giáo viên nên hỏi lại kiến thức cũ đã học ở tiết trước và cho các em 1, 2 câu bài tập để áp dụng, nếu các em làm được thì mới dạy kiến thức khác. Hay cuối giờ dành khoảng 5 đến 10 phút cho các em kiểm tra giấy xem các em có lĩnh hội được bài giảng hôm nay không. Từ đó có hướng thích hợp để phụ đạo cho các em tốt hơn. IV. KẾT QUẢ: Học sinh yếu kém đầu năm học 2010 - 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 60 6 23,0 20 33,3 26 43,3 22 36,7 12 20,0 Học sinh yếu kém học kỳ I, năm học 2010 - 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 59 4 6,8 12 20,3 33 55,9 49 83,1 10 16,9 Học sinh yếu kém cuối năm học 2010 - 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 58 3 5,2 21 23,0 30 51,7 54 93,1 4 6,9 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN: - Giáo viên phải nhiệt tình giảng dạy, kiểm tra bài học của các em thường xuyên trên lớp. - Có kế hoạch phụ đạo càng sớm càng tốt. - Sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, vận dụng nhiều phương pháp hay đa dạng để thu hút học sinh. - Ôn tập thật kỹ và phải có đề cương ôn thi cho học sinh trước khi làm bài kiểm tra , thi học kỳ. - Luôn là tấm gương tự học, sáng tạo để học sinh noi theo. Rèn cho học sinh tính hiếu học, cách học tập tốt, kiên trì vượt khó. - Làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của việc học tập và trở nên yêu thích môn học. - Phụ huynh nên quan tâm đến việc học của con em mình, nắm bắt được thời khóa biểu, thời gian học hàng ngày và phải thường xuyên liên hệ với GVCN hay GV bộ môn để nắm bắt được việc học của các em. II. KIẾN NGHỊ: - Nhà trường cần chỉ đạo và theo dõi chặt chẽ công tác phụ đạo học sinh yếu kém, chỉ đạo cho các bộ phận đoàn thể trong nhà trường thực hiện tốt việc giáo dục ý thức đạo đức, học tập cho các em. - Phát động nhiều phong trào thi đua học tập trong học sinh đồng thời tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh. - GVCN cần tăng cường công tác giáo dục ý thức học tâp của học sinh, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để kịp thời uốn nắn các em. - GV bộ môn phải tìm ra những biện pháp dạy có hiệu quả, thường xuyên theo dõi học lực của học sinh để so sánh và đánh giá mức tiến bộ của các em. Phong Thạnh Tây, ngày 20 tháng 5 năm 2011 HỘI ĐỒNG KHGD TRƯỜNG Người viết Huỳnh Thanh Tùng

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Rèn Kỉ Năng Đọc Cho Học Sinh Yếu Kém Lớp 2 / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!