Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Học Môn Lịch Sử Lớp 6 / 2023 # Top 15 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Học Môn Lịch Sử Lớp 6 / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Học Môn Lịch Sử Lớp 6 / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

í não để làm bài tập. Ngoài ra nhìn chung đại đa số học sinh sau khi học xong nội dung chính của bài là lơ là , chểnh mảng không chú tâm vào phần cô củng cố kiến thức nữa, nên nếu cử hỏi câu hỏi có sẵn nội dung trong bài là học sinh chỉ đọc lại cho xong. Sử dụng loại bài tập này tránh được tình trạng học sinh đọc y nguyên trong sách , vở để trả lời câu hỏi của cô . Hay giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơi ở phần củng cố . Ví như : Sau khi dạy xong bài 22 Khởi nghĩa Lí Bí . Nước Vạn Xuân (542-602) (tiếp theo) giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơi ở phần củng cố như : Trò chơi "đoán hoa". Giáo viên chuẩn bị giấy tô ki lớn , vẽ lên đó một bông hoa mỗi cánh hoa là một câu hỏi giáo viên dán cánh hoa che câu hỏi lại , đánh số thứ tự 1,2,3nếu sử dụng giáo án trình chiếu thì càng thuận lợi hơn . Lưu Ý : Mỗi dữ kiện là một câu hỏi gợi ý để học sinh trả lời . Cánh hoa 1 : Sau khi thất bại, Lí Nam Đế trao quyền chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Lương cho ai ? Đáp án : Triệu Quang Phục . Cánh hoa 2: Cuộc kháng chiến chống quân Lương xâm lược do Triệu Quang Phục lãnh đạo diễn ra từ năm nào đến năm nào ? Đáp án : 545-550. Cánh hoa 3 : Cách đánh chủ yếu của nghĩa quân do Triệu Quang Phục chỉ huy là? Đáp án : Đánh du kích . Cánh hoa 4 : Nơi nào Triệu Quang Phục phản công đánh tan quân xâm lược ? Đáp án : Long Biên . Cánh hoa 5 : Viên tướng chỉ huy quân Lương xâm lược Vạn Xuân là ? Đáp án : Trần Bá Tiên . "Mật mã" : Đầm Dạ Trạch Hay giáo viên có thể sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố bài cho học sinh : Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phóng phú và được các nước tiên tiến trên thế giới sử dụng đạt hiệu quả cao. Nếu biết khai thác tốt sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình giảng dạy. Sử dụng sơ đồ tư duy vừa phát huy tốt ưu thế của bộ môn, vừa tạo được sự hấp dẫn, hứng thú đối với học sinh, tránh được tình trạng "đọc chép", học sinh tự tìm hiểu, lĩnh hội kiến thức . Giáo viên có thể chia nhóm hoặc làm việc cá nhân dưới sự hướng dẫn của giáo viên . Củng cố bài thường không có nhiều thời gian nên nếu yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy thì không đủ điều kiện về thời gian vì vậy giáo viên có thể vẽ sẵn sơ đồ và yêu cầu học sinh hoàn thành dưới sự gợi ý, dẫn dắt của giáo viên . Ví dụ sau khi dạy xong bài 6 Văn hóa cổ đại giáo viên có thể đưa ra một sơ đồ tư duy sau yêu cầu học sinh hoàn thành. Giáo viên sẽ đưa ra sơ đồ chỉ có những nhánh chính, còn những nhánh nhỏ bỏ trống ở sơ đồ này có 2 nhánh lớn , mỗi nhánh lớn có 4 nhánh chính để định hướng cho học sinh, sau đó giáo viên gợi ý bằng những câu hỏi . Ví như: Người phương Đông cổ đại đã đạt được những thành tựu gì về thiên văn ? Hay người Hi Lạp , Rô ma cổ đại đã đạt những thành tựu gì về thiên văn ? Học sinh trả lời , giáo viên đưa ra những nhánh tiếp theo để học sinh theo dõi . Nếu giáo viên dạy không có giáo án trình chiếu giáo viên nên che lại những nhánh nhỏ, sau khi học sinh trả lời mới mở ra , còn nếu dạy giáo án điện tử thì thuận tiện hơn, giáo viên nên dùng hiệu ứng cho thích hợp . Tương tự như vậy đối với các thành tựu khác : Chữ viết , kiến trúc Giáo viên dùng các câu hỏi gợi mở để học sinh tìm hiểu . Còn đây là sơ đồ tư duy đã hoàn thiện Với cách củng cố bài như vậy học sinh sẽ nắm bài một cách tổng quát, tự lĩnh hội kiến thức, khi về nhà học bài cũ tránh được tình trạng học vẹt ở các em . f. Hướng dẫn các em tự học qua khai thác kênh hình: Ví như : Khi học bài Nước Văn Lang dạy về phần tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang giáo viên chỉ cần yêu cầu học sinh vẽ lại sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang và tự nắm kiến thức theo sơ đồ. Và có thể dựa vào sơ đồ này để học sinh vẽ được sơ đồ nhà nước thời An Dương Vương . Từ đây học sinh có thể nêu nhận xét so sánh về tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang Và Âu Lạc . Để hướng dẫn học sinh nắm kiến thức theo sơ đồ giáo viên có thể hỏi một số câu hỏi gợi ý như : "Đứng dầu nhà nước là ai ?" "Giúp việc cho vua là ai?" - Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang : Hùng Vương Lạc hầu- Lạc tướng (Trung ương) Lạc tướng (Bộ) Lạc tướng (Bộ) Bồ chính (Chiềng chạ) Bồ chính (Chiềng chạ) Bồ chính (Chiềng chạ) Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Âu Lạc : An Dương Vương Lạc hầu- Lạc tướng (Trung ương) Lạc tướng (Bộ) Lạc tướng (Bộ) Bồ chính (Chiềng chạ) Bồ chính (Chiềng chạ) Bồ chính (Chiềng chạ) Kênh hình phong phú đa dạng như vậy đòi hỏi giáo viên phải sử dụng linh hoạt, sáng tạo, hướng dẫn học sinh về nhà tìm hiểu những nội dung đó để các em có biểu tượng ban đầu về sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử...Thể hiện trong kênh hình. Tuy nhiên đây là việc khó khăn với học sinh. Nên giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh quan sát. Thông thường kênh hình nói chung và hình vẽ tranh ảnh nói riêng được trình bày với tư cách là nguồn cung cấp thông tin, kiến thức được kèm theo câu hỏi để học sinh tự làm việc với sách giáo khoa dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Nhằm rút ra những kiến thức lịch sử nhất định. Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát từ tổng thể đến chi tiết, kết hợp mô tả, phân tích, đàm thoại qua hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh tự rút ra những kết luận. Giáo viên có thể tổ chức cho các em làm việc cá nhân, theo nhóm hoặc cả lớp. Ví dụ : Khi xem bức tranh Kim tự tháp Ai Cập giáo viên giảng một số ý : "Kim tự tháp là một khối đá hình tháp, hàng ngàn người đã được huy động mang những tảng đá lớn từ dãy A - ráp tới sông Nil, hàng triệu tảng đá được ghè đẽo, mài nhẵn, chồng xếp lên nhau không có một loại vật liệu kết dính nào". Sau đó giáo viên có thể hỏi : "Em có suy nghĩ gì qua công trình kiến trúc này?" học sinh sẽ nhận thức được đây là một công trình kiến trúc vĩ đại, thể hiện tài năng, năng lực của con người thời kì bấy giờ, và các em sẽ thêm thán phục và biết quý trọng những người đã làm ra nó . Ví như : Khi quan sát bức tranh hình 8 SGK sử 6 sách giáo khoa có câu hỏi " Em hãy miêu tả cảnh làm ruộng của người Ai Cập ?". Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh quan sát : " Hàng dười từ trái sang phải người nông dân đang làm gì ? Hàng trên từ phải sang trái người nông dân đang làm những việc gì ?" học sinh sẽ tự miêu tả nhận xét được cảnh làm ruộng của người Ai cập cổ đại dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh sẽ tự làm việc với sách giáo khoa . Bên cạnh kênh hình có sẵn trong Sách giáo khoa giáo viên có thể bổ sung thêm một số hình ảnh từ phòng thiết bị của nhà trường hoặc nếu dạy máy chiếu thì rất thuận tiện. Ví như : Khi dạy bài 24 : Nước Chăm Pa từ thế kỉ II đến thế kỉ X, Sách giáo khoa có yêu cầu học sinh " Quan sát hình 53, nhận xét về nghệ thuật kiến trúc của người Chăm ?" . Hình ảnh 53 SGK được chụp rất xa và mờ chỉ có 2 màu đen - trắng nếu yêu cầu học sinh quan sát , nhận xét thì rất khó khăn cho học sinh . Vì vậy giáo viên có thể bổ sung thêm cho học sinh một số hình ảnh khác từ phòng thiết bị của nhà trường hoặc dùng máy chiếu như một số hình sau : Như vậy chúng ta thấy các hình trên vừa rõ nét vừa có màu sắc học sinh sẽ thấy rõ được đường nét điêu khắc, kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc độc đáo, tài tình thể hiện được bàn tay khối óc và tâm hồn của người Chăm . Bên cạnh việc học sinh quan sát hình cùng với sự hướng dẫn của giáo viên chắc chắn học sinh sẽ lĩnh hội tri thức tốt hơn. g. Hướng dẫn học sinh tự học qua tiết làm bài tập : - Giáo viên nên chia lớp làm 4 tổ - Chia bảng làm 4 phần bằng nhau - Hình thức thi : Giáo viên gọi bất kì học sinh trong tổ lên bảng, sau đó giáo viên ra câu hỏi, giám sát kĩ, không cho các tổ nhìn nhau, tổ nào nhắc bài sẽ trừ điểm. Đại diện 4 tổ lần lượt lên bảng. Mỗi lần lên bảng là mỗi tổ một em, trả lời cùng một câu hỏi. - Giáo viên ra câu hỏi nhanh , mỗi tổ trả lời nhanh, đúng sẽ ghi được một điểm cho tổ đó. Nếu các thành viên của tổ lên trả lời sai thì những thành viên ở dưới ai dơ tay phát biểu nhanh sẽ dành được quyền trả lời, nếu đúng sẽ ghi điểm cho tổ đó. - Giáo viên lần lượt ra câu hỏi và gọi từng thành viên lên trả lời. - Cách ghi điểm: Mỗi tổ trả lời đúng 1 câu sẽ ghi được một điểm, khi gần kết thúc giờ học giáo viên tổng hợp điểm và cho tổ thắng phạt tổ thua : Có thể là hát một bài hát mà tổ thắng cuộc yêu cầu, có thể là múa một điệu phụ họa cho bài hát mà tổ thắng hát. Các thành viên ở dưới cổ vũ, động viên tinh thần trả lời cho đại diện tổ mình. Việc tổ chức cho học sinh thi giữa các tổ như vậy sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh, các em sẽ hứng thú học và rất thích được thể hiện mình, kết quả mỗi tiết làm bài tập như vậy học sinh sẽ nhớ kiến thức được lâu hơn. Qua hướng dẫn học sinh tiết làm bài tập, học sinh sẽ hiểu và nhớ lâu vấn đề, sự kiện. Bên cạnh đó cách ra đề thi cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh. Đề thi không nên rườm rà , khó hiểu, mà phải rõ ràng, để học sinh không sa đề. Nhất là đề thi trắc nghiệm, vì thời gian làm bài của các em có hạn. Ở lớp, không phải giáo viên nói gì là các em ghi hết vào, hoặc chép lại ý chính trong sách giáo khoa . Mà học sinh cần học theo ý hiểu của mình , tiếp thu có chọn lọc , không rập khuôn theo thầy dạy , biến kiên thức của thầy thành kiến thức của trò, có kết hợp hài hoà việc tự học ở lớp và ở nhà thì kết quả sẽ cao hơn . g. Phối hợp giáo dục nhà trường và gia đình: Trẻ em muốn phát triển tốt cần có sự kết hợp của 3 yếu tố "Gia đình - Nhà trường -xã hội", trong đó yếu tố gia đình là quan trọng nhất "gia đình là tế bào của xã hội" mỗi gia đình tốt sẽ tạo tâm lí tốt cho đứa trẻ khi đến trường , khi ra ngoài xã hội . Vì vậy muốn học sinh học tập tốt trước hết giáo viên cần lưu ý phối hợp tốt giữa giáo dục nhà trường và gia đình để việc tự học của các em có kết quả, cần kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm , kịp thời thông báo việc học tập của học sinh cho phụ huynh nắm để phụ huynh theo dõi, uốn nắn, phụ huynh chuẩn bị đầy đủ sách vở, tài liệu học tập, tạo thời gian cho các em học tập. Giáo viên cần nắm được tâm tư nguyện vọng của học sinh cũng như gia đình các em . Cần tìm hiểu kĩ càng hoàn cảnh gia đình của mỗi học sinh, để từ đó có biện pháp tốt nhất trong giáo dục các em . Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình đặc biệt giáo viên cần quan tâm nhiều hơn, động viên nhắc nhở kịp thời , thường xuyên liên lạc với phụ huynh để kịp thời uốn nắn các em khi có biểu hiện lơ là, ham chơi, chểnh mảng việc học hành . Có kết hợp như vậy thì việc học của học sinh mới cao. h. Các giải pháp khác: Ở tiết học đầu tiên của môn học lịch sử, giáo viên hướng dẫn học sinh thật kĩ như: Cách tìm hiểu bài mới, cách làm bài tập tại lớp, ở nhà, cách làm bài kiểm tra, đọc tài liệu tham khảo, những mẫu chuyện lịch sử, sử dụng sách giáo khoa. Từ đó đòi hỏi các em phải có phương pháp tự học hợp lí, khơi dậy sự tìm tòi, học hỏi về môn lịch sử ở học sinh, luôn đưa học sinh vào tình huống có vấn đề để giải quyết. Trong quá trình dạy giáo viên không chỉ dạy bài mới mà còn phải kiểm tra kiến thức của học sinh làm cho học sinh không thụ động mà phải chủ động nhớ lại kiến thức, hệ thống hóa kiến thức đã học, kiến thức bài trước, bài sau có sự gắn kết như thế nào? Để giúp học sinh tự học có hiệu quả không chỉ là đòi hỏi học sinh đọc bài, đọc tài liệu mà giáo viên quên mất vai trò của mình. Giáo viên có vai trò quan tọng trong việc thúc đẩy tính tự học của học sinh. Giáo viên phải chuẩn bị bài tốt trước khi đến lớp, sử dụng triệt để đồ dùng dạy học, luyện từ ngữ, giọng nói để dạy bài hay hơn. 4. Kiểm tra việc tự học của học sinh: - Kiểm tra kế hoạch học tập của học sinh - Kiểm tra vở bài tập, vở ghi - Kiểm tra sổ tay ghi chép lịch sử những sự kiện đáng nhớ - Cho học sinh trả lời câu hỏi trắc nghiệm, tính điểm vào điểm thi đua ở trên lớp để góp phần xếp loại hạnh kiểm. - Cho thi vấn đáp trắc nghiệm trong tiết ngoại khóa. - Kiểm tra 15', một tiết, học kì . II.3.c. Điều kiện thực hiện các giải pháp, biện pháp : - Thông qua các tiết dạy chính khóa, các tiết thực hành, làm bài tập lịch sử , hay các tiết hoạt động ngoại khóa để thực hiện được các giải pháp, biện pháp trên . - Để thực hiện tốt hơn nữa các biện pháp trên cần có mạng Internet, trong các tiết dạy cần có máy chiếu . - Giáo viên phải là người định hướng, dẫn dắt học sinh tự lĩnh hội kiến thức, tạo cho các em tính độc lập, sáng tạo, năng động trong tiếp nhận kiến thức tránh tình trạng giáo viên dạy gì học sinh biết nấy, học sinh thụ động "đọc chép-nghe ghi" dẫn đến có những bài thi hết sức ngây ngô mà chúng ta đã trực tiếp thấy . Muốn vậy giáo viên phải nhiệt tình, thực sự tâm huyết với nghề luôn không ngừng học tập, học hỏi kinh nghiệm , nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và luôn đặt cái "tâm" lên hàng đầu . II.3.d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp : Biện pháp trên có thể thực hiện ở nhiều khối lớp khác nhau ở nhiều bài giảng khác nhau . Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học giúp các em tự lĩnh hội kiến thức tốt hơn, chủ động, sáng tạo trong tiếp thu kiến thức . Giáo viên nếu hướng dẫn tốt, định hướng tốt, kết hợp tốt, nhuần nhuyễn các phương pháp, tạo được hứng thú cho các em sẽ giúp các em lĩnh hội kiến thức nhanh hơn . Công nghệ thông tin cũng hỗ trợ đắc lực cho giáo viên và học sinh trong tìm tài liệu tham khảo . II.3.e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu : Khảo nghiệm được thực hiện ở học sinh khối 6 trường THCS Trần Hưng Đạo, với hình thức tổ chức dạy học mới đã làm cho học sinh học tập một cách tích cực, tự giác, chủ động, độc lập, sáng tạo. Ngoài ra phong trào thi đua học tập trong lớp cũng cao hơn, sôi nổi hơn . Hạn chế được việc truyền thụ một chiều, học sinh đã chủ động lĩnh hội kiến thức, kiến thức do các em tự lĩnh hội giúp các em khắc sâu hơn, các em biết cách chiếm lĩnh tri thức . Không những vậy còn gây hứng thú học tập cho các em , những em rụt rè, nhút nhát, học trầm, lười học nay đã hăng say học tâp hơn, tiếp thu kiến thức nhanh chóng hơn. Muốn áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này giáo viên có thể dùng sơ đồ sau: Hướng dẫn học sinh tìm tài liệu Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà Hướng dẫn tự học trên lớp Phối hợp giáo dục nhà trường và gia đình Kiểm tra việc tự học của học sinh II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu : Sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã áp dụng trong năm học 2012 - 2013. Qua áp dụng giải pháp nêu trên, tôi thấy học sinh có chuyển biến rõ rệt, theo thống kê kết quả năm học 2012-2013 như sau: Năm học: 2012-2013 Sĩ số Giỏi Tỉ lệ %( %) Khá Tỉ lệ %(%) Trung bình Tỉ lệ %(%) Yếu Tỉ lệ %(%) Khối 6 144 6 4,17 74 51,39 52 36,1 12 8,34 So với khi chưa có sáng kiến kinh nghiệm thì hiệu quả tăng lên rõ rệt và đã vượt so với chỉ tiêu của một trường chuẩn. Giỏi: Tăng 2lần Yếu: Giảm 6 lần Khá: Tăng 2 lần Kém: không có học sinh kém Trung bình: Tăng 1,3 lần. Kết quả bài kiểm tra của các em điểm giỏi cao hơn so với các bài kiểm tra trước,các em có khả năng phân tích, nhìn nhận, mở rộng vấn đề. III. Phần kết luận , kiến nghị : III. 1 . Kết luận : Qua bảng thống kê kết quả học tập của học sinh năm học 2012- 2013 cho thấy khi áp dụng phương pháp này tôi thấy học sinh khá, giỏi tăng, giảm tỉ lệ học sinh học yếu môn lịch sử. Đa số các em hăng say và yêu thích môn lịch sử qua việc tự học, có giáo viên hướng dẫn. Việc này còn làm các em nhanh nhẹn, tự tin hơn trong khi trả lời câu hỏi, khơi dậy trong các em học sinh sự tìm tòi và siêng học bài cũ. Nhiều em, lúc đầu kiểm tra bài cũ thấy em rất nhút nhát, nhưng khi hướng dẫn tự học em đã tự tin, chủ động trả lời câu hỏi mà cô yêu cầu. Các em rất thích khi cô cho thi giữa các tổ, làm cho giờ học sôi nổi hơn. Với những giải pháp nêu trên, tôi thấy việc học tập của các em đã có sự tiến bộ rõ rệt, kiến thức lịch sử của các em đã sâu, rộng hơn. Nhưng để việc học đạt kết quả cao cần phối hợp không nên xem nặng phương pháp này mà xem nhẹ phương pháp học khác. Cần phối hợp các phương pháp học tập để đạt kết quả cao nhất. Đây chỉ là ý kiến nhỏ của tôi trong việc hướng dẫn tự học cho học sinh, giáo viên có vai trò định hướng, chỉ dẫn. Sáng kiến kinh nghiệm này cần nghiên cứu để áp dụng ở các môn học khác. Như: Văn, Địa, Sinh học. III. 2 . Kiến nghị : - Phía nhà trường: Nhà trường cần chuẩn bị đầy đủ tài liệu tham khảo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho môn học, cần xây dựng một phòng riêng cho bộ môn lịch sử, thành lập câu lạc bộ "nhà sử học nhỏ tuổi". - Về phía giáo viên: Cần hướng dẫn cho các em tự học, tích cực kiểm tra bài cũ, chuẩn bị bài trước khi đến lớp, làm bài tập của học sinh, cho học sinh thi giữa các tổ. - Về phía gia đình học sinh: Cần tạo thời gian, điều kiện học tập cho con em, đôn đốc các em học bài, làm bài tập . Xin chân thành cảm ơn ! Tam Giang, ngày 28 tháng 12 năm 2013. Người viết: Phạm Thị Thùy Dung . IV. TƯ LIỆU THAM KHẢO : 1, Văn kiện hội nghị lần thứ 2 BCH TƯ khóa VIII Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà nội . 2, Nguyễn Thị Côi - Hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, thực trạng và giải pháp - Tạp trí nghiên cứu lịch sử số 7/ 2007. 3, Trần thị Thu Mai - Phương pháp học tập nhóm , tạp chí nghiên cứu giáo dục số 12/2000. 4, SGK, SGV, Thiết kế bài giảng lịch sử 6. 6, Tranh ảnh và tài liệu lịch sử 6 . 7, Sách bài tập lịch sử 6 NXB giáo dục Việt Nam, sách hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập lịch sử 6 NXB đại học quốc gia Hà Nội . MỤC LỤC Số TT Nội dung Trang 1 2 3 4 5 6 7 I. Phần mở đầu . II. Phần nội dung II. 1 . Cơ sở lí luận . II. 2 . Thực trạng . II. 3. Giải pháp , biện pháp . II. 4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm , giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu . III. Kết luận , kiến nghị . 1 3 3 3 6 25 26 NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GIÁO DỤC - Cấp cơ sở: - Cấp huyện:

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1 / 2023

c để nâng cao chất lượng môn Toán đi lên. Qua đây tôi nhấn mạnh thêm khó khăn: Còn nhiều gia đình học sinh chưa thực sự quan tâm tới việc học tập của con cái. Do điều kiện kinh tế còn khó khăn và trình độ học vấn chưa cao nên chưa chú ý đến việc học hành của con. Đặc biệt chưa nhận thức đúng vai trò của môn Toán. Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, tích cực tư duy suy nghĩ tìm tòi cho mình những phương pháp học đúng để biến tri thức của thấy thành của mình. Cho nên sau khi học xong bài, các em chưa nắm bắt được lượng kiến thức thầy giảng rất nhanh quên và kĩ năng tính toán chưa nhanh. II.3. Giải pháp, biện pháp a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Tôi đưa ra các biện pháp nhằm các mục tiêu cụ thể như sau: Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 8 - Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng trò chơi học tập nhằm kích thích sự hứng thú cho học sinh. - Đầu tư nội dung và hình thức cũng như phương pháp phù hợp trong các tiết ôn luyện nhằm củng cố và nâng cao kiến thức cơ bản cho học sinh. - Nâng cao chất lượng dạy học môn Toán thông qua các hoạt động bổ ích khác. Giúp học sinh yêu thích môn Toán hơn, luôn chủ động tiếp thu kiến thức. b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp, giải pháp b.1. Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Khác với cách dạy truyền thống "Thầy giảng - trò nghe", phương pháp dạy học hiện tại là "Thầy hướng dẫn - Trò tự tìm tòi khám phá để chiếm lĩnh kiến thức". Phương pháp mới này kích thích tính chủ động, khả năng tìm tòi, tư duy sáng tạo cho người học. Từ đó, giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu hơn. Môn Toán là môn dễ gây nhàm chán và áp lực thì phương pháp này là thích hợp nhất. Song vai trò của người giáo viên phải là người hướng dẫn, định hướng, giúp đỡ kịp thời để các học sinh đi đúng mục tiêu, nội dung trọng tâm của bài học. Để thực hiện tốt những biện pháp này tôi đã thực hiện những việc sau đây: * Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Toán Đối với học sinh lớp 1, việc sử dụng công nghệ thông tin để giảng dạy mang lại sự mới lạ, khích thích sự tò mò, hứng thú và phù hợp nhất với tư duy trực quan cụ thể của học sinh. nhiên trong phạm vi 10, 20, 100,..; nhận biết các hình học đơn giản như hình tròn, hình vuông, hình tam giác,Đối với các nội dung trên, tôi chọn một số bài cơ bản để tiến hành dạy bằng giáo án điện tử. + Đối với các bài nhận biết các số từ 1 đến 10, tôi sẽ chọn một bài điển hình để dạy bằng giáo án điện tử giúp dễ hình dung và nắm bắt kiến thức. Ví dụ: Bài: Số 6, trang 26 Bước 1: Nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung bài học để đưa ra các hình thức dạy: Phần bài cũ, phần bài mới, phần luyện tập, phần củng cố Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 9 Bước 2: Tiến hành soạn giáo án (lưu ý bài soạn không quá màu mè, nên hướng sự chú ý của học sinh vào nội dung chính trong bài, hiệu ứng đơn giản, không rườm rà, mất thời gian) Bước 3: Chuẩn bị máy chiếu, màn chiếu, loa các thiết bị phục vụ cho việc dạy. Bước 4: Tiến hành dạy theo ý tưởng bài soạn (Cần lồng ghép một trò chơi học tập ở phần củng cố hoặc phần bài cũ để tạo không khi sôi nổi cho tiết học) Bước 5: Kiểm tra việc nắm kiến thức của học sinh, tổng kết, rút kinh nghiệm cho bài sau. Thông qua bài dạy học sinh định hình được số 6 thông qua số lượng và hình ảnh trực quan ma các em được nhìn thấy rõ (có 6 bạn, 6 con bướm, 6 chùm nho, 6 bít chì,) Ví dụ: Bài Phép cộng trong phạm vi 9 Giáo viên cũng chuẩn bị theo 5 bước như trên, nhưng trong quá trình dạy giáo viên cần sử dụng các thao tác trên máy thành thạo, nhuần nhuyễn để khỏi gián đoạn quá trình tư duy của học sinh. * Áp dụng các trò chơi học tập vào các tiết học Trong quá trình dạy học môn Toán, việc sử dụng trò chơi toán học có nhiều tác dụng như : - Giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động trong giờ học, làm cho giờ học bớt căng thẳng, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu. Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, tạo hứng thú học tập. - Kích thích sự tìm tòi, tạo cơ hội để học sinh tự thể hiện mình. - Thông qua trò chơi, học sinh vận dụng kiến thức năng nổ, hoạt bát, kích thích trí tưởng tượng, trí nhớ. Từ đó phát triển tư duy mềm dẻo, học tập cách xử lý thông minh trong những tình huống phức tạp, tăng cường khả năng vận dụng trong cuộc sống. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 10 Khi dạy học môn Toán, tôi thường áp dụng trò chơi vào phần khởi động hoặc + Trò chơi: Đoàn kết - Mục đích: Rèn kĩ năng tính nhẩm nhanh, thích hợp với những bài dạy phép cộng, trừ các số trong phạm vi 10. - Thời gian: 5 - 7 phút - Cách chơi: Tôi hô: "Đoàn kết- Đoàn kết", học sinh hỏi "Kết mấy ? - Kết mấy ?" Tôi hô: "Kết 2 + 4" , 1 + 7, 9 - 5 , Học sinh phải nhẩm nhanh kết quả để kết thành nhóm theo yêu cầu. Kết thúc cuộc chơi, ai nhanh thì được tuyên dương, ai chậm thì bị phạt theo yêu cầu của lớp. Trò chơi này tôi dùng vào những tháng đầu của học kì I, sau một thời gian áp dụng tôi thấy tiết học hiệu quả hơn, một số em thiếu tự tin, ít chú ý trở nên nhanh nhẹn và chủ động hơn. + Trò chơi: Truyền điện - Mục đích: Củng cố bảng cộng, trừ trong phạm vi 10, 20 (trang 90 SGK Toán 1) - Thời gian: 5 - 7 phút - Cách chơi: Lớp chia thành 2 đội để thi đua. Tôi sẽ "châm ngòi" đầu tiên, cô đọc một phép tính chẳng hạn: 9 + 6 rồi chỉ vào một em thuộc một trong 2 đội, em đó phải bật ngay ra kết quả. Nếu kết quả đúng thì em đó có quyền "xì điện" một bạn thuộc đội đối phương. Em sẽ đọc bất kì phép tính nào, ví dụ 5 + 8 và chỉ vào một bạn (ở bên kia) bạn đó lập tức phải có ngay kết quả là 13, rồi lại "xì điện" trả lại đội ban đầu. Cứ như thế cô cùng 2 thư ký ghi kết quả của mỗi đội. Hết thời gian chơi đội nào có nhiều bạn đọc kết quả đúng thì đội đó chiến thắng. Nếu một học sinh nào đó trả lời chưa chính xác sẽ bị "giật", lúc này bạn lúc đầu đặt câu hỏi sẽ "xì điện" bạn khác. Kết thúc trò chơi bạn không trả lời được sẽ bị phạt. Đây là một hình thức ôn tập rất hiệu quả, phù hợp với những bài luyện tập. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 11 + Trò chơi: Giành cờ chiến thắng - Mục đích : Củng cố khái niệm thêm và bớt một số đơn vị, luyện cách xử lý linh hoạt. Ví dụ bài: Luyện tập, trang 88 SGK Chuẩn bị chơi: Tôi chuẩn bị hai phiếu học tập có thể có nội dung như sau: -7 +2 -3 +8 Chia lớp thành hai đội chơi, mội đội cầm một lá cờ, gồm 3 em chơi tiếp sức điền kết quả vào các hình tròn, đội nào cắm được lá cờ lên trước đội đó chiến thắng. +Trò chơi: Hái hoa - Mục đích: Củng cố cách nhận biết về hình học đơn giản, áp dụng đối với bài: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác - Thời gian: Từ 3 - 5 phút - Chuẩn bị: Giáo viên vẽ các hình tròn, hình tam giác, hình vuông lên các bông hoa có gắn nam châm, sau đó gắn lên bảng lớp. - Cách chơi: Mỗi lần gọi 2 bạn lên bảng, yêu câu hái những bông hoa chứa hình cô giáo yêu cầu, bạn nào hái được nhiều bông hoa nhất sẽ được tuyên dương. * Sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học Mỗi bài học khác nhau thì yêu cầu về đồ dùng dạy học là khác nhau vì thế việc lựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với mục tiêu của từng tiết học là rất quan trọng. Đối với môn Toán thông thường đồ dùng dạy học cần chuẩn bị gồm: Que tính, thước kẻ, phấn màu, bảng con, thẻ chữ, phiếu bài tập, + Que tính: Đây là đồ dùng không thể thiếu đối với học sinh lớp 1, tôi thường dùng để hình thành kiến thức mới trong các bài phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10, 20, 100. Khi dạy tôi thường dùng que tính để thao tác mẫu trước lớp giúp học sinh dễ quan sát sau đó thực hành lại. Việc làm này giúp các em ghi nhớ nhanh và lâu hơn. 10 Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 12 + Thước kẻ: Được sử dụng để dạy các bài: Điểm, đoạn thẳng; Độ dài đoạn thẳng; Thực hành đo độ dài + Phấn màu: Được dùng để ghi tên bài học và những điểm cần chú ý nhằm làm nổi bật phần kiến thức chính của bài, giúp học sinh tập trung hơn. Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng phấn màu vì sẽ làm phân tán sự chú ý của học sinh vào nội dung chính của bài học. + Bảng con: Được dùng để học sinh thực hành viết số, thực hiện phép tính. Bảng con là một đồ dùng cần thiết để kiểm tra việc ghi nhớ bài học của học sinh thông qua việc kiểm tra bài cũ. Tôi thường tổ chức các trò chơi học tập với bảng con như: Thi làm toán nhanh, Rung chuông vàng... vào phần củng cố sau mỗi tiết học. + Phiếu bài tập: Tùy vào yêu cầu của mỗi bài, để phát huy trí lực và khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh tôi đã chọn một số bài tập ghi vào phiếu học tập cho học sinh điền để tiết kiệm thời gian và tăng sự chủ động cho học sinh. Ví dụ: Bài Các số có hai chữ số (tiếp theo) trang 138 Ở bài tập 4, để tiết kiệm thời gian tôi ghi nội dung bài tập vào phiếu và phát cho từng nhóm bàn để học sinh cùng làm, sau đó chữa bài. Đúng ghi Đ, sai ghi S a) Ba mươi sáu viết là 306 b) 54 gồm 4 chục và 4 đơn vị Ba mươi sáu viết là 36 54 gồm 5 và 4 * Sử dụng phương pháp noi gương Một trong các phương pháp giúp trẻ học tốt đó chính là phương pháp nêu gương. Học sinh lớp 1 rất thích được khen, vì vậy khi các em đạt được thành tích gì dù là nhỏ thì giáo viên cũng phải biết để động viên, khuyến khích học sinh kịp thời. Trong quá trình dạy toán, nếu thấy học sinh nào có tiến bộ, tôi thường tuyên dương các em trước lớp trong giờ học đó để các em phấn khởi và có động lực học tập tốt hơn. Ví dụ: Một em học sinh hôm nay có sự tiến bộ, tôi sẽ khen ngợi em đó trước lớp "Bạn Nam hôm nay làm toán nhanh và chính xác hơn hôm qua, bạn Nam thật Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 13 * Đổi mới về cách kiểm tra, đánh giá học sinh Đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ có giáo viên là người " Cầm cân nảy mực" mà nên cho học sinh tham gia vào việc đánh giá kết quả học tập của bạn cũng như của bản thân mình. Tôi thường tổ chức cho học sinh đổi chéo vở kiểm tra lẫn nhau, đối chiếu bài cô, tự chấm bài cho mình. Cô là người hướng dẫn và có nhận xét, kết luận chung. Ví dụ: + Khi học sinh hoàn thành tốt bài tập, tôi nhận xét như sau: "Hiểu và làm đúng bài tập, trình bày rõ ràng, em thật đáng khen !" + Khi học sinh hoàn thành bài tập nhưng trình bày chưa đẹp tôi có thể nhận xét: "Em làm đúng bài tập, nhưng em nên trình bày sạch sẽ và cẩn thận hơn" + Khi học sinh chưa hoàn thành bài tập, hoặc làm sai nhiều, có thể nhận xét: "Em chưa hoàn thành bài, em cần cố gắng nhiều hơn nữa" Trong quá trình dạy, tôi luôn kiểm tra, theo dõi, giám sát tiến trình hoạt động, kết quả của các hoạt động của từng học sinh để có sự động viên khuyến khích hay giúp đỡ kịp thời. b. 2. Đầu tư nội dung và phương pháp dạy học phù hợp cho tiết ôn luyện Phân hóa đối tượng học sinh, lựa chọn nội dung ôn luyện phù hợp với từng đối tượng học sinh. Tiến hành chọn bài để ôn luyện. Nội dung ôn luyện không quá cao, không có kiến thức mới chưa học, tránh việc quá tải cho học sinh. Ví dụ: Ôn luyện: Giải toán có lời văn (tiếp theo) trang 148 Bước 1: Xác định mục tiêu bài học: Củng cố kĩ năng giải toán có lời văn Bước 2: Lựa chọn nội dung bài học: Ôn luyện bài tập 1, 2, 3 Vở bài tập Bước 3: Soạn bài, chuẩn bị đồ dùng: Trong bài soạn thể hiện được với một nội dung bài tập nhưng có những yêu cầu khác nhau cho từng đối tượng học sinh khác nhau. Chẳng hạn: Bài tập 1: Dưới ao có 5 con vịt đang bơi, có thêm 5 con vịt nữa xuống ao. Hỏi có tất cả bao nhiêu con vịt dưới ao? + Đối với học sinh yếu và trung bình: Tôi yêu cầu các em đọc kĩ đề bài sau đó làm bài vào vở. Trước đó, tôi hướng dẫn các em bằng các câu hỏi gợi ý để các em nắm được cách giải toán. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 14 + Đối với học sinh khá: Tôi yêu cầu các em viết tóm tắt, sau đó dựa vào tóm tắt để nêu lại bài toán, rồi giải bài toán vào vở. + Đối với học sinh giỏi: Tôi yêu cầu các em nêu tóm tắt, giải bài toán và tìm lời giải khác lời giải đã làm hoặc nêu cách làm khác (nếu có). Việc dạy học phân hóa góp phần bồi dưỡng học sinh năng khiếu và giúp đỡ kịp thời những học sinh tiếp thu chậm, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán. b.3. Nâng cao chất lượng dạy học môn Toán thông qua các hoạt động khác * Tổ chức "Đôi bạn cùng tiến" Trong giờ học tôi còn tổ chức lớp học thành các " Đôi bạn cùng tiến" cụ thể: + Những học sinh tiếp thu bài nhanh, kĩ năng tính toán tốt sẽ giúp đỡ bạn tiếp thu chậm, hay làm sai (nếu ở gần nhà nhau càng tốt). + Một học sinh chăm học, chuyên cần giúp đỡ và nhắc nhở bạn lười học. Để việc thực hiện có hiệu quả, tôi chủ động xếp học sinh ngồi cùng một bàn để học sinh tự học hỏi lẫn nhau, việc tổ chức cho học sinh cùng nhau học hỏi, cùng nhau thi đua, rèn luyện đó là việc tốt nên làm. Sau từng tuần, từng tháng, tôi tổng kết, tuyên dương từng em, từng "Đôi bạn cùng giúp nhau tiến bộ" vào tiết sinh hoạt cuối tuần. Nhận xét mang tính khuyến khích, động viên các em là chính. * Tổ chức tốt các phong trào thi đua Để tạo không khí hào hứng thi đua học tập, tôi thường xuyên tổ chức các cuộc thi nhỏ như "Rung chuông vàng", "Trạng nguyên nhỏ tuổi", "Tiến sĩ nhí"vào các tiết sinh hoạt tập thể đầu tuần. Những bài toán hay, những cách tính nhanh, được nêu ra để các bạn học tập. Phát động giờ học tốt, tuần học tốt, bông hoa mừng cô để chào mừng các ngày lễ lớn trong năm học được các em hưởng ứng nhiệt tình. * Phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn và cha mẹ học sinh Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng chất lượng môn Toán chưa cao là do học sinh thiếu sự quan tâm theo dõi sát sao của cha mẹ. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 15 Tôi thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp và cha mẹ học sinh về tình hình học tập của các học sinh trong lớp chủ nhiệm, để nắm bắt kịp thời những sai lệch và động viên khuyến khích những tiến bộ của học sinh. c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp Để các biện pháp nói trên phát huy được hiệu quả thực tiễn cần đáp ứng - Trước khi lên lớp, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung, xác định rõ mục tiêu của bài học. Để từ đó có phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mang lại hiệu quả và phù hợp với nội dung từng bài. - Trong quá trình sử dụng các biện pháp cần linh hoạt, sử dụng khéo léo, tinh tế để tạo hứng thú và tránh sự nhàm chán cho học sinh. Luôn quan tâm, theo sát học sinh để uốn nắn, nhắc nhở các em kịp thời cũng như động viên, khuyến khích các em khi các em tiến bộ. - Cần có sự chuẩn bị chu đáo các thiết bị dạy học, đồ dùng học tập, phiếu học tập... trước khi lên lớp tránh tình trạng lúng túng trước học sinh. - Bản thân mỗi giáo viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, không ngừng học hỏi trau dồi kiến thức để bổ sung những biện pháp cần thiết hay loại bỏ những biện pháp không còn phù hợp. d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Các biện pháp có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau. Nếu thực hiện tốt biện pháp đầu sẽ góp phần vào thành công của biện pháp tiếp theo. Nhằm mục đích cao nhất là nâng cao chất lượng dạy học môn Toán. e. Kết quả khảo nghiệm Từ kết quả khảo sát giữa học kì I, sau khi áp dụng linh hoạt các biện pháp nêu trên tôi đã thu được kết quả khảo nghiệm rất khả quan. Kết quả khảo nghiệm thực hiện vào giữa học kì II tại lớp 1D trường Tiểu học Lý Tự Trọng dưới hình thức bài kiểm tra như sau: Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 16 Thời gian KS Tổng số HS Điểm dưới 5 Điểm 5, 6 Điểm 7, 8 Điểm 9, 10 SL % SL % SL % SL % Giữa HKI 27 5 18.5 8 29.6 8 29.6 6 22.3 Giữa HKII 27 2 7.4 5 18.5 7 25.9 13 48.2 II.4. Kết quả Sau khi áp dụng các biện pháp nêu trên trong khoảng thời gian tương đối dài, tôi nhận thấy: - Chất lượng môn Toán được nâng lên rõ rệt, từ chưa đạt 50% học sinh khá giỏi giữa học kì I tăng lên 74,1 % ở giữa học kì II. - Phát huy được sự chủ động và tích cực của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức mới. - Kĩ năng thực hiện phép tính và kĩ năng làm bài trở nên nhanh nhẹn và thành thạo hơn. Học sinh hiểu bài nhanh và nhớ bài lâu hơn. - Đặc biệt nhất là các em thích học môn Toán hơn và thấy bớt nặng nề, áp lực hơn trước khi học toán. Lớp học sôi nổi, hứng thú, học sinh chú ý vào bài học hơn. - Phù hợp với phương pháp đổi mới trong dạy học và tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 1. III. KẾT LUẬN III. 1. Kết luận Vấn đề khắc phục khó khăn trong học toán với học sinh lớp 1 không phải là việc đơn giản, có thể đổi mới ngay trong thời gian ngắn. Đứng về phía giáo viên, muốn khắc phục khó khăn này trước hết phải đổi mới tư duy và phương pháp giảng dạy, phải có lòng yêu nghề, mến trẻ và luôn luôn tìm tòi cách giảng dạy sao cho dễ hiểu nhất đến học sinh, tích cực chủ động tổ chức các trò chơi học tập, gây hứng thú học tập cho các em hơn nữa. Phải có sự kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, giúp học sinh hểu rõ tầm quan trọng của việc học. Không dừng lại ở đó, người giáo Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 17 viên cần phải lựa chọn, phối hợp sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với nội dung từng bài, với đối tượng học sinh, tạo điều kiện cho các em chủ động tìm tòi và lĩnh hội kiến thức. Học sinh lớp 1 rất thích được khen. Lời khen kịp thời sẽ giúp các em có hứng thú học tập và mau tiến bộ. Do vậy, giáo viên phải biết động viên khuyến khích các em kịp thời, giúp các em tự tin trong học tập. dụng thực tế giảng dạy ở lớp mình và thu được kết quả tốt. Song do thời gian chưa nhiều cũng như nhận thức của bản thân còn hạn chế. Nội dung trình bày trên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong hội đồng khoa học các cấp, cùng bạn bè đồng nghiệp góp ý xây dựng để đề tài thêm hoàn chỉnh hơn, có khả năng thực thi cao hơn. III. 2. Kiến nghị a. Đối với giáo viên - Thường xuyên tự học hỏi, rèn luyện mình trau dồi kinh nghiệm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. - Điều quan trọng hơn nữa là người giáo viên phải kiên trì, vượt khó, tìm tòi, sáng tạo và có bản lĩnh, có tinh thần trách nhiệm cao, say mê với công việc, tận tụy với học sinh. b. Đối với học sinh Có ý thức tự giác, tích cực trong học tập. Biết lắng nghe nhận xét của cô, của bạn để tự sửa chữa, khắc phục nhược điểm của mình. Mạnh dạn góp ý, sửa sai giúp đỡ bạn trong học tập. c. Đối với nhà trường - Tổ chức các chuyên đề cấp trường để trao đổi chuyên môn, đưa ra các biện pháp dạy học hiệu quả. Tôi xin chân thành cảm ơn! Buôn Trấp, tháng 2 năm 2014 Người viết Hoàng Thị Loan

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Hóa Học / 2023

hường gặp để các em học sinh có một tư liệu học tập và không bị lúng túng trước các bài toán hoá học, đồng thời cũng là một cẩm nang để các đồng nghiệp có thể sử dụng làm tư liệu trong quá trình giảng dạy để mức độ nhận thức của học sinh ngày một nâng cao. Nhiệm vụ đề tài. Chương trình Hoá học THCS ngoài nhiệm vụ hình thành ở học sinh những kiến thức hoá học cơ bản thì việc bồi dưỡng các kỹ năng: năng lực nhận thức cho học sinh là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng. Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ đó và dựa vào kinh nghiệm giảng dạy Hoá học ở trường THCS trong đề tài này tôi xin được đưa ra một số phương pháp giúp học sinh giải nhanh các bài toán hoá học ở trường THCS. Phương pháp nghiên cứu đề tài. Để nghiên cứu và hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp nghiên cứu tài liệu. IV. Tài liệu nghiên cứu. - Sách giáo khoa Hoá học 8, 9 hiện hành. - Bài tập chọn lọc Hoá học (Vũ Tá Bình) - Tuyển tập các bài toán Hoá học (Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm) - Hoá học chọn lọc (Đào Hữu Vinh) B. Giải quyết vấn đề Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Trong chương trình THCS nói chung và bộ môn Hoá học nói riêng, mục tiêu đặt ra là không chỉ truyền đạt cho học sinh kiến thức theo yêu cầu mà phải hình thành ở các em những kiến thức tổng quát để từ đó các em có thể vận dụng trong mọi trường hợp, các em có thể giải quyết được những vấn đề đặt ra. Vì lẽ đó mà mỗi giáo viên cần truyền đạt cho học sinh các phương pháp, để từ những phương pháp được học các em vận dụng vào những vấn đề cụ thể. Mặt khác đối với môn Hoá học nếu không giải được các bài toán hoá học thì các em cũng sẽ không nắm được kiến thức về lý thuyết một cách cụ thể, về bài tập để củng cố lý thuyết. Chính vì điều đó mà vấn đề đặt ra ở đây là phải truyền đạt cho các em một cách đầy đủ và có hệ thống các phương pháp giải toán hoá học, vì các bài toán cũng là thước đo mức độ hiểu bài và trình độ tư duy của học sinh. Vậy làm thế nào để định hướng được cách giải một bài tập hoá học? Khó khăn lớn nhất của học sinh khi giải một bài tập hoá học là không định hướng được cách giải, nghĩa là chưa xác định được mối liên hệ giữa cái đã cho(giả thiết) và cái cần tìm(kết luận). Khác với bài tập toán học, trong bài tập hoá học người ta thường biểu diễn mối liên hệ giữa các chất bằng phản ứng hoá học và kèm theo các thao tác thí nghiệm như lọc kết tủa, nung nóng đến khối lượng không đổi, cho từ từ chất A vào chất B, lấy lượng dư chất A, cho kết tủa tan hoàn toàn trong axit hay trong bazơ... Kết quả qua các lần kiểm tra của học sinh khối 9 bằng các câu hỏi như sau và yêu cầu các em giải để tìm ra kết quả, thì kết quả đạt được là: Năm học 2006 - 2007: Khi được phân công dạy học ở lớp 9a tôi đã tiến hành công việc ôn tập và kiểm tra khảo sát ở lớp 9a với 30 em thì kết quả đạt được như sau: STT Câu hỏi Kết quả Giỏi Khá TB Yếu 1 Cho một luồng khí clo dư tác dụng với 9,2g kim loại sinh ra 23,4g muối kim loại hoá trị I. Hãy xác định kim loại hoá trị I và muối kim loại đó. 10% 23,33% 40% 26,67% 2 Nhúng một thanh sắt nặng 8 gam vào 500 ml dung dịch CuSO4 2M. Sau một thời gian lấy lá sắt ra cân lại thấy nặng 8,8 gam. Xem thể tích dung dịch không thay đổi thì nồng độ mol/lit của CuSO4 trong dung dịch sau phản ứng là bao nhiêu? 10% 20% 43,33% 26,67% Như vậy để có một cách giải bài tập hoá học hay và dễ hiểu thì trước hết người giải phải nắm vững lý thuyết hoá học cơ bản ở cả ba mức độ của tư duy là hiểu, nhớ và vận dụng. Lý thuyết hoá học sẽ giúp chúng ta hiểu được nội dung bài tập hoá học một cách rõ ràng và xác định được chính xác mối liên hệ cơ bản giữa giả thiết và kết luận. Sau khi làm được việc này ta chỉ cần sử dụng một số phương pháp giải toán hoá thông thường là có thể giải được bất kỳ bài tập hoá học nào mong muốn. Ngay từ bây giờ, chắc vẫn còn chưa muộn, chúng ta nên dành một ít thời gian mỗi ngày vào để ôn luyện lý thuyết trước lúc giải các bài tập hoá học. Qua những luận điểm nêu trên tôi thấy phương pháp giải toán hoá học thực sự là cần thiết đối với học sinh bậc THCS nói riêng và học sinh phổ thông nói chung. II. Nội dung. 1. Những yêu cầu chung về phương pháp giải toán Hoá học. Khi giải bài toán Hoá học cần phải chú ý không những chỉ mặt tính toán mà phải chú ý đến bản chất Hoá học của bài toán. Hoá học nghiên cứu về chất và những biến đổi của chất. Chất và sự biến đổi của chất được xem xét cả về mặt định tính cũng như định lượng. Bởi vậy, giải bài toán Hoá học bao gồm 2 phần: Phần Hoá học và phần toán học. Thiếu hiểu biết đúng về mặt Hoá học thì không thể giải đúng được bài toán Hoá học. Do đó, sự thống nhất giữa hai mặt định tính và định lượng của các hiện tượng Hoá học là cơ sở phương pháp luận việc giải bất kỳ một bài toán Hoá học nào. Kinh nghiệm đã chỉ rõ rằng, không ít học sinh khi giải toán Hoá học chỉ tập trung chú ý vào mặt tính toán, ít chú ý đến phân tích nội dung Hoá học, dẫn dến tình trạng tính toán dài dòng, đôi khi dẫn đến những kết quả phi lý. Có thể nêu lên các bước chung sau đây cho việc giải một bài toán Hoá học. Bước 1: - Đọc kỹ đầu bài, có thể phải đọc đi đọc lại để nắm vững các dữ kiện của bài toán Hoá học. Những điều đã biết, những điều cần phải tìm lời giải. - Ghi vắn tắt đầu bài toán làm 2 phần riêng biệt trên trang giấy hoặc phía trái, phía phải hoặc phần trên, phần dưới theo sơ đồ: Phía trái hoặc phần trên ghi những điều đã biết, phía phải hoặc phần dưới ghi những điều cần tìm. Những điều chưa biết cần tìm phải đánh dấu hỏi. Bước 2: Phân tích kỹ bài toán để tìm ra 2 nội dung đâu là nội dung Hoá học đâu là nội dung toán học. Đối với nội dung Hoá học thì cần sử dụng các kiến thức nào, công thức hay phương trình Hoá học (PTHH). Đối với nội dung toán học thì cần phải sử dụng các kiến thức về số học hay đại số. Bước 3: Suy nghĩ tìm ra phương pháp giải bài toán. Trước hết cần phân tích xem bài toán thuộc dạng nào, tức là quy về các dạng quen biết, đã được học cách giải, thông thường khi giải một bài toán Hoá học cần phải phân tích kỹ mặt định tính sau đó mới bắt tay vào việc tính toán. Chỉ khi nào mặt Hoá học đã được hiểu rõ mới được chuyển sang tính toán. Khi giải các bài tập về công thức Hoá học (CTHH) thì phải vận dụng các kiến thức về cấu tạo chất và định luật thành phần không đổi của chất. Khi giải các bài tập về PTHH thì cần phải nhớ lại các khái niệm về PTHH, Viết đúng, cân bằng đúng phương trình và vận dụng định luật bảo toàn khối lượng các chất trong tính toán. Khi cần tính toán định lượng về chất thì phải nhớ lại các kiến thức về khối lượng phân tử, khối lượng nguyên tử, mol, khối lượng mol, thể tích mol, số Avogađrô. Sau khi đã nắm vững, hiểu rõ và giải được phần Hoá học thì việc chuyển sang phần tính toán đối với học sinh sẽ không có khó khăn gì. Bước 4: Tìm lời giải bằng cách tính toán Toán học. Bước này đòi hỏi vận dụng kỹ năng tính toán cụ thể, cũng có thể kèm theo thực nghiệm nếu bài toán đòi hỏi. Bước 5: Kiểm tra kết quả tính toán, đối chiếu với lời giải (đáp án) với yêu cầu của câu hỏi bài toán. Biện luận và khẳng định đáp án. Có thể sơ đồ hoá các bước giải bài toán Hoá học như sau: Đề bài toán Ghi tóm tắt dữ kiện bài toán Nghiên cứu kỹ bài toán Phân tích đề bài toán Phần giải về Hoá học Chọn phương pháp giải Giải bài toán (tính toán) Lời giải (đáp án) Phân tích lời giải (đáp án) Phần giải bằng tính toán toán học ơ 2. Một số phương pháp giúp học sinh giải nhanh các bài toán Hoá học thường gặp ở trường THCS. Gồm các phương pháp. Phương pháp 1: áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố và khối lượng. Phương pháp 2: dựa vào sự tăng, giảm khối lượng. Phương pháp 3: Chuyển bài toán hỗn hợp thành bài toán chất tương đương. Nội dung cụ thể. 1/ Phương pháp 1: áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố và khối lượng. Nguyên tắc: Trong phản ứng hoá học, các nguyên tố và khối lượng của chúng được bảo toàn. Từ đó suy ra: + Tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng bằng tổng khối lượng các chất tạo thành. + Tổng khối lượng các chất trước phản ứng bằng tổng khối lượng các chất sau phản ứng. Phạm vi áp dụng: Trong các bài toán xảy ra nhiều phản ứng, lúc này đôi khi không cần thiết phải viết các phương trình phản ứng và chỉ cần lập sơ đồ phản ứng để thấy mối quan hệ tỉ lệ mol giữa các chất cần xác định và những chất mà đề cho. Bài 1. Cho một luồng khí clo dư tác dụng với 9,2g kim loại sinh ra 23,4g muối kim loại hoá trị I. Hãy xác định kim loại hoá trị I và muối kim loại đó. Hướng dẫn giải: Đặt M là KHHH của kim loại hoá trị I. PTHH: 2M + Cl2 2MCl 2M(g) (2M + 71)g 9,2g 23,4g ta có: 23,4 x 2M = 9,2(2M + 71) suy ra: M = 23. Kim loại có khối lượng nguyên tử bằng 23 là Na. Vậy muối thu được là: NaCl Bài 2: Hoà tan hoàn toàn 3,22g hỗn hợp X gồm Fe, Mg và Zn bằng một lượng vừa đủ dung dịch H2SO4 loãng, thu được 1,344 lit hiđro (ở đktc) và dung dịch chứa m gam muối. Tính m? Hướng dẫn giải: PTHH chung: M + H2SO4 MSO4 + H2 nHSO = nH= = 0,06 mol áp dụng định luật BTKL ta có: mMuối = mX + m HSO- m H= 3,22 + 98 * 0,06 - 2 * 0,06 = 8,98g Bài 3: Có 2 lá sắt khối lượng bằng nhau và bằng 11,2g. Một lá cho tác dụng hết với khí clo, một lá ngâm trong dung dịch HCl dư. Tính khối lượng sắt clorua thu được. Hướng dẫn giải: PTHH: 2Fe + 3Cl2 2FeCl3 (1) Fe + 2HCl FeCl2 + H2 (2) Theo phương trình (1,2) ta có: nFeCl = nFe = = 0,2mol nFeCl = nFe = = 0,2mol Số mol muối thu được ở hai phản ứng trên bằng nhau nhưng khối lượng mol phân tử của FeCl3 lớn hơn nên khối lượng lớn hơn. mFeCl= 127 * 0,2 = 25,4g mFeCl= 162,5 * 0,2 = 32,5g 2/ Phương pháp 2: dựa vào sự tăng, giảm khối lượng. Nguyên tắc: So sánh khối lượng của chất cần xác định với chất mà giả thiết cho biết lượng của nó, để từ khối lượng tăng hay giảm này, kết hợp với quan hệ tỉ lệ mol giữa 2 chất này mà giải quyết yêu cầu đặt ra. Phạm vị sử dụng: Đối với các bài toán phản ứng xảy ra thuộc phản ứng phân huỷ, phản ứng giữa kim loại mạnh, không tan trong nước đẩy kim loại yếu ra khỏi dung dịch muối phản ứng, ...Đặc biệt khi chưa biết rõ phản ứng xảy ra là hoàn toàn hay không thì việc sử dụng phương pháp này càng đơn giản hoá các bài toán hơn. Bài 1: Nhúng một thanh sắt và một thanh kẽm vào cùng một cốc chứa 500 ml dung dịch CuSO4. Sau một thời gian lấy hai thanh kim loại ra khỏi cốc thì mỗi thanh có thêm Cu bám vào, khối lượng dung dịch trong cốc bị giảm mất 0,22g. Trong dung dịch sau phản ứng, nồng độ mol của ZnSO4 gấp 2,5 lần nồng độ mol của FeSO4. Thêm dung dịch NaOH dư vào cốc, lọc lấy kết tủa rồi nung ngoài không khí đến khối lượng không đổi , thu được 14,5g chất rắn. Số gam Cu bám trên mỗi thanh kim loại và nồng độ mol của dung dịch CuSO4 ban đầu là bao nhiêu? Hướng dẫn giải: PTHH Fe + CuSO4 FeSO4 + Cu ( 1 ) Zn + CuSO4 ZnSO4 + Cu ( 2 ) Gọi a là số mol của FeSO4 Vì thể tích dung dịch xem như không thay đổi. Do đó tỉ lệ về nồng độ mol của các chất trong dung dịch cũng chính là tỉ lệ về số mol. Theo bài ra: CM (ZnSO) = 2,5 CM (FeSO). Nên ta có: nZnSO= 2,5 nFeSO Khối lượng thanh sắt tăng: (64 - 56)a = 8a (g) Khối lượng thanh kẽm giảm: (65 - 64)2,5a = 2,5a (g) Khối lượng của hai thanh kim loại tăng: 8a - 2,5a = 5,5a (g) Mà thực tế bài cho là: 0,22g Ta có: 5,5a = 0,22 a = 0,04 (mol) Vậy khối lượng Cu bám trên thanh sắt là: 64 * 0,04 = 2,56 (g) và khối lượng Cu bám trên thanh kẽm là: 64 * 2,5 * 0,04 = 6,4 (g) Dung dịch sau phản ứng 1 và 2 có: FeSO4, ZnSO4 và CuSO4 (nếu có) Ta có sơ đồ phản ứng: NaOH dư t, kk FeSO4 Fe(OH)2 Fe2O3 a a (mol) mFeO = 160 x 0,04 x = 3,2 (g) NaOH dư t CuSO4 Cu(OH)2 CuO b b b (mol) mCuO = 80b = 14,5 - 3,2 = 11,3 (g) b = 0,14125 (mol) Vậy nCuSO ban đầu = a + 2,5a + b = 0,28125 (mol) CM CuSO = = 0,5625 M Bài 2: Nhúng một thanh sắt nặng 8 gam vào 500 ml dung dịch CuSO4 2M. Sau một thời gian lấy lá sắt ra cân lại thấy nặng 8,8 gam. Xem thể tích dung dịch không thay đổi thì nồng độ mol/lit của CuSO4 trong dung dịch sau phản ứng là bao nhiêu? Hướng dẫn giải: Số mol CuSO4 ban đầu là: 0,5 x 2 = 1 (mol) PTHH Fe + CuSO4 FeSO4 + Cu ( 1 ) 1 mol 1 mol 56g 64g làm thanh sắt tăng thêm 64 - 56 = 8 gam Mà theo bài cho, ta thấy khối lượng thanh sắt tăng là: 8,8 - 8 = 0,8 gam Vậy có = 0,1 mol Fe tham gia phản ứng, thì cũng có 0,1 mol CuSO4 tham gia phản ứng. Số mol CuSO4 còn dư : 1 - 0,1 = 0,9 mol. Ta có CM CuSO = = 1,8 M Bài 3: Dẫn V lit CO2 (đktc) vào dung dịch chứa 3,7 gam Ca(OH)2. Sau phản ứng thu được 4 gam kết tủa. Tính V? Hướng dẫn giải: Theo bài ra ta có: Số mol của Ca(OH)2 = = 0,05 mol Số mol của CaCO3 = = 0,04 mol PTHH CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2O Nếu CO2 không dư: Ta có số mol CO2 = số mol CaCO3 = 0,04 mol Vậy V(đktc) = 0,04 * 22,4 = 0,896 lít Nếu CO2 dư: CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2O 0,05 0,05 mol 0,05 CO2 + CaCO3 + H2O Ca(HCO3)2 0,01(0,05 - 0,04) mol Vậy tổng số mol CO2 đã tham gia phản ứng là: 0,05 + 0,01 = 0,06 mol V(đktc) = 22,4 * 0,06 = 1,344 lít Bài 4: Hoà tan 20 gam hỗn hợp hai muối cacbonat kim loại hoá trị 1 và 2 bằng dung dịch HCl dư thu được dung dịch X và 4,48 lít khí (ở đktc) tính khối lượng muối khan thu được ở dung dịch X. Bài giải: Gọi kim loại hoá trị 1 và 2 lần lượt là A và B ta có phương trình phản ứng: Số mol khí CO2 (ở đktc) thu được ở (1) và (2) là: Theo (1) và (2) ta nhận thấy cứ 1 mol CO2 bay ra tức là có 1 mol muối cacbonnat chuyển thành muối Clorua và khối lượng tăng thêm 11 gam (gốc CO3 là 60g chuyển thành gốc Cl2 có khối lượng 71 gam). Vậy có 0,2 mol khí bay ra thì khối lượng muối tăng là: 0,2 . 11 = 2,2 gam Vậy tổng khối lượng muối Clorua khan thu được là: M(Muối khan) = 20 + 2,2 = 22,2 (gam) 3/ Phương pháp 3: Chuyển bài toán hỗn hợp thành bài toán chất tương đương. Nguyên tắc: Khi trong bài toán xảy ra nhiều phản ứng nhưng các phản ứng cùng loại và cùng hiệu suất thì ta thay hỗn hợp nhiều chất thành 1 chất tương đương. Lúc đó lượng (số mol, khối lượng hay thể tích) của chất tương đương bằng lượng của hỗn hợp. Phạm vi sử dụng: Trong vô cơ, phương pháp này áp dụng khi hỗn hợp nhiều kim loại hoạt động hay nhiều oxit kim loại, hỗn hợp muối cacbonat, ... hoặc khi hỗn hợp kim loại phản ứng với nước. Bài 1: Một hỗn hợp 2 kim loại kiềm A, B thuộc 2 chu kì kế tiếp nhau trong bảng hệ thống tuần hoàn có khối lượng là 8,5 gam. Hỗn hợp này tan hết trong nước dư cho ra 3,36 lit khí H2 (đktc). Tìm hai kim loại A, B và khối lượng của mỗi kim loại. Hướng dẫn giải: PTHH 2A + 2H2O 2AOH + H2 (1) 2B + 2H2O 2BOH + H2 (2) Đặt a = nA , b = nB ta có: a + b = 2 = 0,3 (mol) (I) trung bình: = = 28,33 Ta thấy 23 < = 28,33 < 39 Giả sử MA < MB thì A là Na, B là K hoặc ngược lại. mA + mB = 23a + 39b = 8,5 (II) Từ I, II ta tính được: a = 0,2 mol, b = 0,1 mol. Vậy mNa = 0,2 * 23 = 4,6 g, mK = 0,1 * 39 = 3,9 g. Bài 2: Hoà tan 115,3 g hỗn hợp gồm MgCO3 và RCO3 bằng 500ml dung dịch H2SO4 loãng ta thu được dung dịch A, chất rắn B và 4,48 lít CO2 (đktc). Cô cạn dung dịch A thì thu được 12g muối khan. Mặt khác đem nung chất rắn B tới khối lượng không đổi thì thu được 11,2 lít CO2 (đktc) và chất rắn B1. Tính nồng độ mol/lit của dung dịch H2SO4 loãng đã dùng, khối lượng của B, B1 và khối lượng nguyên tử của R. Biết trong hỗn hợp đầu số mol của RCO3 gấp 2,5 lần số mol của MgCO3. Hướng dẫn giải: Thay hỗn hợp MgCO3 và RCO3 bằng chất tương đương CO3 PTHH CO3 + H2SO4 SO4 + CO2 + H2O (1) 0,2 0,2 0,2 0,2 Số mol CO2 thu được là: nCO = = 0,2 (mol) Vậy nHSO = nCO = 0,2 (mol) CM HSO = = 0,4 M Rắn B là CO3 dư: CO3 O + CO2 (2) 0,5 0,5 0,5 Theo phản ứng (1): từ 1 mol CO3 tạo ra 1 mol SO4 khối lượng tăng 36 gam. áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có: 115,3 = mB + mmuối tan - 7,2 Vậy mB = 110,5 g Theo phản ứng (2): từ B chuyển thành B1, khối lượng giảm là: mCO = 0,5 * 44 = 22 g. Vậy mB = mB - mCO = 110,5 - 22 = 88,5 g Tổng số mol CO3 là: 0,2 + 0,5 = 0,7 mol Ta có + 60 = 164,71 = 104,71 Vì trong hỗn hợp đầu số mol của RCO3 gấp 2,5 lần số mol của MgCO3. Nên 104,71 = R = 137 Vậy R là Ba. Bài 3: Để hoà tan hoàn toàn 28,4 gam hỗn hợp 2 muối cacbonat của 2 kim loại thuộc phân nhóm chính nhóm II cần dùng 300ml dung dịch HCl aM và tạo ra 6,72 lit khí (đktc). Sau phản ứng, cô cạn dung dịch thu được m(g) muối khan. Tính giá trị a, m và xác định 2 kim loại trên. Hướng dẫn giải: nCO = = 0,3 (mol) Thay hỗn hợp bằng CO3 CO3 + 2HCl Cl2 + CO2 + H2O (1) 0,3 0,6 0,3 0,3 Theo tỉ lệ phản ứng ta có: nHCl = 2 nCO = 2 * 0,3 = 0,6 mol CM HCl = = 2M Số mol của CO3 = nCO = 0,3 (mol) Nên + 60 = = 94,67 = 34,67 Gọi A, B là KHHH của 2 kim loại thuộc phân nhóm chính nhóm II, MA<MB ta có: MA < = 34,67 < MB để thoả mãn ta thấy 24 < = 34,67 < 40. Vậy hai kim loại thuộc phân nhóm chính nhóm II đó là: Mg và Ca. Khối lượng muối khan thu được sau khi cô cạn là: m = (34,67 + 71)* 0,3 = 31,7 gam. C. Kết luận Là một giáo viên khi đứng trên bục giảng ai cũng muốn truyền đạt một cách hay nhất, học sinh dễ hiểu nhất. Muốn làm được như vậy đòi hỏi giáo viên luôn phải tìm tòi khai thác và nghiên cứu các phương pháp để truyền đạt hữu hiệu nhất. Chính vì vậy tôi nghĩ chủ trương của ngành giáo dục tổ chức cho giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm là một chủ trương đúng đắn vì nó luôn thúc đẩy giáo viên phải nghiên cứu, tìm tòi, đưa ra những phương pháp hữu ích nhất để phục vụ trong quá trình giảng dạy. Đồng thời những sáng kiến có tính khả thi cao sẽ được giới thiệu rộng rãi để đồng nghiệp cùng tham khảo, phục vụ cho mục đích giảng dạy. Chính vì vậy tôi cũng mạnh dạn đưa ra một số phương pháp toán hoá học mà tôi đã đúc kết được từ khi ngồi trong ghế nhà trường và trong thời gian trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy một khi học sinh đã nắm chắc được phương pháp giải thì các em tiếp thu môn hoá một cách dễ dàng hơn. Kết quả qua các lần kiểm tra của học sinh khối 9 bằng các câu hỏi như sau và yêu cầu các em giải để tìm ra kết quả, thì kết quả đạt được là: Năm học 2008 - 2009: Khi được phân công dạy học ở lớp 9A tôi đã tiến hành công việc ôn tập và kiểm tra, thì kết quả khảo sát ở lớp 9A với số HS là 28 em. STT Câu hỏi Kết quả Giỏi Khá TB Yếu 1 Cho một luồng khí clo dư tác dụng với 9,2g kim loại sinh ra 23,4g muối kim loại hoá trị I. Hãy xác định kim loại hoá trị I và muối kim loại đó. 25% 28,58% 35,71% 10,71% 2 Nhúng một thanh sắt nặng 8 gam vào 500 ml dung dịch CuSO4 2M. Sau một thời gian lấy lá sắt ra cân lại thấy nặng 8,8 gam. Xem thể tích dung dịch không thay đổi thì nồng độ mol/lit của CuSO4 trong dung dịch sau phản ứng là bao nhiêu? 21,43% 25% 35,71% 17,86% Bên cạnh đấy số lượng học sinh giỏi các cấp của bộ môn mà tôi phụ trách ngày càng tăng. - Năm học: 2006 - 2007. Số lượng học sinh giỏi cấp Huyện là 03 em, cấp Tỉnh là 02 em. - Năm học: 2007 - 2008. Số lượng học sinh giỏi cấp Huyện là 06 em, cấp Tỉnh là 02 em. - Năm học: 2008 - 2009. Số lượng học sinh giỏi cấp Huyện là 06 em, cấp Tỉnh là 03 em Tôi xin chân thành cảm ơn! ............................., ngày tháng năm 2009 Người thực hiện: Tống Duy Việt Trang A. Đặt vấn đề 2 I. Lý do chọn đề tài 2 II. Nhiệm vụ chọn đề tài 2 III. Phương pháp nghiên cứu đề tài 3 IV. Tài liệu nghiên cứu 3 B. Giải quyết vấn đề 3 I. Cơ sở lý luận 3 II. Nội dung 4 1 Phương pháp 1: áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố và khối lượng. 5 2 Phương pháp 2: dựa vào sự tăng, giảm khối lượng. 7 3 Phương pháp 3: Chuyển bài toán hỗn hợp thành bài toán chất tương đương. 9 C. Kết luận 11

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Hóa Học Lớp 8 / 2023

Để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn hóa học trong nhà trường THCS, nhất thiết công tác đổi mới phương pháp dạy học của người thầy phải được quan tâm tối ưu nhằm tăng khả năng tiếp thu và luôn gây hứng thú, thu hút học sinh vào mỗi tiết học để có hiệu quả đối với bộ môn.

Đáp ứng phong trào thi đua dạy tốt, học tốt của giáo viên và học sinh trong giai đoạn mới. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy của các bộ môn nói chung, và hóa học nói riêng là một việc làm rất cần thiết và cấp bách.

– Dạy tốt và học tốt là nhiệm vụ chung của giáo viên và học sinh, để giúp giáo viên phát huy tính sáng tạo của mình trong dạy học, giúp học sinh hoạt động tích cực trong các giờ học nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cao trong dạy và học. Việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, đòi hỏi mỗi học sinh phải trang bị cho mình một vốn kiến thức nhất định để đáp ứng những yêu cầu hiện nay. Nhìn chung tình hình hiện nay chất lượng học tập của học sinh vẫn còn yếu ở các môn nói chung, và môn hóa học nói riêng, khả năng học tập còn hạn chế. Vì lẽ đó mỗi giáo viên ở các trường trung học cơ sở nói chung, và bản thân tôi nói riêng cần phải tìm phương pháp giảng dạy thích hợp đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của học sinh nhằm nâng cao chất lượng học tập cũng như đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá hiện nay.

UBND HUYỆN CAO LÃNH TRƯỜNG THCS NGUYỄN VĂN ĐỪNG *********** SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC LỚP 8 Người thực hiện : Nguyễn Văn Mẫn Năm học : 2011 - 2012 BẢNG TÓM TẮT SKKN - Tên đề tài :Giải pháp nâng cao chất lượng học tập môn hóa học lớp 8- Họ và tên tác giả: Nguyễn Văn Mẫn - Đơn vị công tác : Trường THCS Nguyên Văn Đừng 1. Lý do chọn đề tài : - Do đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá. - Học sinh học chưa tốt môn hóa học. 2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu - Nghiên cứu quá trình vận dụng giải pháp của giáo viên dạy môn hóa học. - Nghiên cứu hiệu quả học tập của học sinh trong quá trình giáo viên vận dụng giải pháp trong giảng dạy . b. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu SGK, SGV, các loại sách tham khảo khác phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn hóa học. Điều tra: + Qua thực tế giảng dạy. + Qua các lần kiểm tra đối với các lớp. + Qua đối chiếu kết quả học tập các lần kiểm tra trước và sau sử dụng giải pháp. +Qua dự giờ đồng nghiệp. 3/. Đề tài đưa ra giải pháp mới: - Đề tài đã đưa ra được một số dạng bài tập áp dụng giúp học sinh định hướng và biết cách làm các bài tập đó. 4./ Hiệu qủa áp dụng: - Đề tài đã từng bước nâng cao chất lượng của học sinh đối với môn hoá Trường THCS Nguyễn Văn Đừng năm học 2011 - 2012. 5/. Phạm vi áp dụng: - Đã áp dụng có hiệu quả trong đơn vị, cụ thể là lớp 8 trường THCS Nguyễn Văn Đừng, và có thể áp dụng được đối với một số đối tượng khác. Phong Mỹ, ngày 29 tháng 2 năm 2012 Người thực hiện Nguyễn Văn Mẫn "GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC LỚP 8" MỞ ĐẦU 1/ Lý do chọn đề tài : Để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn hóa học trong nhà trường THCS, nhất thiết công tác đổi mới phương pháp dạy học của người thầy phải được quan tâm tối ưu nhằm tăng khả năng tiếp thu và luôn gây hứng thú, thu hút học sinh vào mỗi tiết học để có hiệu quả đối với bộ môn. Đáp ứng phong trào thi đua dạy tốt, học tốt của giáo viên và học sinh trong giai đoạn mới. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy của các bộ môn nói chung, và hóa học nói riêng là một việc làm rất cần thiết và cấp bách. Dạy tốt và học tốt là nhiệm vụ chung của giáo viên và học sinh, để giúp giáo viên phát huy tính sáng tạo của mình trong dạy học, giúp học sinh hoạt động tích cực trong các giờ học nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cao trong dạy và học. Việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, đòi hỏi mỗi học sinh phải trang bị cho mình một vốn kiến thức nhất định để đáp ứng những yêu cầu hiện nay. Nhìn chung tình hình hiện nay chất lượng học tập của học sinh vẫn còn yếu ở các môn nói chung, và môn hóa học nói riêng, khả năng học tập còn hạn chế. Vì lẽ đó mỗi giáo viên ở các trường trung học cơ sở nói chung, và bản thân tôi nói riêng cần phải tìm phương pháp giảng dạy thích hợp đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của học sinh nhằm nâng cao chất lượng học tập cũng như đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá hiện nay. Hóa học lớp 8 là năm đầu tiên các em được nghiên cứu, học tập. Nội dung kiến thức khó, đòi hỏi giáo viên phải có những phương pháp tốt giúp các em nắm vững kiến thức khoa học làm nền tảng cho các lớp tiếp theo. Đó cũng là lí do mà tôi chọn đề tài "Giải pháp nâng cao chất lượng học tập môn hóa học lớp 8 ". 2. Đối tượng nghiên cứu: a/ Đối với giáo viên : Dự giờ các tiết dạy, nhằm đánh giá và rút ra phương pháp giảng dạy - theo hướng tích cực. ( dự chuyên đề, thao giảng) Nghiên cứu quá trình thực hiện, giải pháp trong giảng dạy của bản thân giúp cho học sinh nâng cao hiệu quả học tập môn hóa học trong năm học qua. b/ Học sinh : Nghiên cứu hiệu quả học tập của học sinh khối 8 trong suốt quá trình giáo viên thực hiện giải pháp. +Phân chia học sinh theo các nhóm sau : 1-Nhóm học sinh khá giỏi : Nhóm đối tượng này việc tiếp thu kiến thức tốt . 2-Nhóm học sinh yếu kém có thể do: - Khả năng tiếp thu bài chậm so với học sinh bình thường. - Làm bài không cẩn thận. - Chưa có phương pháp học tập đúng đắn. Các nhóm đối tượng này: Giáo viên cần có phương pháp riêng, cụ thể, kiến thức đi từ đơn giản rồi nâng dần ngang tầm nhận thức của các em, tránh bắt các em nắm bắt hết các kiến thức bài học một lần sẽ dẫn đến những tác động xấu ( không hiểu bài, chán học, bỏ liều ) 3-Nhóm học sinh yếu : Không chịu học do chưa có động cơ học tập đúng đắn. Đối với nhóm đối tượng này giáo viên cần kiên trì và có nhiều thời gian. Phải có sự kết hợp chặt chẽ của nhiều bộ phận cùng tác động định hướng cho các em. Đặc biệt giáo viên chủ nhiệm phải phối hợp thường xuyên với gia đình học sinh, giáo viên bộ môn. Từ đó mới mang lại kết quả giáo dục mong muốn. 3. Phạm vi nghiên cứu: - Nghiên cứu thực trạng học tập môn hóa học của học sinh lớp 8 Trường THCS Nguyễn Văn Đừng, nắm được điểm mạnh, các tồn tại, từ đó tìm nguyên nhân giúp học sinh học tập tốt hơn đối với môn học. 4. Phương pháp nghiên cứu: * Nghiên cứu tài liệu: * Đọc các tài liệu giảng dạy phục vụ cho bộ môn như: sách giáo viên, sách giáo khoa hóa học 8, sách thiết kế bài giảng hóa học 8, một số sách hướng dẫn bài tập môn hóa học trung học cơ sở, sách hướng dẫn sử dụng thiết bị dạy học. * Điều tra: + Qua thực tế giảng dạy của bản thân đối với bộ môn. + Qua các lần kiểm tra: Kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ. + Dự giờ đồng nghiệp. Giả thuyết khoa học: * Phần lớn các em rất sợ học môn hóa học, vì hóa học là môn học còn mới lạ đối với các em. Song song đó, việc giải nhiều bài tập còn mang tính phức tạp là điều mà các em không tránh khỏi hoang mang. Vì vậy mỗi giáo viên cần có những biện pháp giúp đỡ các em kịp thời. Bên cạnh đó đưa ra những bài tập phù hợp với các em, từng bước tăng dần, gây hứng thú học tập cho các em. - Học tập sẽ không có kết quả cao, nếu không có sự hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, nếu các em không có lòng ham muốn, không tập trung vào vấn đề nghiên cứu. B.NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận. Thực hiện nghị quyết số 40 của Quốc Hội, chỉ thị số 14/2001/CT - TTG của thủ tướng chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông ở các cấp học. Thực hiện cuộc vận động "Hai không" với bốn nội dung do Bộ GD & ĐT phát động, trong đó có nội dung "Chống bệnh thành tích trong giáo dục" là một trong những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước ta hiện nay, nhằm đánh giá thực chất chất lượng học sinh. Bên cạnh đó cũng phản ánh được chất lượng và hiệu quả giảng dạy của giáo viên. Những học sinh lên lớp là những học sinh có kiến thức thực sự, xứng đáng được lên lớp. Những học sinh không đảm bảo được yêu cầu sẽ không được lên lớp. Xuất phát từ vấn đề này, chúng ta không thể hiểu theo hướng là vô tư để học sinh yếu kém "ở lại lớp" mà không có trách nhiệm của giáo viên trong đó. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu kém gồm có chủ quan và khách quan. Nếu giáo viên kịp thời quan tâm, giáo dục sẽ giúp cho nhiều học sinh yếu kém tiến bộ và thoát khỏi tình trạng yếu kém. Bản thân mỗi giáo viên phải thi đua dạy tốt để hoàn thành chỉ tiêu đề ra. Muốn làm dược điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải có phương pháp dạy tốt. Trong giảng dạy ngoài việc phát huy tính tích cực của học sinh, giáo viên cũng cần phải giúp đỡ học sinh bằng cách hướng dẫn tích cực, và tạo hứng thú trong mỗi tiết học để kích thích học sinh yêu thích bộ môn. II. Cơ sở thực tiễn: 1/ Thực tiễn vấn đề nghiên cứu: Học sinh chưa có kĩ năng giải bài tâp, phương pháp giải bài tập còn chậm, khả năng vận dụng toán học vào lý luận giải bài tập hóa học còn yếu. Thậm chí có học sinh lúng túng trong việc chuyển vế giữa các phép tính, thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia còn gặp nhiều khó khăn chưa phù hợp việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá hiện nay. Đưa ra những phương pháp mới, giải bài tập nhanh, phù hợp với học sinh. 2/ Sự cần thiết của đề tài: Trước hết muốn học tốt môn hóa học thì học sinh phải nắm vững những kiến thức cơ bản của bộ môn. Bản thân giáo viên cũng cần giành thời gian đọc các tài liệu bộ môn để nâng cao năng lực chuyên môn của bản thân, ngoài ra tìm những phương pháp giải bài tập hay, phù hợp với học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả trong giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho học sinh. III. Nội dung vấn đề 1/ Vấn đề đặt ra: Mức độ tiếp thu kiến thức bài mới, phương pháp giải bài tập còn chậm. Đó là những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng lượng học sinh. 2/ Giải pháp, chứng minh vấn đề giải quyết: Để đạt được ước vọng " nâng cao chất lượng học tập môn hóa học của học sinh ". Bản thân tôi phải tiến hành những công việc sau : b/ Xác định đúng dạng bài để dạy đúng phương pháp đặc trưng của bộ môn, và đúng với phương pháp của từng loại bài dạy. Đối với môn hóa học có các dạng bài như sau: - Dạng bài lý thuyết. - Dạng bài thực hành. - Dạng bài luyện tập. - Dạng bài ôn tập tổng kết. c/ Đọc kĩ bài dạy để hiểu đúng ý của người viết sách giáo khoa, về kiến thức cơ bản và cách trình bày của tác giả, nắm được mối quan hệ giữa các kiến thức từ đó khắc sâu kiến thức trọng tâm cho học sinh, làm cho các em thấy rõ con đường đi đến kiến thức, phát hiện ra kiến thức. d/ Phải nắm rõ đặc điểm đối tượng học sinh lớp mình phụ trách: tỉ lệ số học sinh khá giỏi - trung bình - yếu kém. Từ đó đưa ra các phương pháp thích hợp cho từng đối tượng làm thế nào để học sinh yếu kém cũng nắm được kiến thức cơ bản của bài dạy . IV. Hoạt động : Hướng dẫn học sinh xây dựng kiến thức mới 1. Kỹ năng học sinh cần đạt được: Học sinh nắm vững lý thuyết vì lý thuyết là phần rất quan trọng gồm có: lý thuyết cơ bản, viết PTHH, tính chất hóa học, các chất điều chế, tách chất, nhận biết các chất,... đó là những cơ sở mà HS phải nắm vững mới làm được bài tập. Giúp HS biết cách giải một bài hóa học đơn giản để có thể đi từ dễ đến khó, biết xác định dạng bài tập, từ đó tìm ra định hướng và tìm ra cách giải. Giúp HS có khả năng suy luận chính xác về nội dung đã tiếp thu và trình bày bài làm với lời giải chuẩn mực, phải nắm được các bước giải và thiết kế được quy trình từng bước giải. Giúp HS có khả năng xử lý kiến thức, tìm tòi nhiều lời giải, biết huy động và vận dụng vốn kiến thức đã học cùng một lúc vào việc giải quyết các bài tập trong tiết học (bài tập có nhiều cách giải, HS giải theo cách ngắn gọn, dễ hiểu, khoa học), để lựa chọn câu trả lời tối ưu nhất. Giúp HS xác định được dạng bài tập hóa học. Ngoài việc xác định đúng giả thiết, dữ kiện của bài tập HS còn phải phân tích và phân loại được các dạng bài tập, từ đó đưa bài tập cần giải về gần với dạng các bài tập đã biết, đã giải, luôn tìm ra cái đã biết và cố gắng tìm ra " cái cốt lõi" của bài tập là "cần tìm cái gì?",... 2. Một số ví dụ minh họa : VD1 ; Dạy bài " Hóa trị" 1/Xác định hóa trị của nguyên tố hoặc nhóm nguyên tử trong hợp chất với H Quy ước H hóa trị I .Chỉ số của H là hóa trị của nguyên tố hoặc nhóm nguyên tử : Từ đó học sinh dễ dàng xác định hóa trị của nguyên tố, hoặc nhóm nguyên tử : hoặc trong công thức hợp chất với oxi (hợp chất 2 nguyên tố ) lấy chỉ số O nhân 2 rồi chia lại cho chỉ số của nguyên tố cần xác định hóa trị . 2- Lập công thức hóa học hợp chất theo hóa trị . Vd 1 : Lập công thức hóa học của Al( III) và O(II ) . Các bước : + Công thức chung : AlxOy Theo quy tắt hóa trị : x . III = y . II Chuyển thành tỉ lệ : x =2 y = 3 Công thức hóa học của hợp chất : Al2O3 Để lập công thức nhôm oxit theo trình tự trên với học sinh khá giỏi rất dễ dàng, nhưng với học sinh yếu kém có thực hiện được không ? Việc lập biểu thức theo quy tắt hóa trị đã khó, còn việc chuyển vế để hình thành tỉ lệ đối với các em chắc cũng không dễ . Từ đó tôi hình thành cho các em cách lập công thức đơn giản sau : Viết công thức chung : AB ( chỉ ghi ký hiệu các nguyên tố ) Xác định hóa trị của nguyên tố Avà nguyên tố B sau khi rút gọn ( 2 : 2 = 1 : 1 , 6 : 2 = 3 : 1 ) ghi hóa trị các nguyên tố lên phía trên kí hiệu ( viết chì ghi rồi xóa ) rồi kéo chéo xuống : A ( hóatrị a ) B ( hóa trị b ) a b Ab Ba Cũng VD1 trên : 3 2 hoặc lập công thức Mg (II) và O (II) VD2 : Dạy bài " Tính Theo Phương Trình Hóa Học" Đây là một dạng bài toán hóa học khó đối với học sinh, khi gặp bài toán các em không biết giải như thế nào, bắt đầu giải từ đâu? Để xây dựng cách giải một bài toán hóa học đơn giản, tôi yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau: Tìm số mol chất đã cho. Viết phương trình hóa học. Tìm số mol chất cần tìm. Tính toán theo đề yêu cầu. Trong đó tóm tắt bài toán tôi cho là rất quan trọng. Nếu các em tóm tắt chính xác thì việc giải bài toán trở nên đơn giản. Bài toán : Đốt cháy 16 gam lưu huỳnh trong khí oxi.Tính thể tích khí lưu huỳnh đioxit (SO2) thu được ở điều kiện tiêu chuẩn. Giải Tóm tắt : Cho: - Số mol lưu huỳnh : m S = 16 gam . Tính : - Phương trình phản ứng : = n . 22,4 ( lít) S + O2 SO2 1 mol 1 mol 0,5 mol ? mol Số mol S = Thể tích khí SO2 : = 0,5 . 22,4 = 11,2( lít ) Sau đó tôi cho một bài tương tự cho học sinh yếu kém, và một bài khó hơn cho học sinh khá giỏi . Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, trong quá trình dạy học giáo viên cần tiến hành các thí nghiệm sẽ tạo hứng thú học tập cho học sinh, đồng thời giúp các em khắc sâu kiến thức hơn. VD3 . Khi dạy phần tính chất hóa học của nước ( Giáo viên đã tiến hành làm các thí nghiệm,hoặc hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm ).Khi tiến hành củng cố,có thể làm bài tập sau: Giáo viên lấy 3 cóc thủy tinh, cho vào đó 3 dung dịch :NaOH (dung dịch bazơ), HCl ( dung dịch axít ), NaCl ( dung dịch muối), mẫu giấy quỳ tím. yêu cầu học sinh tiến hành thí nghiệm nhận biết 3 dung dịch trên . Học sinh lần lượt nhúng giấy quỳ tím vào 3 dung dịch,dựa vào hịện tượng : Qua bài tập giúp học sinh nắm lại kiến thức tốt hơn và tạo ra niềm say mê thích học môn hóa học . Khi tiến hành thí nghiệm giáo viên cần kiểm tra hóa chất ( như giấy quỳ tím để lâu sẽ không cho chỉ thị màu đỏ với dung dịch axít ) nếu không sẽ dẫn đến hiệu quả giáo dục không cao . V. Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém: Để giúp đỡ học sinh yếu kém, tôi đã tiến hành một số biện pháp sau: - Phân loại học sinh yếu kém theo những nguyên nhân chủ yếu và có kế hoạch giúp đỡ thích hợp với từng loại. Việc này tôi tiến hành trong suốt năm, trong quá trình đó có sự điều chỉnh HS theo nhóm trình độ, phù hợp với kế hoạch giúp đỡ. - GV tìm phương pháp giảng dạy thích hợp, có trọng tâm, nhằm thẳng vào các yêu cầu quan trọng nhất, với mức độ yêu cầu vừa sức các em để nâng dần lên. Không nôn nóng, sốt ruột, khắc phục tính ngại khó và những định kiến thiếu tin tưởng vào tiến bộ của học sinh. - Khi giảng dạy, tôi thường xuyên theo dõi sự chú ý của học sinh yếu kém, kiểm tra kịp thời sự tiếp thu bài giảng. Khi hướng dẫn bài tập tôi thường làm cụ thể hơn đối với các học sinh này. - Mọi nhiệm vụ được giao cho các em cần được kiểm tra cụ thể, các sai lầm mắc phải luôn được tôi phân tích và sửa chữa. Khuyến khích, động viên đúng lúc khi các em đạt kết quả ( dù khiêm tốn), đồng thời cũng phải phân tích, phê phán đúng mức thái độ vô trách nhiệm hoặc lơ là đối với nhiệm vụ học tập được giao. Nhưng vẫn cố gắng tránh thái độ lời nói chạm tới lòng tự ái hoặc mặc cảm của học sinh. - Tổ chức cho học sinh khá, giỏi thường xuyên giúp đỡ các bạn yếu, kém về cách học tập, về phương pháp vận dụng kiến thức. - Tổ chức kèm cặp, phụ đạo cho các em. Trong các buổi này, tôi chủ yếu kiểm tra việc lĩnh hội các kiến thức giảng dạy trên lớp, nếu thấy các em chưa chắc, tôi tiến hành ôn tập củng cố kiến thức để các em nắm vững chắc hơn. Tìm hiểu thêm những chỗ các em chưa hiểu hoặc chưa nắm chắc để bổ sung, củng cố. Hướng dẫn phương pháp học tập: học bài, làm bài, việc tự học ở nhà. ·Kết quả của đề tài : Nhờ quá trình tích cực vận dụng giải pháp đến nay giúp cho học sinh lớp 8 trường Nguyễn Văn Đừng nói chung học tập có hiệu quả. + Nắm vững kiến thức sau mỗi bài học. + Xác định đúng phương pháp giải bài tập cho mỗi dạng bài tập khác nhau. Cách giải bài tập, chuyển đổi công thức tính toán, trình bày có lời giải rõ ràng, kỹ năng trình bày tinh tế, phù hợp cho việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá hiện nay. Trong quá trình thực hiện giải pháp từ đầu năm đến giữa học kì II năm học 2011 - 2012, tôi nhận thấy học sinh trong quá trình học tập có tiến bộ rõ rệt qua các lần kiểm tra thể hiện như sau: Tháng điểm 9 + 10 LỚP SỈ SỐ GIỎI KHÁ TB YẾU KÉM SL TL% SL TL% SL TL% TS TL% TS TL% 8A1 40 3 7.5 10 25 20 50 6 15 2 5 8A2 40 8 20 11 27.5 10 25 10 25 1 2.5 8A3 39 9 23.1 8 20.5 11 28.2 10 25.6 1 2.6 TC 119 20 16.8 29 24.4 41 34.5 26 21.8 4 3.4 KẾT QUẢ HỌC KỲ I LỚP TSHS GIỎI KHÁ TB YẾU Kém SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% 8A1 41 4 9.8 11 26.8 22 53.7 4 9.8 0 8A2 40 4 10 14 35 17 42.5 5 12.5 0 8A3 40 11 27.5 7 17.5 17 42.5 3 7.5 1 2.5 TC 121 19 15.7 32 26.4 56 46.3 12 9.9 1 0.8 Kết quả tháng điểm 1 + 2 . LỚP TSHS GIỎI KHÁ TB YẾU Kém SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL 8A1 38 16 42,11 10 26,32 12 31,38 8A2 40 8 20 12 30 17 42,5 3 7.5 8A3 39 13 33,33 10 25.64 11 28,21 5 15,82 TC 117 37 31,62 32 27,35 40 34,18 8 6,8 C. KÊT LUẬN, 1. Bài học kinh nghiệm Qua việc áp dụng đề tài này vào giảng dạy tôi thấy rằng để có được kết quả cao trong quá trình giảng dạy các em trên lớp thì trước hết người thầy phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Giáo viên cần chọn phối hợp các phương pháp theo hướng tích cực, linh động sáng tạo phù hợp với nội dung, kiểu bài lên lớp, tạo điều kiện cho học sinh học tập tích cực, chủ động độc lập sáng tạo khám phá xây dựng kiến thức mới từ bài học theo sự hướng dẫn của giáo viên. - Giáo viên phải luôn luôn vận dụng mối quan hệ giũa kiến thức cũ và mới trong quá trình dạy học, để xây dựng được nhiều bài học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh nhằm đem lại hiệu quả trong giảng dạy. - Việc giải bài tập phải có có sự lựa chọn phương pháp giải bài tập phù hợp với học sinh, tránh giải nhiều dạng bài tập khác nhau liên tục làm cho học sinh hoang man, có cảm giác nặng nề với bài tập. Vì vậy để có hiệu quả trong việc giải bài tập phải từng bước tăng dần để nâng cao chất lượng học sinh. 2. Hướng áp dụng phổ biến của đề tài : Với kết quả đạt được như trên bản thân tôi sẽ đem trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp ở tổ, ở trường, các bạn đồng nghiệp giảng dạy môn hóa học nói chung và các môn khác nói riêng, để cùng nhau áp dụng vào tiết dạy, đồng thời góp ý kiến xây dựng để đề tài được hoàn thiện hơn. * Khi thực hiện thành công tại đơn vị, giải pháp có thể áp dụng cho một số đối tượng khác có yêu cầu . 3. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài : Với những kinh nghiệm đã được, bản thân tôi đề ra hướng nghiên cứu mới là:" Một số giải pháp thực hiện thành công các thí nghiệm hóa học " -Tri thức loài người là vô hạn, phương pháp giáo dục là đa dạng. Với sự hiểu biết còn hạn hẹp, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Nhưng với tâm niệm không ngừng học tập, nghiên cứu để phục vụ tốt cho sự nghiệp giáo dục, rất mong sự đóng góp chân tình của các cấp lãnh đạo, quý đồng nghiệp, giúp tôi có những phương pháp tốt trong giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ngày càng tốt hơn. Chân thành cám ơn. Tháng 2 năm 2012 Ý kiến của Hội đồng khoa học nhà trường: .. Phong Mỹ, ngày tháng năm 2012 TM. HĐKH CHỦ TỊCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tài liệu bồi dưỡng dạy SGK lớp 8 ( 2005 ) Tác giả : - Lê Xuân Trọng - Cao thị Thặng - Ngô Văn Vụ - Nguyễn Phú Tuấn - Phạm Đình Hiến - Vũ Anh Tuấn 2. SGK hoá học 8: Lê Xuân Trọng và Nguyễn Cương NXB Giáo Dục. 3. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học THCS (2008) Tác giả : - Cao Thị Thặng - Vũ Anh Tuấn

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Học Môn Lịch Sử Lớp 6 / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!