Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ Hứng Thú Tham Gia Vào Hoạt Động Kpkh / 2023 # Top 20 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ Hứng Thú Tham Gia Vào Hoạt Động Kpkh / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ Hứng Thú Tham Gia Vào Hoạt Động Kpkh / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I.TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO TRẺ 4-5 TUỔI HỌC TỐT HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC II. ĐẶT VẤN ĐỀ Giáo dục mầm non là ngành giáo dục hết sức quan trọng, một mắc xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Đến trường trẻ được học, được chơi, được tiếp xúc với nhiều bạn, được sống trong tình thương của cô giáo, được khám phá thế giới bí ẩn xung quanh. Trường Mầm non chính là tổ ấm thứ hai của trẻ. Trẻ mẫu giáo “chơi mà học, học mà chơi”. Trẻ rất hiếu động, tò mò, ham muốn học hỏi, tìm hiểu thế giới xung quanh. Trong khi chơi, trẻ thực sự học để lĩnh hội các khái niệm ban đầu hoặc các tri thức tiền khoa học. Qua đó hình thành bước đầu của phẩm chất đạo đức, khuyến khích việc khám phá khoa học và làm chủ những kiến thức công nghệ trong thời đại mới. Khám phá khoa học là phương tiện để giao tiếp và làm quen với môi trường xung quanh, để giao lưu và bày tỏ nguyện vọng của mình hình thành và nhận thức sự vật, hiện tượng xung quanh mà giáo dục thái độ ứng xử đúng đắn với thiên nhiên, với xã hội cho trẻ. Thông qua môn học này hình thành cho trẻ kỉ năng quan sát, tư duy, phân tích tổng hợp khái quát. Khám phá khoa học với trẻ mầm non là quá trình tham gia các hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên qua đó giúp trẻ được hoạt động và tự phục vụ bản thân. Những công việc đó có thể sẽ là bài học trải nghiệm tốt cho trẻ về khoa học. Khi nói đến trẻ mầm non không ai không biết trẻ ở lứa tuổi này rất thích tìm hiểu, khám phá môi trường xung quanh, bởi thế giới xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều mới lạ hấp dẫn và còn có bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá. Khám phá khoa học mang lại nguồn biểu tượng vô cùng phong phú, đa dạng, sinh động, đầy hấp dẫn với trẻ thơ, từ môi trường tự nhiên (cỏ cây, hoa lá, chim ….) đến môi trường xã hội (công việc của mỗi người trong xã hội, mối quan hệ của con người với nhau …) và trẻ hiểu biết về chính bản thân mình, vì thế trẻ luôn có niềm khao khát khám phá, tìm hiểu về chúng. Khám phá khoa học đòi hỏi trẻ phải sử dụng tích cực các giác quan chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ năng lực quan sát, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp… nhờ vậy khả năng cảm nhận của trẻ sẽ nhạy bén, chính xác, những biểu tượng, kết quả trẻ thu nhận được trở nên cụ thể, sinh động và hấp dẫn hơn. Qua những thí nghiệm nhỏ trẻ được tự mình thực hiện trong độ tuổi mầm non sẽ hình thành ở trẻ những biểu tượng về chính là cơ sở khoa học sau này của trẻ. Chính vì những lí do trên, để tổ chức hoạt động khám phá khoa học đồng thời giúp trẻ hứng thú tiếp cận và học tốt hoạt động khám phá khoa học tôi luôn trăn trở nghiên cứu một số thủ thuật nhằm tạo hứng thú cho trẻ tham gia hoạt động khám phá khoa học một cách tốt nhất. Chính vì lí do trên mà bản thân tôi đầu tư nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp gây hứng cho trẻ 4-5 tuổi học tốt hoạt động khám phá khoa học” III. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Trong các hoạt động giáo dục ở trẻ mẫu giáo, hoạt động học là một trong những hoạt động chủ đạo. Thông qua hoạt động học trẻ được lĩnh hội tiếp thu kiến thức về môi trường xã hội, thế giới xung quanh trẻ. Nhiệm vụ của cô giáo tổ chức hoạt động khám phá như thế nào để trẻ lĩnh hội được kiến thức một cách đơn giản nhưng hiệu quả. Tiếp tục thực hiện chiến lược lấy trẻ làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực chủ động của trẻ. Thông qua trò chơi hoạt động khám phá trẻ được trải nghiệm khám phá, tìm tòi sáng tạo được tự do giao tiếp, vui chơi, hợp tác, chia sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức. Trò chơi trong hoạt động khám phá đóng vai trò quan trọng, trong cuộc sống hằng ngày của trẻ, khơi dậy ở tính tò mò, tạo cho trẻ tính tò mò, tạo cho trẻ khám phá về đặc điểm nổi bật và ích lợi sự việc hiện tượng quen thuộc, một vài mối quan hệ đơn gian giữa sự vật với môi trường xung quanh, cách chăm sóc bảo vệ chúng, đồng thời trao dồi óc quan sát, so sánh nhận xét phán đoán của trẻ hình thành ở trẻ thái độ đúng đắn với sự vật hiện tượng sự vật xung quanh trẻ. IV. CƠ SỞ THỰC TIỂN: Năm hoc 2016- 2017 tôi được nhà trường phân công dạy lớp nhỡ. Đa số các các cháu đã qua lớp bé, đã được làm quen với các hoạt động ở trường mẫu giáo. Việc tổ chức cho trẻ khám phá môi trường xung quanh từ lâu đã được đưa vào. Trong thực tế là giáo viên mầm non tôi rất quan tâm và đã biết cách cho trẻ tham gia vào hoạt động khám phá đạt được một số hiệu quả nhất định. Đó là trẻ hiểu biết một số sự vật hiện tượng xung qanh như biết tên gọi, đặc điểm, ích lợi của sự vật hiện tượng. Thông qua đó hình thành cho trẻ một số kỹ năng nhằm phát triển toàn diện trẻ. Giáo viên còn lúng túng trong việc thuyết kế trò chơi và sử dung trò chơi chưa linh hoạt, phù hợp với đặc điểm cá nhân trẻ và điểu kiện thực tiễn của trường lớp, địa phương. Bên cạnh đó phụ huynh là nông dân, ngày qua ngày lo kinh tế, ít có thời gian quan tâm đến trẻ, mọi hoạt động đều nhờ đến trường, ít có thời gian trò chuyện quan tâm đến con trẻ. Từ đó dẫn đến các kiến thức của trẻ nắm bắt chưa được chắc chắn, hay quên , hay nhẫm lẫn với sự vật hiện tượng, kỹ năng của trẻ chưa được rèn luyện tới hiệu quả giáo dục chưa cao. Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta chưa hình thành thói quen chủ động, thích tự trải nghiệm khám phá về thế giới xung quanh. Dựa vào vốn kiến thức đã học và đư¬ợc bồi d¬ưỡng chuyên môn, tôi đã tìm ra một số biện pháp sau: V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Biện pháp 1: Chuẩn bị các điều kiện và phương tiện cho trẻ làm quen với trò chơi hoạt động khám phá: * Môi trường trong và ngoài lớp: – Môi trường là yếu tố trực tiếp tác động hằng ngày đến trẻ. Môi trường trang trí lớp, môi trường học tập, môi trường vui chơi…có vai trò quan trọng đến giáo dục trẻ. – Ở góc thiện nhiên là góc dành riêng cho trẻ để khám phá xung quanh. Ở góc này tôi trồng rất nhiều cây xanh. Tôi bố trí sẵn bình nước tưới, chăm sóc cây để khi trẻ tham gia ở hoạt động góc để trẻ vừa chăm sóc cây và khám phá các loại cây. Trong quá trình chăm sóc ở góc thiên nhiên, trẻ được hình thành kỹ năng, kỹ xảo lao động, được bồi dưỡng phẩm chất yêu lao động, yêu thiên nhiên, có ý thức trách nhiệm trong công việc được giao. Trong hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ quan sát những sự thay đổi của từng ngày, từng mùa của I.TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO TRẺ 4-5 TUỔI HỌC TỐT HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC II. ĐẶT VẤN ĐỀ Giáo dục mầm non là ngành giáo dục hết sức quan trọng, một mắc xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Đến trường trẻ được học, được chơi, được tiếp xúc với nhiều bạn, được sống trong tình thương của cô giáo, được khám phá thế giới bí ẩn xung quanh. Trường Mầm non chính là tổ ấm thứ hai của trẻ. Trẻ mẫu giáo “chơi mà học, học mà chơi”. Trẻ rất hiếu động, tò mò, ham muốn học hỏi, tìm hiểu thế giới xung quanh. Trong khi chơi, trẻ thực sự học để lĩnh hội các khái niệm ban đầu hoặc các tri thức tiền khoa học. Qua đó hình thành bước đầu của phẩm chất đạo đức, khuyến khích việc khám phá khoa học và làm chủ những kiến thức công nghệ trong thời đại mới. Khám phá khoa học là phương tiện để giao tiếp và làm quen với môi trường xung quanh, để giao lưu và bày tỏ nguyện vọng của mình hình thành và nhận thức sự vật, hiện tượng xung quanh mà giáo dục thái độ ứng xử đúng đắn với thiên nhiên, với xã hội cho trẻ. Thông qua môn học này hình thành cho trẻ kỉ năng quan sát, tư duy, phân tích tổng hợp khái quát. Khám phá khoa học với trẻ mầm non là quá trình tham gia các hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên qua đó giúp trẻ được hoạt động và tự phục vụ bản thân. Những công việc đó có thể sẽ là bài học trải nghiệm tốt cho trẻ về khoa học. Khi nói đến trẻ mầm non không ai không biết trẻ ở lứa tuổi này rất thích tìm hiểu, khám phá môi trường xung quanh, bởi thế giới xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều mới lạ hấp dẫn và còn có bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá. Khám phá khoa học mang lại nguồn biểu tượng vô cùng phong phú, đa dạng, sinh động, đầy hấp dẫn với trẻ thơ, từ môi trường tự nhiên (cỏ cây, hoa lá, chim ….) đến môi trường xã hội (công việc của mỗi người trong xã hội, mối quan hệ của con người với nhau …) và trẻ hiểu biết về chính bản thân mình, vì thế trẻ luôn có niềm khao khát khám phá, tìm hiểu về chúng. Khám phá khoa học đòi hỏi trẻ phải sử dụng tích cực các giác quan chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ năng lực quan sát, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp… nhờ vậy khả năng cảm nhận của trẻ sẽ nhạy bén, chính xác, những biểu tượng, kết quả trẻ thu nhận được trở nên cụ thể, sinh động và hấp dẫn hơn. Qua những thí nghiệm nhỏ trẻ được tự mình thực hiện trong độ tuổi mầm non sẽ hình thành ở trẻ những biểu tượng về chính là cơ sở khoa học sau này của trẻ. Chính vì những lí do trên, để tổ chức hoạt động khám phá khoa học đồng thời giúp trẻ hứng thú tiếp cận và học tốt hoạt động khám phá khoa học tôi luôn trăn trở nghiên cứu một số thủ thuật nhằm tạo hứng thú cho trẻ tham gia hoạt động khám phá khoa học một cách tốt nhất. Chính vì lí do trên mà bản thân tôi đầu tư nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp gây hứng cho trẻ 4-5 tuổi học tốt hoạt động khám phá khoa học” III. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Trong các hoạt động giáo dục ở trẻ mẫu giáo, hoạt động học là một trong những hoạt động chủ đạo. Thông qua hoạt động học trẻ được lĩnh hội tiếp thu kiến thức về môi trường xã hội, thế giới xung quanh trẻ. Nhiệm vụ của cô giáo tổ chức hoạt động khám phá như thế nào để trẻ lĩnh hội được kiến thức một cách đơn giản nhưng hiệu quả. Tiếp tục thực hiện chiến lược lấy trẻ làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực chủ động của trẻ. Thông qua trò chơi hoạt động khám phá trẻ được trải nghiệm khám phá, tìm tòi sáng tạo được tự do giao tiếp, vui chơi, hợp tác, chia sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức. Trò chơi trong hoạt động khám phá đóng vai trò quan trọng, trong cuộc sống hằng ngày của trẻ, khơi dậy ở tính tò mò, tạo cho trẻ tính tò mò, tạo cho trẻ khám phá về đặc điểm nổi bật và ích lợi sự việc hiện tượng quen thuộc, một vài mối quan hệ đơn gian giữa sự vật với môi trường xung quanh, cách chăm sóc bảo vệ chúng, đồng thời trao dồi óc quan sát, so sánh nhận xét phán đoán của trẻ hình thành ở trẻ thái độ đúng đắn với sự vật hiện tượng sự vật xung quanh trẻ. IV. CƠ SỞ THỰC TIỂN: Năm hoc 2016- 2017 tôi được nhà trường phân công dạy lớp nhỡ. Đa số các các cháu đã qua lớp bé, đã được làm quen với các hoạt động ở trường mẫu giáo. Việc tổ chức cho trẻ khám phá môi trường xung quanh từ lâu đã được đưa vào. Trong thực tế là giáo viên mầm non tôi rất quan tâm và đã biết cách cho trẻ tham gia vào hoạt động khám phá đạt được một số hiệu quả nhất định. Đó là trẻ hiểu biết một số sự vật hiện tượng xung qanh như biết tên gọi, đặc điểm, ích lợi của sự vật hiện tượng. Thông qua đó hình thành cho trẻ một số kỹ năng nhằm phát triển toàn diện trẻ. Giáo viên còn lúng túng trong việc thuyết kế trò chơi và sử dung trò chơi chưa linh hoạt, phù hợp với đặc điểm cá nhân trẻ và điểu kiện thực tiễn của trường lớp, địa phương. Bên cạnh đó phụ huynh là nông dân, ngày qua ngày lo kinh tế, ít có thời gian quan tâm đến trẻ, mọi hoạt động đều nhờ đến trường, ít có thời gian trò chuyện quan tâm đến con trẻ. Từ đó dẫn đến các kiến thức của trẻ nắm bắt chưa được chắc chắn, hay quên , hay nhẫm lẫn với sự vật hiện tượng, kỹ năng của trẻ chưa được rèn luyện tới hiệu quả giáo dục chưa cao. Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta chưa hình thành thói quen chủ động, thích tự trải nghiệm khám phá về thế giới xung quanh. Dựa vào vốn kiến thức đã học và đư¬ợc bồi d¬ưỡng chuyên môn, tôi đã tìm ra một số biện pháp sau: V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Biện pháp 1: Chuẩn bị các điều kiện và phương tiện cho trẻ làm quen với trò chơi hoạt động khám phá: * Môi trường trong và ngoài lớp: – Môi trường là yếu tố trực tiếp tác động hằng ngày đến trẻ. Môi trường trang trí lớp, môi trường học tập, môi trường vui chơi…có vai trò quan trọng đến giáo dục trẻ. – Ở góc thiện nhiên là góc dành riêng cho trẻ để khám phá xung quanh. Ở góc này tôi trồng rất nhiều cây xanh. Tôi bố trí sẵn bình nước tưới, chăm sóc cây để khi trẻ tham gia ở hoạt động góc để trẻ vừa chăm sóc cây và khám phá các loại cây. Trong quá trình chăm sóc ở góc thiên nhiên, trẻ được hình thành kỹ năng, kỹ xảo lao động, được bồi dưỡng phẩm chất yêu lao động, yêu thiên nhiên, có ý thức trách nhiệm trong công việc được giao. Trong hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ quan sát những sự thay đổi của từng ngày, từng mùa của các lá trên từng cây và cho trẻ tìm tòi sự giống nhau và khác nhau giữa các loại cây với nhau, cây ra hoa, cây ăn quả, cây cho bóng mát. – Từ đó trẻ cảm nhận được vẽ đẹp của thiên nhiên và hình thành thái độ đúng đắn với môi trường, rèn luyện kỹ năng chăm sóc cho cây. * Đồ dùng đồ chơi: Ví dụ góc học tập: Cô chuẩn bị một số loại hoa, quả trang trí ở góc học toán cho trẻ được thực hành trải nghiệm. Ví dụ góc nghệ thuât: Cô chuẩn bị những nguyên vật liệu xé dán hoa, vườn cây ăn quả. – Với những đồ dùng đồ chơi nhà trường đầu tư và bản thân tự làm đã sử dụng khai thác rất hiệu quả vào trong các tiết dạy và hoạt động khác trong ngày tôi cảm thấy trẻ rất hứng thú học. . 2. Biện pháp 2: Một số trò chơi nhằm tạo sự hứng thú cho trẻ hoạt động khám phá khoa học: Đối với trẻ mầm non thì việc “Chơi mà học- học mà chơi” sẽ giúp trẻ tiếp thu những kiến thức một cách dễ dàng và sâu sắc nhất. Sau thời gian trò chuyện, đàm thoại với cô trẻ được hoạt động, được tham gia vào các trò chơi hứng thú. Qua đó, trẻ không chỉ ngồi nghe cô nói và trả lời các câu hỏi của cô mà trẻ còn có cơ hội để bộc lộ các hiểu biết của mình thông qua các trò chơi. Ngoài ra trò chơi còn có tác dụng cũng cố, bổ sung và phát triển thêm các tri thức mà trẻ vừa lĩnh hội, tái tạo lại biểu tượng đã học thông qua những hoạt động thực tiễn. Do đó trò chơi củng cố trong giờ hoạt động khám phá là rất quan trọng. Trò chơi càng phong phú đa dạng bao nhiêu thì các tri thức trẻ lĩnh hội càng sâu sắc và trẻ càng nhớ lâu bấy nhiêu. * Trò chơi 1: “Bắt cá” – Chuẩn bị: Cá, bể nước nông, chậu cá – Cách chơi: Cho trẻ xuống bể bắt cá trong một thời gian là một bản nhạc, bạn nào bắt được nhiều cá hơn thì bạn ấy chiến thắng. – Luật chơi: Thi xem ai bắt được nhiều cá hơn thì bạn ấy chiến thắng. – Nhận xét sau khi chơi: Sau khi trẻ bắt được cá cô hỏi bạn bắt được nhiều cá bí quyết để bắt được cá và cho trẻ quan sát nhận xét con cá vừa bắt được. * Trò chơi 2: “Làm bè trôi trên sông” Sử dụng trong tiết: khám phá khoa học “ vật nổi, vật chìm trong nước” – Chuẩn bị: Dọc mùng, Que xiên, chậu hoặc bể nước nhỏ – Cách chơi: Chia làm hai đội, số lượng trẻ ở mỗi đội bằng nhau. Chia làm hai vòng: + Vòng 1: “Ai khéo hơn ai” Khi có hiệu lệnh chơi trẻ làm những chiếc bè trong một thời khoản thời gian đội nào làm được nhiều hơn thì đội đó chiến thăng vòng 1. + Vòng 2: “Đội nào nhanh hơn” Sau khi làm xong bè, hai đội về hai hang và thi đua xem đội nào thả được nhiều bè hơn thì đội đó chiến thắng trong vòng 2 – Luật chơi: Chơi theo luật tiếp sức, đội nào thả đươc nhiều bè hơn thì đội đó dành chiến thắng. Ví dụ 2: Khi cho trẻ làm quen với chủ đề thực vật cô có thể tổ chức co trẻ chơi với các trò chơi sau đây: * Trò chơi 1: Tìm lá cho cây: – Chuẩn bị: 3-4 giỏ – Cách chơi: Cô chia trẻ tành 3 tổ hoặc 4 tổ mỗi tổ nhặt một số loại là cây rụng ở sân trường theo yêu cầu của cô trongn một khoản thời gian nhất định. Đội nào nhặt đúng yêu cầu của cô đội đó sẽ chiến thắng. Trò chơi 2: Cây cần gì để sống – Chuẩn bị một tờ giấy rô ki và một số hình ảnh về cây xanh và tranh rời về hình ảnh ông mặt trời, bình tưới ước bón phân, hình ảnh con người chăm sóc cây. – Cách chơi: Cho trẻ chơi theo nhóm hoặc cá nhân,Cô phát cho trẻ một rổ đựng tranh rời. Trẻ chon các bức tranh mô phỏng công việc làm đối với cây gắn vào và kể về tranh mình vừa gắn. * Trò chơi ai nhanh hơn – Chuẩn bị: Một số tranh về rau hoặc hoa, quả. – Các chơi: chơi theo nhóm hoặc cá nhân. – Cách 1: Cô sắp xếp 3-4 đối tượng trong đó có 1 đối tượng không cúng nhóm với đối tượng còn lại .Trẻ phải tìm nhanh đối tượng không cùng nhóm với đối tượng còn lại. – Cách 2: Cô vễ một số loại rau ( quả) trong đó có một đối tượng không cùng nhóm . trẻ chỉ ra và gọi được tên. 3. Biện pháp 3: Tạo điều kiện cho trẻ hoạt động trải nghiệm – Trẻ mầm non là lứa tuổi rất hiếu động, thích khám phá, tìm tòi, thích được sờ, ngửi, nắn…Vì vậy một trong những phương pháp giáo dục mang lại hiệu quả cao nhất đối với trẻ khi tổ chức hoạt động khám phá là phương pháp thực hành và trải nghiệm. Thông qua các thao tác nhìn, sờ, ném, ngửi…trẻ dễ dàng lĩnh hội nắm bắt và khắc sâu kiến thức. Khi tổ chức hoat động khám phá khoa học thiếu những thao tác thực hành trải nghiệm thì trẻ không tập trung, chú ý và sẽ không khắc sâu được kiến thức hoặc mau quên. – Vì trẻ mẫu giáo có sự tưởng tượng chưa phong phú, kinh nghiệm sống của trẻ còn ít nên tôi thường xuyên tận dụng các vật thật để dạy trẻ. Khi cho trẻ được tiếp xúc với vật thật thì tôi nhận thấy trẻ hứng thú và nắm bắt kiến thức một cách rõ ràng nhất. – Tạo điều kiện cho trẻ thực hành trải nghiệm với sự vật hiện tượng chính là cho trẻ luôn luôn làm quen với sự vật hiện tượng xung quanh một cách trực tiếp như nhìn, sờ, nếm, ngửi. Trong qua đó trẻ được bộc lộ tính cách và được hình thành phát triển tâm lý và phát triển thêm vốn từ cho trẻ. * Nếm: Ví dụ: Khi tìm hiểu về quả cam tôi dùng quả cam thật cho trẻ quan sát và trải nghiệm, cho trẻ nếm, ngửi. Đây là quả gì? nhìn xem quả cam có hình gì? Màu gì? Hãy sờ xem vỏ của chúng có đặc điểm gì? muốn biết cam có mùi gì hãy đưa lên mũi ngửi xem nào… Tôi bổ cam và cho trẻ nếm thử vị của cam sau đó hỏi trẻ về vị của cam (có trẻ nói chua, trẻ nói ngọt) từ đó tôi giải thích “Qủa cam chưa chín có vị chua, còn quả cam chín có vị ngọt” khi được trải nghiệm thực tế thì trẻ đã nắm vững những kiến thức tôi muốn truyền đạt. Qua bài về quả cam tôi không những đã cho trẻ tìm hiểu một cách tổng quát về quả cam mà còn dạy trẻ kĩ năng bổ cam và vứt rác đúng nơi. * Ngửi: Ví dụ: Khi dạy về các loại hoa. Cô cho trẻ quan sát hoa hồng, hoa cúc và nhận xét được đặc điểm của mỗi loại hoa. Sau đó cô lần lượt cho trẻ ngửi hoa và nhận xét mùi hương của mỗi loại hoa. Ngoài việc tạo cơ hội cho trẻ trực tiếp trải nghiệm với đồ thật vật thật, thông qua hoạt động khám phá tôi còn thường xuyên cho trẻ tham gia trải nghiệm tìm hiểu các hiện tượng thông qua hoạt động thực hành thí nghiệm thí nghiệm đơn giản luôn tạo cho trẻ sự hứng thú, kích thích trẻ tích cực hoạt động, phát triển ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi, phát triển óc quan sát, phán đoán và các năng lực hoạt động trí tuệ. Ví dụ: Thí nghiệm về sự nảy mầm của hạt. * Mục tiêu: Trẻ biết được cây cũng cần thức ăn, ánh sáng và nước mới sinh trưởng được. * Chuẩn bị: Một vài hạt đậu tương, đậu đen…2 khay nhỏ, một ít đất, bình nước tưới. *Tiến hành: Ngâm hạt vào trong nước ấm từ 1 đến 2 tiếng sau đó lấy ra đặt hạt vào khay có sẳn đất. Đặt 1 khay nơi có ánh sáng mặt trời và cho trẻ tưới nước hàng ngày. Khay còn lại đặt trong bóng tối và không tưới nước. Quan sát sau 3 đến 4 ngày cây trong khay được tưới nước hàng ngày sẽ nảy mầm và lớn dần còn khay không tưới sẽ không nảy mầm. Lúc này hãy cho trẻ giải thích hiện tượng nảy mầm và không nảy mầm trên . * Giải thích và kết luận: Cây nảy mầm được nhờ được gieo xuống đất, có ánh sáng và tưới nước đầy đủ sáng có thức ăn trong hạt và nước uống trong đất và ngược lại cây mà không được chăm sóc đầy đủ sẽ không nảy mầm được. Ví dụ: Thí nghiệm về vật nổi vật chìm dưới nước. * Chuẩn bị: Đồ dùng: Các mẫu gỗ, bi sắt đường kính 3-4cm, thìa inox, cục nam châm, một miếng xốp, giấy, chậu đựng nước sạch. Đồ chơi: Thuyền giấy, lá mít trẻ đã gấp, bóng nhựa, đồ chơi nhựa. Tiến hành: Cho trẻ tự lấy đồ chơi đã chuẩn bị sẳn thả vào chậu nước và yêu cầu trẻ nhận xét vật nào chìm? vật nào nổi tại sao? Kết quả: Qua thí nghiệm này giúp trẻ hiểu những đồ vật làm từ những nguyên liệu nặng sắt, thép, nhôm… như bi sắt, bát, thìa inox, ….thì chìm, những đồ vật làm từ nguyên liệu nhẹ: gỗ, xốp, giấy, nhựa,….thì nổi trên nước. Qua việc tạo các điều kiện cho trẻ tiếp xúc các sự vật hiện tượng và môi trường xung quanh bằng các thí nghiệm, thử nghiệm tôi thấy nhận thức của trẻ được mở rộng, khả năng quan sát, tri giác của trẻ phát triển tốt đa số trẻ thể hiện được tính tích cực chủ động khi quan sát đối tượng trong quá trình quan sát trẻ tỏ ra nhanh nhẹn linh hoạt và phát triển nhiều vốn kinh nghiệm, vốn từ của trẻ trở nên phong phú hơn khả năng diễn đạt tốt hơn. 4. Biện pháp 4: Nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh và phân loại ở trẻ. Một trong những phương pháp quan trọng và không thể thiếu đối với khám phá khoa học là quan sát, so sánh và phân loại. Với mỗi bài tuỳ thuộc vào đối tượng cho trẻ làm quen, tôi tìm những cách vào bài khác nhau để gây sự chú ý, tò mò của trẻ, có thể dùng câu đố, bài hát… Để trẻ nhận biết đối t¬ượng bằng tranh ảnh và đồ vật, vật thật và mô hình. Với mỗi đối tư¬ợng trẻ đ¬ược làm quen, trẻ đ¬ược quan sát thật kỹ, trẻ biết đưa ra ý kiến nhận xét của mình, cùng với đó là câu hỏi gợi mở của cô, cứ mỗi lần làm quen nh¬ư vậy tôi lồng ghép nội dung giáo dục vào bài. Trẻ không những hiểu về vật đó mà còn có cách ứng xử, hành động với chúng . Qua các buổi dạo chơi, thăm quan, hoạt động ngoài trời, dã ngoại … khi trẻ quan sát tôi h¬ướng trẻ sử dụng mọi giác quan để trẻ có thể chỉ ra chọn vẹn đối tượng đó. Qua hoạt động cho trẻ quan sát cô đưa ra các câu hỏi đàm thoại để cho trẻ so sánh và phân loại từ đó sẽ phát huy khả năng sáng tạo và tư duy cho trẻ. Ví dụ : Cô và trẻ quan sát bồn hoa của lớp có nhiều loại hoa khác nhau, h¬ướng trẻ nhận biết màu sắc cánh hoa. Cho trẻ sờ cánh hoa thấy mịn và nhẵn. Đư¬a hoa nên ngửi có mùi thơm . Trẻ đ¬ược quan sát kỹ, có đ¬ược đầy đủ các đặc điểm của đối tư¬ợng nên trẻ so sánh rất tốt và phân loại rất nhanh . Dạo chơi thăm quan hoạt động ngoài trời, không những để trẻ khám phá thế giới xung quanh mình mà tôi còn giáo dục tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường. Tôi cũng luôn chú ý kiến thức xã hội với trẻ về công việc của mỗi người, về mối quan hệ giữa con ngư¬ời với nhau, đặc biệt là giáo dục Bảo vệ môi trường. Với trẻ mặc dù kiến thức rất đơn giản như tạo cho trẻ thói quen vứt rác đúng nơi quy định,chăm sóc vườn rau bắt sâu cho rau và ý thức bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp. 5) Phương pháp 5: Kết hợp với với phụ huynh. -Để nâng cao chất lượng hoạt động của trẻ trong trường mầm non để có sự giáo dục toàn bộ giữa gia đình và nhà trường. Gia đình phối hợp với cô gioa để quan tâm đế chế dộ ăn, chế độ sinh hoạt của trẻ về việc dạy trẻ cách ứng sử đúng đắn, giáo dục lòng yêu thương con người và sự vật xung quanh mình. – Giáo viên trao đổi với các bậc phụ huynh để phụ huynh giúp trẻ phát huy tính sáng tạo, tư duy của trẻ trong việc khám khá sự vật hiện tượng xung quanh ở mọi lúc mọi nơi. Nhận được kết quả giúp trẻ nhớ hơn, hiểu và kích thích trí ham học hỏi. VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: Từ việc áp dụng những biện pháp gây hứng thú cho trẻ với giờ hoạt động khám phá khoa học, tôi đã thu được kết quả sau: – Qua các biện phát đã triển khai thực hiện trên trẻ, sau thời gian tổ chức thực hiện đã đem lại hiệu quả rất tốt, các trẻ bị thu hút, lôi cún và thật sự hứng thú vào hoạt động khám phá khoa học. Trẻ tự tin khi nói lên ý kiến của mình . Từ đó trẻ sẽ lĩnh hội được vốn kiến thức, kỹ năng mới cho bản thân mình. Không chỉ có vậy, thông qua các giờ trải nghiệm, khám phá khoa học tư duy của trẻ sẽ được kích thích nhiều hơn, trí tưởng tượng phong phú hơn thông qua đó giúp trẻ phát triển trí tuệ của mình. Sau khi thực hiện đề tài này, tôi đã rút ra cho mình một số bài học kinh nghiệm sau: VII. BÀI HỌC KINH NGHIỆM: Qua quá trình thực hiện đề tài bản thân tôi đã rút ra được những kinh nghiệm như sau: – Bản thân cần phải tích cực tìm tòi học hỏi, nhận thức sâu sắc những nội dung giáo dục và lựa chọn nội dung phù hợp đưa vào dạy trẻ lớp mình. – Mạnh dạn dám nghĩ, dám làm, khắc phục mọi khó khăn để thực hiện thành công ý tưởng của mình. – Phát huy sức mạnh tổng hợp của nhà trường, giáo viên, phụ huynh trong công tác giáo dục và hình thành các kỹ năng trải nghiệm, khám phá cho trẻ. – Tổ chức nhiều hoạt động tạo mọi cơ hội để trẻ được khám phá khoa học tích lũy kiến thức về môi trường xung quanh. – Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, tạo uy tín và tiềm năng đối với phụ huynh và đối với trẻ. – Dạy trẻ bằng tình yêu thương và lòng nhiệt tình. – Luôn tìm tòi, đầu tư thời gian nghiên cứu, sưu tầm thêm các trò chơi áp dụng trong và ngoài tiết học, các thí nghiệm đơn giản nhưng thú vị. VIII. ĐỀ NGHỊ: – Mặt dù đã có kết quả trong giảng dạy nhưng bài viết vẫn còn những hạn chế nhất định, rất mong sự hổ trợ và đóng góp ý chân ttình cấp lãnh đạo và đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi ngày còn hoàn thiện

Đại Thạnh, ngày 27 tháng 2 năm 2017 Người viết

Huỳnh Thị Cẩm Ly

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 2 Hứng Thú Và Ham Thích Đọc Sách / 2023

àng ngày 2A2 35 Số lượng % Số lượng % 15 42.9 8 22.9 Như vậy theo thống kê trên thì số học sinh thích đọc sách chiếm gần nữa sĩ số lớp, tuy nhiên số học sinh có thói quen đọc sách hàng ngày lại rất ít. Đây sẽ là một khó khăn trong việc tìm ra các biện pháp giúp các em thích đọc sách và có thói quen đọc sách hàng ngày. III. Các biện pháp giúp học sinh lớp 2 hứng thú và ham thích đọc sách 1. Giúp học sinh hiểu được vai trò của việc đọc sách, thắp sáng tình yêu đọc sách cho các em 1.1. Đặt ra các câu hỏi để giúp các em hiểu được vai trò của việc đọc sách Việc đọc sách không chỉ giúp học sinh tiếp thu tri thức mà đôi khi còn rèn cho học sinh những kĩ năng, tình cảm và thói quen hữu ích ."Sách là nguồn tri thức của nhân loại", thông qua các hoạt động giáo viên cần giúp các em hiểu được vai trò, ý nghĩa của sách. Đọc sách giúp tăng cường khả năng giao tiếp Giáo viên đặt vấn đề với học sinh: Em có thấy ngại ngùng khi đứng trước đám đông? Em có bao giờ thấy run không biết diễn đạt như thế nào khi đứng trước mọi người? Em có bao giờ cố giải thích một vấn đề nhưng bạn vẫn không hiểu được? Từ những ý kiến trả lời của các em giáo viên sẽ giúp các em hiểu đọc sách thực chất là một quá trình giao tiếp, khi đó chỉ có học sinh và sách tham gia vào quá trình giao tiếp. Quá trình giao tiếp này chỉ diễn ra một chiều mà không có sự đối đáp lại như khi các em giao tiếp cùng bạn. Rèn thói quen đọc sách một thời gian dài sẽ giúp cho các em biết trình bày vấn đề mạch lạc, dễ hiểu, từ đó sẽ mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Không chỉ vậy khi đọc sách các em sẽ tinh tế hơn khi cảm nhận, phán đoán những cảm xúc, thái độ của người khác, hình thành những phản xạ và sự nhanh nhạy khi học tập và giải quyết mọi việc. Đọc sách giúp rèn luyện năng lực, khả năng tưởng tượng, sáng tạo Khi các em đọc một quyển sách nói về "bạn bè" trong suy nghĩ của các em sẽ hình dung và liên tưởng đến người bạn thân của mình. Hoặc khi nói về "hoa mai" các em sẽ nghĩ đến đây là loại hoa nhiều cánh, thường nở vào mùa xuân và mọi người rất thích ngắm nhìn, Như vậy việc đọc sách hằng ngày thực chất là một quá trình quan sát mọi vật xung quanh thông qua chữ viết để rèn luyện trí tưởng tượng, sự sáng tạo và có thể so sánh những nội dung đọc trong sách với những điều diễn ra trong cuộc sống. Không đọc sách chúng ta khó có thể thực hiện được những điều này. Đọc sách giúp sống tốt trong xã hội và dạy làm người Lời nói, suy nghĩ và việc làm của một người luôn hướng tới lẽ phải, cái hay cái đẹp, hướng tới lợi ích của những người xung quanh, cách sống đó thể hiện là một người sống tốt trong xã hội. Ví dụ: Dạy các em đọc những quyển sách thể dục thể thao sẽ giúp các em rèn luyện sức khỏe dẻo dai và bền bỉ hơn, đọc sách lịch sử sẽ giúp các em tự hào về truyền thống hào hùng của dân tộc, tự hào là người Việt Nam và thêm yêu tổ quốc, đọc sách văn học sẽ giúp các em sử dụng tốt từ ngữ khi viết, biết cảm nhận văn chương, Đọc sách giúp rèn luyện năng lực ngôn ngữ Giáo viên đặt vấn đề để học sinh tự nhận xét bản thân: Em thường viết sai chính tả và rất ngại vì sợ các bạn chê trách. Em thường viết câu không đúng ngữ pháp hoặc các câu không có đủ các thành phần chính. Em thường diễn đạt câu chưa rõ ràng, mạch lạc, hoặc vốn từ vựng của em quá ít nên em gặp khó khăn trong việc trình bày ý kiến để các bạn hiểu,Việc đọc sách là việc làm hữu hiệu nhất để giúp các em học sinh giải quyết những vấn đề nêu trên, đọc sách sẽ giúp học sinh khắc phục được sai sót trong việc sử dụng từ ngữ. Chẳng hạn khi đọc một cuốn sách văn, em thấy tác giả dùng những từ ngữ rất hay để miêu tả bầu trời với những trạng thái khác nhau. Em sẽ thấy những câu văn ngắn nhưng lại đầy đủ các thành phần câu. Em sẽ thấy được cách sử dụng những từ ngữ mà trước đây em chưa biết sử dụng như thế nào cho phù hợp, Qua việc đọc sách trong thời gian dài, sự tập trung và tinh ý sẽ giúp em hình thành kĩ năng ngôn ngữ. 1.2. Thắp sáng tình yêu đọc sách cho học sinh qua đoạn phim: "Cuốn sách và chiếc giỏ đựng than" Để có thể thắp sáng tình yêu đọc sách cho học sinh thì giáo viên có thể cho các em xem đoạn phim: "Cuốn sách và chiếc giỏ đựng than". Có thể nhìn người lớn đọc sách các em cũng bắt chước đọc theo, tuy nhiên các em sẽ không có tình yêu và niềm say mê đọc sách hàng ngày nếu không hiểu được ý nghĩa của việc đọc sách. Vì vậy đoạn phim này sẽ phần nào khơi gợi tình yêu và niềm say mê đọc sách trong chính các em. (Nội dung câu chuyện "Cuốn sách và chiếc giỏ đựng than" ở phần phụ lục, đoạn phim kèm theo đĩa CD). 2. Xây dựng thư viện vui, sắp xếp sách phù hợp, tạo không gian xanh cho các em đọc sách Các em sẽ chính là người tạo nên thư viện vui của lớp. Các em sẽ cùng trang trí thư viện với những đồ vật các em yêu thích và sắp xếp các loại sách do các em mang đến. Những loại sách ở giai đoạn này là những quyển truyện tranh vui, tranh lịch sử,.. có màu sắc đẹp và hấp dẫn. Tổ chức các giờ đọc sách để tạo cho các em rèn thói quen đọc vào các giờ Thư viện buổi chiều thứ 4 hàng tuần, sinh hoạt tập thể. Ban đầu, giáo viên có thể đọc cho học sinh nghe một đoạn của quyển sách để thu hút các em, sau đó có thể cho các em đọc theo nhóm và trao đổi, chia sẻ những nội dung các em vừa đọc. Thường xuyên thay đổi không gian đọc để các em hứng thú và không bị nhàm chán, gò bó. Ví dụ đọc sách ở thư viện, lớp học, sân trường, Các loại sách sẽ được thay đổi phù hợp với từng thời điểm và phù hợp với nhu cầu của học sinh theo giai đoạn. Ví dụ: Giai đoạn cuối học kì I giáo viên có thể thay thế các quyển truyện tranh lịch sử bằng những câu chuyện lịch sử, các danh nhân, sách dạy làm người, Giai đoạn học kì II có thể bổ sung thêm các loại sách về tìm hiểu, khám phá thiên nhiên, khoa học, 3. Theo dõi việc đọc sách hàng ngày của học sinh Tháng 9: 50 điều cần thiết cho học sinh tiểu học. Tháng 10: Bộ sách rèn kĩ năng sống cho học sinh. Tháng 11: Kĩ năng sống - 168 câu chuyện hay nhất. Tháng 12: Góc sân và khoảng trời. Tháng 1: Cái ô kì diệu. Tháng 2: Chuyện Hoa, chuyện Quả. Tháng 3: Dế Mèn phiêu lưu ký. Tháng 4: Truyện khoa học cho bé. Tháng 5: Phép màu tuổi thơ. Để nắm được việc đọc sách của học sinh, giáo viên nên có hình thức theo dõi phù hợp, chẳng hạn dùng phiếu thống kê học sinh hoàn thành cuốn sách. Mỗi tháng, giáo viên sẽ dán phiếu thống kê vào góc thư viện lớp để theo dõi việc học sinh đã đọc và hoàn thành quyển sách đó hay chưa. Khi học sinh đọc xong cuốn sách sẽ tô màu vào ô số thứ tự của mình. Những tháng đầu tiên số lượng học sinh hoàn thành việc đọc sách của cả lớp còn ít, nhưng những tháng tiếp theo số lượng học sinh hoàn thành cuốn sách ngày càng nhiều hơn. Có thể định hướng việc đọc sách của các em bằng các bước khi đọc sách như sau: Khi đó giáo viên sẽ thưởng cho học sinh bằng một mặt cười hoặc phần quà nhỏ để động viên, khích lệ các em. Điều đó sẽ làm các em có thêm động lực để đọc sách mỗi ngày, giúp các em ham thích đọc sách hơn, thi đua để đọc sách với nhau. 4. Tổ chức các cuộc thi để giúp các em hứng thú và ham thích đọc sách hơn 4.1. Thi thiết kế các khẩu hiệu để tuyên truyền về ý nghĩa của việc đọc sách Trong lớp giáo viên nên treo các khẩu hiệu cổ động cho việc đọc sách, điều này sẽ một phần nhắc nhở các em hàng ngày đọc sách và hiểu được hơn ý nghĩa của việc đọc sách. Giáo viên nên cho học sinh thi thiết kế khẩu hiệu này theo nhóm, mỗi nhóm tự thiết kế một khẩu hiệu và treo ở một vị trí trong lớp dễ nhìn thấy nhất. Học sinh lớp tôi đã thiết kế một số khẩu hiệu sau: Học sinh sẽ nhìn thấy các khẩu hiệu này mỗi ngày, mỗi giờ ra chơi nên các em như được nhắc nhở và sẽ ngày càng hứng thú hơn với việc đọc sách. 4.2. Thi thiết kế bìa sách, truyện đã đọc Để học sinh hào hứng hơn sau mỗi khi đọc sách, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thi thiết kế lại bìa sách theo nhóm, mỗi nhóm thiết kế một bìa sách, truyện đã đọc, các em có thể chọn một chi tiết, nhân vật hoặc nội dung mà mình thích nhất trong sách đó để vẽ thành bìa sách, không nhất thiết phải vẽ giống bìa ngoài của sách đó. Học sinh lớp tôi đã vẽ lại bìa một số bìa sách sau: 4.3. Thi kể chuyện, đọc thơ về các câu chuyện tìm hiểu được trong sách Sau khi học sinh đọc xong các câu chuyện trong sách, đặc biệt là các câu chuyện cổ tích, giáo viên có thể cho học sinh thi kể lại các câu chuyện đó theo từng đoạn, chẳng hạn khi đọc xong câu chuyện "Nàng tiên ốc", học sinh sẽ kể lại câu chuyện theo nhóm 3, mỗi bạn kể một đoạn tương ứng với từng tranh. Khi được kể lại câu chuyện đã đọc cho cả lớp nghe, các bạn sẽ ghi nhớ hơn câu chuyện đó và cũng làm cho học sinh thích thú, các bạn sẽ tìm đọc câu chuyện này. Ngoài ra, giáo viên cũng có thể cho học sinh đọc các bài thơ về các câu chuyện, qua đó học sinh sẽ ghi nhớ hơn nội dung truyện và yêu thích hơn câu chuyện đó. Ví dụ khi đọc xong quyển sách: "Chuyện Hoa chuyện Quả - Cái ô đỏ", có thể cho học sinh đọc bài thơ: Truyện cái ô đỏ Bạn ơi cùng nghe truyện kể Nguồn gốc ra đời của quả, của hoa Phạm Hổ ngòi bút tài ba "Chuyện Hoa, chuyện Quả" kể ra tài tình. Râm Bụt loài hoa nhỏ xinh Sắc màu đỏ chói ấm lòng thiết tha. Truyện kể với cả chúng ta: Ngày xưa, xưa ấy có anh là Cành Có em là Búp, liệt chân. Anh Cành thương xót quyết tâm chữa lành. Liền đi lên núi tìm Tiên Để xin bài thuốc chữa cho em mình. Ngờ đâu thấy Bụt hiện hình, Rồi rằng: Nếu chữa, Cành lại liệt thay! Cành gật đầu, đồng ý ngay. Về may ô đỏ hôm sau đón mừng Bụt từ núi về chữa chân Cho Búp lành lặn tung tăng vui vầy Lạ thay em Búp khỏe rồi Mà chân Cành vẫn chẳng hề liệt đi. Bụt cười, Bụt nói: Thử thôi! Để xem anh có thật lòng thương em? Nay ta chữa khỏi cho xem Anh em Cành - Búp thỏa mong tháng ngày Nói rồi Bụt nhẹ cầm ô, Chấm lên cái bụi cây xanh trước nhà. Bất ngờ muôn ngàn đóa hoa Rực rỡ nở rộ trên nền cây xanh Hoa ấy ngày nay gọi nhanh, Là hoa Râm Bụt thắm tình anh em. Mời anh, mời chị gần xa Cùng bao bạn nhỏ chúng ta đọc cùng Cuốn sách Phạm Hổ kì công Sáng tạo nên những cuộc đời đáng ghi Đọc để hiểu, đọc để thông. Mở mang tri thức muôn bề cho em "Chuyện Hoa, Chuyện Quả" tặng nhau Món quà ý nghĩa, sách vui hội này! Học sinh có thể học thuộc các bài thơ này hoặc sưu tầm thêm những bài thơ khác về các câu chuyện trong sách mình đọc. 4.4. Thi đua: Triệu phú tri thức Các con sẽ hào hứng và ham thích việc đọc sách hơn nếu được khích lệ kịp thời. Vì vậy giáo viên có thể tổ chức cho các em cuộc thi "Triệu phú tri thức", mỗi khi học sinh đọc hết một quyển sách, giáo viên sẽ tặng các em một đồng xu "Chăm đọc sách", cuối tuần sẽ tổng kết xem bạn nào dành được nhiều đồng xu nhất sẽ trở thành triệu phú tri thức của lớp trong tuần đó và sẽ được vinh danh lên bảng thi đua, nhận quà của lớp. Đây là những đồng xu mà các em được nhận sau khi hoàn thành cuốn sách. Chăm đọc sách Chăm đọc sách Chăm đọc sách Chăm đọc sách Chăm đọc sách Cứ như vậy, sau mỗi tuần các em sẽ càng thích đọc sách hơn và thi đua nhau cùng đọc sách. 4.5. Thi tìm hiểu nội dung sách, thi vẽ tranh về câu chuyện tìm hiểu được trong sách Nhằm giúp học sinh ôn lại nội dung truyện, rút ra bài học cho bản thân mình qua mỗi câu chuyện, giáo viên có thể tổ chức cho các em thi tìm hiểu về câu chuyện, vẽ một bức tranh về câu chuyện em đã đọc. Học sinh lớp tôi đã rất tích cực tham gia và chia sẻ với các bạn trong lớp về nội dung câu chuyện đó. Khuất Trung Đức - 2A2 Đỗ Thu Hà - 2A2 Ngô Lan Hương - 2A2 Đinh Thế Sơn - 2A2 Đinh Hoàng Tùng - 2A2 Phan Hà Trang - 2A2 Đỗ Tú Khanh - 2A2 Điều đó sẽ làm cho các em thấy được ý nghĩa của việc đọc sách, còn rèn được tính kiên trì, lối tư duy khái quát, tư duy sáng tạo và khả năng vẽ tranh. 5. Tổ chức ngày hội đọc và đổi sách ở trường Để học sinh có cơ hội được đọc nhiều quyển sách mới và khám phá thế giới tri thức mới thì các giáo viên trong trường có thể kết hợp để tổ chức ngày hội đọc và đổi sách cho học sinh. Các em sẽ mang những quyển sách, truyện mà mình đã được đọc đến, mỗi quyển sách sẽ được quy đổi thành phiếu tương ứng với giá tiền trên bìa của sách, cụ thể như sau: Sau đó các lớp sẽ cùng bày gian hàng sách của lớp mình rồi dùng phiếu đổi sách đi đến các gian hàng khác đổi lấy sách mà mình yêu thích. Nhờ vậy các bạn sẽ có thể chia sẻ cho nhau những quyển sách hay mà mình đã đọc. 6. Tổ chức một số trò chơi 6.1. Trò chơi sắm vai Sắm vai là một trò chơi giúp các em dễ ghi nhớ nội dung câu chuyện sau khi đọc sách, giúp các em hứng thú nhiều hơn với việc đọc sách. Chẳng hạn khi đọc xong câu chuyện Tôm Càng và Cá Con, học sinh có thể sắm vai các nhân vật để kể lại câu chuyện. Khi được thể hiện nhân vật mà mình thích, các em rất hào hứng và kể lại một cách sôi nổi. Từ đó các em sẽ càng yêu thích đọc sách và tự giác đọc sách mỗi ngày. Trò chơi này có thể áp dụng được với nhiều câu chuyện, đặc biệt là các câu chuyện có nhiều nhân vật. 6.2. Trò chơi múa rối Học sinh tiểu học rất yêu thích hình ảnh, màu sắc, vì vậy có thể tổ chức cho các em trò chơi múa rối, chẳng hạn sau khi đọc xong câu chuyện "Rùa và Thỏ", các em sẽ vẽ tranh trên giấy A0 làm bối cảnh, vẽ các nhân vật: Rùa, Thỏ và điều khiển các con vật này theo diễn biến câu chuyện (giống như múa rối cạn). Trò chơi này vừa giúp các em ghi nhớ nội dung câu chuyện, vừa rèn cho các em trí tưởng tượng phong phú và sự sáng tạo. 7. Kết hợp với nhà trường và phụ huynh học sinh Giáo viên có thể kết hợp với cô giáo dạy thư viện của lớp để giới thiệu với các em những quyển sách phù hợp với từng khối lớp nhằm giúp các em định hướng được nên đọc những quyển sách nào theo từng giai đoạn của kiến thức đang học. Ví dụ: Ở khối lớp 2 cô giáo có thể giới thiệu những quyển truyện tranh về một số nhà tri thức nổi tiếng như: "Anh-xtanh Cuộc đời và vũ trụ", "Những câu chuyện về Đạo đức Hồ Chí Minh", hoặc các sách về lễ hội Việt Nam như: "Lễ hội Tây Nguyên", "Lễ hội dân gian ở Nam Bộ" Bên cạnh đó, giáo viên nên kết hợp với phụ huynh học sinh trang bị một vài loại sách phù hợp với các em để các em đọc và giải trí ở nhà, hoặc cho các em đi đến nhà sách để chọn những quyển sách mà mình yêu thích. Có thể cho các em giao lưu trao đổi sách với nhau sẽ giúp các em thấy vui và thích tìm hiểu về sách hơn để có thể chia sẻ nội dung cùng bạn. Ở nhà, phụ huynh cũng nên là một tấm gương về việc đọc sách cho các em noi theo, phụ huynh nên đọc sách cùng con em mình mỗi ngày và điều đó sẽ kích thích các em đọc sách nhiều hơn. Ngoài ra hãy coi sách là một món quà mà giáo viên, phụ huynh có thể tặng cho các em vào các dịp sinh nhật, Tết Trung thu, Tết Thiếu nhi, cuối năm học hay khi các em có thành tích đáng khen ngợi... Khi đó, các em sẽ trân trọng món quà mà mình được tặng và sẽ càng yêu quý sách hơn. Như vậy, tất cả các biện pháp nêu trên sẽ giúp các em ngày càng yêu sách và thích đọc sách hơn. Để dễ hình dung lại và ghi nhớ các biện pháp đó, có thể tóm tắt bằng sơ đồ tư duy sau. IV. Kết quả thu được của sáng kiến kinh nghiệm Sau khi áp dụng những biện pháp như trên tôi thấy học sinh lớp tôi đã hứng thú, say mê đọc sách hơn, tự giác đọc sách hàng ngày như một thói quen. Các em có thể mạnh dạn trao đổi với bạn bè, thầy cô những nội dung các em đã tìm hiểu thông qua sách, báo. Học sinh của lớp tôi ngày càng tự tin hơn vì trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy khi đề cập đến một vấn đề mà các em hiểu biết thì các em sẽ mạnh dạn hơn trong quá trình giao tiếp. Điều đặc biệt là sau khi áp dụng những biện pháp trên, tôi thấy tất cả các giờ Tập đọc, Kể chuyện, học sinh lớp tôi đều rất thích học. Chính vì vậy mà trong hội thi Giáo viên dạy giỏi năm học 2017- 2018, bản thân tôi đã đạt giải Nhất cấp huyện với phần thực hành dạy tiết Tập đọc bài Bé Hoa - Lớp 2. Đây cũng là động lực để giúp tôi viết SKKN này. Ngoài ra, các em trước còn hạn chế về khả năng giao tiếp, viết chính tả còn sai nhiều hoặc viết văn chưa tốt thì giờ đây đã tiến bộ hơn rất nhiều, khắc phục được các lỗi chính tả và diễn đạt câu hay gặp. Lớp tôi đã xây dựng được một thư viện vui với nhiều loại sách và truyện hay để giúp các em tự chủ động tìm hiểu và tự chủ động rèn bản thân có thói quen đọc sách mà không cần nhắc nhở. Thông qua việc đọc sách cũng đã giáo dục đạo đức cho các em, các em đã rèn được tính kiên trì trong học tập cũng như trong cuộc sống, không bỏ cuộc một sách dễ dàng, tham gia các trò chơi nhẹ nhàng, không chạy nhảy đùa nghịch nhiều, không nóng vội khi giải quyết vấn đề, Cụ thể kết quả thực nghiệm thu được của sáng kiến kinh nghiệm như sau: Lớp Sĩ số Số học sinh thích đọc sách Số học sinh đọc sách hàng ngày 2A2 35 Trước khi áp dụng các biện pháp Sau khi áp dụng các biện pháp Trước khi áp dụng các biện pháp Sau khi áp dụng các biện pháp Số lượng % Số lượng % Số lượng % Số lượng % 15 42.9 35 100 8 22.9 32 91.4 Như vậy rõ ràng những biện pháp mà sáng kiến kinh nghiệm đưa ra đã mang lại hiệu quả rất khả quan trong việc giúp học sinh yêu thích đọc sách hơn và có thói quen đọc sách hàng ngày. Đó là điều động viên, khích lệ rất lớn đối với giáo viên chúng tôi. PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ I. Kết luận Sách là nguồn kho tàng kiến thức vô tận, nó giúp cho con người khám phá nhiều điều, mở rộng hiểu biết và hình thành nhân cách. Vì vậy, việc rèn thói quen đọc sách cho các em học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là một việc làm vô cùng ý nghĩa. Giáo viên nên áp dụng những biện pháp phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình để giúp các em ham thích đọc sách hơn cũng như có thói quen đọc sách hàng ngày. Nếu các em duy trì được thói quen đó thì sau này nó sẽ giúp ích cho các em rất nhiều trong công việc và trong cuộc sống. Để có được điều đó cũng không phải dễ dàng ngày một ngày hai, mà đòi hỏi cả một quá trình giáo viên kiên trì theo dõi học sinh, kịp thời động viên khích lệ các em đọc sách và giúp các em khắc phục những khó khăn thường gặp khi đọc sách. Tôi hi vọng sáng kiến trên sẽ giúp ích được cho các đồng nghiệp của tôi khi hướng dẫn học sinh đọc sách, giúp học sinh thực sự yêu thích việc đọc sách và đọc sách một cách thường xuyên như một thói quen không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. II. Khuyến nghị Để sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện một cách hiệu quả nhất, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến sau: - Đối với giáo viên: Giáo viên cần sát sao ban thư viện của lớp để giúp các em sắp xếp các loại sách phù hợp để dễ tìm kiếm. Giáo dục các em ý thức giữ gìn sách và biết sắp xếp đúng vị trí sau khi đọc xong. Giáo viên cần có sự kiểm tra và chọn lọc nội dung các loại sách phù hợp để các em tham khảo theo đúng chủ ý của giáo viên và theo từng giai đoạn, từng đối tượng. Cần thường xuyên kết hợp với phụ huynh học sinh để theo dõi việc đọc sách ở nhà của học sinh. - Đối với nhà trường: Nhà trường nên trang bị đầy đủ hơn nữa về cơ sở vật chất cho thư viện của các lớp, thư viện của trường, trang bị thêm nhiều sách truyện để tất cả học sinh đều được đọc sách mình yêu thích, thực hiện hiệu quả hơn nữa các tiết học thư viện của học sinh để mỗi giờ đọc sách tại thư viện đối với học sinh sẽ thực sự có ý nghĩa. Đồng thời kết hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh để họ thực sự hiểu về vai trò, ý nghĩa của sách đối với học sinh. Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác! Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 5 năm 2018 TÀI LIỆU THAM KHẢO GS.TS. Bùi Văn Huệ - Giáo trình Tâm lý học Tiểu học - NXB Giáo dục Hà Nội. Nguyệt Minh - Làm gì khi con ham chơi - NXB Từ điển Bách Khoa. Phạm Hổ - Chuyện Hoa - Chuyện Quả - NXB Kim Đồng. Suglyama Koulchi - Phương pháp giáo dục con của người Nhật - NXB Văn hóa thông tin. Thông tư 22/2016/TT - BGDĐT về quy định đánh giá học sinh tiểu học.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm “Một Số Biện Pháp Giúp Duy Trì Sĩ Số Trẻ 5 / 2023

“Một số biện pháp giúp duy trì sĩ số trẻ 5-6 tuổi”

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1.  Lý do chọn đề tài

     Xã hội ngày càng phát triển, thì yêu cầu về giáo dục cũng được nâng cao. Đòi hỏi trong xã hội ai cũng được học hành, được tiếp thu được kiến thức kỹ năng, kỹ xảo từ nhà trường để phục vụ cuộc sống sau này. Chúng ta ngày đêm đang ra sức phổ cập giáo dục ở các cấp học. Đặc biệt là phổ cập giáo dục trẻ em 5 tuổi.

     Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chia sẻ về công tác phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi: “Chăm lo các trẻ 5 tuổi bây giờ chính là cho tương lai đất nước sau gần nửa thế kỷ nữa. Nếu bây giờ không làm thì chúng ta sẽ có lỗi với thế hệ sau”.

       Vì sao chúng ta lại chọn độ tuổi phổ cập là 5 tuổi? Vì độ tuổi này rất quan trọng bởi các em hình thành khả năng ngôn ngữ bước vào lớp 1. Ở vùng dân tộc, miền núi thì điều này không dễ dàng bởi các em ở nhà không nói tiếng Kinh nên khi bước vào lớp 1 học rất khó khăn. Chúng ta đã chứng kiến những em học trường phổ thông dân tộc nội trú, sau 10 năm học phổ thông mà tiếng Kinh vẫn không thạo bởi vì yếu ngay từ lớp 1, không được học mầm non…

       Cho nên thứ nhất mầm non 5 tuổi tạo nền tảng ngôn ngữ cho các em và thứ 2 là thói quen sinh hoạt, học tập trong tập thể để học có hiệu quả cho nên chúng ta chọn phổ cập ở độ tuổi này. Bên cạnh đó, khi học ở 5 tuổi các em được bồi dưỡng về thể lực góp phần chống suy dinh dưỡng, trạng thái phát triển về khả năng suy nghĩ rất quan trọng. Theo thống kê của các nhà khoa học, đến hết 6 tuổi thì trên 50% khả năng trí tuệ của người lớn đã được hình thành cho nên chuẩn bị cho 5 tuổi là nền tảng suốt cuộc đời các em.

      Việc duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần ở trường mầm non đóng một vai trò rất quan trọng trong việc học tập của trẻ nói riêng và trong việc thực hiện phổ cập giáo dục nói chung. Nó là nền tảng giúp trẻ lĩnh hội kỹ năng, kiến thức một cách đầy đủ và hình thành thói quen, nề nếp tốt cho trẻ bước vào lớp 1

       Chính vì vậy mà việc duy trì sĩ số là vấn đề hết sức quan trọng trong giáo dục đào tạo đặc biệt là trong giai đoạn thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục hiện nay. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp duy trì sĩ số trẻ 5-6 tuổi”

1.2.  Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

     Nhận thấy được tầm quan trọng của duy trì sĩ số trẻ 5-6 tuổi có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nề nếp và thói quen học tập tốt cho trẻ mầm non.

   Đối tượng nghiên cứu thuộc lứa tuổi mẫu giáo lớn theo độ tuổi: 5-6 tuổi.

1.3.  Mục đích nghiên cứu

    Nhằm giúp cho các bậc phụ huynh có cái nhìn đúng đắn và hiểu được tầm quan trọng của bậc học mầm non. Từ đó, phối hợp cùng giáo viên có biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi hứng thú và đi học đều.

    Để trẻ phát triển một cách tốt nhất về thể lực và sức khỏe. Đòi hỏi giáo viên cần có một kế hoạch cụ thể và đưa ra các phương pháp phù hợp để giúp trẻ phát triển một cách hài hòa và tạo cho trẻ tâm thế vui vẻ, thoải mái khi đến trường. Vì vậy, tôi đưa ra “ Một số biện pháp giúp duy trì sỉ số trẻ 5-6 tuổi”

2. PHẦN NỘI DUNG

2.1. Cơ sở lý luận:

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, mở đầu cho các bậc học tiếp theo. Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mầm non là hình thành nhân cách cho trẻ và tạo tiền đề vững chắc cho trẻ bước vào lớp 1. Như vậy, việc chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ là vô cùng quan trọng, cần thiết trong quá trình đào tạo nhân cách con người giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.

Trẻ em hôm nay- Thế giới ngày mai, trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha anh. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, thương yêu và phát triển. Khi xã hội ngày càng phát triển thì giá trị con người ngày càng được nhận thức đúng đắn và được đánh giá toàn diện. Vì một tương lai tươi sáng, trẻ em sẽ trở thành chủ nhân hữu ích của tương lai, thì ngay từ tuổi ấu thơ trẻ phải được hưởng nền giáo dục phù hợp và hiện đại.

Chính vì thế, một vấn đề quan trọng cần thiết nhất hiện nay không chỉ riêng tôi mà tất cả giáo viên cần phải biết làm sao để duy trì sĩ số lớp, trẻ đi học đều. Muốn vậy, thì mỗi giáo viên nói chung và bản thân tôi nói riêng phải làm như thế nào? Bằng cách nào? Để có những biện pháp giúp duy trì sĩ số lớp, đảm bảo tỉ lệ chuyên cần và nhằm thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục trẻ 5 tuổi.

Căn cứ theo quyết định số 239/QĐ-TTg Quyết định Thủ tướng Chính phủ ngày 09 tháng 02 năm 2010, Quyết định 264/ QĐ-UBND ngày 21 tháng 01 năm 2011của Ủy ban nhân dân Tỉnh, Quyết định số 657/QĐ-SGDĐT-GDMN ngày 15 tháng 08 năm 2012 của Sở giáo dục đào tạo Bình Dương, Công văn số 43/PGDĐT-MN ngày 11 tháng 12 năm 2012 của Phòng Giáo dục và Đào tạo Dầu Tiếng, hướng dẫn Hồ sơ Công Nhận Phổ Cập Mầm Non cho trẻ 5 tuổi để có kế hoạch thực hiện phổ cập giáo dục.

         Nhận thấy tầm quan trọng của việc cho trẻ đến trường. Vì vậy Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành hướng dẫn thực hiện “Dự án tăng cường khả năng đi học cho trẻ mầm non”. 

2.2.  Cơ sở thực tiễn:

   Thấy được sự quan trọng của việc duy trì sĩ số lớp học. Tôi cố gắng tìm ra một số biện pháp giúp trẻ hứng thú, thích thú đi học. “mỗi ngày đến trường là một ngày vui” theo những cách tốt nhất.

          Nó đặt nền tảng cho việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ mầm non và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một, một trong những lớp học đầu tiên giúp trẻ có một sức khỏe tốt và thể lực đầy đủ để có thể thích ứng cho việc học tập giúp trẻ tiếp thu một cách tốt nhất những kiến thức hỗ trợ và giúp ích cho tương lai sau này đặt nền tảng cho việc học tập ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Mục tiêu mà giáo dục mầm non vươn tới đó là: Giúp trẻ phát triển đầy đủ 5 mặt về nhận thức,  thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn. Trách nhiệm này đặt trên vai ngành giáo dục đòi hỏi ngành phải có những nội dung, chương trình phù hợp, đổi mới phương pháp dạy và học một cách tích cực “ Học đi đôi với hành” giúp trẻ không chỉ học một biết mười mà qua quá trình học tập trẻ có thể ứng dụng, trải nghiệm và phát triển về thể chất giúp trẻ thay đổi cách học tập, vận động một cách thụ động mà thay vào đó là quá trình học tập vận động , sáng tạo phù hợp với lối sống hiện đại năng động, tích cực giúp trẻ không chỉ phát triển đầy đủ vể kiến thức và còn nâng cao về tầm vóc và thể lực trong quá trình vận động sau này.

Để giúp cho giáo viên nắm vững nội dung yêu cầu và phương pháp phù hợp với chương trình chăm sóc nâng cao thể lực cho trẻ mầm non.

     Tôi đã áp dụng những kinh nghiệm và sáng tạo trong việc giúp trẻ hứng thú và tạo nhiều môi trường thuận lợi để có thể duy trì sĩ số lớp và đảm bảo chuyên cần trẻ 5 tuổi. Điều này đòi hỏi giáo viên chúng tôi phải khéo léo trong việc tổ chức và tích hợp các hoạt động vui chơi, học tập, lao động một cách nhẹ nhàng, thoải mái, hợp lí, phù hợp và đầy đủ về các mặt tạo để thu hút trẻ cũng như sự an tâm, tin tưởng từ các bậc phụ huynh.

2.3. Thực trạng của vấn đề

Trong những năm gần đây, bậc học mầm non đưa ra chỉ tiêu huy động trẻ ra lớp ngày một cao, đây là chủ trương đúng đắn của ngành nhằm làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục và công tác phổ cập giáo dục, mà mục tiêu hàng đầu đặt ra là phải vận động trẻ ra lớp và duy trì sĩ số, vì thành công trong cuộc vận động trẻ ra lớp học và duy trì sỉ số lớp sẽ góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học của trường nói chung và của lớp nói riêng. Vì vậy vai trò, trách nhiệm của cô giáo mầm non cần phải nâng cao. Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để tất cả các cháu được vui chơi và học tập trong trường mầm non, mẫu giáo với các bạn cùng lứa tuổi? Đó chính là mối quan tâm chung của toàn xã hội mà trong đó cô giáo mầm non là người giữ vai trò quan trọng.

* Thuận lợi :

– Ban giám hiệu luôn quan tâm sâu sát, khuyến khích giáo viên tạo môi

trường thân thiện – học sinh tích cực trong trường, lớp.

– Hàng tháng nhà trường có kế hoạch tổ chức dự giờ thao giảng giữa các giáo viên và dự giờ thao giảng các trường bạn để học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

– Được sự quan tâm, hỗ trợ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo địa phương. Đặc biệt là lãnh đạo ấp An Thọ. 

* Khó khăn :

          - Trẻ còn thiếu tự tin, chưa thực sự mạnh dạn bày tỏ hết ý muốn, nguyện vọng, khả năng cũng như những hiểu biết của mình.

          – Trẻ chưa thể hiện, diễn đạt được suy nghĩ, hiểu biết của mình  một cách rõ ràng, mạch lạc.

          -  Sĩ số trẻ ít có 16 trẻ nên việc duy trì sĩ số trẻ và đảm bảo bảo tỉ lệ chuyên cần lại càng gặp khó khăn.

          -  Đặc thù của đơn vị phụ huynh 100% là công nhân cao su trực tiếp khai thác mủ nên thời điểm sau tết cao su rụng lá, công nhân tạm thời nghỉ cạo để trang bị phần cây phụ huynh cho cháu nghỉ học theo ra lô.

          - Các phụ huynh chưa nhận thức và hiểu được tầm quan trọng của bậc học mầm non cũng như việc cho trẻ đi học đều nên khi giáo viên trò chuyện và trao đổi phụ huynh thờ ơ hoặc còn hời hợt.

          – Một số trẻ chưa được học qua lớp mầm, chồi nên còn bỡ ngỡ, nhút nhát, chưa hình thành nề nếp, thói quen đi học.

         –  Diện tích và không gian sân trường, khu vui chơi còn nhiều hạn chế, chưa đủ không gian, địa điểm cho trẻ hoạt động và vui chơi chưa thực sự hiệu quả

        – Cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi còn hạn chế, chưa có các phòng chức năng, chưa thật sự tạo cho trẻ không gian thoải mái, đáp ứng nhu cầu vui chơi của trẻ.

        - Khả năng xây dựng kế hoạch và sự sáng tạo của một số giáo viên còn hạn chế. Chưa tích hợp được các chuyên đề vào làm phong phú các hoạt động để thu hút trẻ.

  *Khảo sát trình độ khả năng của trẻ / lớp và nhu cầu, hứng thú thích được đến trường, lớp ở trẻ 5-6 tuổi:

PHIẾU KHẢO SÁT TRẺ Ở GIA ĐÌNH

Họ và tên trẻ :……………………………………..

Phụ huynh :…………………………………………

Nội dung

Số trẻ/lớp

Tỷ lệ

– Trẻ có chủ động muốn đi học

7/16

43.75%

– Trẻ có thể hiện sự vui thích được đến trường, lớp với cô giáo, đồ chơi, bạn bè.

9/16

56.25%

– Trẻ chủ động, mạnh dạn hát, kể chuyện, đọc thơ mà cô dạy ở lớp cho ba mẹ nghe.

7/16

43.75%

– Ba, mẹ động viên và khuyến khích trẻ đi học đều.

9/16

56.25%

– Trẻ tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp

6/16

37,5%

– Sử dụng lời nói mạch lạc, diễn cảm

6/16

37,5%

– Hiểu và truyền đạt thông tin bằng nhiều cách khác nhau

7/16

43.75%

2.4. Biện pháp thực hiện :

*Biện pháp 1:  Nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ để tạo niềm tin đối với phụ huynh.

      Chất lượng chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục trẻ là cơ sở  quan trọng để làm tốt công tác duy trì sĩ số lớp và tạo được niềm tin với phụ huynh cho nên tôi luôn chú trọng thực hiện tốt công tác nuôi dưỡng – chăm sóc – giáo dục trẻ.       Nhiệm vụ của giáo dục mầm non là hình thành cho trẻ những nhân cách  đầu tiên con người mới được cụ thể bằng các nội dung chương trình chăm sóc  giáo dục trẻ. Chính vì vậy việc thực hiện đầy đủ chương trình không được bỏ  trống, thực hiện thường xuyên, nghiêm túc chương trình chăm sóc giáo dục trẻ chú trọng việc đổi mới hình thức tổ chức dạy học lấy trẻ làm trung tâm và phát huy hết tính tích cực của trẻ, tạo môi trường phong phú, an toàn  cho trẻ hoạt động. Giúp cho giáo viên luôn xây dựng cho mình một kỹ năng sư phạm tốt để thực hiện mục tiêu. 

         Phấn đấu thi đua, học hỏi, trau dồi kinh nghiệm, đầu tư sáng tạo trong hoạt động  nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy để tiết học trở  nên phong phú, thu hút trẻ hơn.

         Phối hợp y tế cân đo, theo dõi biểu đồ tăng trưởng và khám sức khoẻ định kỳ cho 100% trẻ để kịp thời có những biện pháp giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì.

  Hình 1. Trẻ được khám sức khỏe định kỳ

          Chú trọng vào công tác tăng cường tiếng Việt, giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt rõ ràng, lưu loát, mạch lạc, tạo cho trẻ có đầy đủ vốn tiếng Việt để bước vào học lớp lớp 1 tiếp thu kiến thức dễ dàng, thuận lợi hơn.

          Giáo viên chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong việc thiết kế các hình thức tổ chức dạy học sinh động, hấp dẫn, thu hút trẻ. Tích cực chú ý rèn luyện cho các cháu mạnh dạn, tự tin, thích hoạt động tập thể, thích giao lưu với bạn bè, từ đó các cháu thích được đi học hơn, tỷ lệ chuyên cần và tỷ lệ bé ngoan tăng cao hơn.

Nêu gương bé ngoan hằng ngày nhằm tạo sự phấn khởi, ham thích đi học của các cháu.

* Biện pháp 2: Phối hợp với phụ huynh.

Thông qua các buổi họp phụ huynh, bảng tuyên truyền, giáo viên động viên, khuyến khích phụ huynh tích cực trò chuyện, kể chuyện cho trẻ nghe thêm ở nhà. Đặc biệt là dành thời gian để lắng nghe trẻ nói lên nhu cầu, sở thích, tâm tư, nguyện vọng của trẻ và sửa những câu nói, cách nói sai của trẻ. Muốn vậy, khi trò chuyện với trẻ phụ huynh phải cố gắng phát âm đúng, nói rõ ràng, mạch lạc, tốc độ vừa phải để trẻ nghe cho rõ, trẻ sẽ bắt chước theo.

Hình 2. Tổ chức buổi họp phụ huynh

         Khuyến khích phụ huynh nên lắng nghe trẻ, tạo cơ hội để trẻ được đặt câu hỏi, cung cấp kinh nghiệm sống cho trẻ, không nói tiếng địa phương, cần tránh cho trẻ nghe những hình thái ngôn ngữ không chính xác, cần kiên nhẫn lắng nghe và trả lời những ý kiến thắc mắc của trẻ qua đó uốn nắn và sửa câu, cung cấp vốn từ cho trẻ.

         Ví dụ: Trong lớp, khi dạy trẻ câu chuyện: “ Chàng Rùa”, giáo viên cần in nội dung câu chuyện và dán lên bảng tuyên truyền cho phụ huynh cùng xem và yêu cầu phụ huynh phối hợp kể thêm cho trẻ nghe ở nhà. Hoặc lắng nghe trẻ kể lại khi trẻ đã được nghe cô kể ở lớp. Sau đó, phụ huynh cùng trò chuyện với trẻ về nội dung câu chuyện và có thể sửa cho trẻ cách nói sai, cấu trúc câu sai… 

Kết hợp với phụ huynh qua nhiều hình thức như: Nhờ phụ huynh sưu tầm những sách báo cũ, lịch, họa báo, tạp chí, các nguyên liệu để trẻ tự làm sách để xây dựng góc thư viện, những câu chuyện gần gũi với trẻ. Hoặc mời phụ huynh đóng kịch cùng trẻ trong các ngày lễ hội lớn của trường.

* Biện pháp 3: Tổ chức các trò chơi cho trẻ chơi.

Trẻ sẽ hứng thú tham gia vào các hoạt động thông qua trò chơi. Trò chơi được thực hiện linh hoạt, xen kẽ trong hoạt động hay phần củng cố hoạt động.

Ví dụ: Chơi Hãy đọc (nói, kể) cùng tôi: Trò chơi này giúp trẻ tập trung chú ý, lắng nghe và phản xạ kịp thời để đọc (nói, kể) tiếp theo bạn. Như khi nói về con gà. Cô nói “Đây là con gà mái”, trẻ được cô chọn sẽ nói tiếp một câu tùy ý về con gà “ con gà mái đẻ trứng”. Sau đó trẻ này gọi tên bạn tiếp theo, bạn được chọn sẽ  tiếp tục nói những câu khác về con gà, ai nói không kịp phải làm theo yêu cầu của bạn, làm động tác con gà. Có thể cho trẻ chơi đọc tiếp bài thơ hoặc kể tiếp câu chuyện quen thuộc.

        Ngoài ra giáo viên còn có thể tổ chức cho trẻ chơi các rò chơi dân gian. Xét về góc độ giáo dục, trò chơi dân gian có thể chia thành bốn nhóm: Loại trò chơi vận động như: Tập tầm vông, dung dăng dung dẻ, lò cò, bịt mắt bắt dê… giúp tăng cường sức khỏe, thể chất cho học sinh; loại trò chơi học tập, điển hình là chơi cờ lá, cờ lật, chơi ô ăn quan giúp phát triển trí tuệ của trẻ em, dạy cho trẻ biết quan sát, tính toán; loại trò chơi sáng tạo là những trò chơi mà học sinh có thể tự làm nên những đồ vật bằng vật liệu trong thiên nhiên như làm chong chóng bằng lá dừa, nặn con trâu bằng đất sét, xếp lá dừa thành con châu chấu…

Những trò chơi này giúp trẻ khéo tay, phát huy sáng kiến, năng khiếu thẩm mỹ cần thiết cho hiện tại và cả tương lai sau này. Cuối cùng, loại trò chơi mô phỏng là những trò chơi mà trẻ bắt chước cách sinh hoạt của người lớn như làm nhà, nấu ăn, mua bán,… Trong khi chơi, trẻ thi nhau xem ai làm đúng, làm đẹp, làm nhanh hơn và thật sự hóa thân, nhập vai. Nhờ đó, trẻ học được cách ứng xử của người lớn để chuẩn bị làm người sau này,…

Hình 3. Trẻ tham gia vào trò chơi đóng vai thành bác sĩ khám bệnh

  Ngoài ra còn có thể lồng ghép cho trẻ chơi các trò chơi luyện phát âm và phát triển vốn từ Tiếng Việt khác để tránh nhàm chán như:

+ Luyện giọng làm ca sĩ: Trò chơi này mục đích để luyện giọng và luyện phát âm cơ bản, đơn giản.

 Cách chơi: Cô và trẻ ngồi hoặc đứng, trẻ luyện giọng theo cô “À a á a à…, ồ ô ố ô ồ…., là la lá la là…, mì mi mí mi mì…, lì li lí li lì…. Hoặc Ba bô bê bu bư, na nô nê nu nư…

+ Đố con gì? (Củng cố cách sử dụng từ chính xác cho trẻ)

Cách chơi: cô nói “cô đố, cô đố”. Trẻ “đố gì, đố gì ?”. Cô đố con gì  kêu (cô giả tiếng kêu)  hoặc cô có thể thay bằng các nội dụng khác như: đố con gì biết nhảy, bơi, bay, bò… Cô tổ chức hai đội thi đua với nhau, mỗi lần trẻ nói được một từ đúng cô thưởng cho trẻ 1 bông hoa. Cuối cùng cô cùng trẻ đếm số hoa của mỗi đội, đội nào nhiều hoa hơn sẽ chiến thắng.

* Biện pháp 4: Tạo sự hấp dẫn, tình huống bất ngờ, hứng thú, sáng tạo và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy để thu hút trẻ:

Do đặc điểm của lứa tuổi nên giáo dục trẻ lứa tuổi mẫu giáo cần tiến hành theo phương châm “Học mà chơi, chơi mà học” theo chương trình đổi mới hình thức dạy học.

Yếu tố bất ngờ luôn cuốn hút trí tò mò của trẻ. Khi trẻ tìm hiểu về một đề tài, trẻ sẽ có nhu cầu muốn được cô giáo giải đáp bằng những câu hỏi về đề tài đó. Lúc đó trẻ sẽ không còn nhút nhát và dần trở nên mạnh dạn, tự tin hơn. Những đề tài trẻ quan tâm bao giờ cũng thu hút được sự chú ý và hứng thú, kích thích về lời nói của trẻ.

          Ví dụ: Cô tạo tình huống “trời tối”!. Trẻ giả vờ ngủ, cô mặc đồ bác gấu đến từ giấc mơ của các bạn, tặng cho lớp những món quà ( những bức tranh).

         Với những tình huống bất ngờ, ứng dụng công nghệ thông tin khi tổ chức các hoạt động, kích thích hứng thú của trẻ, tự do suy nghĩ, nhận xét về đề tài, khi không hiểu trẻ sẽ chủ động nói lên những thắc mắc của mình. Từ đó, cô gợi ý, trẻ trả lời. Cứ như vậy, trẻ sẽ tích cực tham gia hoạt động cùng cô và các bạn một cách hứng thú mà không hề bị áp đặt, nhàm chán.

Hình 4. Ứng dụng CNTT trong tiết học nhằm thu hút trẻ

  Ví dụ: Đề tài “Đàm thoại về các con vật sống trong rừng”

Cho trẻ xem đoạn phim, tiếng kêu của các con vật sống trong rừng như: voi, hổ, chim….

 Hình ảnh kèm theo đoạn âm thanh sẽ lôi cuốn, thu hút trẻ và tạo cho trẻ sự tích cực hứng thú, hình thành ở trẻ những biểu tượng đầy đủ về các con vật sống trong rừng. Từ đó, trẻ sẽ tích cực tham gia trao đổi, trả lời các câu hỏi của cô.

Trong một giờ học, cô nên tuyên dương ở lớp kịp thời những trẻ chú ý học tập, hăng hái phát biểu ý kiến, đóng kịch tốt để khuyến khích trẻ học tốt hơn. Tuyệt đối không chê trẻ, nhẹ nhàng sửa sai đối với những trẻ thực hiện chưa đúng. Việc dạy học phụ thuộc vào việc giáo dục. Do đó nội dung các bài dạy không chỉ đơn thuần là một nội dung cần dạy cho trẻ, mà còn là một phương tiện giáo dục. Vì vậy, cô phải luôn quan sát và nhận xét xem trong quá trình học tập trẻ có hoạt động

không? Tìm hiểu nguyên nhân vì sao trẻ chưa được tự tin, hòa đồng cùng các bạn để cô có hướng đưa trẻ hoà nhập với bạn bè.

Buổi sáng                                  được mẹ đưa đến

   

    

 Bướm thấy rất nhiều bạn cùng đi học. Đến lớp bướm hoa chào   

            

              

                

                    Cô khen bướm hoa rất ngoan, đi học đều,

biết lễ phép chào cô.     

                            

              

                             Rất vui khi được cô khen…………..                             

Từ đó trẻ sẽ kể theo với sự kết hợp giữa hình và chữ. Cô nhận thấy trẻ rất thích và hứng thú.

Trong một giờ học cô nên tuyên dương ở lớp kịp thời những trẻ mạnh dạn trả lời câu hỏi, nói lên suy nghĩ của mình, biểu cảm trong lời nói… để khuyến khích trẻ học tốt hơn. Tuyệt đối không chê trẻ, nhẹ nhàng sửa sai đối với những trẻ thực hiện chưa đúng. Việc dạy học phụ thuộc vào việc giáo dục. Do đó nội dung các bài dạy không chỉ đơn thuần là một nội dung cần dạy cho trẻ, mà còn là một phương tiện giáo dục. Vì vậy, cô phải luôn quan sát và nhận xét xem trong quá trình học tập trẻ có hoạt động không? Trẻ có tích cực tham gia vào hoạt động không?

*Biện pháp 5: Tổ chức các ngày hội, ngày lễ cho trẻ

Qua các buổi sinh hoạt ngày hội, ngày lễ của trường cô cùng trẻ tham gia các tiết mục văn nghệ. Tôi đã mạnh dạn đăng ký cho trẻ tham gia những tiết mục hoạt cảnh, đọc thơ, đóng kịch. Trong các ngày lễ này có mời đông đảo phụ huynh của lớp tham dự. Nhận thấy nhiều phụ huynh rất phấn khởi về những vai diễn con mình thể hiện trong hoạt cảnh, đọc những bài thơ ngộ nghĩnh, đáng yêu. Trẻ rất hào hứng, mạnh dạn, tự tin tham gia vào hoạt động, thích được

biểu diễn và say mê khi biểu diễn.

   Hình 5. Trẻ tham gia vào các tiết mục văn nghệ.

Qua việc áp dụng một số biện pháp trong và ngoài giờ học. Lớp tôi trẻ rất tự tin, mạnh dạn khi giao tiếp, thích trò chuyện cùng người lớn và đặc biệt rất hứng thú tham gia vào tất cả các hoạt động.

 Hình 6. Phụ huynh và trẻ cùng tham gia vào trò chơi viết, trang trí câu đối ngày tết.

*Biện pháp 6:  Tăng cường làm đồ dùng và đồ chơi đảm bảo các tiêu chí đa năng, bền, đẹp và sáng tạo phục vụ cho các hoạt động và đáp ứng nhu cầu vui chơi cho trẻ:

       Đồ chơi  là người bạn không thể thiếu trong các trò chơi của trẻ và là nguồn vui của trẻ thơ, là những phương tiện trẻ dùng để vui chơi, là những đồ vật cụ thể giúp trẻ cầm, nắm dễ dàng…giúp trẻ tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh, làm quen với những đặc điểm, tính chất của nhiều đồ vật khác nhau, biết được công dụng của chúng trong sinh hoạt và trong lao động của con người, còn là phương tiện giúp trẻ phát hiện ra những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội và dần dần biết gia nhập vào những mối quan hệ đó. Đồ chơi còn có tác dụng thúc đẩy, hình thành và phát triển các chức năng tâm lý, góp phần hình thành nhân cách ở trẻ trong đó việc phát triển tình cảm thẩm mỹ rất quan trọng.

Hình 7. Đồ dùng đồ chơi tự tạo

      Từ những nguyên vật liệu sẵn có của địa phương, các cô có thể suy nghĩ và sáng tạo, tìm tòi để tạo ra sản phẩm đẹp mắt thu hút trẻ. Sản phẩm phải đảm bảo tính giáo dục, an toàn, độ bền, tạo hứng thú cho các em trong giờ học.

        Những nguyên vật liệu phế thải tưởng như đã vứt đi, nhưng với sự cần mẫn, bàn tay khéo léo của các cô giáo đã thu lượm, góp nhặt, làm sạch để tạo nên những đồ dùng đồ chơi an toàn, không gây độc hại cho trẻ, giúp bảo vệ môi trường và phục vụ cho chính các hoạt động giáo dục đạt hiệu quả. Được biết, không chỉ tự làm, các giáo viên còn hướng dẫn trẻ cùng tham gia bằng cách gợi ý trẻ tự chọn màu sắc, cách làm ra các đồ dùng, đồ chơi gần gũi, quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của trẻ. Thông qua hoạt động này, các giáo viên đã giáo dục trẻ tình cảm yêu quý lao động, biết tiết kiệm và bảo vệ môi trường. Hoạt động này cũng giúp trẻ bộc lộ tư duy, trí tưởng tượng và khơi nguồn sáng tạo. Ví dụ:

– Làm con rối

+ Chuẩn bị: Muỗng, thìa canh, giấy trắng, sợi len, keo dán

+ Cách làm:Vẽ hoặc dán các nét mặt người, con vật lên trên cái muỗng, thìa canh. Dùng sợi len hoặc trang trí tóc cho các khuôn mặt. Có thể làm thêm quần áo, tay chân cho các bộ phận khác cho con rối.

– Làm xúc xắc

+ Chuẩn bị: Giấy màu, hồ dán, băng keo trong, viên sỏi, hột hạt, hộp nhựa (sữa, kem…) đã rửa sạch, phơi khô.

+ Cách làm: Cho sỏi vào trong hộp, dùng hồ hoặc băng keo trong dán 2 miệng hộp lại với nhau. Trang trí vỏ hộp bằng nhiều cách: vẽ hoặc dán giấy màu.

*Biện pháp 7: Tạo tâm thế thoải mái cho trẻ và đối xử công bằng với mọi trẻ:

Đối với trẻ thì ngoài gia đình thì cô giáo mầm non có thể xem như một “người mẹ thứ hai” và là “thần tượng” của trẻ để giúp trẻ có thêm tự tin, học hỏi được nhiều điều và giáo dục những kiến thức đầu tiên cho trẻ trong môi trường trường lớp mầm non.

Để trẻ cảm thấy vui vẻ, hứng thú đến trường, lớp thì thái độ của giáo viên đối với trẻ là điều vô cùng quan trọng. Cách ứng xử khéo léo của người giáo viên góp phần rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách của trẻ. Giáo viên phải là một chuyên gia tâm lý để nắm bắt tâm sinh lý của trẻ để có phương pháp giáo dục đúng đắn và phù hợp với mọi trẻ.

Môi trường giáo dục phải thật sự thoải mái, thân thiện và người giáo viên có thể đóng vai trò là “người mẹ”, “người bạn” cùng chơi với trẻ một cách nhẹ nhàng, thoải mái .

Bên cạnh đó, giáo viên phải tôn trọng trẻ, mở rộng kiến thức của mỗi trẻ và tạo nhiều cơ hội cho trẻ tích cực hoạt động. Giáo viên cần xác định và đáp ứng sự hiểu biết, sở thích, và kỹ năng của trẻ em; đồng thời mở rộng việc học của mỗi đứa trẻ bằng cách cung cấp nhiều cách khác nhau cho trẻ học trong đó, bao gồm cả chơi và tương tác với các trẻ em khác.

*Biện pháp 8:  Làm tốt công tác điều tra cập nhật số liệu, tuyên truyền vận động phụ huynh đưa trẻ 5 tuổi đến trường mầm non.

Hàng năm, giáo viên đều làm phiếu điều tra độ tuổi, điền đầy đủ thông tin như tên chủ hộ, dân tộc, quan hệ với chủ hộ, các cột năm sinh, tên trường trẻ đang học, tên nhóm lớp đã và đang học nhà trẻ, mẫu giáo, đang học trái tuyến, chưa đi học, đi học, bỏ học,số phiếu, mã hộ, sau khi điều tra xong phải kiểm tra có chữ ký của điều tra viên, của chủ hộ và của trưởng ấp, xác nhận địa phương.

Liên hệ với các ban, ngành như: thông tin văn hóa, Hội phụ nữ, ban bảo vệ chăm sóc trẻ em xã, trưởng ấp,… qua đó thông tin tuyên truyền sẽ đến với người dân và đạt kết quả khả quan hơn.

Ngoài ra, cô giáo còn tham gia các hoạt động ở địa phương như họp ấp, tham gia các lễ kỉ niệm của phụ nữ… tranh thủ tuyên truyền, vận động cho phụ huynh biết để phụ huynh tự giác đưa con em đến trường, lớp mẫu giáo để học.

*Biện pháp 9: Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để tu sửa cơ sở vật  chất, mua sắm trang thiết bị 

Cơ sở vật chất rất quan trọng trong công tác thu hút trẻ đến lớp cũng như huy động trẻ ra lớp, cơ sở vật chất đầy đủ, khang trang sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của trẻ, các bậc phụ huynh sẽ tin tưởng hơn khi cho con tới trường vì vậy hàng năm, vào đầu năm học tôi đều tham mưu với nhà trường và xây dựng kế hoạch đầu tư tu sửa cơ sở vật chất ở lớp, mua sắm, bổ sung thêm trang thiết bị phục vụ cho trẻ hoạt động.

        Việc trang trí trường lớp đẹp có ý nghĩa rất quan trọng đối với trẻ: Là môi trường để trẻ vui chơi và học tập theo hướng mở; Tạo cho trẻ hứng thú thích được đến trường, là cơ hội để trẻ được tiếp xúc với cái đẹp, từ đó phát triển tư duy, trí tưởng tượng phong phú cho trẻ, khơi gợi ở trẻ niềm say mê yêu thích hội họa, biết yêu quý bảo vệ cái hay, cái đẹp ở quanh mình. Mặt khác còn tạo được cảnh quan sư phạm nhà trường thêm đẹp và hấp dẫn, thân thiện với trẻ.

Hình 8. Trang trí lớp học đẹp, màu sắc rực rỡ, dạng mở nhằm thu hút trẻ.

2.5. Kết quả thực hiện:

Qua một năm bằng những biện pháp tích cực đã giúp trẻ tiến bộ một cách rõ rệt, trẻ tự tin, mạnh dạn hơn trước, rất hứng thú tham gia vào các hoạt động học tập. Điều đó cũng đồng nghĩa với tỉ lệ chuyên cần và tỉ lệ bé ngoan được cải thiện và nâng cao được thể hiện qua kết quả như sau:

Kết quả

Số trẻ

Đầu năm học

Cuối năm học

– Trẻ chủ động muốn đi học

16

43.75%

100%

– Trẻ có thể hiện sự vui thích được đến trường, lớp với cô giáo, đồ chơi, bạn bè.

16

56.25%

100%

– Trẻ chủ động, mạnh dạn hát, kể chuyện, đọc thơ mà cô dạy ở lớp cho ba mẹ nghe.

16

43.75%

95%

– Ba, mẹ động viên và khuyến khích trẻ đi học đều.

16

56.25%

95%

– Trẻ tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp

16

37,5%

98%

– Sử dụng lời nói mạch lạc, diễn cảm

16

37,5%

90%

– Hiểu và truyền đạt thông tin bằng nhiều cách khác nhau

16

43.75%

90%

– Tỷ lệ chuyên cần

16

80-90%

95-98%

* Đối với phụ huynh:

      Đã có cái nhìn tích cực hơn đối với việc đưa trẻ đến trường mầm non. Được phụ huynh hỗ trợ sách, truyện tranh cho lớp, kể chuyện cho trẻ nghe, trò chuyện nhiều hơn với trẻ ở nhà, đa số phụ huynh rất hài lòng khi về nhà trẻ mạnh dạn, tự tin kể chuyện sáng tạo, kể lại những câu chuyện, bài thơ trẻ được học ở lớp. Ngôn ngữ nói của trẻ cũng trở nên mạch lạc và chủ động giao tiếp hơn.

Phụ huynh đã quan tâm rất nhiều trong việc học của các cháu. Tích cực tham gia các hoạt động khi cần có sự phối hợp và thật sự yên tâm hơn khi gửi con em vào trường.

3. KẾT LUẬN

3.1. Bài học kinh nghiệm:

    Qua một thời gian nghiên cứu và những kết quả có được trong năm học qua tôi đã có những kinh nghiệm quý báu xin được chia sẻ với các bạn đồng nghiệp

– Lập kế hoạch khảo sát trẻ và gia đình.

– Đưa thơ ca, chuyện kể, đồng dao  vào mọi lúc mọi nơi một cách hợp lý trong các hoạt động.

– Lựa chọn, sưu tầm những bài thơ, câu chuyện, ca dao, đồng dao gần gũi với cuộc sống trẻ.

– Tổ chức trò chơi lồng ghép với thơ ca, đồng dao, hò vè, chuyện kể giúp trẻ đọc diễn cảm, đúng nhịp điệu của những câu chuyện, bài thơ, đồng dao được học.

– Giáo viên cần có kinh nghiệm, luôn luôn học hỏi, lắng nghe, nắm bắt tâm lí trẻ, yêu nghề, mến trẻ, tạo không khí gần gũi với trẻ, luôn tạo tâm thế thỏa mái, tự nhiên không gò bó, ép buộc trẻ khi tham gia hoạt động.

– Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động phụ huynh đóng góp nguyên vật liệu làm đồ dùng, đồ chơi

– Tổ chức các hoạt động đóng kịch theo nhóm (tổ) vào cuối chủ điểm lớn có thi

đua, khen thưởng để động viên trẻ.

– Làm đồ dùng mở như truyện tranh và chữ, cắt dán, vẽ theo câu chuyện đã được học.

– Chú ý những trẻ nhút nhát, thiếu tự tin, chưa mạnh dạn được giao tiếp nhiều trong các hoạt động.

Để giúp trẻ hứng thú đi học và hình thành thói quen tốt trong học tập, bản thân tôi đã không ngừng học hỏi,  nghiên cứu, tìm tòi và vận dụng thích hợp những biện pháp tạo cho trẻ phát triển tốt trong mọi lĩnh vực. Góp phần đào tạo cho thế hệ trẻ thành những con người phát triển toàn diện. Như lời Bác Hồ đã dạy : “Dạy trẻ cũng như trồng cây non. Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt.”

3.2.  Khả năng ứng dụng:

 Ứng dụng cho tất cả trẻ trong độ tuổi mẫu giáo. Đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi vì trẻ ở lứa tuổi này cần trang bị tốt về tâm lý, thái độ học tập cũng như thói quen, nề nếp để trẻ có hành trang tốt bước vào môi trường phổ thông.

Tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ rèn luyện cơ thể thông qua các trò chơi, hoạt động tập thể, tập thể dục thể thao.Thường xuyên sưu tầm sách báo, làm nhiều đồ dùng đồ chơi mới lạ, tranh ảnh đẹp để phục vụ cho các hoạt động.

     Bản thân giáo viên chúng tôi sẽ luôn cố gắng và cố gắng hơn nữa trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ, tìm hiểu, học hỏi và luôn trao dồi kinh nghiệm của người đi trước, của các chị đồng nghiệp them kiến thức, phương pháp dạy và học để giúp trẻ học tốt.

Sáng tạo làm thêm đồ dùng đồ chơi, tổ chức các hình thức vận động, phong phú các trò chơi nhằm giúp trẻ phát triển thể lực một cách tốt nhất, tạo mọi điều kiện để trẻ hoạt động được tốt hơn.

 Với tâm tận tụy với nghề nghiệp, hết lòng yêu nghề, mến trẻ thực hiện phương châm “Tất cả vì học sinh thân yêu” và theo định hướng của bộ giáo dục và đào tạo về xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

Kết hợp với kinh nghiệm gắn bó với nghề tôi đã đưa ra những biện pháp giúp duy trì sĩ số trẻ 5-6 tuổi. Rất mong được sự góp ý, nhận xét chân tình từ lãnh đạo cấp trên và đồng nghiệp để bài viết của mình được hoàn thiện hơn.

                                                                    Ngày 03 tháng 02 năm 2017

                                                                                        Người viết

                                                                                         

                                                                                

                                                                             Nguyễn Thị Huỳnh Lê

* Nhận xét đánh giá của hội đồng chấm, xét SKKN cấp trường

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                                     Định An, ngày     tháng      năm  2017             

TM.HĐCSKKN

                                                                                      Hieäu tröôûng

                                                

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 5 Hứng Thú Đến Trường / 2023

Để mong muốn góp phần giải quyết thực tế nói trên đồng thời hoà nhập chung với tiến độ phát triển chung của xã hội, tôi muốn góp một phần nhỏ công sức nghiên cứu của mình qua việc tìm hiểu hứng thú đến trường cho học sinh để những ai quan tâm đến vấn đề này có được một số vốn kiến thức nhất định phục vụ cho việc giảng dạy nói riêng và trong cuộc sống đối với thế hệ trẻ thơ nói chung. Xuất phát từ những lý do trên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài:

Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh lớp 5, để các em hứng thú đến trường, đồng thời tìm ra phương pháp giúp giáo viên dạy học sinh lớp 5 đạt hiệu quả cao hơn. Làm cho hoạt động dạy- học đạt kết quả tốt, giúp học sinh Tiểu học khơi nguồn cảm xúc, trí tuệ, không những giúp các em tiếp thu kiến thức bài học một cách dễ dàng mà còn giúp các em củng cố và khắc sâu các kiến thức. Khi đã lĩnh hội đựợc các em mới hứng thú đến trường. Đồng thời khắc phục những hạn chế trong quá trình dạy- học.

Để thực hiện đề tài của mình tôi đã chọn học sinh lớp … năm học ….trường Tiểu học ………làm đối tượng nghiên cứu.

4. Phương pháp nghiên cứu :

Để thực hiện có kết quả cao đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau :

Bước đầu nghiên cứu đề tài tôi chọn Phương pháp đọc sách, nghiên cứu tài liệu, phương pháp trên kết hợp với kiến thức và hiểu biết của mình đã hỗ trợ tôi có được một số kiến thức nhất định nghiên cứu ra sáng kiến này.

Thứ hai, để có số liệu, giới hạn nghiên cứu, đối tượng học sinh tôi chọn Phương pháp lựa chọn, điều tra, tôi có thể lựa chọn cho mình sản phẩm cần nghiên cứu.

Thứ ba, để nắm được đối tượng nghiên cứu và đạt được kết quả tôi chọn Phương pháp nghiên cứu thực tế, để tôi có thể giúp mình học hỏi, trao đổi những kinh nghiệm đồng nghiệp, nắm được căn bản lí lịch từng em, …

Tiếp theo để có kết quả khảo nghiệm tôi chọn Phương pháp hỏi- đáp bước đầu tôi đã phần nào hiểu sản phẩm và có những số liệu nhất định.

Để có những số liệu cần thiết, chính xác về sản phẩm sáng kiến tôi chọn Phương pháp mô tả, phân tích giúp tôi có thể phân tích cụ thể sản phẩm.

Khi có số liệu tôi chọn Phương pháp so sánh và tổng hợp với phương pháp này tôi có thể so sánh, đối chiếu, tổng hợp sản phẩm khi chưa áp dụng và sau khi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Là một trường thuộc địa bàn xã EaHồ. 100% học sinh là con em đồng bào dân tộc tại chỗ, các em tiếp xúc rất ít với Tiếng Việt, nên khi trẻ bước vào trường học gặp rất nhiều khó khăn. Các em vừa học kiến thức trên sách vở đồng thời vừa học giao tiếp với thầy cô, bạn bè bằng ngôn ngữ thứ hai. Việc truyền thụ kiến thức cho trẻ hiểu đã là một việc làm khó, truyền cho các em ham học, say mê với môn học, hứng thú đến trường lại là điều trăn trở của một giáo viên.

Vì thế là một người giáo viên Tiểu học, người ” viết ” lên những trang giấy trắng đầu tiên vào các em, “cấy” vào tâm hồn trẻ những điều tốt đẹp, chúng ta cần tạo cho các em sự yêu thích và phát triển một cách tốt nhất.

Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc. Vì thế, tạo hứng thú cho các em đến trường chỉ có thể người giáo viên là then chốt chứ không ai khác được. Một khi đã có hứng thú để các em tiến tới mục tiêu chung của Tiểu học: Nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

Nhưng để đạt được mục tiêu đó đâu phải một sớm một chiều mà là cả quá trình lâu dài, muốn làm việc đó có kết quả tốt thì trẻ cần có tình yêu và sự hứng thú thực sự nhưng đâu phải bắt học sinh yêu thích được mà phải truyền thụ và giúp các em hứng thú. Vì thế có nhà triết gia đã nói :

Người giáo viên là một kĩ sư tâm hồn, quá trình dạy học là cả một nghệ thuật, muốn đạt được điều đó thì đòi hỏi người thầy không ngừng học hỏi, rèn luyện nâng cao chuyên môn, luôn có sự sáng tạo, cải tiến phương pháp dạy học của mình nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học.

Qua nhiều năm giảng dạy ở trường Tiểu học …….. và trao đổi với đồng nghiệp tôi đã có những nhận xét chung về thực trạng dạy học như sau:

Thuận lợi: Trường Tiểu học …….. Được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp uỷ, các ban ngành và sự chỉ đạo của Ban giám hiệu hiện nay xây dựng trường học khang trang, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ.

Khó khăn: Học sinh trường tôi là đồng bào dân tộc tại chỗ (Êđê ), nói tiếng Việt chưa thành thạo, tiếp xúc ít với tiếng phổ thông, phương tiện thông tin đại chúng tiếp cận còn ít nên việc tiếp thu bài của các em hết sức hạn chế, khó khăn. Bên cạnh đó, phụ huynh đa số làm nông nghiệp, kinh tế còn nghèo nàn và phần đông chưa thực sự quan tâm đến con cái, do nhận thức chưa đầy đủ về công tác giáo dục nên nhiều bậc phụ huynh chủ yếu phó thác cho nhà trường…

Đối với học sinh lớp 5 trường tôi các kiến thức hiện nay không phải là đơn giản, dễ dàng tiếp thu, lĩnh hội nên một số em thấy “học khó”. Học sinh đi học không đều, vắng học diễn ra thường xuyên, một số học sinh lớp 5 lớn tuổi nên không tự tin khi đến lớp, thậm chí có nguy cơ bỏ học giữa chừng, một số em chưa thực sự yêu thích đến trường. Vì vậy việc học tập của trẻ chưa đạt kết quả cao.

Nhiều giáo viên chưa đầu tư sâu, giúp học sinh yêu thích các môn học, hứng thú đến lớp mà chủ yếu truyền tải nội dung, kiến thức cho các em.

Xã hội có phồn vinh, đất nước có giàu mạnh trước hết cần những nhân tài, là mầm ươm tương lai của đất nước. Nhân tài không tự nhiên mà tồn tại và phát triển một cách hoàn thiện mà không qua trường lớp. Chính vì lẽ đó, đào tạo trẻ có kiến thức vững chắc, lâu dài thì cấp một chính là nền móng để nuôi dưỡng và phát triển nhân cách, tri thức, hoàn thiện cho một tương lai tươi sáng phía trước. Nhưng để các em cảm nhận thật trọn vẹn, đầy hứng thú, niềm vui mỗi khi bước chân vào trường học, lớp học không phải là điều đơn giản, mà đó là cả một nghệ thuật của người giáo viên.

Khi trẻ đã hứng thú đến trường thì đây chính là cơ hội cho các em lĩnh hội kiến thức, nuôi dưỡng, phát triển cảm xúc thẩm mỹ và phát huy trí tưởng tượng. Học tập sẽ hiệu quả hơn khi nó thực sự vui thích” (Perter Kline). Yêu thích đến trường các em sẽ không còn thấy “sợ học”, không còn thấy mệt mỏi khi các em hứng khởi tiếp nhận các kiến thức mà trước đây cho là khó, là “khô khan”, căng thẳng, nhàm chán. Hứng thú đến trường là miếng đất màu mỡ để trên đó tư duy hình tượng, tư duy logic học sinh nảy nở, phát triển. Trẻ sẽ tăng dần tính trách nhiệm với bản thân, với người khác. Để đạt được hiệu quả cao trong học tập trước hết cần rèn và truyền cho các em sự hứng thú.

Do vậy để khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm hiện có ở thực tế. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 hứng thú đến trường. Đó là:

Một số trò chơi điển hình khi dạy các môn học lớp 5 như:

– Trò chơi ” Xì điện”.

Ví dụ: Môn Toán học:

Giáo viên chia lớp thành hai đội, phổ biến luật chơi ( trong quá trình chơi bạn nào một trong hai đội không nêu nhanh được kết quả sẽ mất quyền “xì điện”, giáo viên sẽ chỉ người khác), hướng dẫn cách chơi. Giáo viên đọc phép tính 78, 29 x 10 sau đó chỉ bất kì một em một trong hai đội, tức thì học sinh đó phải nêu nhanh được kết quả ( 782, 9). Kết quả ấy nếu đúng thì em đó có quyền đọc phép tính khác, học sinh ấy đọc: 265, 307 x 0, 01 (đọc và chỉ bất kì vào bạn của đội một), bạn đó đọc kết quả 2, 65307; rồi lại “xì điện” đến bạn tiếp theo của đội hai… Cứ như thế giáo viên và thư kí ghi lại kết quả. Hết thời gian quy định đội nào có nhiều bạn trả lời và kết quả đúng thì đội đó thắng cuộc. Giáo viên và cả lớp tuyên dương nhóm thắng và động viên nhóm chưa thắng.

Trò chơi này áp dụng trong các tiết luyện tập, luyện tập chung. Giúp học sinh thực hiện tốt nhân một số thập phân với một số thập phân. Các em thích thú, vui vẻ, hào hứng khi chơi. Sau khi tiết học kết thúc học sinh nhớ lâu và thực hiện tốt hơn các kiến thức và áp dụng tính nhanh hơn trong cuộc sống. Không những trong giờ học mà trong giờ ra chơi các em còn đố nhau và trở thành trò chơi rất thú vị…

– Trò chơi ” Tiếp sức”.

Ví dụ: Môn Khoa học:

Bài 5: Cần làm gì để cả mẹ và em bé đều khoẻ?

Giáo viên treo bảng phụ, kẻ hai cột ( Nên/ không nên). Chia lớp thành hai đội, phổ biến luật chơi, hướng dẫn. Giáo viên hô ” Bắt đầu” cột (1) nên, tức thì các nhóm dùng bút dạ ghi vào của nhóm mình. Học sinh thứ nhất của đội mình ghi xong về ngay chỗ đứng thì học sinh tiếp theo mới tiếp sức lên ghi tên các món ăn cần để cả mẹ và em bé đều khoẻ. Cứ như thế học sinh các nhóm tiến hành cho đến bạn cuối cùng, kết thúc trò chơi giáo viên và các nhóm cùng đánh giá rồi đếm (ví dụ: giáo viên đọc: thịt gà- tức thì học sinh đồng thanh hô: 1; giáo viên đọc: chuối- học sinh đồng thanh hô: 2,…cứ như thế đến món cuối cùng của đội) xem nhóm nào có nhiều thức ăn hợp lí, nhiều chất dinh dưỡng…thì đội đó sẽ thắng. Giáo viên cùng học sinh tuyên dương nhóm thắng cuộc,… Tiến hành tương tự như thế đối với cột không nên.

Tác dụng: Khi chơi học sinh hứng thú học tập, tiết học trở nên hào hứng, sinh động; học sinh thì vui vẻ, khắc sâu và nhớ kiến thức được lâu hơn. Qua trò chơi các em biết được tên một số thức ăn áp dụng món ăn nào nên và tốt, hợp lí cho cuộc sống. Đồng thời biết được và tránh những điều không nên cho bà mẹ và em bé trong thực tế thông qua trò chơi…và các trò chơi trên còn áp dụng nhiều môn học khác; đồng thời còn nhiều trò chơi khác áp dụng vào việc học tập tạo niềm vui, hứng thú cho học sinh, giúp các em tiếp thu tốt chương trình học một cách nhẹ nhàng, hiệu quả.

Điều quan trọng nữa mà mỗi giáo viên khi lên lớp không được quên đó là tạo ra môi trường học tập công bằng, thân thiện, hứng thú cho các em.

Trong tiết dạy hay trong quá trình tổ chức trò chơi hoặc trong giờ sinh hoạt lớp giáo viên nên động viên, khuyến khích mặt tích cực, chỉ ra những ưu điểm dù là nhỏ nhất của trẻ để các em cảm thấy mình cũng quan trọng và tự tin hơn trong mắt người khác. Khi trẻ được khen trẻ sẽ đón nhận lời khen ấy với cảm giác vui sướng trẻ sẽ cố gắng thật nhiều sao cho xứng với lời khen ấy và chờ được khen những lần sau. Tránh chê bai hay dùng đòn roi khiến trẻ sợ hãi, mất hết hứng thú hoặc tệ hơn nữa là trẻ chán học, không muốn đi học, thậm chí là bỏ học. Do đó, giáo viên “Hãy luôn đặt mình vào vị trí người khác, nếu điều đó làm tổn thương bạn thì nó cũng sẽ tổn thương người khác”.

Đồng thời trong các cuộc họp phụ huynh, giáo viên cần trao đổi và nắm bắt nguyện vọng của phụ huynh, đặc biệt là phụ huynh có con em thuộc diện khó khăn để lưu ý, quan tâm hơn trong năm học.

Bên cạnh đó, trong năm học giáo viên cần khen kịp thời và động viên những em có thành tích trong hoạt động học tập hay hoạt động phong trào.

Ví dụ cấp trên tổ chức phong trào: ” Giao lưu tiếng Việt”, hay chữ viết đẹp các cấp thì trước khi học sinh đi thi giáo viên nên động viên khuyến khích các em bằng lời nói, bằng cử chỉ yêu thương, bằng món quà nhỏ khích lệ.

Để tạo hứng thú đến trường cho học sinh lớp 5 và nâng cao chất lượng dạy- học tôi nghĩ đồ dùng dạy học là một trong những phương tiện dạy học đạt kết quả cao nhất. Khi trẻ được thấy, được hoạt động trực tiếp trẻ sẽ nhớ rất lâu và khắc sâu những kiến thức mà giáo viên truyền thụ. Trẻ sẽ cảm nhận, nhớ lâu kiến thức thông qua đồ dùng dạy học. Do đó, tôi chuẩn bị tranh ảnh, đồ dùng dạy- học trước khi dạy thật tốt.

Để đạt được kết quả học tập tốt hay không người lĩnh hội chính là trẻ. Trước hết các em cần chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Cùng với các kiến thức lớp 5 như hiện nay đối với học sinh đồng bào dân tộc thiểu số thì việc học các kiến thức theo chuẩn kiến thức kĩ năng không phải là dễ nếu như các em không hứng thú tiếp thu, lĩnh hội thì sẽ khó vận dụng và thực hành những kiến thức đã học vào các tiết học sau.

Giáo viên cần làm sao tạo cho các em thích đến trường, muốn đi học. Chính yêu trường sẽ cho các em sự hứng thú, thích đến lớp trẻ cảm thấy các kiến thức đơn giản, dễ dàng và thoải mái hơn. Đồng thời sẽ đem lại cho các em vốn hiểu biết về thế giới xung quanh và nhìn đời thánh thiện hơn và phát triển tư duy và ngôn ngữ cho các em. Tiếp theo, cơ sở vật chất là yếu tố không thể thiếu để trẻ tiếp nhận và có hứng thú để đạt kết quả cao khi trẻ hứng thú đến trường.

Để học sinh lớp 5 có hứng học, hứng thú đến trường thì cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, … có tầm quan trọng rất lớn đối với các em:

Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên hướng dẫn, nhắc nhở các em vệ sinh trong và ngoài lớp học. Vệ sinh cá nhân gọn gàng, sạch sẽ. Trường học xanh, sạch, đẹp.

Một tiết học muốn giáo viên truyền thụ kiến thức để học sinh có hứng thú học tập thì đòi hỏi lớp học phải sạch, thoáng mát; các đồ dùng của lớp phải để ngăn nắp, gọn gàng; học sinh tự giác rửa tay chân, quần áo thì sạch sẽ; nề nếp học tập phải tốt. Muốn thế giáo viên chủ nhiệm cần hướng dẫn các em trở thành thói quen như: rửa chân tay sạch sau khi lao động xong, quét lớp hàng ngày, lau lớp tuần hai lần, xếp dép thẳng hàng ngăn nắp dưới bậc thềm, lớp học luôn phải sạch như chính ngôi nhà của các em. Cô còn nhắc nhở trò không bẻ cành, ăn quà vặt, bỏ rác đúng nơi quy định. Để xứng đáng là Trường học thân thiện- Học sinh tích cực.

Chiều thứ 5 hàng tuần giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn học sinh lao động (nhổ cỏ xung quanh lớp, nhổ cỏ cho cây, quét) xung quanh lớp học của mình, cùng thầy tổng phụ trách hướng dẫn học sinh trồng thêm cây xanh, tưới nước những cây đã trồng, vệ sinh trường học ngày một đẹp hơn. Chính những điều này hỗ trợ không nhỏ trong việc tạo hứng thú đến lớp, đến trường cho các em. Vì đến trường lớp với ngôi trường sạch sẽ, khang trang, cây xanh che mát và bầu không khí trong lành khi các em chơi.

Trường sạch, lớp đẹp sẽ giúp các em hứng thú tiếp thu và vận dụng thực tế đó vào các môn học ( như môn Tập làm văn tả ngôi trường, sẽ giúp bài văn sinh động, giàu cảm xúc,…) đạt hiệu quả cao hơn trước nhiều.

Bên cạnh đó, lớp học phải có đủ ánh điện, độ chiếu sáng trong lớp học phải đủ. Đặc biệt là những lúc trời mưa, ánh sáng ngoài không chiếu đủ vào lớp. Ánh sáng tốt giúp cho các em nhìn rõ mọi những kiến thức mà giáo viên viết, những gì giáo viên giao nhiệm vụ. Chính điều này giúp học sinh hứng thú học tập.

Đồng thời, bàn ghế phải phù hợp với lứa tuổi các em, cho mọi học sinh ngồi học phải theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào Tạo,

Gia đình là tế bào của xã hội vì thế gia đình đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục trẻ. Một đứa trẻ phát triển tốt đòi hỏi phải sống trong một gia đình có cách giáo dục tốt. Mà muốn trẻ giáo dục tốt thì cần phải bắt đầu từ tuổi ấu thơ, đây chính là nền tảng ban đầu của đứa trẻ. Đặc biệt trẻ học được tấm lòng vị tha, nhân ái, những điều hay lẽ phải trong cuộc sống thì bắt đầu bằng việc giáo dục và hành động của người lớn trước hết là gia đình.

Muốn tạo cho các em nguồn cảm hứng, sự hứng thú khi đến trường thì cha mẹ các em cần phải tạo cho các em một thói quen tốt ngay từ nhỏ và gần gũi với các em. Giáo viên cần trao đổi ngay với phụ huynh khi trẻ có hiện tượng vắng học, có biểu hiện chán học, không để hiện tượng vắng học, chán học kéo dài. Trao đổi với phụ huynh rằng: Một khi trẻ không thích đi học hay có một số biểu hiện chán học phụ huynh cần bình tĩnh hỏi han, cùng trẻ tìm ra nguyên nhân do đâu các em không thích đi học. Khi học sinh đã nói ra nguyên nhân mình không thích đi học như: Thấy cô đơn, không theo kịp kiến thức, bị điểm kém,…cha mẹ không nên trách mắng trẻ, nên tạo cho trẻ môi trường thoải mái để có hứng thú học tập. Cha mẹ học sinh cần phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để tìm ra giải pháp tối ưu nhất cho trẻ như thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè, tạo cho các em lại niềm tin về bản thân, nên khuyến khích trẻ và nói những điều tốt về trường học.

Đồng thời đã qua thực tế và thấy: Do điều kiện ở đây còn khó khăn, một số gia đình quan tâm đã có tương đối đầy đủ đồ dùng nhưng một số gia đình chưa quan tâm và còn khó khăn về kinh tế nên chưa có cho các em đầy đủ đồ dùng học tập. Vì vậy, ngoài những dụng cụ nhà nước phát theo chế độ như sách giáo khoa, vở thì tôi tìm hiểu và cho học sinh thêm các dụng cụ học tập như bút, giấy vẽ,… hoặc mượn được một số đồ dùng ở thư viện trường để lớp có đồ dùng học tập tốt hơn.

Giáo viên cần trao đổi với phụ huynh, cần phối kết hợp với họ để ở trường giáo dục là giáo viên, còn ở nhà phần giáo dục của gia đình rất quan trọng. Đứa trẻ tiếp xúc với trường học đầu tiên ấy là gia đình.

Do đó, gia đình cần giành thời gian quan tâm, động viên, gần gũi trẻ, không nên vì hoàn cảnh khó khăn mà bắt con em mình ở nhà phụ giúp gia đình. Gia đình cần cộng tác với thầy cô giáo. Cha mẹ các em nên báo với giáo viên những lúc học sinh và gia đình cảm thấy khó khăn để giáo viên tìm hướng giải quyết, nếu vấn đề phức tạp giáo viên khó giải quyết sẽ nhờ sự giúp đỡ và kết hợp của Ban giám hiệu hay của cấp trên.

Ở nhà phụ huynh cần nhắc nhở, kiểm tra, đôn đốc việc học của các em.

Cần chuẩn bị bài, học bài, làm bài tập và kiểm tra đồ dùng học tập trước khi đến lớp.

Là học sinh cuối cấp Tiểu học vì thế phụ huynh nên hướng dẫn cho trẻ lập thời gian biểu riêng hàng ngày, giờ nào học, giờ nào chơi, lúc nào phụ giúp gia đình,… hãy tạo điều kiện để trẻ vừa học vừa chơi, thấy việc học cũng vui, cũng bổ ích, lí thú chứ không nhàm chán, không phải là nhiệm vụ quá nặng nề đối với các em.

Bên cạnh đó, giáo viên chủ nhiệm cần kết hợp nhịp nhàng với giáo viên bộ môn như: Hát nhạc, Thể dục, Mỹ thuật, …

Qua tiết học toán, tiếng Việt với những con số, phép tính,tìm hiểu bộ phận câu, … chuyển sang tiết Âm nhạc các em được học những bài hát yêu quê hương, yêu thầy cô, bạn bè, kết hợp với những nốt nhạc đầy cảm xúc làm cho tâm hồn các em hoà cùng những tình cảm ấy, nốt nhạc ấy giúp cho các tiết học sau của học sinh dễ hơn, hiệu quả hơn.

Môn Thể dục trẻ được tập các bài thể dục, các trò chơi bổ ích, lí thú. Qua giờ học này, các em sẽ khoẻ hơn, thư giãn, vui vẻ, hứng thú đến trường, hào hứng đến lớp.

Tiết Mỹ thuật giúp các em tưởng tượng vẽ ra trường học, con vật, đường giao thông, về thầy cô giáo kính yêu, bố mẹ, chú bộ đội yêu quý, chúng tôi vào lòng các em biết bao tình cảm, tình yêu thể hiện qua nét vẽ, chiếc bút màu đầy mầu nhiệm. Chính những đồ dùng, tiết học tưởng chừng như đơn giản đó nhưng chưa đựng bao nhiêu điều hay, điều tốt về thế giới xung quanh của cuộc sống. Giúp các em bổ sung thêm vốn phong phú về cái đẹp trong tâm hồn non nớt của mình.

Để chất lượng dạy – học ngày càng cao và kịp với các trường bạn trong huyện nhà thì không những dạy học sinh biết kiến thức mà còn dạy các em có kiến thức, nhớ lâu và áp dụng kiến thức đó vào trong các môn học cũng như trong cuộc sống, để có được điều ấy thì bên cạnh người giáo viên truyền cho trẻ hứng thú và từ những bài học trên lớp để lớp học tiếp thu, liên hệ và áp dụng vào trong cuộc sống. Cần phối kết hợp nhịp nhàng với các đoàn thể như khi họp Đảng đồng chí Bí thư chi bộ luôn triển khai và trao đổi với giáo viên nhắc học sinh đi học đều, cần chuẩn bị kĩ bài và đồ dùng dạy học trước khi đến lớp.

Trong các buổi chào cờ đầu tuần thầy tổng phụ trách nhắc nhở: không bẻ cành, hái hoa, yêu thương mọi người, chăm học, đi học chuyên cần, khen ngợi kịp thời nhưng học sinh có thành tích trong học tập,…. Chính những điều đó đã hình thành đức tính tốt và tạo hứng thú cho các em đến trường.

Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm cần kết hợp với Tổng phụ trách Đội tổ chức một số hoạt động ngoại khoá ngoài giờ và xen kẽ các buổi học để thu hút học sinh đến trường.

Học sinh hứng thú đến trường, yêu thích môn học, chất lượng học tập được nâng lên. Học kì I vừa qua một số em đạt học sinh tiên tiến. Nhà trường, giáo viên, phụ huynh và học sinh rất phấn khởi.

II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.

Qua một thời gian lớp có chuyển biến rõ rệt về chất lượng học tập. Trong giờ học có sự kết hợp giữa giáo viên và học sinh nhịp nhàng, tình trạng thụ động tiếp thu bài không còn nữa, không khí học tập trở nên sôi nổi, tiết học nhẹ nhàng, học sinh thực sự có hứng thú khi đến lớp, đến trường; đi học không phải là sự ép buộc mà đi học rất lí thú và cần thiết, là niềm vui mỗi ngày của các em.

So với trước khi áp dụng đề tài thì đa số các em đã rất yêu thích và thích đến trường chỉ còn một vài học sinh chưa thích trong lớp tôi áp dụng.

Đồng thời yêu thích đến trường vì theo các em đến trường tiếp thu những điều thú vị, thầy cô giáo rất gần gũi với các em, có nhiều bạn bè chơi rất vui,…

Các em đã có hứng thú đến trường, so với trước đây thì bây giờ các em đã chuẩn bị đồ dùng học tập và chuẩn bị bài chu đáo, đã tích cực tham gia vào các hoạt động học tập cũng như các hoạt động tập thể khác.

Trẻ thật sự muốn đến trường, đối với các em đến trường có những điều đầy thú vị và bổ ích. Trẻ hứng thú và yêu thích đến trường làm cho trẻ mạnh dạn hơn trong học tập, dẫn đến đã mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp,…

Khả năng giao tiếp giữa học sinh với giáo viên, giữa các em với nhau được gần gũi hơn. Học sinh bộc lộ lên những ý muốn, những sở thích riêng của mình với bạn bè với thầy cô.

Việc vận dụng những kinh nghiệm đó đã nâng cao hiệu quả của giờ lên lớp, phát huy được tính chủ động sáng tạo và tạo được niềm cảm xúc, sự hứng thú say mê thực sự đối với học sinh.

Trong quá trình nghiên cứu và qua kinh nghiệm dạy học, tôi rút ra một số kết luận sau :

Trong quá trình dạy học muốn đạt hiệu quả cao phải nắm được đặc điểm của từng môn học. Vì vậy, để học sinh hứng thú đến trường. Dạy học tốt các môn và đạt hiệu quả cao người giáo viên cần nắm được đặc điểm của từng môn trong chương trình và đòi hỏi đầu tiên theo tôi đó là sự tận tâm, nhiệt tình, yêu thương học sinh. Trong mỗi giờ dạy, người giáo viên phải tạo được sự say mê cho bản thân mình cũng như tạo hứng thú cho học sinh. Chuẩn bị tốt bài dạy, biết kết hợp hài hoà giữa các yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học sinh, kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh, kết hợp giữa giáo viên và đoàn thể…tôi thiết nghĩ việc tạo hứng thú đến trường không còn là băn khoăn, vướng mắc của người giáo viên nữa.

Trường tôi, học sinh là con em dân tộc tại chỗ việc tiếp thu kiến thức rất hạn chế và khó khăn hơn nhưng chỉ sau một thời gian áp dụng các biện pháp, giải pháp trên tôi thấy kết quả tăng lên rõ rệt. Thông qua đây tôi thấy hoạt động dạy học được tiến hành nhẹ nhàng, sinh động. Các em được lôi cuốn vào quá trình học một cách tự nhiên, đến trường đầy hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải tỏa được những mệt mỏi căng thẳng trong quá trình học tập. Các giờ học sẽ nhẹ nhàng hơn, không còn khô khan, cứng nhắc, nhạt nhẽo nữa. Nội dung giáo dục mà giáo viên truyền đạt tới học sinh sẽ được các em tiếp thu dễ dàng hơn, hiệu quả hơn. Chất lượng dạy học được nâng lên. Vì thế, thiết nghĩ vấn đề này không chỉ áp dụng có hiệu quả riêng cho trường tôi mà có thể áp dụng hiệu quả đến những ai quan tâm đến vấn đề này.

Để nâng cao chất lượng học tốt và hứng thú đến trường cho học sinh, tôi xin có một vài đề xuất sau:

Về phía nhà quản lí giáo dục phải tăng cường nhiều biện pháp kiểm tra, giám sát quá trình dạy học một cách sát sao hơn.

Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhà trường, có đầy đủ các bộ tranh ảnh, có sách tham khảo, các loại băng hình cho giáo viên phục vụ cho việc dạy học các môn.

Phát huy tối đa hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên môn để học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp, các trường có phong trào.

Cần có các buổi ngoại khoá, các trò chơi bổ ích ngoài giờ lên lớp nhiều hơn.

Về phía phụ huynh cần quan tâm, chú ý đến các môn học và tạo những thói quen tốt ngay từ nhỏ cho các em.

Áp dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp dạy học trên cơ sở phát huy tính tích cực của học sinh.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

– Công văn số 237/PGD&ĐT “V/v Triển khai làm Sáng kiến kinh nghiệm” Năm học 2013-2014.

– Danh ngôn về học tập.

– Luật giáo dục -1998

– Bùi Phương Nga, Lương Việt Thái…Khoa học 5/Tập 2 Bộ Giáo dục và Đào tạo

– Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn- Văn học dân gian Việt Nam – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 1996…

– Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Hoà Bình, Trần Mạnh Hưởng…Sách giáo viên lớp 5 Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam

– Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Thị Hạnh…Tiếng Việt 5/Tập 1, tập 2 Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ Hứng Thú Tham Gia Vào Hoạt Động Kpkh / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!