Đề Xuất 11/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức / 2023 # Top 13 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thực tế cho thấy việc đó đòi hỏi giáo viên phải chủ động lựa chọn  nội dung theo từng đối tượng học sinh, tức là phải dạy học xuất phát từ trình độ, năng lực, điều kiện cụ thể của từng học sinh. Điều đó có nghĩa là phải “cá thể hoá” dạy học, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập. Điều đó không có nghĩa là làm giảm vai trò của người giáo viên mà chính là làm tăng vai trò chủ động, sáng tạo của họ. Điều đó cũng kéo theo sự thay đổi hoạt động học tập của học sinh. Mục đích của việc làm này là nhằm tạo điều kiện cho mọi học sinh có thể học tập tích cực, sáng tạo, chủ động theo khả năng của mình trong từng lĩnh vực. Cách dạy này gọi là: “Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh” (phương pháp dạy học toán). Vì lý do trên mà trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi đưa ra một số biện pháp gây hứng thú trong giờ học toán cho học sinh tiểu học bằng cách tổ chức các hoạt động học tập để học sinh tự tìm tòi khám phá kiến thức mới góp phần nâng cao chất lượng trong các giờ học toán. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Thực trạng của lớp: I.1 Thuận lợi Cơ sở vật chất đảm bảo, đủ ánh sáng thoáng mát. Các em đã qua chương trình học lớp 1 dến lớp 4 của môn toán và đã làm quen với các phép tính cơ bản và làm quen với phần phân số, Các em được đào tạo theo chẩn mực của học sinh từ những năm trước nên nề nếp lớp ổn định và các em tương đối ngoan trong các giờ học. I.2. Khó khăn Tâm lý học sinh hiện nay, việc học môn toán, các em rất ngại hay nói đúng hơn là sợ do còn yếu và ít học toán. Thời gian tập trung cho việc học toán còn ít. Do vậy, học sinh không phát triển được năng lực tư duy, tìm tòi sáng tạo trong khi học môn toán, không hình thành được kĩ năng khái quát hóa, trừu tượng hóa của trí lực học sinh. Năm học trước, tôi áp dụng đề tài này cho lớp tôi và thấy có kết quả rất khả quan nên đến đầu năm học 2011-2012, được sự đồng ý của Hội đồng khoa học trường, tôi đăng ký thực hiện đề tài này cho học sinh lớp lớp 5A. Do đó, vào đầu năm học tôi thống kê các sai lầm của học sinh trong lớp tôi để tìm ra nguyên nhân và các biện pháp để khắc phục ngay cho môn toán. Qua thống kê, tôi nhận thấy học sinh của lớp tôi học chưa tốt về môn toán do những nguyên nhân sau: Một số em tiếp thu bài còn chậm, ý thức tự học chưa cao. Chưa hiểu và nắm được đầy các khái niệm trong môn toán và chưa có hứng thú trong môn học toán. II. Biện pháp thực hiện II.1. Tự tìm tòi, khám phá kiến thức trong học tập. Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội; con người không chỉ tiếp thu những cái đã có mà luôn chủ động tìm tòi, khám phá, sáng tạo ra những cái mới phục vụ cho nhu cầu và cuộc sống của mình. Tính tích cực trong học tập là tính tích cực trong hoạt động nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh nội dung học tập bằng hoạt động tìm tòi, khám phá. Hoạt động tìm tòi, khám phá là một chuỗi hành động và thao tác để hướng tới một mục tiêu xác định. Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có nhiều dạng khác nhau, từ mức độ thấp đến mức đọ cao tuỳ theo năng lực tư duy của từng học sinh và được tổ chức thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm. Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có thể tóm tắt như sau: A. Mục tiêu của hoạt động: – Hình thành kiến thức, kĩ năng mới. – Xây dựng thái độ, niềm tin cho học sinh. – Rèn luyện khả năng tư duy, năng lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề. B. Các dạng hoạt động: – Trả lời câu hỏi và đặt câu hỏi.(hỏi – đáp) – Lập bảng, biểu đồ, sơ đồ, phân tích dữ kiện. – Thông báo kết quả, kiểm định kết quả. – Đưa ra giải pháp, kiến thức mới. C. Hình thức tổ chức: – Hoạt động cá nhân. – Hoạt động theo nhóm (2 người hoặc 4 người). – Làm việc chung cả lớp. – Trò chơi. II.2. Tác dụng của hoạt động tự tìm tòi khám phá kiến thức mới. – Giúp học sinh rèn luyện tính chủ động, sáng tạo trong học Toán. – Học sinh sẽ hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức nếu như chính mình tìm ra kiến thức đó hoặc góp phần cùng các bạn tìm tòi, khám phá, xây dựng lên kiến thức đó. – Trong quá trình tìm tòi, khám phá học sinh tự đánh giá được kiến thức của mình. Cụ thể: + Khi gặp khó khăn chưa giải quyết được vấn đề, học sinh tự đo được thiếu sót của mình về mặt kiến thức, về mặt tư duy và tự rút kinh nghiệm. + Khi tranh luận với các bạn, học sinh cũng tự đánh giá được trình độ của mình so với các bạn để tự rèn luyện, điều chỉnh. – Trong quá trình học sinh tự tìm tòi, khám phá, Giáo viên biết được tình hình của học sinh về mức độ nắm kiến thức từ vốn hiểu biết, từ bài học cũ; trình độ tư duy, khả năng khai thác mối liên hệ giữa yếu tố đã biết với yếu tố phải tìm. – Học sinh tự tìm tòi, khám phá sẽ rèn luyện được tính kiên trì vượt khó khăn và một số phẩm chất tốt của người học Toán như: Tự tin, suy luận có cơ sở, coi trọng tính chính xác, tính hệ thống… II.3. Quy trình dạy học để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới. II.3.1. Đặc trưng của cách dạy – Giáo viên đặt ra bài toán nhận thức chứa đựng mâu thuẫn hoặc mối quan hệ giữa cái đã biết với cái phải tìm theo cấu trúc một cách hợp lí, tự nhiên. – Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn và được đặt vào tình huống có vấn đề. Khi đó học sinh được đặt vào trạng thái muốn tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh nội dung kiến thức. – Bằng cách giải bài toán nhận thức mà học sinh lĩnh hội được một cách tự giác và tích cực cả kiến thức và kĩ năng; từ đó có được niềm vui của sự nhận thức sáng tạo. II.3.2. Quy trình cụ thể. Bước 1: Ôn tập tái hiện Bước 2: Phát hiện, nêu vấn đề: Cho học sinh phát hiện ra những vấn đề chưa rõ và xem đó là vấn đề cần được giải quyết trong tiết học đó. Bước 3: Tổng hợp, so sánh và đề xuất ý tưởng: Bước 4: Dự đoán giả thuyết: Cho học sinh suy nghĩ tiếp và dự đoán hay đề xuất giả thuyết về nội dung kiến thức, kĩ năng mới. Bước 5: Kiểm tra giả thuyết: Cho học sinh kiểm tra giả thuyết đã đề xuất qua một số ví dụ cụ thể để khẳng định đó là kiến thức, kĩ năng mới. Bước 6: Rút ra kiến thức mới: Sau khi kiểm tra và khẳng định giả thuyết đó là đúng, Giáo viên cho học sinh phân tích tìm ra kết luận chung về kiến thức, kĩ năng mới. II.3.3. Một số lưu ý khi thực hiện cách dạy để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới. – Phải chú ý ngay từ việc soạn giáo án. Phải tập trung vào việc thiết kế các hoạt động của học sinh trước, trên cơ sở đó mới xác định các hoạt động chỉ đạo, tổ chức của Giáo viên. – Số lượng hoạt động và mức độ tư duy trong mỗi tiết học phải phù hợp với trình độ học sinh để có đủ thời gian tổ chức hoạt động tìm tòi, khám phá. – Nghiên cứu kĩ nội dung bài học, tìm kiếm các tinh huống có vấn đề, tạo cơ hội cho học sinh tìm tòi, khám phá. II.3.4. Một số ví dụ: II.3.4.1. Ví dụ 1: Tuần 1 – Bài: Phân số thập phân (trang 8 SGK) I. Mục tiêu. – Giúp học sinh nhận biết được các phân số thập phân. – Giúp các em biết được một số phân số có thể viết thành phân số thập phận và biết cách chuyển những phân số đó thành phân số thập phân. II. Các hoạt động dạy học chủ yếu. 1. Kiểm tra bài cũ: (5 – 6 phút) – Kiểm tra viết tất cả học sinh trong lớp ( có thể dùng phiếu kiểm tra). (1 học sinh lên bảng làm , yêu cầu học sinh này trình bày ở bảng bên trái.) Đề bài Đáp án (Học sinh làm) a) So sánh với = = = = b) với = = = = 2. Bài mới a) Giới thiệu bài: Dựa vào các bài làm trên bảng, giáo viên dùng thước để chỉ vào những phân số nói đến: Để so sánh với ta so sánh hai phân số tương đương là với , để so sánh với ta so sánh 2 phân số tương ứng là với , những phân số này…… và phân số (giáo viên dùng phấn màu đóng khung 5 phân số đó) gọi là phân số thập phân. Từ đó giáo viên giới thiệu tên bài mới VD: Phân số thập phân b. Giới thiệu về phân số thập phân: ( 15 – 18 phút) *) Nhận biết phân số thập phân. – Dựa vào 5 phân số trên, mỗi học sinh trong lớp viết vào giấy nháp 2 phân số thập phân và hai phân số không phải là phân số thập phân (1 học sinh A lên bảng viết). – Tất cả lớp, dùng bút đánh dấu đặc điểm của phân số thập phân (học sinh A cũng làm tương tự ở bảng). – Ba, bốn học sinh nêu đặc điểm mà minh đánh dấu (trong đó có học sinh A) – Giáo viên tổng kết theo phần a (SGK) và yêu cầu cả lớp cầm bút gạch 1 gạch dưới 3 chữ: Có mẫu số và gạch 2 gạch dưới các số 10;100,1000;… (trong SGK) – Giáo viên viết sẵn 5 phân số (ở bài 3 trang 8) vào băng giấy rồi gắn lên bảng. Gọi 1 học sinh lên bảng, yêu cầu dùng bút hãy xoá những phân số không phải là phân số thập phân trong 5 phân số ở băng giấy đó – tất cả học sinh còn lại cũng dùng bút xoá tương tự ở bài 3 trang 8 SGK. – Cũng từ bài làm kiểm tra của học sinh ở trên (đáp án). Giáo viên chỉ và nói tiếp: Khi so sánh với ta đã chuyển thành và chuyển thành , … thế là ta đã làm 1 việc là chuyển từ 1 phân số thành 1 phân số thập phân. *) Chuyển 1 phân số thành phân số thập phân. Dựa theo cách chuyển như bài kiểm tra trên. – Từng em trình bày trong giấy nháp, chuyển và thành phân số thập phân. – Gọi 1 học sinh lên bảng làm. – Cả lớp sửa lại câu trên thành 1 câu đúng. (gọi 1 học sinh lên bảng viết câu đúng đó). – Giáo viên tổng kết và gắn lên bảng băng giấy đã viết sẵn cách chuyển. Cách chuyển: Tìm một số khi nhân với mẫu số để được 10, 100, 1000… rồi nhân số ấy với cả tử số và mẫu số sẽ được phân số thập phân. c. Thực hành ( 12 – 15 phút). Bài 1: Đọc phân số thập phân. Từng em trong lớp (gọi một học sinh lên bảng làm) ghi lời đọc cho từng phân số thập phân ở dưới phân số thập phân đó trong SGK. Theo mẫu. ; ; ; ; Chín phần mười Bài 2: Viết phân số thập phân. Tiến hành tương tự như trên. Theo mẫu: Bảy phần mười; hai mươi phần trăm; bốn trăm bảy mươi lăm phần nghìn; một phần triệu. Bài 4. Chuyển phân số thành phân số thập phân. + Tất cả học sinh điều làm bài ngay trong sách giáo khoa hoặc vào giấy nháp (gọi 2 học sinh lên bảng). Giáo viên chú ý kèm cặp, giúp đỡ những em còn yếu làm bài. II.3.4.2- Ví dụ 2: Tuần 15 – Bài: Giải toán về tỉ số phần trăm (trang 75 SGK) I. Mục tiêu. Giúp học sinh: – Biết cách tìm tỷ số phần trăm của hai số. – Biết vận dụng để giải các bài toán đơn giản có nội dung tìm tỷ số phần trăm của hai số. II. Các hoạt động dạy học chủ yếu * Hoạt động 1: Tổ chức cho học sinh nhắc lại khái niệm tỉ số phần trăm. chẳng hạn: GV nêu bài toán tương tự ví dụ 2 trang 74 trong SGK, ghi tóm tắt lên bảng: Số HS toàn trường: 400 Số học sinh nữ: 208 Sau đó hỏi học sinh: Tỉ số phần trăm của số học sinh nữ và số học sinh toàn trường là bao nhiêu? Hay: Số HS nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số HS toàn trường? (Kết quả là 52%). * Hoạt động 2: Giới thiệu hoặc hướng dẫn HS cách tìm tỉ số phần trăm của hai số 315 và 600. – Gợi ý để HS có thể viết tỷ số của số HS nữ và số HS toàn trường (315 : 600). – Giao việc cho HS làm thế nào để đưa tỉ số (315 : 600) về tỉ số phần trăm. Từ đó xuất hiện vấn đề cần phải giải quyết. – Giúp HS tự tìm đọc cách giải quyết là thực hiện phép chia. Nếu không thì yêu cầu HS thực hiện phép chia (315 : 600 = 0,525). – Hướng dẫn để HS tự tìm thấy được là để chuyển tỉ số về tỉ số phần trăm thì phải nhân kết quả đó với 100 và chia cho 100. 0,525 x 100 : 100 = 52,5 : 100 = 52, 5%. – Từ đó dẫn dắt giúp học sinh nêu được quy tắc: + Chia 315 cho 600. + Nhân thương đó với 100 và viết kí hiệu % vào bên phải tích vừa tìm được. * Hoạt động 3: Hướng dẫn HS vận dụng để giải bài toán có nội dung tìm tỉ số phần trăm. – GV đọc bài toán hoặc gọi HS đọc bài toán trong SGK và giải thích: Khi 80 kg nước biển bốc hơi hết thì thu được 2,8 kg muối. Tìm tỉ số phần trăm của lượng muối trong nước biển. – Hướng dẫn học sinh trình bày lời giải bài toán: Bài giải Tỉ số phần trăm của lượng muối trong nước biển là: 2,8 : 80 = 0,035 0,035 = 3,5 % Đáp số : 3,5 % * Hoạt động 4: Tổ chức cho HS luyện tập thực hành qua 3 bài tập. Bài 1: Cho HS nêu bài toán, GV giới thiệu mẫu. Yêu cầu HS làm vào vở, sau đó trao đổi kết quả với nhau. 0,3 = 30%; 0,234 = 23,4 %; 1,35 = 135 %. Bài 2: Giáo viên giới thiệu mẫu (cho HS thực hiện tính 19 : 30, dừng lại ở 4 chữ số sau dấu phẩy, viết 0,6333… = 63,33%). Cho HS tự làm bài, gọi 1 vài HS trình bày trên bảng rồi chữa bài. Kết quả là: 45 : 61 = 0,7377… = 73,77 %; 1,2 : 26 = 0,0461 … = 4,61 %. Bài 3: Hướng dẫn HS tìm hiểu đề bài, tóm tắt bài toán, làm vào vở. GV chú ý giúp đỡ học sinh còn lúng túng. Có thể cho HS trao đổi theo nhóm để giải toán. Gọi HS trình bày trên bảng hoặc bảng phụ. Bài giải Tỉ số phần trăm của số HS nữ và số HS của lớp học là. 13 : 25 = 0,52. 0,52 = 52% Đáp số: 52% II.3.4.3- Ví dụ 3: Tuần 18 – Bài: Diện tích hình tam giác (trang 87 SGK) I/- Mục tiêu. – HS tự hình thành được công thức tính diện tích của hình tam giác. – Biết vận dụng công thức để tính diện tích hình tam giác. II/- Các hoạt động dạy học chủ yếu Hoạt động 1: Hình thành công thức tính diện tích hình tam giác. Bước 1: Tạo tình huống có vấn đề. GV: Đưa hình tam giác chuẩn bị sẵn (như hình vẽ 1), yêu cầu HS tính diện tích của hình tam giác (xem hình 1). 3cm 4cm Bước 2: Tổ chức cho HS phát hiện và tìm hiểu vấn đề (hoạt động theo nhóm nhỏ). – GV gợi ý để HS phát hiện được: Vấn đề được đặt ra là gì? (tính diện tích của hình tam giác). HS tìm cách giải quyết vấn đề? Bước 3: Tổ chức cho học sinh hoạt động giải quyết vấn đề. Cắt tam giác ghép thành hình chữ nhật (hình 2). Sử dụng hai tam giác bằng nhau, ghép thành hình bình hành (hình 3). Sử dụng hai tam giác bằng nhau, ghép thành hình chữ nhật (hình 4). Hoặc đếm số ô vuông nằm trọn trong tam giác (hình 1). Hình 2 Hình 3 Hình 4 – Các nhóm trình bày cách giải quyết vấn đề của nhóm mình và trao đổi ý kiến về các cách đó để tự rút ra được: Có 2 cách là thuận lợi hơn cả, đó là: Cách 1: Sử dụng 2 tam giác bằng nhau ghép thành 1 hình bình hành. Cách 2: Sử dụng 2 tam giác bằng nhau cắt, ghép thành hình chữ nhật. (các cách khác nhau không thuận lợi bằng). GV có thể hướng dẫn: Theo cách 1: Dùng 2 tam giác bằng nhau ghép lại để tạo thành hình bình hành ABCD (như hình vẽ) A H H Cho học sinh so sánh, đối chiếu các yếu tố hình học trong hình để thấy: Hình bình hành ABCD gổm 2 hình tam giác bằng nhau ghép lại nên có diện tích gấp 2 lần diện tích hình tam giác ABC. Hình bình hành ABCD và hình tam gíc ABC có chung đáy BC và đường cao AH. Tính diện tích hình bình hành ABCD bằng cách: lấy đáy x chiều cao, tức là BC x AH. Rút ra cách tính diện tích hình tam giác ABC là: Từ đó nêu quy tắc và công thức tính như SGK Theo cách 2 (là cách trong SGK): Sử dụng mô hình chuẩn bị trước: Lấy ra 2 tam giác bằng nhau (trong đó có một tam giác đã chia làm hai mảnh) rồi ghép thành hình chữ nhật. Hoặc sử dụng giấy (đã chuẩn bị sẵn ở trên ), cắt đồng thời 2 tam giác bằng nhau (gấp đôi mảnh giấy, cắt theo hình tam giác đã vẽ), rồi cắt một tam giác (theo đường cao) được 2 tam giác nhỏ ghép vào tam giác kia để được hình chữ nhật. Bước 4: Tổ chức cho HS phân tích vấn đề và khái quát hoá vấn đề (hoạt động cá nhân kết hợp hoạt dộng chung cả lớp). + GV mô tả hoạt động cắt, ghép trên bằng hình vẽ: Đường cắt 1 2 1 2 + GV hướng dẫn HS so sánh, đồi chiếu các yếu tố hình học trong hình vừa ghép để nhận thấy: Chiều rộng của hình chữ nhật bằng chiều cao của hình tam giác, chiều dài của hình chữ nhật bằng cạnh đáy của hình tam giác. Từ đó, GV có thể gợi ý: * Viết ngắn gọn cách tính diện tích của hình chữ nhật? (Chiều cao x đáy). * So sánh diện tích của hình tam giác với diện tích của hình chữ nhật và rút ra cách tính diện tích của hình tam giác (chiều cao x đáy: 2); + GV nhận xét kết quả làm việc của HS, hướng dẫn HS khái quát hoá: S = a x b : 2, trong đó a là độ dài đáy, h là chiều cao tương ứng với đáy a (a và h có cùng đơn vị đo) S là diện tích (kèm hình vẽ). h a * Lưu ý HS: Cần ghi nhớ công thức, cách thành lập công thức để vận dụng trong những trường hợp khác sẽ gặp sau này. + Học sinh áp dụng công thức (vừa thành lập) để tính diện tích tam giác đã nêu trong bước 1 (3 x 4 : 2 = 6 (cm2)) Hoạt động 2: : Thực hành Bài 1: Tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo. + HS tự làm và nêu kết quả. HS khác nhận xét (cách tính và kết quả). 8 x 6 : 2 = 24 cm2; 2,3 x 1,2 : 2 = 1, 38 dm2. + GV tổ chức cho HS khá, giỏi giúp đỡ bạn. Nhận xét về đơn vị đo (đáy và chiều cao đều có đơn vị đo là cm (dm)), diện tích có đơn vị đo là cm2 (dm2). Bài 2: Tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao không có cùng đơn vị đo (1 bài) và 1 bài tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo, số đo là số thập phân nhưng số chữ số ở phần nguyên khác nhau. + HS tự làm và nêu kết quả? HS khác nhận xét. a) 5m = 50 dm; hoặc 24 dm = 2,4 m. 50 x 24 : 2 = 600 (dm2); hoặc 5 x 2,4 : 2 = 6 (m2). b) 42,5 x 5,2 : 2 = 110,5 (m2) + HS phát hiện thêm vấn đề: số đo độ dài đáy và chiều cao không cùng đơn vị đo (câu a).+ GV tổ chức cho HS khá, giỏi giúp đỡ bạn. GV nhận xét, kết luận và nêu vấn đề: trước khi áp dụng công thức tính diện tích hình tam giác cần lưu ý điều gì? (đổi số đo độ dài đáy và chiều cao về cùng số đo) III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Kết quả đạt được: Lớp 5A GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH YẾU SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) Sĩ số:31 Nhờ vận dụng những biện pháp tạo tình huống có vấn đề trong tiết dạy Toán ở trên tôi thấy chất lượng môn Toán của lớp tôi tăng lên rất nhiều. Tôi đã đối chiếu bài kiểm tra cuối học kỳ II với bài kiểm tra Khảo sát đầu năm học năm như sau: IV. KẾT LUẬN Các biện pháp tạo ra tình huống có vấn đề trong tiết dạy Toán là rất quan trọng, nó mang lại rất nhiều lợi ích cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. – Về nhận thức: đa số giáo viên trong nhà trường đều hiểu và xác định được vai trò và sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình lên lớp. giáo viên, tổ chuyên môn đều xây dựng các giờ dạy thử, các giờ dạy mẫu nhằm định hình cho mình một phương pháp dạy học phù hợp trong từng bài dạy, tiết dạy. nếu trước kia giáo viên đổi mới phương pháp dạy học chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bản thân thì nay dựa vào cơ sở khoa học và định hướng của đề tài mà giáo viên có một cách nhìn tổng thể để đổi mới phương pháp dạy học, nhờ đó mà thực hiện dễ dàng và hiệu quả hơn. Cách dạy này có một số ưu điểm sau: + Học sinh nắm chắc được kiến thức trọng tâm của bài. + Phát huy được tính chủ động, tích cực trong học tập. + Giáo viên không phải nói nhiều mà thay vào đó học sinh sẽ được thực hành nhiều. + Các tồn tại của những năm học trước đã được khắc phục ở năm học này. + Tiết học đảm bảo đúng thời gian quy định (không kết thúc sớm), tránh được sự đơn điệu trong bài học, thu hút sự chú ý của học sinh. Tôi xin trân thành cảm ơn Người viết Nguyễn Ngọc Ánh V. KIẾN NGHỊ 1. Đối với nhà

Luận Văn Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 5 / 2023

Luật phổ cập giáo dục Tiểu học có ghi “Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất của trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam XHCN”. Để tiến kịp thời đại, phục vụ kịp thời cho sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước, giáo dục Tiểu học đã và đang trở thành mối quan tâm lớn của toàn xã hội. Bậc Tiểu học được coi là nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân. Chất lượng giáo dục phổ thông tuỳ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc Tiểu học. Vì thế, giáo dục Tiểu học phải chuẩn bị thật tốt về mọi mặt để học sinh tiếp tục học lên. Đồng thời, giáo dục Tiểu học có trách nhiệm xây dựng một nền dân trí tối thiểu cho cả dân tộc. Chương trình giáo dục Tiểu học phải xây dựng một cách khoa học để có thể hình thành cho trẻ em từ 6 đến 11 tuổi những cơ bản ban đầu hết sức quan trọng trong nhân cách con người Việt Nam hiện đại, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện tại cũng như trong tương lai. Có thể nói, mỗi tri thức, kỹ năng, năng lực học sinh được rèn luyện ở bậc Tiểu học sẽ định hình những phẩm chất, nhân cách cho học sinh. những gì đã hình thành trong các em, sau này lớn lên khó mà thay đổi được. Vì vậy nhà trường có nhiệm vụ rèn luyện, giáo dục học sinh trở thành những con người phát triển toàn diện. Để làm được điều đó cần coi trọng tất cả các môn học và mỗi môn có một đặc trưng riêng, môn nào cũng có ý nghĩa, mục đích, yêu cầu riêng nhưng đều hỗ trợ, bổ sung cho nhau góp phần giáo dục con người phát triển một cách toàn diện. Để chiếm lĩnh được đỉnh cao của khoa học kỹ thuật càng cần phải có nhiều nhân tài, phải giỏi về các môn khoa học tự nhiên và xã hội trọng đó có môn Toán.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Học Sinh Yếu Toán Lớp 2 / 2023

Qua thực tiễn giảng dạy, Chúng tôi nhận thấy rằng trong một lớp bao giờ cũng xuất hiện 3 đối tượng hs: Học sinh khá giỏi, học sinh trung bình, học sinh yếu kém. Do vậy chất lượng của lớp không đồng đều. Vì thế trong quá trình giảng dạy, người giáo viên phải chú ý cả ba đối tượng hs này, phải có một phương pháp giảng dạy thích hợp. Trong bài giảng bao giờ cũng phải có hệ thống câu hỏi thích hợp, dành cho từng đối tượng hs để gây cho các em lòng tin, tự khẳng định bản thân mình. Nếu chỉ có lòng nhiệt tình thôi thì chưa đủ mà giáo viên còn phải có phương pháp giảng dạy thích hợp, có năng lực và trình độ sư phạm tốt có kinh nghiệm trong giảng dạy. Nhất là đối với hs yếu, kém phải hết sức quan tâm bồi dưỡng thì các em mới theo kịp bạn bè và nắm được hệ thống kiến thức lô gíc. Mỗi thầy cô là một tấm gương sáng cho hs noi theo. Muốn đạt được điều đó thì người giáo viên phải có trình độ cao, có ý thức học hỏi, trau dồi và nâng cao kiến thức, nâng cao trình độ cho bản thân.

ến 1. Hoàn cảnh nảy sinh sỏng kiến: Đổi mới phương phỏp dạy học là một vấn đề rất cần thiết trong quỏ trỡnh giảng dạy hiện nay. Đũi hỏi người giỏo viờn cần cú sự đầu tư rất lớn để tỡm ra phương phỏp dạy thớch hợp. Tuy nhiờn, đú khụng là một vấn đề đơn giản mà mỗi chỳng ta cần phải gúp một phần cụng sức nhỏ bộ của mỡnh trong giảng dạy. Từ đú rỳt ra những kinh nghiệm của bản thõn trong thực tế giảng dạy, để cú biện phỏp dạy học tốt hơn nhất là phần rốn học sinh học yếu Toỏn lớp 2.Chớnh vỡ vậy,chỳng tụi đó cố gắng tỡm hiểu, nghiờn cứu để tỡm ra những biện phỏp rốn học sinh yếu Toỏn ở lớp 2. Cơ sở lớ luận: Tiểu học là bậc học" nền tảng" trong nền giáo dục nước nhà. Vì vậy người giáo dục- giáo viên Tiểu học có một vai trò rất quan trọng là người đặt viên gạch hồng đầu tiên xây dựng nền móng tri thức cho các em là một ông thầy tổng thể tạo điều kiện cho các em phát triển toàn diện. Đối với học sinh Tiểu học, được đi học là bước ngoặt trong cuộc sống của trẻ. Các em được đặt chân vào một thế giới khoa học đầy mầu sắc và cũng rất mới mẻ. Các em được tiếp cận với các môn học về tự nhiên và xã hội. Trong đó môn Toán có một vị trí rất quan trọng, nó đòi hỏi người thầy giáo có một sự lao động nghệ thuật sáng tạo, tìm ra những phương pháp phù hợp. Đặc biệt nó đòi hỏi mỗi học sinh phải có niềm say mê, có phương pháp học tập sáng tạo để giải các bài tập toán. Với hs lớp 2, các em đã được học Một năm ở bậc Tiểu học lẽ ra các em phải có phương pháp và các kỹ năng cơ bản để giải toán. Song trong thực tế giảng dạy chỳng tôi thấy vẫn còn một số hs học yếu môn Toán. Trước tình hình của lớp, với lòng yêu nghề mến trẻ của mình, với trách của một người giáo viên chỳng tôi đã băn khoăn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để hs dễ hiểu giảm bớt khó khăn, hạn chế hs học yếu toán ở lớp 2. Đây cũng chính là lí do khiến chỳng tôi chọn đề tài: " Một số biện pháp rèn học sinh yếu Toán ở lớp 2". Nghiên cứu đề tài này chỳng tôi mong rằng sẽ tìm ra được những nguyên nhân học sinh học yếu toán và tìm ra được những giải pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng môn Toán ở lơp 2, góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giáo dục nói chung và công tác giảng dạy ở trường Tiểu học nói riêng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp " Công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước". 2. Thực trạng của vấn đề: Ngay từ khi nhận lớp chỳng tôi đã bắt tay vào việc nghiên cứu tình hình học tập của các em. Thông qua sổ điểm, học bạ, vở nghi, vở bài tập của các em chỳng tôi thấy các em nắm kiến thức Toán còn mơ hồ chưa chắc, có nhưng em học rất yếu. Số em yếu là đa dạng, có những em yếu cả Toán và Tiếng Việtnhưng đa số các em học yếu Toán. Cụ thể tôi đã thống kê được kết quả về môn Toán của hai lớp như sau: Cụ thể chỳng tôi đã thống kê được kết quả về môn Toán của hai lớp như sau: Số HS Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Lớp2A(29 ) 6 21 12 41 6 21 5 17 Lớp 2B(24) 4 17 10 41 6 25 4 17 Như vậy bước đầu chỳng tôi đã tìm ra những hs yếu trong số em được bồi dưỡng, kèm cặp. Để chính xác hơn về số lượng và phần kiến thức nào các em còn hổng chỳng tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng vòng đầu với đề sau: Câu 1: Tính ( có đặt tính) 42 + 54 5 + 23 66 - 16 60 +25 84 - 21 58 - 7 Câu 2: Viết các số: a) Từ 70 đến 80. b) Từ 89 đến 95 Câu 3: Mai và Hoa làm được 36 bông hoa, riêng Hoa làm được 16 bông hoa. Hỏi Mai làm được bao nhiêu bông hoa. Chấm bài xong tôi thu được kết quả như sau: Số HS Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Lớp2A(29 ) 8 28 12 42 5 17 4 13 Lớp 2B(24) 6 25 10 42 5 21 3 12 Qua khảo sát chất lượng, theo dõi cách học của học sinh tôi nhận thấy hs yếu Toán do một số nguyên nhân sau: Học sinh có nhiều" lỗ hổng" kiến thức ngay từ lớp dưới. Mặt khác khi đến trường cũng như ở nhà các em còn mải chơi không chú ý đến việc học tập. Trong lớp không chú nghe giảng nhất là giờ toán các em hay mất trật tự, nghịch ngơm, làm việc riêng, khi cô hỏi không trả lời được. Các em ngồi học nhưng vẫn nhớ đến đồ chơi đẹp hay những trò chơi thích thú trong giờ ra chơi sắp tới nên không tiếp thu được bài dẫn tới hổng kiến thức. Đặc điểm của hs Tiểu học là mau nhớ nhưng lại chóng quên, tư duy lô gích kém nên không hiểu bài này thì sang bài sau các em sẽ không tiếp thu được. Cứ như vậy kiến thức sẽ chồng chất lên nhau tạo thành sự thiếu hụt lớn. *Về phía giáo viên: Trong quá trình giảng dạy, giáo viên chủ nhiệm lớp còn mải truyền thụ kiến thức mới cho kịp thời gian. Chưa chú ý tới việc kèm cặp hs yếu, nếu có chỉ qua loa một vài lần thế các em chậm hiểu, lại không có thời gian lên bỏ mặc. Trong khi giảng bài hệ thống câu hỏi chủ yếu dành cho hs khá, giỏi và trung bình, không chú ý ra câu hỏi giành cho hs yếu: Do vậy, nhiều khi ngồi trong lớp học toán mà các em thấy quá nhàn dỗi sinh ra nói chuyện, làm việc riêng, không chú ý đến bài giảng. Khi về nhà lại lười học, không chịu làm bài tập nên đã học yếu lại càng yếu hơn. *Về phía gia đình: phần lớn phụ huynh các em làm nông nghiệp, suốt ngày:" Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời". Nên ít có thời gian quan tâm đến việc học tập của con cái mình. Mặt khác do trình độ dân chí còn thấp nên có quan tâm dạy dỗ thì củng chưa đúng phương pháp hay cáu gắt, mắng mỏ làm các em rối trí lại càng không hiểu. Còn có gia đình lại cho rằng việc dạy dỗ là do nhà trường do thầy cô giáo nên không cần dạy ở nhà. Có những phụ huynh không tạo điều kiện về cơ sở vật chất: Bàn học, bút, vở, thước, Không tạo điều kiện về thời gian bắt trông em nhiều khi đang học bài bị bố mẹ sai việc này, việc khác dẫn đến các em lười học, kiến thức không lô gíc. Như vậy môi trường sống, phương pháp dạy, sự quan tâm của ba môi trường giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em. Qua đó chỳng tôi thấy việc rèn hs học yếu toán là việc làm cần thiết và tạo tiền đề cho các em học tốt các môn học khác. 4.,Cỏc giải phỏp thực hiện: Từ việc nghiên cứu các tài liệu trên chỳng tôi đã hiểu và nắm vững nội dung chương trình. Nắm vững được kiến thức cơ bản, kiến thức trọng tâm cần truyền đạt cho các em b- Trong giảng dạy khi lên lớp chỳng tôi tìm tòi những phương pháp thích hợp nhất với đối tượng hs yếu như giảng chậm, sử dụng đồ dùng trực quan phù hợp trong khi giảng cần đặt ra những câu hỏi riêng cho những hs yếu. Ví dụ: Dạy bài tìm số bị trừ: x - 5 = 15 ở những hs khá, giỏi, trung bình chúng tôi yêu cầu các em làm bài xong mới trình bày cách làm. - Nhưng ở những hs yếu chúng tôi đòi hỏi cách làm trước sau đó các em mới làm bài. + Em hãy nêu thành phần trong phép tính? + Thành phần nào trong phép tính đã biết? + Thành phần nào trong phép tính chưa biết? + Trong phép tính ta phải tìm thành phần nào? Muốn tìm số bị trừ chưa biết em làm như thế nào? Từ việc trẻ nhỏ các câu hỏi như vậy, các em nắm chắc cách tìm số bị trừ chưa biết chúng tôi hướng dẫn các em vận dụng làm bài tập. Khi dạy đến phép cộng và phép trừ có nhớ trong phạm vi 100 chúng tôi yêu cầu hs nắm chắc được các hàng. Chúng tôi phân tích số tỉ mỉ và yêu cầu hs yếu ghi vào vở để về nhà xem lại. Chúng tôi phân tích số cụ thể như sau: Số 56 gồm: 5 chục và 6 đơn vị. Sau đó chúng tôi lấy ví dụ khác và gọi hs yếu lên bảng phân tích như trên. Dạy cộng trừ các số có nhớ trong phạm vi 100 tôi lưu ý cho các em cách đặt tính đúng thì mới tính kết quả đúng được. Ví dụ: 56 + 28 Việc đầu tiên chúng tôi yêu cầu hs phân tích cấu tạo số như phân tích ở trên. Qua phân tích các em nắm được đâu là hàng chục, đâu là hàng đơn vị. Khi đặt tính phải đặt thẳng hàng chục với hàng chục ( 2 đặt dưới 5 ) . Sau đó hs thực hiện tính từ phải sang trái cách viết kết quả cũng thẳng hàng. Đối với loại toán có lời văn tôi đã hướng dẫn các em làm từng phần từng bước đúng quy trình nhưng dễ hiểu, dễ nhớ. Ví dụ: Bài 4 ( trang 82) Lớp 2A trồng được 48 cây, lớp 2B trồng nhiều hơn lớp 2A 12 cây. Hỏi lớp 2B trồng được bao nhiêu cây? Đối với loại toán này tôi yêu cầu các em học yếu phải đọc nhiều lần sau đo gợi mở giải bài toán theo các bước sau: Bước1: Nghiên cứu bài. Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Bước 2: Các bước giải. Tóm tắt ( giáo viên gợi ý tóm tắt) 48 cây Lớp 2A: Lớp 2B: ? cây Bước 3: Lập kế hoạch giải. Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi, gợi mở để dẫn dắt hs. Bài toán hỏi gì? ( Lơp 2B trồng được bao nhiêu cây) Muốn biết lớp 2B trồng được bao nhiêu cây ta làm thế nào? ( lấy 48 + 12 ) Bước 4: Thực hiện các phép tính theo trình tự thiết lập. Sau khi hướng dẫn xong chúng tôi yêu cầu hs khá, giỏi, trung bình làm vào vở, riêng hs yếu làm ra nháp. Chúng tôi quan sát, bao quát toàn lớp nhưng đặc biệt chú ý tới hs yếu. Nếu thấy em nào còn lúng túng về cách làm bài thì giúp các em bằng những câu hỏi gợi mở riêng để các em hiểu thêm và tìm ra cách giải sau đó làm vào vở. Khi chấm bài chúng tôi thường chấm tay đôi với những em hs yếu để chỉ cho các em những cái đúng, cái sai trong bài làm của mình và hướng dẫn cho hs sửa những chỗ sai đó như thế nào. Trong quá trình chấm nếu các em này giải đúng phép tính và câu trả lời còn chưa hoàn chỉnh tôi vẫn cho điểm tối đa để động viên khích lệ các em hào hứng học tập hơn. Đối với những em chưa đúng hết còn có phần sai thì tìm những chỗ đúng, chỉ ra những chỗ sai và cho điểm động viên thêm để các em không bị mặc cảm. Những em quá yếu khi thấy các em giơ tay phát biểu ý kiến là phải gọi và gợi mở để các em trả lời. Nếu trả lời đúng chúng tôi cho điểm, khen trước lớp, có thể cho cả lớp vỗ tay khen bạn. Sau khi học xong phần kến thức nào chúng tôi cũng cho hs ôn bài lại và cho các em làm bài kiểm tra đánh giá cho điểm thật chính xác. Bài tập về nhà hôm nào chúng tôi cũng kiểm tra xem bài giải của các em thường sai phần kiến thức nào thì bổ sung kịp thời. Song song với việc đó chúng tôi còn hướng dẫn các em cách đọc, có phương pháp học theo thời gian biểu, học kĩ lý thuyết xong mới làm bài tập. Khi làm bài tập phải đọc kỹ đề bài, nêu tóm tắt bằng sơ đồ hoặc bằng lời văn ngắn gọn. Làm bài bao giờ cũng làm vào vở nháp trước sau đó mới chép vào vở chính. c. Trong từng tiết dạy chúng tôi chuẩn bị bài chu đáo, nhiều nghiên cứu bài dạy từ phần mục tiêu, đồ dùng dạy học, phương pháp giảng dạy và những kiến thức cần truyền đạt.Chúng tôi chuẩn bị những câu hỏi cho từng đối tượng hs. Vì các em học yếu toán thường hay tư duy cụ thể nên tôi sử dụng nhiều đồ dùng trực quan và yêu cầu các em thực hành nhiều vào nháp, lên bảng làm bài tập để các em làm quen mạnh bạo dần và tự khẳng định mình trước tập thể. Bên cạnh việc hướng dẫn các em học tập trên lớp tôi còn xây dựng các nhóm học tập cho các em. Mỗi nhóm khoảng 5 em trong đó có những em học chắc hơn một chút để kèm cặp, giúp đỡ các em học yếu. d. Ngoài việc trao đổi qua sổ liên lạc với phụ huynh học sinh về việc học tập của con em mình chúng tôi còn thường xuyên thông báo và gặp gỡ tới từng phụ huynh để trao đổi, đề nghị gia đình tạo điều kiện về thời gian, về cơ sở vật chất ( bàn học, sách, vở, đồ dùng học tập,) phải có góc học tập ở nơi có đủ ánh sáng và yên tĩnh, phải theo dõi sát việc học tập của con em mình hạn chế ti vi, không sai việc vặt khi các em đang học bàiGiáo viên và phụ huynh phải có sự gặp gỡ, trao đổi thường xuyên để tìm ra những biện pháp tích cực giúp đỡ các em nhanh tiến bộ. Về phần cá nhân mình, chúng tôi luôn luôn chuẩn bị bài chu đáo, luôn học hỏi và trao đổi kiến thức, đổi mới phương pháp giảng dạy, luôn có tình cảm và thái độ tốt với các em. Với mỗi em, tôi tìm ra một phương pháp, một cách tiếp cận khác nhau để bồi dưỡng lượng kiến thức cho phù hợp. Khi giao bài về nhà chúng tôi luôn tìm, giao cho các em những bài toán vừa sức, vừa đủ với lực học của các em. Tạo không khí thoải mái, hào hứng khi học toán. Trước khi giao bài về nhà chúng tôi hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể để các em có điều kiện làm tốt vở bài tập. 5, Kết quả đạt được: Qua quá trình hướng dẫn, rèn luyện và kèm cặp thường xuyên cùng với sự vận dụng nhiều phương pháp trong quá trình giảng dạy tôi đã thu được những kết quả sau: - Các em đã hạn chế và khắc phục được rất nhiều sai sót trong quá trình làm bài. Các em đã biết phân tích, suy luận và biết chọn phương pháp giải toán thích hợp cho từng bài. Từ đó các em biết phân tích đề ở những bài toán có lời văn để đi tới giải đúng, lời giải gãy gọn, không còn trường hợp phép tính này lời giải kia vì thế kết quả được nâng lên rõ rệt. Nhiều em đầu năm học chỉ là học sinh trung bình nhưng nay đã trở thành học sinh khá. Các em đã hiểu rằng muốn làm đúng thì phải đọc kĩ đề bài, phải thực hiện thành thạo các phép tính cộng, trừ. - Một số em học yếu toán giờ đây đã biết thực hiện các phép tính cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 100, không nhớ trong phạm vi 1000, biết cách giải toán, tự sửa chữa được sai sót của mình và tiến tới không mắc nữa. - Sau khi học xong phép cộng, phép trừ có nhớ trong phạm vi 100, bảng nhân 5, bảng chia 5chúng tôi đã khảo sát chất lượng của các em bằng đề sau: Câu 1: Tính 68 + 17 47 + 35 58 -29 55 +16 81 - 27 72 - 31 Câu 2: Tìm x: x + 18 = 62 x - 27 = 37 40 - x = 8 Câu 3: Lan hái được 36 bông hoa, Mai hái ít hơn Lan 6 bông hoa. Hỏi Mai hái được bao nhiêu bông? Sau khi chấm bài tôi đã thu được kết quả như sau: Số HS Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Lớp2A(29 ) 10 34 13 46 5 17 1 3 Lớp 2B(24) 8 33 11 46 4 17 1 4 *, So sánh đối chứng. Qua phương pháp rèn luyện, kèm cặp như trên chúng tôi rất phấn khởi vì thấy trong giờ toán hs say mê học tập, lớp học thật sự sôi nổi, đặc biệt là những em hs yếu đã có tiến bộ rõ rệt. Đầu năm các em học rất yếu, ngay cả việc đọc, viết còn nhầm, tính cộng, trừ còn tính đầu ngón tay, phép cộng,trừ có nhớ còn nhầm lẫn. Giờ đây các em đọc, viết số rất thành thạo, các kĩ năng cộng, trừ đã được nâng cao. Số học sinh khá giỏi tăng lên, hạn chế được số hs yếu. Cụ thể: Kết quả như sau Lớp 2A (29) Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Đầu năm 6 21 12 41 6 21 5 17 Giữa kì II 10 34 13 46 5 17 1 3 Lớp 2C (24) Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Đầu năm 4 17 10 41 6 25 4 17 Giữa kì II 8 33 11 46 4 17 1 4 Như vậy: *Lớp 2A Số hs giỏi tăng 4 em = 14 % Số hs khá tăng 1 em = 3 % Số hs trung bình giảm 1 em = 3 % Số lượng hs yếu giảm 4 em = 14 % *Lớp 2C Số hs giỏi tăng 4 em = 17 % Số hs khá tăng 1 em = 4 % Số hs trung bình giảm 1 em = 4 % Số lượng hs yếu giảm 3 em = 13 % Tuy kết quả chưa cao như ý muốn nhưng đó cũng là thành công bước đầu của chúng tôi trong quá trình giảng dạy để nghiên cứu, tìm tòi ra những phương pháp tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng môn toán nói chung và hạn chế số lượng hs yếu nói riêng. .6, Bài học kinh nghiệm: Để đảm bảo cho việc cung cấp và rèn luyện những tri thức kĩ năng toán học cơ bản, có hệ thống phù hợp với những điều kiện cụ thể của nhà trường Tiểu học. Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu phương pháp hạn chế số học sinh yếu Toán 2. Chúng tôi tự rút ra một số kinh nghiệm sư phạm như sau: - Ngay từ khi bắt tay vào năm học mới phải diều tra, nắm chắc trình độ học Toán và khả năng tính toán của từng hs trong lớp mình chủ nhiệm. - Biết phối hợp tốt giữa ba môi trường giáo dục. - Đọc sách giáo khoa, sách tham khảo để nắm vững nội dung chương rrình của khối lớp mình dạy. - Phải nghiên cứu chuẩn bị bài và đồ dùng dạy học thật chu đáo trước khi đến lớp. - Trong khi soạn phải có những câu hỏi và bài tập dành riêng cho hs yếu. - Khi dạy, lời nói phải nhẹ nhàng, dễ hiểu. - Thường xuyên ôn tập, củng cố kiến thức thành hệ thống và rèn kĩ năng giải toán. - Luôn có đổi mới về cách dạy gây hứng thú, tạo không khí thoải mái cho các em trong các giờ học nói chung và giờ Tôán nói riêng. - Thường xuyên kiểm tra sát sao việc học và làm bài ở nhà của hs. Khi chấm phải nên chấm tay đôi để chỉ và và phân tích những chỗ sai cho hs. - Học sinh yếu thường bi quan, chán nản, sợ học nên giáo viên phải sử dụng biện pháp đơn giản nhưng vô cùng quan trọng đó là động viên, khích lệ các em. Để làm tốt những việc trên đòi hỏi giáo viên có lòng say mê nghề nghiệp, phải có năng lực giảng dạy Toán, phải có tính kiên trì, thương yêu hs. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1.Kết luận Qua thực tiễn giảng dạy, Chúng tôi nhận thấy rằng trong một lớp bao giờ cũng xuất hiện 3 đối tượng hs: Học sinh khá giỏi, học sinh trung bình, học sinh yếu kém. Do vậy chất lượng của lớp không đồng đều. Vì thế trong quá trình giảng dạy, người giáo viên phải chú ý cả ba đối tượng hs này, phải có một phương pháp giảng dạy thích hợp. Trong bài giảng bao giờ cũng phải có hệ thống câu hỏi thích hợp, dành cho từng đối tượng hs để gây cho các em lòng tin, tự khẳng định bản thân mình. Nếu chỉ có lòng nhiệt tình thôi thì chưa đủ mà giáo viên còn phải có phương pháp giảng dạy thích hợp, có năng lực và trình độ sư phạm tốt có kinh nghiệm trong giảng dạy. Nhất là đối với hs yếu, kém phải hết sức quan tâm bồi dưỡng thì các em mới theo kịp bạn bè và nắm được hệ thống kiến thức lô gíc. Mỗi thầy cô là một tấm gương sáng cho hs noi theo. Muốn đạt được điều đó thì người giáo viên phải có trình độ cao, có ý thức học hỏi, trau dồi và nâng cao kiến thức, nâng cao trình độ cho bản thân. Trong lớp người giáo viên phải làm tốt công tác tổ chức lớp và luôn chú ý, quan sát phát hiện kịp thời những hs yếu để từ đó đi sâu tìm hiểu nguyên nhân và tìm những biện pháp tốt, phù hợp giúp các em ngày càng tiến bộ. Đặc biệt người giáo viên cần phải kết hợp với gia đình học sinh trao đổi, hướng dấn họ phương pháp kèm cặp, dạy dỗ các em ở nhà, xây dựng góc học tập, thời gian biểu cho các em. Đồng thời biết gây hứng thú học tập và ý thức tự giác học tập cho các em. Có như vậy việc bồi dưỡng hs yếu, chất lượng giảng dạy mới có hiệu quả cao. 2. Kiến nghị: Để nâng cao chất lượng môn Toán cho hs hạn chế số hs học yếu môn Toán. chỳng tôi có một số ý kiến đề xuất với các cấp lãnh đạo như sau: - Thường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên nhất là môn Toán. - Mở nhiều lớp đào tạo lại cho giáo viên tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên được học tập, mở rộng và nâng cao kiến thức, nâng cao trình độ giáo viên. - Hỗ trợ tạo điều kiện tốt hơn nữa về cơ sở vất chất, trang thiết bị đồ dùng dạy học cho các trường nhất là các trường ở vùng nông thôn như trường Tiểu học Tân Hồng của chúng tôi để phục vụ tốt hơn nữa cho việc dạy và học theo yêu cầu đổi mới. Tôi xin chân thành cảm ơn! * GIAể ÁN DẠY THỰC NGHIỆM TOÁN Tiết 81: ễn tập phộp cộng và phộp trừ I - Mục tiờu: - Hs thuộc bảng cộng trừ nhẩm trong phạm vi 20, cộng trừ cú nhớ trong phạm vi 100.Biết giải bài toỏn nhiều hơn. -Rốn kĩ năng làm tớnh, giải toỏn chớnh xỏc. -Giỏo dục HS ý thức học tốt II, Đồ dựng day học : -Phiếu học tập. -Bảng con, VBT II - Hoạt động dạy học A, Kiểm tra bài cũ : Đặt tớnh rồi tớnh : 28 + 36 ; 61 - 35 - GV gọi 2 HS làm bài. - Nhận xột đỏnh giỏ (GV -HS) B, Hoạt động dạy học : 1- Giới thiệu bài : - GV nờu mục đớch yờu cầu tiết học. 2- ễn tập Bài 1: Tớnh nhẩm -GV cho HS đọc yờu cầu. - Cho hs nhẩm theo cặp -Gv gọi vài cặp nhẩm trước lớp. - Khi HS nờu kết quả 9 + 7 và 7 + 9 - GV ghi bảng. -Khi biết 9 + 7 = 16 tại sao ta cú thể trả lời ngay được 16 - 7 = 9 ? *Củng cố cỏc bảng cộng, trừ Bài 2: Đặt tớnh rồi tớnh. - GV cho HS đọc yờu cầu -Cho hs làm bảng con -Gọi hs làm bảng lớp. - Gọi HS nờu cỏch làm. * GV củng cố cỏch đặt tớnh và thực hiện phộp tớnh.. Bài 3: (a,c):

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Học Môn Toán / 2023

Toán học là một một bộ môn khoa học, được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác và trong thực tế. Nó cũng là một bộ môn mang tính logic. Người học môn toán phải biết cách ứng dụng các kiến thức trong mọi lĩnh vực. Để thực hiện được vấn đề đó thì người học toán phải có một nền tảng về kiến thức nhất định.

Là người thầy giáo giảng dạy môn toán nói chung, các bộ môn khác nói riêng như chúng tôi, chắc chắn rằng ai cũng muốn cho học sinh mình có một kiến thức nhất định. Nhưng trong những năm gần đây là người giảng dạy môn toán ở trường THCS, tôi nhìn thấy có rất nhiều học sinh đạt môn toán ở mức độ là học sinh yếu kém. Không chỉ riêng tôi mà còn có nhiều thầy, cô giáo cũng băn khoăn trong kết quả học tập của những học sinh như thế (học sinh yếu kém về toán là những học sinh có kết quả học toán thường xuyên dưới trung bình)

Tôi nhìn thấy sự yếu kém toán có những biểu hiện nhiều hình nhiều vẻ, nhưng nhìn chung diện học sinh này thường có ba đặc điểm sau đây:

– Nhiều “lỗ hổng” kiến thức, kĩ năng;

– Tiếp thu chậm;

– Phương pháp học tập toán chưa tốt.

Là người thầy giáo giảng dạy môn toán như chúng tôi, tôi thiết nghĩ rằng ai cũng tìm ra một phương pháp để dạy cho những học sinh yếu kém này có kết quả ngày càng cao hơn.

GIÚP ĐỠ HỌC SINH YẾU KÉM HỌC MÔN TOÁN I/ ĐẶT VẤN ĐỀ: Toán học là một một bộ môn khoa học, được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác và trong thực tế. Nó cũng là một bộ môn mang tính logic. Người học môn toán phải biết cách ứng dụng các kiến thức trong mọi lĩnh vực. Để thực hiện được vấn đề đó thì người học toán phải có một nền tảng về kiến thức nhất định. Là người thầy giáo giảng dạy môn toán nói chung, các bộ môn khác nói riêng như chúng tôi, chắc chắn rằng ai cũng muốn cho học sinh mình có một kiến thức nhất định. Nhưng trong những năm gần đây là người giảng dạy môn toán ở trường THCS, tôi nhìn thấy có rất nhiều học sinh đạt môn toán ở mức độ là học sinh yếu kém. Không chỉ riêng tôi mà còn có nhiều thầy, cô giáo cũng băn khoăn trong kết quả học tập của những học sinh như thế (học sinh yếu kém về toán là những học sinh có kết quả học toán thường xuyên dưới trung bình) Tôi nhìn thấy sự yếu kém toán có những biểu hiện nhiều hình nhiều vẻ, nhưng nhìn chung diện học sinh này thường có ba đặc điểm sau đây: Nhiều "lỗ hổng" kiến thức, kĩ năng; Tiếp thu chậm; Phương pháp học tập toán chưa tốt. Là người thầy giáo giảng dạy môn toán như chúng tôi, tôi thiết nghĩ rằng ai cũng tìm ra một phương pháp để dạy cho những học sinh yếu kém này có kết quả ngày càng cao hơn. Việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng cần thiết ở những học sinh này thường đòi hỏi nhiều công sức và thời gian so với những học sinh khác. Do đó, qua những năm giảng dạy ở trường THCS tôi đã đúc kết một số kinh nghiệm để giảng dạy cho học sinh yếu kém như sau: II/ NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: Nội dung giúp đỡ học sinh yếu kém nhằm vào những phương hướng sau đây: 1/ Lấp "lỗ hổng" kiến thức, kĩ năng: Thông qua quá trình học lí thuyết và làm bài tập của trò, thầy giáo cần tập cho học sinh tự phát hiện những "lỗ hổng" của bản thân mình và biết cách tra cứu sách vỡ, tài liệu tự lấp những "lỗ hổng" đó. Bên cạnh đó, giáo viên có thể biết những "lỗ hổng" của học sinh trong những tiết học tiếp theo. Do đó giáo viên phải dùng bản phụ ghi sẵn kiến thức cần nhắc lại cho học sinh. Nghĩa là học sinh đã có sẵn tài liệu để lấp "lỗ hổng" một cách nhanh chống mà không cần thời gian để tra cứu sách vỡ hay tài liệu. Chẳng hạn như dạng toán "phân tích đa thức thành nhân tử bằng phương pháp dùng hằng đẳng thức". Ví dụ 1: Phân tích đa thức x3y6 - y3 thành nhân tử bằng phương pháp dùng hằng đẳng thức. Bài tập trên là vận dụng cả kiến thức và kĩ năng của học sinh, vì lẽ đó giáo viên dùng bản phụ ghi các hằng đẳng thức đáng nhớ rồi cho học sinh nhận dạng bài tập coa thể đưa về hằng đẳng thức nào? Và vận dụng chúng ra làm sau? Bên cạnh bài tập trên còn áp dụng về phép nâng lũy thừa. Ví dụ 2: Tìm ƯCLN(120; 280). Ví dụ 3:. 2/ Tiếp thu chậm: a/ Đối với học sinh học yếu kém thường là tiếp thu kiến thức rất chậm hay phát hiện ra vấn đề cũng sau hơn học sinh khác và khi tiếp thu một vấn đề nào đó cũng cần được lặp đi lặp lài nhiều lần hơn. Vì thế khi dạy một kiến thức mới hay hướng dẫn làm một bài tập nào đó giáo viên cần phải nói chậm, rõ ràng và hướng dẫn cụ thể hoặc nhắc đi nhắc lại hay hướng dẫn nhiều lần. b/ Bên cạnh đó giáo viên cần luyện tập vừa sức cho HS: đối với học sinh ở dạng này, giáo viên cần coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức. Trong những tiết học đồng loạt. Việc thực hiện theo trình độ chung, nhiều khi không phù hợp với học sinh yếu kém. Vì vậy khi ttong tiết phụ đạo, cần dành thời gian để HS tăng cường luyện tập vừa sức mình. Do đó thầy giáo cần chú ý những điều sau đây: - Đảm bảo học sinh hiểu đầu bài tập: Học sinh dạng này thường hay vấp ngay từ bước đầu tiên: không hiểu bài toán nói gì, do đó không thể tiếp tục quá trình giải toán. Vì vậy thầy giáo nên lưu ý giúp HS hiểu rõ đầu bài, nắm được cái gì đã cho, cái gì cần tìm, tạo điều kiện cho các em vượt qua sự vấp ngã đầu tiên đó. + Ví dụ: . - Gia tăng số lượng bài tập cùng thể loại và mức độ: Để hiểu một kiến thức, rèn luyện một kĩ năng nà đó, học sinh yếu kém cần những bài tập cùng thể loại và cùng mức độ với số lượng nhiều hơn học sinh khác. Phần gia tăng này được thực hiện trong những tiết phụ đạo và tiết tự chọn.chẳng hạng iáo viên có thể ra nhiều bài tập tương tự như: + Ví dụ: . 3/ Giúp đỡ học sinh kĩ năng học tập: Yếu về kĩ năng học tập là một tình trạng phổ biến của học sinh yếu kám toán. Hơn nữa, có thể nói rằng đó là nguyên nhân của tình trạng yếu kém đối với một bộ phận trong những học sing diện này. vì vậy một trong những biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém là giúp đỡ các em về phương pháp học tập. III/ KẾT LUẬN; Trong quá trình dạy học môn toán, người giáo viên phải quan tâm đến việc chất lượng của học sinh không một giáo viên nào muốn có học sinh của mình khi học xong chương trình mà múc độ kiến thức chỉ đạt ở dạng yếu kém.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!